Tuy vậy, ở nước ta các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa khôngđược thể hiện một cách tập trung thành một văn bản quy phạm pháp luật thốngnhất mà mỗi loại hợp đồng được quy định trong
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -*** -
TRẦN QUỲNH ANH
HỢP ĐỒNG MUA BÁN THIẾT BỊ Y TẾ TRONG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêngtôi Các nguồn tài liệu, số liệu được sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc
rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn dotôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễncủa Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứunào khác
Học Viên
Trang 3VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -*** -
HỢP ĐỒNG MUA BÁN THIẾT BỊ Y TẾ TRONG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI, 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi luôn ghi nhận những sự ủng hộ, hỗ trợ vàđóng góp nhiệt tình của những người bên cạnh mình Nhân đây tôi xin chân thànhgửi lời cảm ơn sâu sắc đến họ
Lời đầu tiên tôi xin cảm ơn TS …… , người đã dìu dắt và hướng dẫn tôi trongsuốt quá trình làm luận văn Sự định hướng và chỉ bảo của thầy đã giúp tôi nghiêncứu và giải quyết vấn đề một cách khoa học, đúng đắn hơn
Tiếp theo, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Bộ phận sau Đại học,Phòng đào tạo, Phòng khảo thí Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện cho chúngtôi được học tập và hoàn thành khóa luận một cách thuận lợi Xin cảm ơn quý thầy côgiáo đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình làm luận văn, do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễncòn nhiều hạn chế nên luận án còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được nhiều ýkiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo để luận án được đầy đủ và hoàn thiệnhơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 12
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN THIẾT BỊ Y TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 13
1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán thiết bị y tế 13
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán thiết bị y tế 13
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán thiết bị y tế 18
1.2 Khái quát lý luận pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 21
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 21
1.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 23 1.2.3 Nội dung của pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 26
1.2.4 Vai trò của quy định pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 39
Tiểu kết Chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN THIẾT BỊ Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 42
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam 42
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán thiết bị y tế 42
2.1.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán thiết bị y tế 45
Trang 72.1.3 Hình thức của hợp đồng mua bán thiết bị y tế 47
2.1.4 Nội dung của hợp đồng mua bán thiết bị y tế 48
2.1.5 Hiệu lực của hợp đồng mua bán thiết bị y tế 51
2.1.6 Hợp đồng mua bán thiết bị y tế vô hiệu 53
2.1.7 Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán thiết bị y tế 61
2.2 Thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam 63
2.2.1 Tình hình thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam hiện nay 63
2.2.2 Một số hạn chế, bất cập trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị y tế 66
Tiểu kết Chương 2 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN TBYT Ở VIỆT NAM 70
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam 70
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam 72
3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế 72
3.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị y tế 75
Tiểu kết Chương 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triểnmạnh mẽ kéo theo tình hình mua bán hàng hóa ở Việt Nam diễn ra rất đa dạng vàphức tạp Tuy vậy, ở nước ta các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa khôngđược thể hiện một cách tập trung thành một văn bản quy phạm pháp luật thốngnhất mà mỗi loại hợp đồng được quy định trong một văn bản như: Hợp đồng dân
sự trong Bộ luật Dân sự (BLDS), hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động, hợpđồng thương mại trong Luật Thương mại (LTM)…
Tình trạng dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp, WHO công bố VirusCorona (Covid-19) là “đại dịch toàn cầu” với mức độ nguy hiểm cực kì cao ảnhhưởng tiêu cực không chỉ đến sức khỏe con người mà còn làm suy thoái cả nênkinh tế toàn cầu Bởi vậy, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nóiriêng hiện đang tăng cường sản xuất và mua bán các thiết bị y tế (TBYT) để cungcấp, phục vụ cho người dân và các bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe để đốichọi với đại dịch toàn cầu này
Bắt nguồn từ thực tế khách quan trên, việc giao kết hợp đồng mua bán TBYTđược thực hiện giữa các chủ thể khác nhau ngày càng được đẩy mạnh với số lượng vàgiá trị hợp đồng cực kì lớn Tuy nhiên, do pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể
về hợp đồng mua bán TBYT nên việc xảy ra tranh chấp về loại hình hợp đồng nàythường xuyên xảy ra Thêm vào đó, sự thiếu hiểu biết của các chủ thể giao kết hợpđồng về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán TBYT dẫn đến nhiềutrường hợp các hợp đồng mua bán TBYT bị vô hiệu do bởi nhiều lý do khác nhau Vì
vậy, đề tài “Hợp đồng mua bán thiết bị y tế trong pháp luật Việt Nam hiện nay” có tính cấp thiết nhằm nghiên cứu, làm sáng tỏ các nội dung về mặt lý luận và các quy
định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán TBYT, để từ đó
Trang 9đưa nhưng kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả về việc thực hiện pháp luật vềhợp đồng mua bán TBYT.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợpđồng mua bán TBYT nói riêng đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu, có thể kểđến một số nghiên cứu sau:
Luận văn của Trương Thị Thùy Dương (2018), “Hợp đồng mua bán hàng
hóa theo pháp luật Việt Nam”[6] đã hệ thống hóa một số lý luận chung về hợp
đồng mua bán hàng hóa, chỉ ra một số mặt hạn chế trong các quy định của pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và đề xuất một số giải pháp khắc phục
