1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk

105 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Công Chức Cấp Xã Trên Địa Bàn Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk
Tác giả Nguyễn Hữu Sơn
Người hướng dẫn TS. Phạm Ngọc Đại
Trường học Học viện khoa học xã hội
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 179,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề lý luận về công chức cấp xã, năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã,đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã ở tỉnh ThanhHóa, trên cơ sở đó đưa ra mộ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU SƠN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

ĐẮK LẮK, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU SƠN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, nộidung nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong các đề tài, ấn phẩm khoa học khác Các tư liệu trích dẫn trong luậnvăn đều có nguồn gốc chính xác, rõ ràng và đúng thể thức

Học viên

Nguyễn Hữu Sơn

Trang 4

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

13 PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển công chức cấp xã

13 1.1.1 Khái niệm công chức và công chức cấp xã 13

1.1.1.1 Khái niệm công chức 13

1.1.1.2 Khái niệm công chức xã 15

1.1.2 Khái niệm về chính sách phát triển công chức cấp xã 15

1.1.2.1 Khái niệm về chính sách 15

1.1.2.2 Khái niệm chính sách phát triển công chức cấp xã 16

1.1.2.3 Nội dung chính sách phát triển đối với công chức cấp xã 17

1.1.3 Số lượng công chức cấp xã 20

1.1.4 Đặc điểm công chức cấp xã 20

1.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của công chức cấp xã 21

1.2 Nội dung, quy trình thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã 24 1.2.1 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã 24

1.2.1.1 Về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức 24

1.2.1.2 Về quản lý, sử dụng công chức 26

1.2.1.3 Chính sách đãi ngộ công chức cấp xã 30

1.2.2 Quy trình thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã 33

1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách 33

1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách 33

1.2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách 33

1.2.2.4 Duy trì thực hiện chính sách 33

1.2.2.5 Điều chỉnh, bổ sung chính sách 34

Trang 5

1.2.2.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm 34

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã 35

1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã ở các địa phương khác 37

1.4.1 Kinh nghiệm của thị xã Buôn Hồ 37

1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Krông Pắc 38

1.4.3 Bài học đối với thành phố Buôn Ma Thuột 39

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 42

Trang 6

2.1 Khái quát đặc điểm về tự nhiên, kinh tế-xã hội của thành phố Buôn Ma

Thuột .42

2.1.1 Điều kiện tự nhiên .42

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của thành phố giai đoạn 2014 - 2018 .42

2.1.2.1 Điều kiện kinh tế .42

1.1.2.2 Điều kiện xã hội .43

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn việc thực hiện chính sách phát triển đối với cán bộ, công chức cấp xã .43

2.1.3.1.Thuận lợi .43

2.1.3.2 Khó khăn .44

2.2 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển công chức cấp xã tại thành phố Buôn Ma Thuột .44

2.2.1 Đặc điểm đội ngũ công chức cấp xã của thành phố Buôn Ma Thuột 44

2.2.2 Về cơ cấu, số lượng .44

2.2.2.1 Số lượng công chức xã theo địa bàn và vị trí công việc .45

2.2.2.2 Số lượng và cơ cấu công chức xã theo giới tính và độ tuổi .46

2.2.2.3 Số lượng và cơ cấu công chức chuyên môn theo độ tuổi 47

2.2.3 Về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã .47

2.2.4 Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống .488

2.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã tại thành phố Buôn Ma Thuột .53

2.3.1 Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức .53

2.3.2 Công tác quản lý, sử dụng công chức .54

2.3.3 Chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức cấp xã .566

2.3.4 Công tác đánh giá đội ngũ công chức .59

2.3.5 Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ .61

2.4 Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển đối với đội ngũ công chức xã .61

2.4.1 Ưu điểm .61

2.4.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân .63

2.4.2.1 Những hạn chế, tồn tại .63

2.4.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế .65

Tiểu kết chương 2 .71

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT722 3.1 Bối cảnh thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã giai đoạn mới 722 3.2 Quan điểm, mục tiêu thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã 722

3.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước .722

3.2.2 Chủ trương của tỉnh Đắk Lắk .733

3.2.3 Mục tiêu thực hiên chính sách phát triển công chức cấp xã .755

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã .766

3.3.1 Hoàn thiện chính sách khen thưởng, kỷ luật công chức .766

Trang 7

3.3.2 Thực hiện tốt chính sách đãi ngộ công chức cấp xã .777

3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện công vụ của công chức cấp xã .788

Tiểu kết chương 3 .800

KẾT LUẬN .811

TÀI LIỆU THAM KHẢO .822

PHỤ LỤC .866

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí 45

Bảng 2.4 Thực trạng công chức theo trình độ chuyên môn 47

nghiệp vụ từ năm 2014 đến 6 tháng đầu năm 2018

Bảng 2.5 Thực trạng công chức đạt chuẩn theo trình độ lý luận, 49

ngoại ngữ, tin học từ năm 2014 – tháng 6/2018Bảng 2.6 Công chức là đảng viên 6 tháng đầu năm 2018 50Bảng 2.7 Kết quả đánh giá, phân loại công chức từ 50

năm 2015 – 2017Bảng 2.8

Đánh giá của nhân dân về uy tín trong công tác và

51năng lực tổ chức quản lý công việc của đội ngũ công

chức cấp xãBảng 2.9 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức xã giai đoạn 53

2014 – 2018Bảng 2.10

Đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã về sự phù hợp

55giữa trình độ, năng lực của công chức xã đối với các vị

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Địa bàn xã là nơi cư trú, sinh sống của tuyệt đại bộ phận người dân Chínhquyền cấp xã, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức Đoàn thể chính trị - xã hội ở xã là cầunối trực tiếp giữa hệ thống chính trị với nhân dân Sự vững mạnh của chính quyềncấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của toàn bộ hệ thống chính quyền trong cả

nước và ngược lại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:“Cấp xã là gần gũi nhân

dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”[17, tr.371] Cấp xã ổn định thì an ninh, chính trị, xã hội của đất nước ổn định.

Công chức là nhân tố quan trọng trong bộ máy hành chính nhà nước của mọiquốc gia Họ vừa là người tham mưu xây dựng, đồng thời vừa là người tổ chức thựcthi các chính sách, pháp luật của nhà nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hànhchính một quốc gia phụ thuộc phần lớn vào phẩm chất đạo đức, trình độ chuyênmôn, tinh thần trách nhiệm, thái độ, động lực làm việc của đội ngũ công chức.Trong hệ thống chính quyền ở Việt Nam, chính quyền cấp cơ sở có vị trí rấtquan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dânthông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đây là cấp chính quyền gần dân vàtrực tiếp với dân, có chức năng, nhiệm vụ quản lý các mặt của đời sống chính trị,kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn dân cư Đáp ứngyêu cầu thực hiện mục tiêu cách mạng trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ 7, BanChấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW,

ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến

lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XII của Đảng đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ như: Hoàn thiện các thể chế, cơ chế,chính sách quản lý và sử dụng; đổi mới công tác cán bộ, nhất là công tác đánh giácán bộ, tuyển dụng; xây dựng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh phòng,chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có

đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu hoạt động công vụ

Trang 12

Thành phố Buôn Ma Thuột là một trong số 15 đơn vị cấp huyện của tỉnh ĐắkLắk, có 21 xã, phường với 263 công chức Hiện nay, nền kinh tế - xã hội của thànhphố Buôn Ma Thuột đã có bước phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức khá,đời sống nhân dân được cải thiện Văn hoá xã hội, sự nghiệp giáo dục đào tạo cónhiều chuyển biến tích cực Các hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa, xoá đói, giảmnghèo đã triển khai thực hiện tốt Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhànước được thực hiện đầy đủ, nhất quán Quốc phòng - an ninh được giữ vững và ổnđịnh Đội ngũ công chức cấp xã đã phát huy được vai trò trách nhiệm trong hoạtđộng quản lý nhà nước và đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, bên cạnh đó chất lượng độingũ công chức cấp xã còn những hạn chế nhất định: Trình độ chuyên môn chưa đápứng so với yêu cầu trong tình hình mới; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡngcông chức chưa kịp thời, chưa phù hợp và đôi lúc chưa đúng yêu cầu; cơ cấu độingũ công chức còn chưa hợp lý, thể hiện rõ qua số lượng cũng như giới tính; chínhsách tiền lương, phụ cấp đối với đội ngũ công chức cấp xã chưa đồng bộ, chưa hợp

lý Bên cạnh đó, một bộ phận đội ngũ công chức có biểu hiện suy thoái về phẩmchất, đạo đức, lối sống, tham nhũng gây tổn hại không nhỏ đến uy tín, làm giảm sútlòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Xuất phát từ thực tế đó, học viên chọn vấn đề “Thực hiện chính sách phát

triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”

làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, công chức nóichung, công chức cấp xã nói riêng đã được công bố Liên quan trực tiếp đến côngtác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có một số công trìnhnhư sau:

a Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đội ngũ cán bộ, công

chức nói chung

Ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ và xem đây là

Trang 13

nhiệm vụ chính trị hàng đầu xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Vì vậy, Đảng ta

đã xây dựng chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, vấn đề cán bộtrở thành đối tượng nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả, cụ thể như:

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2011), Cơ sở lý luận thực tiễn xây

dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tiếp tục đưa ra

nhiều luận cứ khoa học của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành ở nước

ta Qua đó, nhiều vấn đề được khẳng định: về vị trí, vai trò nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng của cán bộ và công tác cán bộ; về yêu cầu đức - tài, phẩmchất - năng lực của tiêu chuẩn cán bộ đặt trong trong quan hệ với nhiệm vụ chínhtrị, với xu thế của thời đại; về trách nhiệm của các cấp chủ thể, nhất là cấp ủy vàngười đứng đầu cấp ủy, hệ thống chính trị; về quan điểm, mục tiêu, phương hướng,giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bài viết Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách nền

hành chính nhà nước của tác giả Trương Quốc Việt, đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà

nước số 5/2015 Tác giả đã phân tích những lý do phải nâng cao chất lượng cán bộ,công chức để đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước Tác giả cũng đãnêu ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứngyêu cầu cải cách nền hành chính ở Việt Nam hiện nay, trong đó có giải pháp cảicách chế độ, chính sách để tạo động lực cho cán bộ, công chức Tại giải pháp này,tác giả cho rằng muốn cán bộ, công chức làm việc tốt phải giải quyết hài hòa bàitoán lợi ích vật chất và tinh thần của họ Về lợi ích vật chất, chính sách tiền lươngvới công chức phải tương xứng với giá trị sức lao động bỏ ra và phải bảo đảm duytrì cuộc sống của bản thân, một phần tích lũy cho gia đình và một phần để đề phòngrủi ro Về lợi ích tinh thần, cần đổi mới công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, đàotạo, bồi dưỡng, môi trường và điều kiện làm việc …

Bài viết Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về định kỳ chuyển

đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã nhằm phòng ngừa tham nhũng của tác

giả Nguyễn Đặng Phương Truyền, đăng trên Tập san Quản lý nhà nước số 2/2016

Trang 14

Tác giả đã nêu lên những hạn chế thực trạng quy định của pháp luật về định kỳchuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã, như: việc chuyển đổi vị trí côngtác mới chỉ ở một số chức danh, chưa phải ở tất cả các chức danh; chưa quy địnhthời gian chuyển đổi đối với từng chức danh; các chế độ chính sách khi chuyển đổi

vị trí chưa bảo đảm Tác giả đã nêu ra một số kiến nghị để hoàn thiện quy định củapháp luật về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã Tuy nhiên,bài viết của tác giả mới chỉ đánh giá việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác là nhằmphòng ngừa tham nhũng, mà quên mất một điều là việc chuyển đổi vị trí công táccòn có tác dụng tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã Bên cạnh đó, tác giảmới chỉ dừng lại ở việc đánh giá chuyển đổi vị trí công tác trong cùng một xã, chưa

đề cập đến việc chuyển đổi từ xã này sang xã khác, từ công chức cấp xã lên côngchức huyện và ngược lại

Bài viết Một số giải pháp về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ,

công chức, viên chức giai đoạn 2012 - 2020 của tác giả Thang Văn Phúc, đăng trên

Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1/2013 Tác giả cho rằng, tiền lương công chức hiệnnay không phản ánh đúng giá trị sức lao động của họ - một loại lao động đặc biệt -lao động quyền lực Tác giả đưa ra các quan điểm, nguyên tắc, nội dung cải cáchtiền lương, các giải pháp và điều kiện thực hiện một cách khá chi tiết Cuối cùng,tác giả nhận định: Chính sách tiền lương hợp lý đối với cán bộ, công chức, viênchức là một vấn đề chính trị - kinh tế và xã hội của đất nước trong thời kỳ phát triểnnhanh và bền vững Đây là động lực cơ bản, khuyến khích tinh thần làm việc tậntụy, trung thành và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, là cơ sở đểnâng cao chất lượng nền công vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bài viết Xây dựng phương thức trả lương cho công chức cấp xã theo vị trí việc

làm của tác giả Phạm Thị Thu Thủy, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 251

(12/2016) Tác giả phân tích thực trạng trả lương cho công chức cấp xã hiện nay cònmột số hạn chế như: tiền lương còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đúng mức

độ phức tạp của công việc, trách nhiệm công việc đòi hỏi đối với từng vị trí côngviệc; phương thức tính lương chưa tính đến hiệu quả làm việc của công chức

Trang 15

Điều này không khuyến khích công chức cấp xã đảm nhận những công việc phứctạp, đòi hỏi cao về trách nhiệm Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng phương thức trảlương cho công chức cấp xã theo vị trí việc làm một cách khá chi tiết và cụ thể Vớiphương thức trả lương cho công chức cấp xã theo vị trí việc làm, tiền lương củacông chức cấp xã sẽ phản ánh đúng hơn mức độ phức tạp của công việc, tính tráchnhiệm mà công việc đòi hỏi và điều kiện làm việc góp phần giảm bớt tính bình quântrong trả lương của chính sách tiền lương công chức hiện hành.

