1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Quy Định Về Thẩm Quyền Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai Của Tòa Án Nhân Dân Theo Các Quy Định Hiện Hành Của Pháp Luật Đất Đai
Tác giả Nguyễn Tiến Đạt
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Đất Đai
Thể loại Bài Kiểm Tra Giữa Kỳ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 16,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Phân tích các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, ngh

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Tiến Đạt

Mã số sinh viên:20A51010015

Lớp:2051A02

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ HỌC PHẦN

MÔN LUẬT ĐẤT ĐAI

Lớp Luật 2643

Câu 1: Phân tích các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai? Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại hệ thống TAND ở nước

ta hiện nay?

Câu 2: Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Giải thích rõ tại sao?

a) Tất cả các trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đều bị Nhà

nước thu hồi theo quy định của pháp luật

b) Cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất cho mục đích sản xuất nông nghiệp

không được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất

c) Khi tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra, người sử dụng đất được quyền

lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho mình

d) Khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cơ quan có thẩm quyền đều

phải lấy ý kiến của người dân

e) Thuế sử dụng đất là nghĩa vụ tài chính chỉ áp dụng đối với các chủ thể sử

dụng đất dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất

Trang 2

BÀI LÀM

Câu 1: Phân tích các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai? Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại hệ thống TAND ở nước

ta hiện nay?

*Phân tích các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai:

Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Điều 26 BLTTDS năm

2015 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án, kể

từ sau khi Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua, có thể nôi thẩm quyền của Tòa dân sự trong việc giải quyết tranh chấp đất đai đã mỏ rộng tối đa

Tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1 Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì dữ Tòa án nhân dân giải quyết;

2 Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

Trang 3

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tô tụng dân sự;

3 Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhận dận theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cự ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4 Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013, tranh chấp về đất đai phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp

Trang 4

xã trước khi đưa lên giải quyết thông qua Tòa án Như vậy có thể thấy, Tòa

án chỉ có thẩm quyền thụ lý đối với tranh chấp về đất đai sau khi tranh chấp

đó hòa giải không thành tại Ủy ban nhân dân cấp xã Khi đưa lên Tòa án, thẩm quyền giải quyết được xác định như sau:

Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

2013 đã được liệt kê ở phía trên và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì

do Tòa án nhân dân giải quyết Cần lưu ý là khi giải quyết loại tranh chấp

mà các bên xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì Tòa án cần phải xem xét, đánh giá bản chất của sự việc Do đó, không phải ai đứng tên trong các giấy tờ đó đều công nhận quyền sử dụng đất cho họ, mà Tòa ản phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể, tùy theo tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết cho chính xác Tòa án chỉ công nhận quyền sử dụng đất cho bên có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 khi chính họ là người

có quyền sử dụng đất hợp pháp

Trong trường hợp mà đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 đã được liệt kê ở phía trên thì đương sự được quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Đối với trưòng hợp người sử dụng đất mới chỉ đứng tên trong sổ mục kê, sổ dã ngoại, mới ghi số thửa trong bản đồ, thậm chí không có bất kỳ loại giấy tờ

gì, nếu có tranh chấp và đã được ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải không thành thì các đương sự có thể lựa chọn việc khởi kiện ngay ra Tòa án để

Trang 5

yêu cầu Tòa dân sự giải quyết Trường hợp đương sự không muốn khỏi kiện

ra Tòa án thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền

Đối với các đương sự cũng như các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cần phải quán triệt quy định tại Điều 202 và Điệu 203 là việc hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã là một yêu cầu bắt buộc Chỉ khi hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì đương sự mới được khởi kiện ra Tòa án hoặc mới được yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Từ phân tích nói trên có thể nhận thấy, Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp đất đai đã có giấy chứng nhận hoặc có giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và cả đất tranh chấp không có các loại giấy tờ nêu trên

Đối với ủy ban nhân dân, nếu đương sự gửi đơn đến ủy ban nhân dân cấp

có thẩm quyền thì ủy ban nhân dân chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với những trường hợp đất đang có tranh chấp không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều

100 Luật đất đai năm 2013

Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai thì luật quy định đương sự có thể lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yều cầu giải quyết tranh chấp tậi ủy ban nhân dân hoặc khởi kiện tại Tòa án Do đó, để tránh việc đương sự gửi đơn đến cả hai cơ quan yêu cầu giải quyết, và hai cơ quan cùng thụ lý giải quyết một vụ việc, khi Tòa án có thẩm quyền nhận được đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, thì

Trang 6

Tòa án phải hỏi rõ đương sự có gửi đơn yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đó hay không?