Luận văn của Ngô Thị Kiều Trang (2014), “Thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa theo pháp luật Việt Nam”[15] đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm về mặt
lý luận khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc của việc thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật ViệtNam trong việc thực hiện hợp đồng này
Luận văn của Lê Công Vượng (2016), “Đấu thầu mua sắm thiết bị y tế theo
pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”[17] đã nghiên cứu
chuyên sâu về pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa nói chung và TBYT nói riêng
và chỉ ra những bất cập trong quá trình thực hiện đấu thầu mua sắm và đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua sắm TBYT ở Việt Nam trên cả haibình diện điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật
Luận văn của Đinh Thị Thanh Huyền (2007), “Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”[9] đã nghiên cứu, phân tích thực trạng
điều chỉnh pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thực hiện mua bán hàng hóa
Trang 10tại Việt Nam và đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về thực hiện mua bán hàng hóa
Luận văn của Đoàn Quý Bình (2019), “Giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa theo pháp luật việt nam từ thực tiễn các công ty chế biến than thuộc tập đoàn than khoáng sản việt nam (tkv)”[1] đã thông qua việc hệ thống các vấn đề lý luận
về pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, kết hợp phân tích thực trạng
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Chế biến than thuộc Tập đoànThan Khoáng sản Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Luận văn của Bùi Thị Bích Trâm (2014), “Hợp đồng mua bán hàng hóa vô
hiệu và hậu quả phát sinh”[16] thông qua phân tích các quy định và thực trạng
pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu đã rút ra những điểm bất cập,
chưa hợp lý và đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thồng phápluật về lĩnh vực này
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng nhưviệc thực hiện mua sắm TBYT Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu cụthể vào hợp đồng mua bán TBYT theo pháp luật Việt Nam Vì vậy, thông qua đề
tài “Hợp đồng mua bán trang thiết bị tế trong pháp luật Việt Nam hiện nay” tác giả mong muốn rằng sẽ làm rõ hơn về các quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán TBYT ở Việt Nam cũng như đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiệnpháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu cơ bản nhất của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu về cácquy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán TBYT nhằm hoàn thiện hệ
Trang 11thống các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồngmua bán TBYT nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán
TBYT; hệ thống hóa một số khái niệm và làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dungpháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT,
cũng như thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán TBYT ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn kiến nghị một số
định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợpđồng mua bán TBYT theo quy định của pháp luật Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng mua bán TBYT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng tro ng khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm củaĐảng và pháp luật của nhà nước
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tàiliệu; Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và so sánh đối chứng; Phươngpháp phân tích chính sách tổng hợp; Phương pháp lịch sử cụ thể
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về
hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán TBYT trong pháp luật Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về hợp đồng mua
bán TBYT Thông qua đó, phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những khó khăn, hạnchế trong các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT cũng như trong việcthực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT Từ đó, đưa ra những đề xuất, giảipháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạtđộng thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán thiết bị y tế
theo pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực thiễn thực hiện pháp luật về hợp
đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
THIẾT BỊ Y TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán TBYT
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
a, Khái niệm hợp đồng
Nền kinh tế hàng hóa ra đời kéo theo sự xuất hiện của hoạt động trao đổihàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội Theo đó, thông qua hoạtđộng này mà các cá nhân, tổ chức có thể trao đổi cho nhau những lợi ích vật chấtnhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hằng ngày hoặc nhằm mục đích tích trữcủa cải, vật chất Để đảm bảo cho sự trao đổi này được diễn ra một cách thuận lợi
và phù hợp với nhu cầu của các bên thì các cá nhân, tổ chức thường thực hiện việctrao đổi, chuyển giao lợi ích vất chất thông qua việc thỏa thuận dưới hình thức lờinói hoặc chữ viết Như vậy, hợp đồng ra đời như một tất yếu khách quan
Theo hệ thống pháp luật của các nước phương tây thì khái niệm hợp đồngđược hiểu là một văn bản pháp lý ràng buộc, công nhận và điều chỉnh các quyền,nghĩa vụ của các bên tham gia thỏa thuận, hợp đồng có hiệu lực khi nó tuân thủ cácquy định của pháp luật[22], hợp đồng thường liên quan đến việc trao đổi hàng hóa,dịch vụ, tiền bạc hoặc lời hứa sẽ thực hiện hoặc không thực hiện một số hành độngnào đó Trong thông luật Anh-Mỹ thì để những thỏa thuận được coi là hợp đồng thìđòi hỏi phải bao gồm đầy đủ các yếu tố về: Đề nghị, chấp nhận, ý định tạo lập quan
hệ pháp luật, sự hợp pháp về hình thức và nội dung
Hợp đồng ngày nay bắt nguồn từ thuật ngữ “khế ước” trong hệ thống pháp luật
La Mã cổ đại Theo đó, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên
Trang 14của sự ưng thuận[23] Thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến ở thời kì trước
và sau khi giành độc lập dân tộc năm 1945, do ảnh hưởng của thuật ngữ pháp lýtrong luật dân sự của Pháp, Điều 653 Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972
quy định: “Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai
người hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hay đối vật”.