Bài viết Phong cách lãnh đạo - yếu tố quan trọng trong xây dựng văn hóa tổ

chức của tác giả Nguyễn Thị Thu, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 215

(12/2013) Tác giả cho rằng, để đạt được mục tiêu của tổ chức cần chú ý đến một sốbiện pháp nhằm khuyến khích, tạo động lực cho người lao động Nhà lãnh đạo, quản

lý phải tạo ra được bầu không khí làm việc thân thiện trong tổ chức Sự khuyếnkhích có thể được nâng hoặc cũng có thể bị triệt tiêu lên bởi bầu không khí trong tổchức Tuy nhiên, bài viết của tác giả chủ yếu đề cập đến phong cách lãnh đạo củanhà lãnh đạo, quản lý nói chung, chưa đề cập đến phong cách lãnh đạo của nhà lãnhđạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước

Bài viết Nâng cao tính tích cực nghề nghiệp của công chức của tác giả Tạ

Ngọc Hải, đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 9/2013 Tác giả nhận xét: Đa sốcông chức có tinh thần, thái độ làm việc tích cực; số lượng các công việc hoàn thànhtheo yêu cầu tiến độ đạt tỷ lệ cao; sẵn sàng làm thêm giờ nếu thấy công việc đang bịchậm chễ Tuy nhiên, một bộ phận công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao, thờigian làm việc bảo đảm, song chất lượng, hiệu quả công việc chỉ đạt mức trung bình;chưa thật sự say mê, tinh thần trách nhiệm chưa cao, vẫn còn hiện tượng né tránh,thoái thác công việc khi có thể Tác giả cũng đã nêu ra những nguyên nhân củanhững hạn chế, đồng thời đưa ra những kiến nghị, đề xuất để nâng cao tính tích cựcnghề nghiệp của công chức, như: Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo môi trườngpháp lý thuận lợi cho hoạt động quản lý, sử dụng công chức; nâng cao hiệu quảcông tác tổ chức cán bộ trong khâu tuyển dụng, quản lý, sử dụng và đánh giá côngchức; tăng cường kiểm tra, giám sát kết hợp với khen thưởng, kỷ luật; đào tạo,

Trang 16

bồi dưỡng công chức; gắn hiệu quả công việc với triển vọng nghề nghiệp; đề caovai trò của người đứng đầu trong việc nâng cao tính tích cực của công chức; cảithiện thu nhập, tạo môi trường làm việc thuận lợi, nâng cao giá trị nghề nghiệp…

Bài viết Đổi mới quản lý cán bộ, công chức ở Việt Nam theo xu hướng “Quản

lý nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải, đăng trên Tạp chí Tổ chức

nhà nước số 7/2015 Theo tác giả, công tác quản lý cán bộ, công chức ở Việt Namtrong thời gian qua vẫn mang nặng đặc điểm của “Quản lý nhân sự”, bởi các chínhsách và thực tiễn quản lý cán bộ, công chức vẫn chưa thực sự bảo đảm công bằng;chưa tạo ra sự cam kết và trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với công việc;chưa khuyến khích cán bộ, công chức hăng say làm việc Tác giả đưa ra một số đềxuất đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức theo xu hướng quản lý nguồn nhânlực, đặc biệt tác giả nhấn mạnh chính sách tiền lương và đánh giá cán bộ công chức,

vì cho rằng chính sách này thực sự tạo và duy trì động lực làm việc cho cán bộ,công chức Các chính sách tạo môi trường làm việc hiệu quả, xây dựng văn hóa tổchức tích cực và hiệu quả… là những chính sách để công chức phát huy năng lực sởtrường góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

b Nhóm công trình nghiên cứu về công chức cấp xã ở Việt Nam

Xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị cấp xã là đối tượng nghiên cứuđược nhiều nhà khoa học quan tâm, không chỉ bởi vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ

sở, mà còn liên quan đến vai trò và thực tế việc xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán

bộ cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt Nhiều sách, đề tài, luận án, luận văn, bài viết đã phântích sâu sắc, trên từng góc độ tiếp cận thực trạng của hệ thống chính trị cấp cơ sở, nhất

là ở vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, với những khó khăn, vướng mắc

về điều kiện kinh tế - xã hội, về đội ngũ cán bộ, công chức với nhiều nguyên nhânkhách quan, chủ quan, trong đó có 2 yếu tố quan trọng nhất: con người và cơ chế -những điều kiện đảm bảo cho hệ thống chính trị vững mạnh

Tác giả Trần Thị Hồng Nhung (2014), "Công chức cấp xã ở tỉnh Thanh Hóatrong giai đoạn hiện nay" Với công trình này, tác giả đã nghiên cứu, làm rõ các vấn

Trang 17

đề lý luận về công chức cấp xã, năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã,đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã ở tỉnh ThanhHóa, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng thực thi công vụ củacông chức cấp xã góp phần thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Trương Việt Hoa (2015) "Chính

sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang", đã làm rõ cơ

sở lý luận về chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã, thực trạng thực hiệncác chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã và đưa ra các giải pháp hoànthiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn (2016)

"Chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức từ thực tiễn thị xã Điện Bàn

tỉnh Quảng Nam", đã làm rõ cơ sở lý luận về chính sách phát triển cán bộ, công

chức, viên chức, thực trạng thực hiện các chính sách phát triển cán bộ, công chức,viên chức và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển cán bộ, côngchức, viên chức

c Nhóm công trình nghiên cứu về cán bộ, công chức cấp xã ở vùng

Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk

Tây Nguyên từ trước đến nay luôn hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của các nhà khoahọc trong nghiên cứu, khám phá những giá trị về văn hóa, những đặc trưng về xã hội,những biến động về kinh tế, chính trị Nhất là từ sau những biến động chính trị năm

2001 và 2004, hàng loạt công trình khoa học được triển khai cụ thể như:

Luận án tiến sĩ "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ các

cấp ở Tây Nguyên hiện nay" (2000) của Nguyễn Mậu Dựng đề cập đến vai trò của

việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số ở TâyNguyên là việc làm thường xuyên và cấp bách, quyết định sự ổn định và phát triểncủa hệ thống chính trị nơi đây

Sách “Một số vấn đề về văn hóa - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

hiện nay” (2010) của Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam đồng chủ

Trang 18

biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) Điểm chung của các công trình là phản ánhđược điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tây Nguyên, sựtác động của các yếu tố dân tộc, tôn giáo, sự chống phá của các thế lực thù địch cùng những giải pháp có tính đồng bộ về tận dụng lợi thế, tiềm năng, về xây dựng hệthống chính trị cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, về phát huy bản sắcvăn hóa các dân tộc để tiếp tục xây dựng Tây Nguyên ngày càng ổn định và phát triển.

Bài viết: “Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây

Nguyên” của Nguyễn Văn Quý (Website của Sở Nội vụ Đắk Lắk, 7 - 3 - 2011) cho

thấy từ khi có Quyết định số 253/QĐ - TTg ngày 5 - 3 - 2003 của Thủ tướng Chính

phủ về việc phê duyệt Đề án "Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ

sở vùng Tây Nguyên" giai đoạn 2002 - 2010, hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên

được củng cố, tăng cường về nhiều mặt; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ đượcnâng lên Bên cạnh đó, vẫn còn một số khó khăn: Trình độ của đội ngũ cán bộ, côngchức cơ sở được nâng lên nhưng năng lực quản lý, điều hành, thuyết phục, tập hợpquần chúng còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Vìvậy, trong giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vững mạnh, tác giả đềcập đến giải pháp quy hoạch tạo nguồn cán bộ và bảo đảm tỷ lệ cơ cấu cán bộ ngườidân tộc thiểu số trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tương đương với tỷ lệ dântộc thiểu số trong dân cư Để làm được điều đó phải: Tăng cường kinh phí hàng năm

để đào tạo cán bộ, công chức, hoàn thiện chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng,

có chính sách thu hút cán bộ, công chức có trình độ, có năng lực hoạt động thực tiễngiảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công chức

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã trên từng địa bàn Tây Nguyên có các

công trình sau: Về Gia Lai, có bài viết “Gia Lai: Tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp

đại học về cơ sở công tác - Kết quả và kinh nghiệm” của Trần Thiết (Tạp chí Xây

dựng Đảng điện tử, 19 - 9 - 2011) phản ánh tình hình sau 2 năm thực hiện Đề án 03của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai về "tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học bốtrí về cơ sở công tác", bước đầu cho thấy mục tiêu của công tác này (tăng cườngngười có trình độ về vùng khó khăn; rèn luyện, thử thách cán bộ để đưa vào quy

