Áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đúng đắn giúpcho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THU HẰNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM TỪ THỰC TIỄN TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ LÂM THI
Hà Nội -2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS.Trần Thị Lâm Thi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 9
1.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của viện kiểm sát nhân dân .9 1.2.Nội dung áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 22 1.3.Điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 28
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG 34
2.1.Đặc điểm địa bàn tỉnh Cao Bằng có liên quan đến áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm .34 2.2.Thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 39 2.3.Nhận xét, đánh giá 48
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT TRONG KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG.57
3.1.Quan điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng 57 3.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng .61
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. .73
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2014 quy định: Viện KSND là một cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộmáy Nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chức năngHiến định, đó là "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sáthoạt động tư pháp".VKSND là cơ quan duy nhất có chức năng kiểm sát hoạtđộng tư pháp, chức năng này được thực hiện ngay từ giai đoạn tiếp nhận tốgiác, tin báo về tội phạm cho đến giai đoạn điều tra truy tố, xét xử và kết thúc
ở giai đoạn thi hành án Tố giác, tin báo về tội phạm được pháp luật quy định
là những cơ sở để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không, là những thông tin cầnthiết, quan trọng về tội phạm và những hành vi nguy hiểm xâm hại đến các quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
Công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạmđược sự quan tâm của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC)
và coi đây là một nhiệm vụ quan trọng của công tác thực hành quyền công tố,kiểm sát điều tra án hình sự Việc chú trọng đẩy mạnh và nâng cao hiệu quảcông tác ADPL, tăng cường hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụnghình sự trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có vai tròhết sức quan trọng trong nghành Kiểm sát nhân dân
Áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự có vai trò đặc biệt quan trọngtrong công cuộc bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa Áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đúng đắn giúpcho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng hình sự, là cơ sở để Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự
Trang 6(BLHS) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) một cách có căn cứ và đúngpháp luật.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đời sống văn hóa, kinh tế xãhội của đất nước, trong những năm qua Kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng đã
có nhiều khởi sắc, tỉnh Cao Bằng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.Toàn ngành kiểm sát nói chung, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng nóiriêng đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ đóng góp quantrọng vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của tổchức, công dân, bảo vệ pháp chế xã hội Chủ nghĩa Viện kiểm sát nhân dântỉnh Cao Bằng đã kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm của Cơ quan điều tra và các cơ quan liên quan Việc ADPL đúngđắn trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đãgóp phần ổn định xã hội và cải thiện các mối quan hệ trong đời sống hàngngày tại cộng đồng dân cư, giữ gìn kỷ cương pháp luật, trật tự an toàn xã hội,đồng thời góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên toàn tỉnh CaoBằng Tuy nhiên trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế xã hộicùng với tội phạm trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, có chiều hướng giatăng về số vụ với tính chất và hậu quả nghiêm trọng Cao Bằng vẫn là mộttỉnh nghèo, trình độ dân trí và trình độ hiểu biết pháp luật còn thấp so với cảnước; Qua công tác tổng kết và đánh giá thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dântỉnh Cao Bằng cho thấy, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm trên địa bàn tỉnh vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, hạnchế so với yêu cầu cải cách tư pháp như:
Một số đơn vị VKSND cấp huyện chưa thực hiện tốt công tác kiểm sátviệc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm do Cơ quan điều tra thực hiện;một số cán bộ, Kiểm sát viên (KSV) chưa nghiêm túc thực hiện đầy đủ nhiệm
vụ, quyền hạn được giao khi thực hành quyền công tố, KSĐT vụ án hình sự;
Trang 7hoặc do thiếu kinh nghiệm công tác, năng lực chuyên môn còn hạn chế nênquá trình kiểm sát không nắm đầy đủ các tin báo, tố giác về tội phạm, trongmột số vụ việc chưa đề ra yêu cầu điều tra kịp thời để hỗ trợ Điều tra viên;gây ảnh hưởng đến tiến độ cũng như hiệu quả điều tra vụ án dẫn đến nhiều tinbáo, tố giác bị quá hạn, chưa giải quyết kịp thời Quá trình thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ vẫn còn tình trạng nể nang, tránh né nên chưa kịp thời pháthiện vi phạm, thiếu sót của Điều tra viên để kiến nghị khắc phục…
Trước những đòi hỏi, yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tộiphạm hiện nay tại Tỉnh Cao Bằng, việc nâng cao chất lượng hoạt động ADPLtrong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là mộttrong những nội dung quan trọng cần có giải pháp nâng cao hiệu quả để đápứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