Trường hợp đương sự đã gửi đơn đến hai nơi thì Toà án phải yêu cầu người khởi kiện làm văn bản lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trường hợp người khỏi kiện không làm được văn bản, ví dụ như không biết chữ thì Tòa án phải lập biên bản ghi rõ về việc người khởi kiện lựa chọn

cơ quan nào giải quyết

Trong trường hợp người khởi kiện lựa chọn Tòa án giải quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung, đồng thời có văn bản thông báo cho ủy ban nhân dân có thẩm quyền đã nhận đơn của đương sự biết là Tòa án đã thụ lý giải quyết theo sự lựa chọn của đương sự và yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyển chuyển toàn bộ tài liệu, hồ sơ giải quyết đơn (nếu có) cho Tòa án

Trong trường hợp người khởi kiện lựa chọn ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết và vụ việc chưa thụ lý thì Tòa án căn cứ vào điểm b khoản

1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành trả lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm thẹo cho người khởi kiện Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án

đã thụ lý thì căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để đình chỉ giải quyết đơn khởi kiện

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa dân sự theo Lụật đất đai năm 2013 được mở rộng tới múc, theo tác giả đã có phần vượt quá giới hạn của Tòa án Đây là điểm sẽ rất khó khăn, phức tạp khi Tòa dân sự giải quyết loại tranh chấp này

Trang 7

*Đánh giá công tác giải quyết tranh chất đất đai tại hệ thống TAND ở nước ta hiện nay:

Về quy định hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Khi tranh chấp đất đai xảy ra, việc hòa giải tranh chấp gắn với 2 hình thức gồm: hòa giải ngoài tố tụng (tại ủy ban nhân dân cấp xã) và hòa giải trong tố tụng (hòa giải tại tòa án)

Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 sửa đổi bổ sung 2018, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Như vậy, với quy định này thì khi có tranh chấp đất đai bắt buộc phải trải qua giai đoạn hòa giải, và khi các bên không tự hòa giải được với nhau thì phải nộp đơn yêu cầu ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải

Quy định này trên thực tế gặp khó khăn, bất cập ở những địa phương không có đơn vị hành chính cấp xã (những đơn vị huyện đảo đặc thù như huyện Côn Đảo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; huyện Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị; huyện Bạch Long Vĩ của thành phố Hải Phòng) Ở những địa phương này, khi xảy ra tranh chấp đất đai thì việc hòa giải sẽ gặp khó khăn trong việc xác định cơ quan hòa giải và cơ sở pháp lý để hòa giải, dẫn đến khó khăn cho việc gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai sau đó

Theo quy định, hòa giải ở cơ sở là một thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai, kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản, có chữ

ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của ủy ban nhân dân cấp xã Trên thực tế xảy ra tình trạng, khi cơ quan này mời các

Trang 8

bên để hòa giải nhưng phía bị đơn không đến (mặc dù đã được tống đạt giấy mời hợp lệ), dẫn đến việc ủy ban nhân dân cấp xã không thể tiến hành hòa giải được, trong biên bản hòa giải cũng không thể có chữ ký của bị đơn,

ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản không hòa giải được Trong trường hợp này, Luật Đất đai hiện hành không đề cập đến loại tài liệu (biên bản) được coi là cơ sở để tòa án căn cứ vào đó để thụ lý giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự

Đây là vấn đề cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể trong thời gian tới để việc áp dụng pháp luật đất đai được thực hiện một cách thống nhất Ngoài ra, kết quả hòa giải thành tại ủy ban nhân dân cấp xã không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên đương sự nên trên thực tế xảy ra tình trạng sau khi ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải thành xong mà các bên không thực hiện thì phải xử lý như thế nào, các bên đương sự cần làm gì để bảo

vệ quyền lợi của mình Tranh chấp đất đai, nhất là tranh chấp về quyền sử dụng đất, về mặt bản chất là tranh chấp dân sự

Vì vậy, cần thiết phải tôn trọng ý chí, sự thỏa thuận của các bên nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội, nhất là các nội dung thỏa thuận mà các bên đã thống nhất, được biên bản hòa giải thành của ủy ban nhân dân cấp xã ghi nhận Các vấn đề này cần được quy định rõ hơn trong Luật Đất đai

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, tòa án với tư cách là cơ quan xét xử, có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này, là một chế định bắt buộc trong thủ tục tố tụng dân sự,

Trang 9

tạo cơ hội cho các bên tranh chấp thương lượng, giải quyết với nhau mà không cần phải để tòa án phân định xét xử

Theo thống kê của Tòa án nhân dân Tối cao và các cơ quan hữu quan, hòa giải trong tố tụng đã thể hiện được vai trò của mình trong việc giải quyết các xung đột về quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan, đồng thời chấm dứt quá trình tố tụng kéo dài và hạn chế những thiệt hại không đáng có Đối với tranh chấp đất đai thì việc hòa giải tại tòa án mang ý nghĩa tích cực, hạn chế được tình trạng án sai

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013 sửa đổi bổ sung 2018 , sau khi hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã mà hòa giải không thành, không hòa giải được thì nếu đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì tòa án sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Nếu đất đai không có giấy tờ nào nêu trên thì các bên tranh chấp được lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên

Việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho tòa án khi loại đất tranh chấp mà các bên chưa có bất cứ loại giấy tờ gì là đã trao vượt quá chức năng, thẩm quyền của tòa án, chưa cần đánh giá về hiệu quả giải quyết tranh chấp Từ chỗ, tòa án chỉ có quyền xác định ai là người có quyền dân sự đang bị người khác tranh chấp, nay với quy định như trên, tòa án lại

có thêm quyền xác định ai được quyền sử dụng đất chưa có căn cứ pháp luật, chưa được công nhận về pháp lý mà vốn dĩ thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước

Trang 10

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chỉ những tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể, nay có chủ thể khác xâm phạm, tranh chấp thì tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ để xác định thực chất tài sản đó là của chủ thể nào thì công nhận cho chủ thể đó, buộc bên đang chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho bên có quyền Tòa án không

có thẩm quyền xác định tài sản tranh chấp (đất đai) cho bất cứ chủ thể nào khi đất đai chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chủ thể

đó sử dụng Việc giao thẩm quyền giải quyết cho tòa án trong trường hợp này là không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tòa án, là trái quy định Hiến pháp và mâu thuẫn với chính quy định của Luật Đất đai về tính thống nhất trong quản lý đất đai

Về hoạt động phối hợp trong giải quyết tranh chấp đất đai

Tòa án với chức năng xét xử chuyên biệt, với ưu thế về đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về luật song hiệu quả giải quyết tranh chấp của tòa án lại phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động phối hợp xác minh, cung cấp thông tin của cơ quan quản lý đất đai

Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc phối hợp giữa tòa án với các cơ quan hành chính thường chưa thực sự hiệu quả Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa

án nhưng trên thực tế quy định này gặp nhiều bất cập Các cơ quan hành chính nhà nước là nơi nắm giữ những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc tranh chấp nhưng nhiều khi cán bộ các cơ quan này thiếu sự hợp tác trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, tòa án Ngoài ra, việc phối hợp trong quá trình xác minh thu thập, đánh giá chứng

cứ, định giá quyền sử dụng đất giữa các cơ quan cũng chưa thực sự chặt

Ngày đăng: 17/11/2023, 13:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w