Theo Từ điển tiếng Việt thì hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai haynhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viếtthành văn bản[12] Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, hợp đồng được định nghĩalần đầu tiên tại Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1992 là sự thỏa thuận giữacác bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bêntrong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản làm một việc hoặc không làmmột việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng[8] Trải qua quá trình vận động và phát triển
đất nước, để phù hợp với thực tế khách quan thì định nghĩa về hợp đồng cũng được
thay đổi và ghi nhận một cách xúc tích, ngắn gọn trong BLDS 2015 như sau: “Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”[13] Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chế định về hợp đồng
không được gói gọn trong một văn bản hợp nhất mà mỗi loại hợp đồng sẽ được
quy định trong các luật chuyên ngành khác nhau như: LTM, Luật Xây Dựng, Luậtkinh doanh bảo hiểm
Dựa vào những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng như
sau: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt một số quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật được thể hiện dưới hình thức lời nói hoặc được lập thành văn bản.
b, Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 15Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩmcủa lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắtthép, quyển vở hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hànghóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con ngườinhờ vào các tính chất của nó[21] LTM năm 2005 cũng đưa ra khái niệm về hànghóa tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cảđộng sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai”.
Trong công cuộc hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay thì yêu cầu về tínhpháp lý trong các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hóanói riêng được đẩy lên hàng đầu Vì vậy, các chủ thể tham gia giao dịch bắt buộcphải làm quen với việc sử dụng các công cụ pháp lý để đảm bảo cho hoạt độngkinh doanh được diễn ra một cách bình thường, hiệu quả, công cụ pháp lý nhằmđảm bảo hoạt động mua bán hàng hòa ở đây là hợp đồng mua bán hàng hóa
BLDS năm 2015 có quy định hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữacác bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả
tiền cho bên bán[13] Theo LTM năm 2005 thì: Mua bán hàng hóa là hoạt động
thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Thông qua những quy
định này có thể thấy rằng, về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồngdân sự, hay nói cách khác hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng hợp đồng muabán tài sản cụ thể Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính thương mại,tức là nhằm mục đích sinh lợi nhuận và chủ thể giao kết hợp đồng sẽ các cácthương nhân hoặc có một bên là thương nhân
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng
Trang 16bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán nhằm mục đích kiếm lời, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
1.1.1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT
a, Khái niệm TBYT
TBYT bao gồm tất cả các dụng cụ, thiết bị kỹ thuật, phương tiện vậnchuyển, vật tư chuyên dùng và thông đụng phục vụ cho các hoạt động phòng bệnh,khám chữa bệnh cho ngành y tế Trên thế giới có rất nhiều các định nghĩa khácnhau về TBYT:
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì TBYT là những dụng cụ, thiết bị, máymóc, thuốc thử, phần mềm… được các nhà sản xuất tạo ra nhằm thực hiện mộthoặc nhiều mục đích y tế cụ thể như: Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trịhoặc giảm bớt bệnh tật; Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, phục hồi chấn thương; Điềutra, sửa đổi hoặc hỗ trợ hoạt động giải phẫu; Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; Kiểmsoát quá trình thụ thai; Khử trùng các thiết bị y tế…
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ cho rằng TBYT là nhữngdụng cụ, thiết bị, máy móc, phần mềm, thuốc thử trong ống nghiệm hoặc các sảnphẩm tương tự bao gồm các thành phần hoặc phụ kiện được công nhận bởi pháp luậtHoa Kỳ, được sử dụng để chẩn đoán bệnh tật hoặc sử dụng trong việc điều trị, chữabệnh hoặc ngăn ngừa bệnh tật ở người hoặc động vật hoặc có mục đích sử dụng ảnhhưởng đến cấu trúc hoặc bất kỳ chức năng nào trên cơ thể người hoặc động vật[18]
Nhật Bản định nghĩa TBYT là những dụng cụ và thiết bị được sử dụng đểchẩn đoán, chữa bệnh hoặc phòng ngừa bệnh tật ở người hoặc động vật; nhằm mụcđích ảnh hướng đến cấu trúc và chức năng của cơ thể người hoặc động vật[24]
Trang 17Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “trang TBYT” hay “TBYT” được địnhnghĩa cụ thể và chi tiết tại nghị định số 36/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sungtại nghị định số 169/2018/NĐ-CP:
1 Trang TBYT là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử
và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứng đồng thời các yêu cầu
– Kiểm soát sự thụ thai;
– Khử khuẩn trang TBYT, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm;
– Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người
b) Không sử dụng cơ chế dược lý, miễn dịch hoặc chuyển hóa trong hoặctrên cơ thể người hoặc nếu có sử dụng các cơ chế này thì chỉ mang tính chất hỗ trợ
để đạt mục đích quy định tại điểm a khoản này[2]
b, Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT
Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, an toàn lao
Trang 18loạt các trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám tư nhân mọc ra mới mục đích phục vụ,đáp ứng nhu cầu một cách nhanh nhất, tiện ích nhất, đảm bảo nhất cho người bệnh Sựgia tăng của các trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám tư nhân kéo theo hoạt độngmua bán TBYT phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh được đẩy cao Với những yêucầu khắt khe về chất lượng sản phẩm cũng như việc giá trị của một số TBYT rất lớn.
Vì vậy, việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán TBYT là một phương thức tấtyếu nhằm đảm bảo hoạt động mua bán các TBYT giữa doanh nghiệp kinh doanhTBYT với các trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám hoặc các doanh nghiệp kinhdoanh TBYT với nhau được diễn ra một cách thuận lợi, đảm bảo
Hợp đồng mua bán TBYT là một dạng của hợp đồng mua bán hàng hóa màtrong đó đối tượng của hợp đồng là TBYT và chủ thể thực hiện hợp đồng là cácdoanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu sử dụng TBYT
Như vậy, có thể định nghĩa hợp đồng mua bán TBYT như sau: Hợp đồng
mua bán TBYT là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao TBYT, chuyển quyền sở hữu TBYT cho bên mua và nhận thanh toán nhằm mục đích kiếm lời, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận TBYT và quyền
sở hữu TBYT theo thỏa thuận.