VKSND tỉnh Cao Bằng đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong công tác lãnhđạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị Quyết số
08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộchính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Namđến năm 2010, định hướng đến năm 2020"; Nghị quyết 49 - NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" từ
đó, công tác cải cách tư pháp của tỉnh đạt nhiều kết quả quan trọng
Xuất phát từ những bất cập trong nhận thức, nghiên cứu lý luận, trongcác quy định của pháp luật, cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật trongcông tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thìviệc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hànhđòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư nghiên cứu hơn nữa về vấn đề này Việcnghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề trên góp phần nâng cao hiệu quả của côngtác tư pháp nói chung, công tác kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ củaĐảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Là một cán bộ của ngành Kiểm sát,
Trang 8bản thân tôi mong muốn thông qua đề tài nghiên cứu của mình sẽ góp phầnvào việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng ADPL trong kiểm sát việc tiếpnhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Vì lẽ đó tôi chọn đề tài nghiên
cứu:“Áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm
luận văn tốt nghiệp Cao học luật của mình Mong rằng kết quả nghiên cứu sẽgóp phần nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm của ngành Kiểm sát nói chung, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằngnói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựngnhà nước pháp quyền của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các nhà khoa học pháp lý và những người làm luật đã quan tâm, nghiêncứu hoặc đề cập ở phạm vi khác nhau vấn đề kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm và đã được thể hiện dưới các công trình sau:
- Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2004: Áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay,
của tác giả Chu Đức Thắng;
- Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2006: Áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, của tác
giả Hoàng Văn Hạnh;
- Luận án Tiến sĩ năm 2017: Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự của Tòa án Quân sự ở Việt Nam hiện nay, của tác giả Dương
Văn Thăng;
- Luận án Tiến sĩ năm 2015: Vai trò củaÁ p dụng pháp luật về xét xử
các vụ án hình sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, qua thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, của tác giả Trần Thị Thu Hà, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Trang 9- Luận văn thạc sỹ Luật học 2016: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn, của tác giả Nguyễn Thu
Hồng, Học viện khoa học xã hội - Luận văn thạc sỹ Luật học 2015: Kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
của tác giả Dương Tiến Mạnh, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn thạc sỹ Luật học 2018: Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định , của tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan, Học viện khoa học
xã hội
Các công trình ở dạng bài báo khoa học như: Nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo yêu cầu của cải cách tư pháp của tác giả Thạc
sĩ Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí kiểm sát số 18-20/2008; Một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của tác giả Lưu Trọng Nguyên, Tạp
chí kiểm sát, số 12/2009; Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Thực trạng và một số đề xuất kiến nghị của tác giả Vũ Việt Hùng, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009;
chuyên đề thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
THQCT, KS việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Phòng 1, VKSND
tỉnh Bình Định; Bình luận quy định về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của Thạc sỹ, luật
sự Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest;
Ngoài ra, liên quan đến đề tài này còn nhiều luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp trình độ cử nhân đã được bảo vệ, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu rộng, đầy đủ và toàn diện về áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng để từ đó đưa
ra những giải pháp tăng cường và bảo đảm thực hiện tốt hơn quy định của
Trang 10pháp luật về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm
nói chung và trên địa bàn tỉnh Cao Bằng nói riêng.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằmgóp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND tỉnh Cao Bằng
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của áp dụng pháp luậttrong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của
VKSND
- Phân tích làm rõ những đặc điểm của địa bàn tỉnh Cao Bằng có liênquan đến hoạt động áp dụng pháp luật về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND tỉnh Cao Bằng
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra những hạn chế, bất cập cũng như nguyên
nhân của hạn chế, bất cập trong áp dụng pháp luật về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND tỉnh Cao Bằng
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ápdụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm của VKSND nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếpnhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND và thực tiễn áp dụngtrên địa bàn tỉnh Cao Bằng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu đối tượng của hoạt động kiểm sát tiếp
Trang 11nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm chỉ trong hoạt động tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo của CQĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân Luậnvăn không nghiên cứu hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo của cácchủ thể khác (được quy định trong BLTTHS).