Trang 19

hoạch tạo nguồn) đang đúng hướng, nhưng để đạt mục tiêu thì phải rút kinh nghiệm

để bổ sung, điều chỉnh một số khâu, như: trước khi bố trí sinh viên về xã cần bổ sung cho sinh viên kiến thức về chuyên môn, quản lý nhà nước theo từng nhóm chức danh; xây dựng các văn bản pháp quy về chế độ ưu tiên trong xét tuyển, chuẩnhóa chuyên môn theo chức danh được tuyển dụng hằng năm; phân công cán bộ, đảng viên theo sát, giúp đỡ các sinh viên tiếp cận với thực tiễn, nhanh chóng hòa nhập vào môi trường công tác mới

Về Lâm Đồng, có bài “Tạo nguồn cán bộ xã ở Lâm Hà” của Viết Trọng (Lâm

Đồng online, 26 - 12 - 2010) khái quát lộ trình thực hiện chính sách đào tạo cán bộ công chức cấp xã của huyện, hướng tới hoàn thiện qui trình đào tạo từ đầu vào cho đến đầu ra, từ việc xác định nhu cầu đào tạo, tạo môi trường làm việc, sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, đánh giá CB, CC một cách khách quan khoa học

Bài “7 năm thực hiện Quyết định 253/QĐ - TTg: Cán bộ cấp xã đang từng bước

“trẻ hóa” và “chuẩn hóa” của Đức Hưng (Lâm Đồng online, 11 - 4 - 2012) Nói

chung các bài viết đều đứng trên góc độ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để phản ánh kết quả tạo nguồn

Về Đắk Nông, có bài “Kết quả và kinh nghiệm thực hiện công tác dân tộc trên

địa bàn tỉnh Đắk Nông” của Trần Thanh Long (bdt.daknong.gov.vn ngày 15 11

-2012) phản ánh kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ vùng dân tộc theo phươngchâm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách

“trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân” Chú trọng phát huy vai tròngười có uy tín trong đồng bào để xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở Trong đàotạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài kiến thức lý luậnchính trị, chuyên môn nghiệp vụ cần có thêm kiến thức về phong tục, tập quán,ngôn ngữ, tâm lý dân tộc Nhà nước cần có chính sách đào tạo cán bộ dân tộc thiểu

số thông qua các trường phổ thông dân tộc nội trú của huyện và tỉnh Ưu tiên cho cơ

sở chỉ tiêu thu nhận sinh viên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo cao đẳng, đại học

Về Kon Tum, có bài “Công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ cơ sở

tỉnh Kon Tum - Thực trạng và giải pháp” (Tham luận của Sở Nội vụ Kon Tum tại

Hội thảo “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số ở Tây

Nguyên” ngày 10 - 11 - 2009 do Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum tổ chức)

Trang 20

đề xuất: bên cạnh việc đẩy mạnh dạy bổ túc văn hóa tại chỗ, cần tổ chức đào tạo,bồi dưỡng với các hình thức phù hợp với điều kiện công tác của cán bộ cơ sở như:đào tạo tại chức tại địa phương, kết hợp với dạy bổ túc văn hóa và lý luận chính trị

để rút ngắn thời gian đào tạo và giảm chi phí; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn liền vớiqui hoạch, tạo nguồn cán bộ; chú ý chọn các em tốt nghiệp phổ thông các trườngdân tộc nội trú để đưa vào qui hoạch, tạo nguồn tại chỗ, đồng thời phải thực hiện tốtviệc bố trí sử dụng cán bộ sau đào tạo; sớm khắc phục việc bố trí sử dụng khôngphù hợp với chuyên môn được đào tạo

Về Đắk Lắk, tác giả Nguyễn Phú Lập trong bài “Đắk Lắk tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng ở thôn, buôn, tổ dân phố” (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, 7 8

-2012), trong đó có nội dung đẩy mạnh việc bồi dưỡng, tạo nguồn để phát triển đảngviên, đặc biệt là ở những thôn, buôn chưa có hoặc ít đảng viên Trong công tác xâydựng và tạo nguồn cán bộ thôn, buôn, tổ dân phố cần tổ chức tốt việc tập huấn, bồidưỡng kỹ năng hoạt động; nghiên cứu đề ra những chính sách trợ cấp phù hợp; đổimới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí và phát triển nguồnnhân lực làm cơ sở cho quy hoạch cán bộ từ xa Đây là kết quả của những nghiêncứu thực tế, gắn với từng địa phương cụ thể, luận văn có thể kế thừa để làm rõ tìnhhình, những yêu cầu đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức củacác tỉnh Tây Nguyên hiện nay

Tóm lại, những công trình và bài viết trên đây đã phân tích một cách hệ thống

và khá toàn diện về cán bộ, công chức như: Những ưu điểm, hạn chế của đội ngũcán bộ, công chức cấp xã hiện nay; những chế độ chính sách đối với cán bộ, côngchức cấp xã và những vấn đề tồn tại bất cập; thực hiện chính sách phát triển côngchức hành chính nhà nước Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề cập đến những phươnghướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêucầu quản lý nhà nước trong tình hình mới Đây là những công trình, sản phẩm trí tuệ

có giá trị, ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở để tác giả luận văn kế

thừa trong nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã

trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích thực trạng việc thực hiện các chính sách phát triển công chức cấp xã

ở thành phố Buôn Ma Thuột Từ đó, hoàn thiện các giải pháp thực hiện chính sách

Trang 21

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

+ Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đối với công chức cấp xã;+ Vận dụng lý thuyết chính sách công để phân tích thực trạng thực hiện cácchính sách phát triển công chức cấp xã tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;+ Nghiên cứu hoàn thiện các giải pháp thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước vềthực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người; quanđiểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, công chức

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh… Trong đó chủ yếu là phương pháp thống kê, phân tíchnhững ưu điểm, hạn chế, bất cập từ đó kiến nghị về thực hiện chính sách phát triểnđối với đội ngũ công chức cấp xã

Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả tiến hành thu thập thông tin bằngbảng hỏi, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, đã chọn ra 200 người dân đểtiến hành điều tra nhận xét của nhân dân đối với công chức xã ở nội dung như: uytín trong công tác, kỹ năng làm việc Đồng thời chọn ra 21 cán bộ lãnh đạo chínhquyền cấp xã để tiến hành điều tra nhận xét về sự phù hợp giữa trình độ, năng lựccủa công chức xã đối với các vị trí đang đảm nhận, về phẩm chất, đạo đức, lối sống,thái độ phục vụ nhân dân Số liệu thu thập được phân loại theo nhóm nội dung,phân tích và so sánh, thống kê

Phương pháp phỏng vấn: Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số người dân ở thành phố Buôn Ma Thuột để có đánh giá khách quan về quá trình thực thi công vụ

Trang 22

của đội ngũ công chức cấp xã.

Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin vềhành vi, thái độ, điều kiện làm việc của công chức cấp xã tại trụ sở công tác

Phương pháp phân tích tài liệu: Được sử dụng để thu thập phân tích tài liệu

Đó là tài liệu thứ cấp như sách, bài báo, luận văn, luận án; tài liệu sơ cấp do tác giảthu thập được (báo cáo của các cơ quan, tổ chức, tài liệu điều tra, khảo sát…)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bànthành phố Buôn Ma Thuột, luận văn chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong việchoạch định và thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã để có những biệnpháp khắc phục Đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạo thành phố Buôn

Ma Thuột, các tổ chức, đoàn thể, đơn vị liên quan có cơ sở thực tiễn để điều chỉnhchính sách phát triển và tổ chức thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xãtrên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk hiệu quả hơn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã

Chương 2: Thực trạng thực hiện các chính sách phát triển công chức cấp xã từ thực tiễn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã ở thành phố Buôn Ma Thuột

Trang 23

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm công chức và công chức cấp xã

1.1.1.1 Khái niệm công chức

Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc giatrên thế giới để chỉ ra những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyêntrong các cơ quan nhà nước Do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm côngchức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất Có nước thì chỉ giới hạn côngchức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác thì

có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trựctiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việctrong các cơ quan có tính chất công cộng

Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việctrong các công sở gồm: các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ côngcộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương

Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người công tác trong

cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và côngchức nghiệp vụ Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước, được

bổ nhiệm theo các trình tự của luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn

cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật

Nhìn chung, các nước trên thế giới đều có nhiều điểm chung cơ bản giốngnhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội và

do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng

13

Trang 24

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa, ban hành Quy chế công chức như sau: Những công dân Việt Nam

được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định.

Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệmcông chức đã từng bước được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn Tuy nhiên, các kháiniệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức

Đến năm 2008, Quốc hội khóa XII nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức Đây là bước tiến mới, mang tính cáchmạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá các quan điểm, đường lốicủa Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trong khoản 2, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, quy định: Côngchức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố; trong cơ quan, thuộc đơn vị quân độiNhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an Nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ

sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệpcông lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sauđây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quyđịnh của pháp luật [14, tr.1] Để hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức thìChính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như: Nghịđịnh số 06/2010/NĐ - CP ngày 25 tháng 01 năm 2010, quy định công chức là:

Trang 25

"Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh,

trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [7, tr.1].

Như vậy, công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các

cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở cácPhòng, Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức Chính trị - xã hộinhư: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn Thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân độinhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấpTrung ương đến cấp thành phố

1.1.1.2 Khái niệm công chức xã

Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ,

công chức 2008 cụ thể như sau:“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được

tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp

xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [14, tr.4].

Như vậy, công chức xã là người được tuyển dụng và phụ trách các lĩnh vựcchuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại Ủy ban Nhân dân cấp xã, trực tiếp tham mưu cholãnh đạo Ủy ban Nhân dân cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiệncác chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

1.1.2 Khái niệm về chính sách phát triển công chức cấp xã

1.1.2.1 Khái niệm về chính sách

Chính sách là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tậphợp các quyết định có liên quan với nhau bao hàm trong đó định hướng mục tiêu vàcách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội

Chính sách là do con người tạo ra, nhưng đồng thời chính sách lại tác độngmạnh mẽ đến hoạt động của con người Chính sách có thể mở đường, là động lựcthúc đẩy tính tích cực, khả năng sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi conngười, nhưng cũng có thể kìm hãm những hoạt động và tài năng, sáng tạo của họ

Vì vậy, có thể khẳng định rằng chất lượng cán bộ luôn gắn liền với hệ thống chính

Trang 26

sách cán bộ Chính sách cán bộ góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi người sống trong bình đẳng, phát triển hài hòa.

Chính sách cán bộ là hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhànước đối với đội ngũ cán bộ, công chức; là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựngđội ngũ cán bộ đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng.Chính sách cán bộ bao gồm: Chính sách đào tạo - bồi dưỡng, chính sách sử dụng vàquản lý cán bộ, chính sách đãi ngộ v.v

Chính sách cán bộ là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước,

có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Kinh tế thịtrường là một nền kinh tế “mở” và “động”, đặc trưng của cơ chế thị trường là tínhcạnh tranh, do vậy chính sách cán bộ phải tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho mọicán bộ có thể phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Chính sách cán bộ giữ vaitrò quan trọng trong chiến lược của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lýcán bộ, đồng thời có tác dụng thúc đẩy và giúp cho chính sách kinh tế - xã hội đạtđược mục tiêu

1.1.2.2 Khái niệm chính sách phát triển công chức cấp xã

Phát triển: Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn củamột sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự rađời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần vềlượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu

kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn

Chính sách công: Chính sách công là tập hợp các quyết định mang tính chính trịnhằm vạch ra các đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý vớinhững vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự phát triểnnhằm đạt tới các mục tiêu nhất định cho trước Như vậy, có thể hiểu chính sách côngnhư sau: Chính sách công là tập hợp những quyết định chính trị có liên quan của nhànước nhằm lựa chọn những mục tiêu cụ thể với các giải pháp công cụ thực hiện giảiquyết những vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng cầm quyền

Trang 27

Chủ thể để ban hành chính sách cán bộ công chức nói chung và công chức cấp

xã nói riêng là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chínhphủ, các bộ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp nhằm thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khácnhau: Hiến pháp, luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định cấu trúc củachính sách gồm 3 bộ phận: Một là, những đường hướng hành động ứng xử (là quanđiểm và định hướng chính sách) Hai là, biện pháp thực hiện chính sách, các công

cụ chính sách Ba là, mục tiêu chính sách hướng tới

Xuất phát từ quan niệm về chính sách, chính sách công cũng như vai trò, đặcđiểm của đội ngũ công chức cấp xã, có thể quan niệm:

Chính sách phát triển công chức cấp xã là tổng thể những quan điểm, nguyêntắc và các quy định thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và các tổ chứctrong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh hoạt động, nghĩa vụ và quyền của côngchức cấp xã phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Đảng, Nhànước trong mỗi thời kỳ lịch sử

Từ khái niệm chính sách công và khái niệm công chức cấp xã thì “Chính sáchphát triển công chức cấp xã là tập hợp những quyết định có liên quan của nhà nướcnhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với những giải pháp và công cụ thực hiện giảiquyết những vấn đề phát triển công chức theo mục tiêu đã được xác định” Tùy theomục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn mà Đảng vàNhà nước Việt Nam sẽ có sự điều chỉnh các chính sách nhằm định hướng tiêuchuẩn, điều kiện, chức trách, nhiệm vụ và yêu cầu đối với cán bộ, công chức nóichung và công chức cấp xã nói riêng cho phù hợp với yêu cầu quản lý, điều hànhkinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương

1.1.2.3 Nội dung chính sách phát triển đối với công chức cấp xã

Công chức cấp xã là những người trực tiếp gánh vác trách nhiệm nặng nề.Hàng ngày họ phải giải quyết nhiều công việc ở cơ quan, đơn vị, phải luôn vượt quanhiều khó khăn trong cuộc sống, công tác và những hạn chế của bản thân; là ngườitrực tiếp tham mưu cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc chỉ đạo, điều

Trang 28

hành công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước; trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản

lý nhà nước theo đúng quy định của pháp luật và thẩm quyền được Ủy ban nhân dâncấp xã giao

Những thành công và không thành công trong việc xây dựng đội ngũ côngchức cấp xã đủ mạnh để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện naycho thấy, cùng với việc giáo dục chính trị, tư tưởng còn phải thực hiện tốt các chínhsách phát triển đối với họ Ở đây không chỉ là thực hiện những chính sách phát triểncủa Trung ương mà còn là cả sự vận dụng thực hiện chính sách phát triển đó vàocác địa phương như thế nào cho hợp tình, hợp lý đồng thời gắn với trách nhiệm,hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cấp xã và mức độ phát triển kinh tế - xãhội của từng địa phương