Hợp đồng mua bán trang thết bị y tế được chia thành hai dạng là hợp đồngmua bán TBYT trong nước và hợp đồng mua bán TBYT quốc tế dưới hình thứcxuất khẩu, nhập khẩu
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán TBYT
Hợp đồng mua bán TBYT về bản chất là một dạng hợp đồng mua bán hànghóa Vì vậy, hợp đồng mua bán TBYT cũng sẽ bao gồm những đặc điểm chung cơbản của hợp đồng mua bán hàng hóa và một số đặc điểm riêng đặc thù
Trang 191.1.2.1 Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán TBYT
- Là dạng hợp đồng ưng thuận mà theo đó hợp đồng được coi là giao kết khicác bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ quản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồngkhông phụ thuộc vào thời điểm bàn giao TBYT, việc bàn giao hàng TBYT chỉ đượccoi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán TBYT đã có hiệu lực
- Có tính đền bù, tức là khi bên bán thực hiện xong nghĩa vụ giao TBYT chobên mua thì sẽ nhận được từ bên mua một lợi ích vật chất tương đương với giá trịcủa TBYT theo thỏa thuận dưới dạng một khoản tiền, tài sản thanh toán
- Là hợp đồng song vụ: Các bên trong hợp đồng mua bán TBYT đều bị ràngbuộc vởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời có quyền yêu cầu, đòi hỏi bên còn lạithực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận đối với mình Trong hợp đồng mua bánTBYT tồn tại hai nghĩa vụ chính liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau: Bên bán
có nghĩa vụ bàn giao TBYT và chuyển quyền sở hữu các TBYT đó sang cho bênmua; Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán
- Về chủ thể: Hợp đồng mua bán TBYT được thiết lập giữa các chủ thể chủyếu là thương nhân Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng
ký kinh doanh[13, Điều 6] Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân không phải thươngnhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Đặc điểm riêng của TBYT
- Về chủ thể: Cũng tương tự như hợp đồng mua bán hàng hóa, chủ thể của hợpđồng mua bán TBYT chủ yếu là các thương nhân hoặc ít nhất là có một bên tham gia
là thương nhân Do kinh doanh TBYT là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Trang 20thực hiện hoạt động mua bán TBYT thì ngoài những điều kiện phải là cá nhân, tổchức hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh ra thì những cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động mua bán TBYT phải đápứng một số điều kiện mà pháp luật quy định về giấy phép kinh doanh, điều kiệnlưu hành đối với TBYT và điều kiện để công bố tiêu chuẩn áp dụng hoặc cấp giấychứng nhận đăng ký lưu hành đối với TBYT được quy định cụ thể tại Nghị định số36/2016/NĐ-CP và Nghị định số 169/2018/NĐ-CP.
- Về hình thức: Mặc dù pháp luật không có quy định cụ thể về hình thức củahợp đồng mua bán TBYT, tức là hợp đồng mua bán TBYT có thể được thể hiện bằnglời nói, lập thành văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối vớicác hợp đồng mua bán TBYT có yếu tố nước ngoài (Hợp đồng mua bán quốc tế) thìphải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Như vậy, có thể nhận thấy rằng đối với đặc thù là hoạt động kinh doanh cóđiều kiện được Nhà nước quản lý, giám sát chặt chẽ và giá trị thực tế của một sốTBYT là rất lớn Vì vậy, hợp đồng mua bán TBYT thường được lập thành văn bản
để đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng trong quá trình giao kết thực hiện và giảiquyết tranh chấp khi phát sinh
- Về đối tượng: Hợp đồng mua bán TBYT có đối tượng là các TBYT Theoquy định tại nghị định số 36/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại nghị định
số 169/2018/NĐ-CP thì TBYT bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tưcấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứngđược yêu cầu do pháp luật quy định và nhằm phục vụ cho mục đích y tế
- Về nội dung: Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợpđồng mua bán TBYT nói riêng đều bao gồm những điều khoản mà các bên tham giagiao kết hợp đồng thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng
Trang 21Các bên khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng cần đảm bảo là những nội dung
đó phải phù hợp với quy định của pháp luật với những điều khoản cụ thể, rõ ràng,
có khả năng thực thi cao
Nội dung của hợp đồng mua bán TBYT có thể chia thành ba loại điều khoản:(1) Điều khoản chủ yếu; (2) Điều khoản thường lệ và (3) Điều khoản tùy nghi Trong
đó, điều khoản chủ yếu là các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của yếu của cácbên; Điều khoản thường lệ là điều khoản được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật, dù có được quy định trong hợp đồng hay không thì các bên đềuphải thừa nhận và thực hiện; Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được đưavào hợp đồng theo sự thỏa thuận nhằm đáp ứng nhu cầu của các bên nhưng phảinằm trong khuôn khổ của pháp luật
1.2 Khái quát lý luận pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật
Từ thời xa xưa trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu sống cộngđồng, các quan hệ xã hội giữa người với người bắt đầu xuất hiện và phát triển đãhình thành những quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các quy tắc tôn giáo.Sau đó khi chế độ tư hữu xuất hiện đã làm phát sinh những mâu thuẫn, đối khánggiữa các con người trong cùng lãnh thổ sinh sống Điều này đòi hỏi phải có nhữngquy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc nhằm đảm bảo thực hiện sức mạnh cưỡngchế đối với các thành viên trong xã hội và một tổ chức chính trị đặc biệt có bộ máycưỡng chế nhằm đảm bảo cho các quy tắc xử sự chung đó được thực hiện Đâychính là tiền đề để pháp luật ra đời
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau được các học giả trên toàn thế giới đưa ra
về pháp luật Luban cho rằng: “Luật pháp là một hệ thống các quy tắc được tạo ra
Trang 22người dân”[22, tr23]; Austin lại hiểu “Luật là một hệ thống mệnh lệnh, được đảm bảo thực hiện bởi sự đe dọa và các chế tài xử phát của lực lượng cầm quyền”[20,
tr184]; Aquinas lập luật rằng “Pháp luật là văn bản nhằm đảm bảo một trật tự
chung hợp lý của tổng thể những hoạt động liên quan đến lợi ích chung của toàn
xã hội được ban hành bởi bất kỳ ai chịu trách nhiệm quản lý xã hội”[19, tr184].