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu về thực hiệnchính sách phát triển đối với công chức nói chung và đặc biệt là đối với đội ngũcông chức cấp xã ngày càng cao, nhằm xây dựng đội ngũ công chức không những

có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn công chức mà còn phải gương mẫu, đi tiênphong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy khoa học, lý luậnsắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó với tập thể, vớicộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹnăng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành nghiêmchỉnh các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.Bên cạnh đó, cần quan tâm thực hiện phát triển các chính sách đãi ngộ về vậtchất và động viên tinh thần là yếu tố rất quan trọng nhằm tạo ra động lực làm việccủa đội ngũ công chức Đời sống và thu nhập của đội ngũ công chức cấp xã hiệnnay còn thấp, nếu giải quyết được hài hòa lợi ích vật chất và tinh thần cho họ thôngqua các chính sách, chế độ, thì đội ngũ công chức mới yên tâm tập trung cho côngtác, giảm bớt sự ràng buộc, phụ thuộc vào kinh tế gia đình Chính sách đãi ngộ vậtchất, động viên tinh thần một cách hợp lý và thỏa đáng là một nhân tố quan trọnggóp phần làm trong sạch đội ngũ, giúp đội ngũ công chức không tham nhũng, lãng

Trang 29

phí tiền bạc và công sức của nhân dân Đó cũng là nhân tố làm tăng cường ý thứcphục vụ nhân dân, bởi họ hiểu chính sách, chế độ mà họ được hưởng là tiền của vàcông sức của nhân dân đóng góp Chính sách đãi ngộ về vật chất và động viên tinhthần còn là yếu tố quan trọng để đoàn kết, tập hợp rộng rãi cán bộ, trọng dụngnhững người có đức, có tài trong và ngoài Đảng tham gia các hoạt động ở cơ sở, để

họ đóng góp vào công việc chung của đất nước Cùng với chính sách đãi ngộ haychế độ đãi ngộ cán bộ là chính sách sử dụng và quản lý Đó là việc bố trí và sử dụngcán bộ đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường của công chức; là việc đề bạt, bổnhiệm, đúng người, đúng việc, đúng lúc

Việc thực hiện chính sách phát triển đối với đội ngũ công chức cấp xã phảigắn với chế độ quản lý chặt chẽ đội ngũ này Cần phải nắm chắc từng công chức cả

về đức và tài Trên cơ sở đó có kế hoạch sử dụng, bố trí nhiệm vụ cho phù hợp,hướng dẫn, giúp đỡ, khen thưởng đúng mức những công chức có thành tích, đồngthời phải xử lý kịp thời, nghiêm minh những công chức vi phạm điều lệ Đảng, phápluật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị Có như vậy, chính sáchmới thực sự là động lực thúc đẩy tính tích cực của đội ngũ công chức

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài xem xét và nhìn nhận đội ngũ công chức cấp

xã ở góc độ công chức cấp xã không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong mộtchỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ công chức Vì vậy quan niệm về thực hiệnchính sách phát triển đối với đội ngũ công chức cấp xã phải được đặt trong mốiquan hệ biện chứng giữa việc thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp

xã với việc thực hiện chính sách phát triển của đội ngũ công chức nói chung

Theo quan điểm của tác giả, việc thực hiện chính sách phát triển đối với độingũ công chức cấp xã không chỉ theo cách hiểu là những việc họ được thụ hưởng

mà còn chứa đựng cả những việc công chức xã bắt buộc phải thực hiện Vì hiểu nhưvậy sẽ có cách bao quát rộng hơn, và chỉ ra được mối liên hệ khăng khít giữa cáiđược hưởng và cái phải thực hiện của đội ngũ này Khẳng định sự ràng buộc tất yếugiữa một bên là quyền và một bên là nghĩa vụ của họ

Trang 30

Với cách lập luận trên, tác giả đưa ra khái niệm về thực hiện chính sách phát

triển đối với đội ngũ công chức cấp xã như sau: Là tổng thể các quan điểm, quyết

định, quy định lựa chọn của Nhà nước nhằm phát triển đội ngũ công chức cấp xã về

số lượng, chất lượng, đồng thời điều chỉnh các hoạt động, những quyền, lợi ích và nghĩa vụ của đội ngũ công chức cấp xã phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của nhà nước trong mỗi giai đoạn cụ thể.

1.1.3 Số lượng công chức cấp xã

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ - CP ngày22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trítheo loại đơn vị hành chính cấp xã [9, tr.2]

Cấp xã loại 1 không quá 25 người; Cấp xã loại 2 không quá 23 người; Cấp

xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển,điều động, biệt phái về cấp xã) Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã được thựchiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ - CP ngày 27/12/2005 của Chínhphủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

1.1.4 Đặc điểm công chức cấp xã

Công chức cấp xã là những người đã trưởng thành về thể chất và trưởng thành

về mặt xã hội, được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trongcác cơ quan của Nhà nước, người đang trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyềncủa nền hành chính Quốc gia Như vậy, công chức là những người làm chủ đượchành vi, thái độ của mình và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách làmột công dân, một công chức hành chính Về mặt xã hội, những giá trị sản phẩmlao động của công chức được xã hội công nhận Họ là những người có đầy đủ cácđiều kiện hành vi trước pháp luật

Công chức cấp xã là những người đã có vị thế trong xã hội, vì công chức lànhững người đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo vàđược xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính Bởi vậy, họ đang cómột vị thế trong xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của Nhà nước là quản lýtoàn xã hội Họ có nhiều kinh nghiệm sống, được tích luỹ tuỳ theo lĩnh vực hoạt

Trang 31

động, là công chức, họ phải được đào tạo ở một trình độ nhất định, phù hợp với vị trí việc làm trong bộ máy công quyền.

1.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của công chức cấp xã

Công chức cấp xã là những người đang làm công tác chuyên môn thuộc biênchế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dâncấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công

và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao

Công chức xã là người tham mưu trực tiếp cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp

xã trong việc chỉ đạo, điều hành công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước; trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân,thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng các chính sách và thẩm quyềnđược Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho Nhiệm vụ của công chức cấp xã được quyđịnh tại Mục 2, Chương I Thông tư số 06/2012/TT - BNV ngày 30/10/2012 của BộNội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng côngchức xã, phường, thị trấn Ngoài nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã

tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn từng lĩnh vực được phân công theo quy địnhcủa pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xãgiao; công chức cấp xã còn phải trực tiếp thực hiện các công việc như sau:

- Nhiệm vụ của công chức Trưởng Công an xã: Trực tiếp thực hiện các nhiệm

vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của

cơ quan có thẩm quyền

- Nhiệm vụ của công chức Chỉ huy trưởng Quân sự: Trực tiếp thực hiện cácnhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụquân sự và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền

- Nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê:

+ Xây dựng và theo dõi việc thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác,lịch làm việc định kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

+ Giúp Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức

Trang 32

các kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động của

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã;

+ Tổ chức lịch tiếp công dân, tiếp khách của Ủy ban nhân dân cấp xã; thựchiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại Ủy ban nhândân cấp xã; nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; tổng hợp, theo dõi và báocáo việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã và thực hiện dân chủ ở

cơ sở theo quy định của pháp luật;

+ Chủ trì, phối hợp với các công chức khác xây dựng và theo dõi việc thựchiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình phát triểncông nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp xã;

dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

- Nhiệm vụ của công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đốivới phường, thị trấn) hoặc công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường(đối với xã)

+ Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng cácbáo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học, côngtác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn theo quy định của pháp luật;

+ Tổ chức vận động nhân dân áp dụng thực hiện các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp xã;

+ Giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của

Ủy ban nhân dân cấp xã;

+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trongviệc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác nhận nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụngđất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động về đất đai trên địa bàn; xây dựng các

hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựng các công trình và nhà ở trênđịa bàn để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định hoặc báo

Trang 33

cáo Ủy ban nhân dân cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

- Nhiệm vụ của công chức Tài chính - Kế toán:

+ Xây dựng dự toán thu, chi ngân sách cấp xã trình cấp có thẩm quyền phêduyệt; tổ chức việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách và các biện pháp khai thác cácnguồn thu trên địa bàn cấp xã;

+ Kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính, ngân sách theo hướngdẫn của cơ quan tài chính cấp trên; quyết toán ngân sách cấp xã và thực hiện báo cáo tàichính, ngân sách theo đúng quy định của pháp luật;

+ Thực hiện công tác kế toán ngân sách (kế toán thu, chi ngân sách cấp xã, kếtoán các quỹ công chuyên dùng và các hoạt động tài chính khác, kế toán tiền mặt,tiền gửi, kế toán thanh toán, kế toán vật tư, tài sản ) theo quy định của pháp luật;+ Chủ trì, phối hợp với các công chức khác quản lý tài sản công; kiểm tra,quyết toán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dâncấp xã theo quy định của pháp luật

- Nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch:

+ Phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chứcphục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp

xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;

+ Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; tham giacông tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã;

+ Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận và theo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức Văn hóa - Xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, buôn, tổ dân phố và công tác giáo dục pháp luật tại địa bàn cấp xã;

+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác trong việc thực hiện công tác hòa giải

ở cơ sở

- Nhiệm vụ của công chức Văn hóa - Xã hội:

+ Tổ chức, theo dõi và báo cáo các hoạt động về văn hóa, thể dục, thể thao,

Trang 34

du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống vănhóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã;

+ Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế - xã hội

ở địa phương;

+ Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổnghợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động,thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối vớingười được hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và cáccông trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóađói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;

+ Chủ trì, phối hợp với các công chức khác và trưởng thôn, buôn, tổ trưởng tổdân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dụctại địa bàn cấp xã

1.2 Nội dung, quy trì̀nh thực hiện chính sách phát triển đối với

công chức cấp xã

1.2.1 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đối với công chức cấp xã Chính

sách phát triển đối với đội ngũ công chức xã được quy định trong nhiều

văn bản của các cơ quan Đảng, Nhà nước và chủ yếu là ở các văn bản của Chínhphủ và các Bộ, Ngành

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả tập trung vào thực hiện cácchính sách cơ bản sau: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng và quản lý; đãi ngộđối với công chức cấp xã

1.2.1.1.Về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch biên chế để phát triển đội ngũ công chức nóichung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng là một công việc thường xuyên vàquan trọng, đây là quy trình thường xuyên được thực hiện hàng năm Quy hoạch tốt,bảo đảm tính khoa học và phù hợp với thực tế khách quan sẽ góp phần tạo đượcnguồn nhân lực kế cận có chất lượng cao, ngược lại sẽ gây lúng túng, bị động trongviệc tìm nguồn cán bộ có chất lượng, có bản lĩnh chính trị trong việc bố trí sắp xếp

Trang 35

cán bộ trong một giai đoạn không được định trước.

Quy hoạch cán bộ, công chức là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương,biện pháp tạo nguồn để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, là việc bố trí, lập kếhoạch trong dài hạn, là sự sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức đang làm trong các cơquan hành chính hoặc nguồn dự bị nhằm bảo đảm chủ động nguồn nhân lực có chấtlượng, lấp chỗ trống trong các cơ quan hành chính hay thay thế đội ngũ cán bộ,công chức đương nhiệm nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian nhấtđịnh Quy hoạch đội ngũ công chức là việc lập dự án, thiết kế xây dựng tổng hợpđội ngũ công chức; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ công chức theo một ý đồ

rõ rệt với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định làm cơ sở cho việc lập

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giới thiệu công chứcứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý

Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã được xác định là một nhiệm vụ thườngxuyên, có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độchuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của công chức; hướngtới mục tiêu tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Đào tạo,bồi dưỡng công chức là quá trình trang bị cho công chức những kiến thức, kỹ năng cầnthiết, trước hết là những kiến thức về nhà nước, pháp luật, phương thức quản lý và cácquy trình hành chính trong chỉ đạo, điều hành, phương pháp, kinh nghiệm quản lý,trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức.Nghị định số 18/2010/NĐ - CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, công chức nhấn mạnh: "bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao" [8, tr.2].

Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng công chức là nhằm trang bị các kiến thức, kỹ năng,phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chứcchuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại [8, tr.1].Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay là hướng tớiviệc xây dựng đội ngũ công chức trở thành những người có đạo đức cách mạng trongsáng, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cao, năng

Trang 36

động và sáng tạo đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại Phải là công bộc củadân, hết lòng vì nhân dân phục vụ Nâng cao trình độ chính trị, thấm nhuần các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trung thành với chế độ, tận tụy với côngviệc, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lýNhà nước Tuy nhiên, để đội ngũ công chức cấp xã có thể tham gia các khóa đàotạo, bồi dưỡng kiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước có vai tròrất quan trọng Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ thuộc vào cácvấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảngviên; chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, học phí, thời gian học ; cơ chếbảo đảm sau đào tạo để tránh lãng phí.

1.2.1.2 Về quản lý, sử dụng công chức

Việc sử dụng đội ngũ công chức cấp xã phải xuất phát từ nhiều yếu tố, trên cơ

sở các chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng cơ quan, đơn vị Đối với đội ngũcông chức xã, thì hai căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng là yêu cầu của công vụ vàđiều kiện nhân lực hiện có của tổ chức, cơ quan, đơn vị Sử dụng công chức xã phảidựa vào những định hướng có tính nguyên tắc sau: Sử dụng công chức phải có tiền

đề và quy hoạch Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu, mục tiêu của hoạt động quản lý

và mục tiêu sử dụng công chức Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô tư

và công bằng khi thực hiện chính sách của Nhà nước

Xây dựng chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với công chức khốiĐảng, đoàn thể và công chức khối cơ quan nhà nước Có chế độ phụ cấp và chínhsách thu hút đối với cán bộ, công chức công tác ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùngbiên giới, hải đảo có nhiều khó khăn và vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số.Tiến hành thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đối với đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã, như thu hút, đãi ngộ nhân tài; khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; thuhút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã Qua đó, độngviên sự nhiệt tình công tác, gắn bó với địa phương, củng cố sự đoàn kết, thống nhấttrong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, ngăn chặn những tiêu cực của cán bộ, côngchức và thực hiện công bằng xã hội

Trang 37

Quá trình đề bạt phải chú ý coi trọng việc lấy phiếu tín nhiệm để đề bạt theohướng mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải lànhững người biết việc, hiểu người, tránh bè phái, cục bộ, định kiến, hẹp hòi, thiếutính xây dựng Trước khi bỏ phiếu tín nhiệm để đề bạt, cán bộ được dự kiến đề bạtphải trình bày đề án hoặc chương trình hành động của mình Nên thực hiện thí điểmviệc thi tuyển, tiến cử, chế độ tập sự đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý Nếu làm tốt

sẽ là khâu đột phá thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.Người đứng đầu phải có ý thức trách nhiệm, công tâm, khách quan, phải vì lợi íchchung và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng ý kiến củatập thể Có quy chế phối hợp giữa người đứng đầu với cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan đơn

vị Nếu không chỉ đạo thực hiện tốt, có nguy cơ xảy ra bệnh cục bộ, bè phái, giatrưởng, độc đoán, mất dân chủ, nạn chạy chức, chạy quyền trong đề bạt cán bộ.Trong công tác quản lý và sử dụng công chức cần lưu ý đến các nội dung sau:

- Cơ chế bố trí, phân công công tác

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển đối với đội ngũ công chức xã,việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm và có thể nóiđây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũcông chức xã Quá trình bố trí, phân công và sử dụng công chức là một chuỗi cácmắt xích công việc quan trọng liên quan đến người công chức từ khâu tuyển dụngđầu vào, hướng dẫn tập sự, bổ nhiệm vào ngạch công chức, phân công công tác phùhợp với tiêu chuẩn ngạch, bậc và vị trí việc làm phù hợp với trình độ chuyên mônđược đạo tạo Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thầnhăng say làm việc, phát huy được năng lực, sở trường, rèn luyện kỹ năng thành thạocông việc khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyênmôn, góp phần chủ yếu bảo đảm cho việc hoàn thành công vụ của cơ quan Vì vậy,công tác phân công, bố trí công chức có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả thực hiện chínhsách phát triển đội ngũ công chức cấp xã

Nghị quyết số 03/NQ - TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp

hành Trung ương Đảng khoá VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công

Trang 38

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán bộ, công

chức như sau: Bố trí phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường; Đề bạt,cất nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc; Trọng dụng nhân tài, không phânbiệt đối xử với người có tài ở trong hay ở ngoài Đảng, người ở trong nước hayngười Việt Nam định cư ở nước ngoài; Chú ý kết hợp hài hòa giữa đóng góp củacông chức với chế độ chính sách tiền lương và các chính sách đãi ngộ khác

- Công tác đánh giá đội ngũ công chức

Đánh giá công chức là hoạt động công vụ được thực hiện từ phía cơ quan, đơn

vị, tổ chức, người sử dụng công chức, tập thể lao động nhằm xem xét chất lượngcông chức dựa trên cơ sở thực tiễn công tác của công chức và yêu cầu nhiệm vụđược cơ quan, đơn vị, tổ chức đề ra đối với công chức Đánh giá đúng công chức thìtoàn bộ quy trình công tác cán bộ sẽ chính xác, hiệu quả trong chọn người xếp việcđược chính xác, tạo điều kiện cho công chức phát huy được những sở trường, hoànthành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời không bỏ sót nhân lực chất lượng, chọnnhầm nhân lực kém chất lượng Ngược lại, đánh giá công chức không đúng thìkhông những bố trí, sử dụng công chức không đúng mà quan trọng hơn là mai một

dần động lực phát triển, có khi làm mất đi những tài năng,“vàng thau lẫn lộn”, xói

mòn niềm tin của đảng viên, quần chúng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chấtchính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiệnđược giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồidưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì đánh giá công chức được dựa vàocác nội dung như sau [14, tr.8]: Chấp hành các đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tácphong và lề lối làm việc; Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tiến độ và kếtquả thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệmvụ; Thái độ phục vụ nhân dân

Ngoài ra đối với công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội

Trang 39

dung sau đây: Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,quản lý; Năng lực lãnh đạo, quản lý; Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

Việc đánh giá công chức phải được thực hiện hàng năm, trước khi quy hoạch,điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái

Khi đánh giá phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử, cụ thể;trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dânchủ; công khai đối với công chức được đánh giá Phát huy đầy đủ trách nhiệm củatập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếutrong đánh giá công chức

Đánh giá công chức được coi là tiền đề quan trọng nhất nhưng vẫn là khâu khó

và yếu nhất, khó nhất là đánh giá cái “tâm” và cái “tầm” và bản lĩnh chính trị củangười công chức

- Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ

Kiểm tra, giám sát công chức nhằm nắm chắc thông tin diễn biến tư tưởng,tiến trình tiến hành công việc của công chức, giúp cho lãnh đạo cơ quan, đơn vịphát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời uốn nắn sửa chữa những sai sót của côngchức, hạn chế sự lãng phí nguồn nhân lực trong đội ngũ công chức, kiểm tra giámsát để đánh giá năng lực của từng công chức, từ đó có hướng bố trí công việc phùhợp hơn hoặc sắp xếp, đề bạt công chức hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng công chức cónăng lực kém, kịp thời đáp ứng công việc

Kiểm tra để phát hiện ra những ưu điểm cũng như hạn chế khuyết điểm củacông chức, loại trừ những người thiếu năng lực thoái hóa biến chất và ngăn chặn kẻxấu chui vào bộ máy Kết quả kiểm tra là cơ sở khách quan điều chỉnh và tác động,làm cho công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó vận dụnghình thức thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn những tiêu cực, phát huy nhân tốtích cực, tạo dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, với nhà nước

Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ công chức cấp xãmới nắm được thực trạng chất lượng và những biến động của đội ngũ này để xâydựng chiến lược và qui hoạch đội ngũ công chức cấp xã; kịp thời khen thưởng

Trang 40

những thành tích, tiến bộ và xử lý những sai phạm, tạo lòng tin của nhân dân đốivới chính quyền Mặt khác, tăng cường quản lý, kiểm tra, luân chuyển cán bộ, thaythế những cán bộ yếu kém, tăng cường cán bộ có chất lượng cho những nơi phátsinh điểm nóng, mất đoàn kết nội bộ, hoặc phong trào mọi mặt đều yếu.

1.2.1.3 Chính sách đãi ngộ công chức cấp xã

Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã trước đây và cán bộ, công chức cấp xãhiện nay đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Ngay sau cách mạng ThángTám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời trong điềukiện kinh tế - xã hội còn rất khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã đề ra chế độ, chínhsách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã Nếu tính từ năm 1975, tức sau khi hoàn thành cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến nay cácchế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã ở nước ta có thể chia thành 4 giai đoạn

cơ bản được đánh dấu bởi các văn bản của Chính phủ [11] Đó là:

Giai đoạn 1975 - 1992 Chính phủ có Quyết định số 130/CP ngày 30/6/1975của Hội đồng Bộ trưởng bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã;Quyết định số 111/HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng “Về việc sửađổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường” Ra đời trongđiều kiện sau khi đất nước thống nhất, chúng ta đang tiến hành công cuộc tái thiếtsau chiến tranh và đi lên chủ nghĩa xã hội với cơ chế kinh tế tập trung kế hoạch hoá,những quy định của Quyết định này phù hợp với tình hình thực tiễn lúc đó Cácchức danh trong bộ máy hành chính chỉ có chức năng quản lý hành chính, còn tráchnhiệm quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế, xã hội giao cho các hợp tác xã, phùhợp với khối lượng công việc, chế độ phụ cấp sinh hoạt phí cho cán bộ bình quân,đồng đều theo chế độ cấp thóc và tiêu chuẩn mua hàng Cán bộ có đủ 15 năm côngtác liên tục khi nghỉ việc đều có chế độ bảo hiểm, do đó cán bộ yên tâm công tác,việc điều động, thuyên chuyển không gặp khó khăn

Từ cuối năm 1986, Đảng và Nhà nước đã thực hiện chủ trương đổi mới kinh

tế, xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường Năm 1989, nông dân được giao quyền sử dụng đất,

Ngày đăng: 17/11/2023, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí công tác từ - (Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.1. Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí công tác từ (Trang 55)
Bảng 2.2. Số lượng và cơ cấu công chức theo giới tính tháng 6 năm 2018 - (Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.2. Số lượng và cơ cấu công chức theo giới tính tháng 6 năm 2018 (Trang 56)
Bảng 2.8. Đánh giá của nhân dân về uy tín trong công tác và năng lực tổ chức - (Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.8. Đánh giá của nhân dân về uy tín trong công tác và năng lực tổ chức (Trang 61)
Bảng 2.10. Đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã về sự phù hợp giữa trình độ, năng lực của - (Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách phát triển công chức cấp xã trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.10. Đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã về sự phù hợp giữa trình độ, năng lực của (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w