Theo từ điển tiếng Việt thì Luật được hiểu là những phép tắc, quy định trong
xã hội buộc mọi người phải tuân theo[12] Như vậy, thông qua lịch sử về sự ra đờicũng như các khái niệm khác nhau về pháp luật, ta có thể đưa định nghĩa về pháp
luật như sau: Pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do
Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế”
Trong thời kì đất nước ta đang đổi mới phát triển, thúc đẩy công nghiệphóa, hiện đại hóa thì pháp luật ngày các có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Phápluật tại Việt Nam được thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật nhưcác Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Thông tư, Nghị định… Mỗi một văn bản quyphạm pháp luật sẽ có nội dung, đối tượng và phạm vi điều chỉnh khác nhau
1.2.1.2 Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
Chế định hợp đồng là một trong những chế định quan trọng, trung tâm nhất của
hệ thống pháp luật nói chung về hệ thống pháp luật dân sự nói riêng Bởi vậy, việcnghiên cứu, xây dựng một cách logic, có hệ thống những quy định, nguyên tắc điềuchỉnh về lĩnh vực này được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, chú trọng TạiViệt Nam, nhằm điều chỉnh một cách chi tiết, cụ thể từng lĩnh vực nên chế định hợpđồng không được quy định tập trung thành một văn bản pháp luật thống nhất mà mỗiloại hợp đồng về những lĩnh vực khác nhau đều được chịu sự điều chỉnh của
Trang 23các văn bản khác nhau như: Hợp đồng mua bán tài sản trong BLDS; Hợp đồng xâydựng trong Luật Xây dựng; Hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm;Hợp đồng lao động trong luật Lao động…
Pháp luật về hợp đồng là tổng thể các các quy định của pháp luật điều chỉnh
về chủ thể, hình thức, nội dung, nguyên tắc thực hiện hợp đồng cũng như việc giảiquyết các tranh chấp phát sinh khi giao kết hợp đồng trong một lĩnh vực cụ thể
Như vậy, từ những phân tích trên ta có thể hiểu định nghĩa pháp luật về hợp
đồng mua bán TBYT như sau: Pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT là tổng thể
các quy định của pháp luật được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về chủ thể, hình thức, nội dung, điều kiện, phương thức giao kết và nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán TBYT.
1.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
1.2.2.1 Đặc điểm về hợp đồng mua bán TBYT
Pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT được thể hiện dưới dạng các văn bảnquy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực mua bán hàng hóa Bản chất là mộtdạng hợp đồng mua bán hàng hóa, vì vậy, hợp đồng mua bán TBYT được điềuchỉnh bởi BLDS 2015 và LTM năm 2005, ngoài ra còn được điều chỉnh bởi Nghịđịnh 36/2016/NĐ-CP về quản lý TBYT; Nghị định 169/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghịđịnh 36/2016/NĐ-CP về quản lý TBYT và Công ước viên 1980 của Liên hợp quốc
về mua bán hàng hóa Quốc tế
Mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật sẽ điều chỉnh một phạm vi, đối tượngriêng trong hợp đồng mua bán TBYT Xuất phát từ những đặc điểm chung củapháp luật và pháp luật về hợp đồng, pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT có một
số đặc điểm sau:
Trang 24Thứ nhất, là tổng thể các quy định bắt buộc chung về chủ thể, nội dung, đối
tượng, hình thức, điều kiện, phương thức giao kết và nguyên tắc thực hiện hợpđồng mua bán TBYT
Thứ hai, được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được
pháp luật công nhận, bảo vệ và được đảm bảo giải quyết bằng phương thức Tòa án
Thứ ba, là cơ sở pháp lý cao nhất mà các bên căn cứ để thực hiện các quyền
và nghĩa vụ và giải quyết các tranh chấp phát sinh ngoài phạm vi thỏa thuận tronghợp đồng bằng các quy định của pháp luật có liên quan
1.2.2.2 Nguyên tắc pháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế
Hợp đồng mua bán thiết bị y tế là một dạng hợp đồng thương mại, chịu sựđiều chỉnh của Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 Vì vậy, nguyên tắcpháp luật về hợp đồng mua bán thiết bị y tế sẽ bao gồm những nguyên tắc phápluật cơ bản được được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005
và một số nguyên tắc đặc thù của hợp đồng mua bán thiết bị y tế trong một sốtrường hợp
Thứ nhất, những nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và
Luật Thương mại 2005
- Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,đạo đức xã hội
- Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng khi giao kết hợp đồng
- Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên
- Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại
- Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
Trang 25- Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạtđộng thương mại
Thứ hai, nguyên tắc riêng đặc thù trong trường hợp các bên lựa chọn áp
dụng Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC)
Xuất phát từ việc hợp đồng mua bán thiết bị y tế thường là những hợp đồngnhập khẩu thiết bị y tế từ nước ngoài Vì vậy, trong một số trường hợp, nếu các bênlựa chọn áp dụng Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) do ViệnThống nhất Tư pháp Quốc tế (UNIDROIT) soạn thảo và ban hành năm 1994, đượcsửa đổi và bổ sung năm 2004 thì hợp đồng đó phải tuân thủ các nguyên tắc đượcquy định trong bộ quy tắc này
Trong bộ quy tắc này quy định một số nguyên tắc cơ bản như:
- Các nguyên tắc về giải thích hợp đồng
Các nguyên tắc giải thích hợp đồng bao gồm: Giải thích dựa vào ý chí củacác bên; giải thích dựa vào các tuyên bố và hành vi của các bên; giải thích dựa trêntính thống nhất của hợp đồng; giải thích về hiệu lực đầy đủ của hợp đồng; giảithích khi có sự khác biệt về ngôn ngữ; giải thích về việc bổ sung những điều khoảnthiếu vắng trong hợp đồng
Những nguyên tắc giải thích này có một ý nghĩa quan trọng trong việc xácđịnh sự mong muốn của các chủ thể trong việc xác định hợp đồng nói chung vàhợp đồng thương mại quốc tế nói riêng Những nguyên tắc này nhằm đảm bảo việcgiải thích hợp đồng phải được thực hiện trên tinh thần làm cho hợp đồng được thựchiện trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ của các bên chủ thể
- Nguyên tắc contra proferrentem
Trang 26Đây là một nguyên tắc quy định về việc giải thích điều khoản của hợp đồngphải theo hướng bất lợi cho bên đề xuất điều khoản đó Trong quá trình xây dựng hợpđồng, một trong các bên chủ thể của hợp đồng được bên kia tin tưởng trong việc soạnthảo hợp đồng Nội dung các điều khoản đưa vào hợp đồng phải được dựa trên cácthỏa thuận của các bên trong quá trình đàm phán Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiềutrường hợp bên được quyền soạn thảo hợp đồng có thể đưa vào hợp đồng các điềukhoản mẫu đã được sử dụng trong các hợp đồng khác hoặc đưa vào các điều khoảnkhông rõ nghĩa Trong trường hợp này, những điều khoản mẫu hoặc những điềukhoản không rõ nghĩa đó sẽ được giải thích theo hướng bất lợi cho bên đề xuất.
1.2.3 Nội dung của pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
Nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT được quy định trong BLDS
2015 và LTM năm 2005 Theo đó, nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán TBYTbao gồm những nội dung chính như sau:(1) Giao kết hợp đồng, (2) Thực hiện hợpđồng và (3) Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng (4) Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợpđồng
1.2.3.1 Giao kết hợp đồng
Nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán TBYT được quy định tạitiểu mục 1 từ Điều 385 đến điều 400 BLDS 2015 Các nội dung cụ thể như sau:
- Về đề nghị giao kết hợp đồng, là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng
và chịu sự giàng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác địnhhoặc tới công chúng (bên được đề nghị) Đối với trường hợp đề nghị giao kết hợpđồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với ngườithứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại chobên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh[11,điều 378]
Trang 27- Về thông tin giao kết hợp đồng: Nếu một bên có thông tin ảnh hưởng đến
việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.Trong trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trìnhgiao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụngthông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.Nếu một trong các bên vi phạm thì phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra trênthực tế[11, điều 378]
- Về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực: Thời điểm này được bên
đề nghị giao kết ấn định, nếu bên đề nghị giao kết không ấn định thì đề nghị giaokết hợp đồng sẽ có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được lời đề nghị đó,trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Luật Dân sự cũng có quy định 03 trường hợp được coi là đã nhận được đề nghịgiao kết hợp đồng: (1) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là
cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; (2) Đề nghịđược đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; (3) Khi bên được
đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác
- Về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng: Trong các trường hợp sau thì
bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng:+ Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
+ Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đềnghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh
Nếu bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới
Trang 28- Về hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng: Bên được đề nghị sẽ có quyền hủy bỏ
đề nghị giao kết hợp đồng nếu quyền này đã được quy định trong thỏa thuận và thờiđiểm thông báo hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng phải được gửi trước khi bên nhận đề nghị có thông báo về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
- Về đề nghị chấm dứt giao kết hợp đồng: Trong các trường hợp sau đề nghị
giao kết hợp đồng sẽ được chấm dứt: (1) Bên được đề nghị chấp nhận hoặc khôngchấp nhận giao kết hợp đồng, (2) Hết thời hạn trả lời chấp nhận, (3) Khi thông báo
về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực, (4) Khi thông báo về việc hủy bỏ
đề nghị có hiệu lực, (5) Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị tronghời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
- Về sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất: Khi bên được đề nghị đã
chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới
- Về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
+ Chấp nhận đề nghị giao kết là việc bên nhận được đề nghị giao kết trả lờichấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Sự im lặng của bên được đề nghị chỉ đượccoi là chấp nhận nếu có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên+ Trả lời chấp nhận giao kết chỉ có hiệu lực nếu nằm trong thời hạn ấn địnhtrả lời mà bên đề nghị đưa ra Trong trường hợp bên đề nghị không nêu rõ thời hạntrả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thờihạn hợp lý
+ Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do kháchquan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báochấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lờingay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
Trang 29+ Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điệnthoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhậnhoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời.
Trong trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giaokết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dunggiao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị Ngược lại, đối với trường hợp bên được
đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành
vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền vớinhân thân bên được đề nghị
- Về rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng: Bên được đề nghị giao
kết hợp đồng có thể tút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng nếu thông báonày đến trước hoặc cùng thời điểm với bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
- Nội dung của hợp đồng: Các bên có quyền tự do thỏa thuận về nội dung của
hợp đồng trong khuôn khổ pháp luật cho phép Nội dung của hợp đồng có thể baogồm một số nội dung sau: (1) Đối tượng của hợp đồng; (2) Số lượng, chất lượng; (3)Giá, phương thức thanh toán; (4) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợpđồng; (5) Quyền, nghĩa vụ của các bên; (6) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; (7)Phương thức giải quyết tranh chấp
- Địa điểm giao kết hợp đồng sẽ do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa
thuận thì địa điểm giao kết sẽ là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân
đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 30Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giaokết.
+ Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kếthợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuốicùng của thời hạn đó
+ Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
+ Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng kývào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản
+ Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng vănbản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo thời điểm giao kết hợpđồng bằng văn bản
- Hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng được giao kết hợp pháp sẽ có hiệu lực
kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan cóquy định khác Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của cácbên hoặc theo quy định của pháp luật
- Hợp đồng vô hiệu: Hợp đồng mua bán TBYT vô hiệu là hợp đồng không
đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại Điều 177 của BLDS 2015 hoặc thuộccác trường hợp pháp luật dân sự quy định là vô hiệu từ điều 123 đến điều 133 như:
Vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội vô hiệu do giả tạo…
1.2.3.2 Thực hiện hợp đồng
Hợp đồng mua bán TBYT là dạng hợp đồng song vụ Theo đó các bên tronghợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn, không được hoãn thực hiệnvới lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp pháp luật có
Trang 31quy định khác Trong trường hợp không thỏa thuận về việc bên nào thực hiệnnghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, Nếunghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất thờigian hơn thì phải thực hiện trước.
- Quyền hoãn thực hiện hợp đồng: Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có
quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bịgiảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kếtcho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảođảm thực hiện nghĩa vụ; Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiệnnghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ củamình khi đến hạn
- Trường hợp nghĩa vụ không thực hiện được:
+ Nếu nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một trong các bên thì bêncòn lại có quyền yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc hủy bỏ hợpđồng và đòi bồi thường
+ Nếu nghĩa vụ không được thực hiện không phải do lỗi của các bên thì bênkhông thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụđối với mình Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì cóquyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình
- Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản:
+ Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giaokết hợp đồng;
Trang 32 Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được
về sự thay đổi hoàn cảnh;
Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợpđồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợpđồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trongkhả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn,giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích
+ Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng
có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý
+ Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
do hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việcchấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp
đồng nếu được sửa đổi
+ Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết
vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừtrường hợp có thỏa thuận khác
1.2.3.3 Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng
Trang 33- Sửa đổi hợp đồng: Hợp đồng mua bán TBYT có thể được sửa đổi do thỏa
thuận của các bên hoặc khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản Hợp đồng sửa đổi bắtbuộc phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu
- Chấm dứt hợp đồng: Hợp đồng mua bán TBYT sẽ được chấm dứt trong các
trường hợp sau: (1) Hợp đồng đã được hoàn thành; (2) Theo thỏa thuận của các bên;(3) Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại
mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện; (4) Hợp đồng bị hủy
bỏ, bị đơn phương chấm dứt thức hiện; (5) Hợp đồng chấm dứt do hoàn cảnh thayđổi cơ bản; (6) Trường hợp khác do luật quy định
- Hủy bỏ hợp đồng:
+ Trong các trường hợp sau, một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng mà khôngphải bồi thường thiệt hại: (1) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà cácbên đã thỏa thuận; (2) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; (3)
Trường hợp khác do luật quy định
+ Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.+ Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ,nếu không không báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
+ Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên cóquyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụkhông thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng
+ Trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặc do ý chí của các bên, hợp đồng
sẽ không đạt được mục đích nếu không được thực hiện trong thời hạn nhất định mà
Trang 34hết thời hạn đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng mà cần phải yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện.
+ Trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn
bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thìbên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
+ Trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợpđồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng
+ Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị
hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định tại khoản 2, khoản
3 Điều 351 và Điều 363 của Bộ luật này
- Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng: Theo quy định tại Điều 427 BLDS
2015 thì hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng như sau:
+ Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giaokết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt viphạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp
+ Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp
lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản
Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật Trường hợp không hoàn trảđược bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả
Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải đượcthực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật cóquy định khác
+ Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường
Trang 35+ Việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định.
+ Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ theo quy định pháp luậtthì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiệntrách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng: Điều 428 BLDS 2015 quy định về đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như sau:
+ Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và khôngphải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợpđồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
+ Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay chobên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thìphải bồi thường
+ Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể
từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt Các bên không phải tiếp tụcthực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏathuận về giải quyết tranh chấp Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bênkia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện
+ Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường
+ Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn
cứ thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạmnghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của BLDS và LTM
Trang 36- Thời hiệu khởi kiện: Với bản chất là một dạng hợp đồng thương mại nên
hợp đồng mua bán TBYT có thời hiệu khởi kiện là 02 năm kể từ thời điểm pháthiện ra quyền và lợi ích bị xâm phạm[13, điều 319]
1.2.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên
vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mìnhtheo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật, bên vi phạm hợp đồng phải chịuhậu quả bất lợi tương ứng với mức độ hành vi vi phạm đó gây ra LTM năm 2005
đã quy định các chế tài trong thương mại cụ thể tại Mục 1 của Chương VII
a, Các hình thức trách nhiệm pháp lý
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo quy định của LTM 2005 thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên viphạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng đượcthực hiện và bên vi phạm phải chịu các loại phí tổn phát sinh[13, điều 197]
Trong trường hợp bên vi phạm giao hàng không đúng hợp đồng hoặc giaohàng kém chất chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hóa hoặc giao hàngkhác thay thế Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại đểthay thế nếu không được sự cho phép của bên bị vi phạm Trong trường hợp bên bị
vi phạm không thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng của người khác đểthay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoảntiền chênh lệnh và các chi phí phát sinh hoặc bên bị vi phạm có thể tự sửa chữakhuyết tật của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý
Trang 37Thông thường trong các hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng muabán thiết bị nói riêng thì biện pháp này thường được ưu tiên áp dụng trước khi ápdụng các biện pháp khác.
- Phạt vi phạm
Việc phạt vi phạm và mức phạt vi phạm được LTM quy định một cách cụthể rõ ràng Theo đó, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trảmột khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, ngoạitrừ các trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định[13, điều 300] Mức phạt viphạm hợp đồng do các bên được tự do thỏa thuận nhưng không được quá 8% giátrị phần nghĩa vụ bị vi phạm, trừ trường hợp phạt vi phạm, bồi thường thiệt hạitrong trường hợp kết quả giám định sai[13, điều 301]
- Buộc bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt lại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi
vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giátrị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra vàkhoản lợi ích trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành
vi vi phạm xảy ra[13, điều 302]
Các căn cứ bồi thường thiệt hại bao gồm: (1) Có hành vi vi phạm hợp đồng;(2) Có thiệt hại thực tế; (3) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây
ra thiệt hại
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Đây là một chế tài mới được quy định tại LTM 2005, theo đó một bên tạmthời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:
Trang 38(1) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên thỏa thuận là điều kiện để tạm ngững thực hiện hợp đồng; (2) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụhợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Xảy ra hành vi vi phạm mà cácbên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; (2) Một bên vi phạm cơ bảnnghĩa vụ hợp đồng Bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theoquy định của LTM
- Hủy bỏ hợp đồng
Điều 312 LTM 2005 quy định, bên có quyền lợi bị xâm hại do hành vi viphạm của bên còn lại có quyền tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc vi phạm của bênkia là điều kiện để hủy hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận Chế tài này còn được
áp dụng trong các trường hợp một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Hủy bỏhợp đồng bao gồm: Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng
b, Các trường hợp miễn trách nhiệm
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, LTM
2005 đã quy định các trường hợp miễn trách nhiệm tại Điều 294 như sau:
- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
- Xảy ra sự kiện bất khả kháng
- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
- Hành vi vi phạm một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhànước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
Trang 391.2.4 Vai trò của quy định pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT
TBYT đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năngcho người bệnh và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chấtlượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho đội ngũ y, bác sĩ trong công tác phòngbệnh và chữa bệnh Đặc biệt, hiện nay thế giới phải đấu tranh với đại dịch toàn cầuCOVID-19 thì càng thấy được vai trò quan trọng của TBYT Để có thể có phục vụcho công cuộc phòng, chống virus Corona thì các trung tâm y tế, bệnh viện cũng nhưcác doanh nghiệp lớn phải đẩy mạnh việc mua sắm các TBYT Vì vậy, việc giao kết
và thực hiện hợp đồng mua bán TBYT ở nước ta hiện nay đóng vai trò cực kỳ quantrọng trong cuộc cuộc nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh ra khỏi đất nước ta
Để hợp đồng mua bán TBYT được giao kết và thực hiện một cách đảm bảo,thuận lợi phụ thuộc rất lớn vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này Cácquy định pháp luật về hợp đồng mua bán TBYT đóng một số vai trò quan trọng sau:
- Tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng Khi cácbên tham gia hợp đồng đều có quyền tự do, tự nguyện trong giao kết nhưng phảinằm trong giới hạn cho phép của hợp đồng Việc quy định cụ thể, rõ ràng các điềukiện về chủ thể, đối tượng, chế tài xử phạt… tạo các điều kiện an toàn cho các chủthể tham gia hợp đồng mua bán TBYT
- Là cơ sở vững chắc để giải quyết khi phát sinh tranh chấp Khi xảy ra tranhchấp, các thỏa thuận được lập thành văn bản trong hợp đồng giữa các bên sẽ làchứng cứ quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của mỗi bên
- Đảm bảo cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quannhà nước có thẩm quyền Dựa vào những cam kết của các chủ thể tham gia hợp
đồng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra việc các chủ thể có thựchiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật hay không Đồng thời áp dụng các
Trang 40- Trên thực tế, giá thành của các TBYT là rất lớn Vì vậy, việc quy định rõ ràng
về việc một hoặc các bên có hành vi vi phạm thì sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu và bêngây thiệt hại phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi sẽ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợppháp, sự công bằng cho các chủ thể tham gia vào hợp đồng mua bán TBYT