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND tỉnh Cao Bằngtrong thời hạn 5 năm, từ năm 2015 đến tháng 6/2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng HồChí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghịquyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Trong Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thểnhư sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để hệ thống hóa những vấn
đề lý luận, phân tích, đánh giá thực tiễn công tác áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại tỉnh Cao Bằng
- Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng để thống kê, so sánh đốichiếu số liệu áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm qua các năm để thấy sự tăng giảm của tình hình tội phạm tại tỉnhCao Bằng
- Phương pháp chuyên gia: phương pháp này được sử dụng để tranh thủ ýkiến, quan điểm của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn củaHọc viện Khoa học xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Cơ quan điều traCông an tỉnh Cao Bằng… về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn công tác kiểm sátviệc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Trang 12- Phương pháp nghiên cứu điển hình: phương pháp này được sử dụng
để nghiên cứu, khảo sát các vụ việc điển hình qua đó đưa ra đánh giá nhận xétchung về thực trạng công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểmsát nhân dân tỉnh Cao Bằng
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một sốvấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm từ đó nâng cao hơn nữa nhận thức của cán bộ,kiểm sát viên VKSND tỉnh Cao Bằng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm
vụ được giao; có giá trị tham khảo cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đểnâng cao hiệu quả hoạt động
- Luận văn cũng có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho họcviên, sinh viên các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học Luật; là tài liệu tham khảocho Kiểm sát viên các cấp tỉnh Cao Bằng nghiên cứu áp dụng trong hoạt động thựctiễn nhằm nâng cao trình độ lý luận và thực tế công tác áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và thực trạng áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểmsát nhân dân tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng phápluật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm củaViện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
8
Trang 131.1.1.Khái niệm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Để làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân, thì cầnthiết phải làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan sau đây:
- Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm: Tố giác, tin báo về tội phạmđược pháp luật quy định là những cơ sở để xác định có hay không có dấu hiệu tộiphạm Điều đó cũng khẳng định rằng, cơ quan có thẩm quyền muốn khởi tố vụ ánhình sự, phát động những quan hệ tố tụng hình sự phải bắt đầu từ những tin tức vềtội phạm được chính thức thông báo chứ không phải là những lời đồn đại không cócăn cứ Người báo tin về
tội phạm không nhất thiết phải là người bị hại hoặc có quan hệ trực tiếp đến
tội phạm đã xảy ra Tố giác về tội phạm là nguồn thông tin quan trọng về
hành vi có dấu hiệu tội phạm, là sự tố cáo của công dân về những hành vi nào
đó mà họ cho rằng đó là tội phạm, Công dân có quyền và nghĩa vụ tố cáo về
hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà họ biết với các cơ quan, tổ chức Tin
báo về tội phạm được hiểu là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên
các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo, báo cáo của các cơ quan,
tổ chức với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án về những hành vi, vụviệc đã xảy ra mà các cơ quan, tổ chức đó cho là tội phạm Tin báo phản ánhmối liên hệ giữa một chủ thể có tính chất pháp
Trang 14nhân – cơ quan, tổ chức truyền tin đi với một cơ quan có trách nhiệm trong hệthống chủ thể thực hiện các quyền năng tố tụng hình sự mà trực tiếp ớ đây làquyền khởi tố vụ án hình sự (Theo quy định tại Thông tư liên tịch số06/2013/TTLT-BCA-BQP-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013) Quyđịnh này đã góp phần tăng cường trách nhiệm của người dân, cơ quan, tổ chứctrong xã hội, tạo ra sự chuyển biến mới trong nhận thức và áp dụng pháp luậttrong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
Điều 144 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể khái niệm tố giác, tinbáo về tội phạm như sau:
" Điều 144 Tố giác, tin báo về tội phạm
1 Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2 Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm
do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng "
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự, công dân
có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc vớicác cơ quan khác, tổ chức khác Không chỉ các cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Cơquan điều tra, mà Điều luật còn quy định, các cơ quan khác, các tổ chức, bất
kể là cơ quan, tổ chức nào khi công dân tố giác tội phạm đều có trách nhiệmtiếp nhận Luật cho phép công dân có thể tố cáo về tội phạm với bất cứ cơquan, tổ chức nào mà họ thấy thuận tiện Trong tất cả các trường hợp đó, sự tốcáo của công dân về tội phạm đều được coi là tố giác Tố giác tội phạm có thểbằng miệng có thể trực tiếp hoặc qua thư, điện thoại hoặc bằng văn bản…Trường hợp người bị hại trình báo về sự kiện phạm tội liên quan đến họ cũngđược coi là tố giác tội phạm Pháp luật quy định như vậy nhằm tạo điều kiệncho cơ chế thông tin về tội phạm được nhanh chóng, tạo điều kiện cho nhândân tham gia rộng rãi và
Trang 15thuận tiện vào cuộc đấu tranh với tội phạm, đồng thời nâng cao trách nhiệmcủa các cơ quan, tổ chức trong việc đấu tranh với tội phạm, bảo vệ trật tự xãhội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Căn cứ vào Điều 144 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì tin báotội phạm có thể được phân thành hai loại: Tin báo tội phạm có thể là tin do cơquan, tổ chức gửi đến cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự(khoản 2, Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự) trực tiếp phản ánh về tội phạm;tin báo có thể được chính thức thông báo hoặc phản ánh trên các phương tiệnthông tin đại chúng mà các cơ quan chuyên trách đấu tranh với tội phạm cóthẩm quyền phải xem xét, nghiên cứu để rút ra những kết luận (khoản 3 Điều
144 Bộ luật tố tụng hình sự)
- Chúng ta đi tìm hiểu thế nào là khái niệm tiếp nhận, giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm:
Theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất về khái niệm: "Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm"
Điều 56 BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận việc tố giác, báo tin về tộiphạm nhằm giải quyết tố giác, tin báo tội phạm được tiến hành thuận lợi
Thông tư Liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN
&PTNT-VKSNDTC ngày 20/12/2017 Quy định:"CQĐT có thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình và phải tổ chức trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm (kể cả tin báo về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng); phân loại
và chuyển ngay cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết CQĐT khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận trường hợp người phạm tội đến tự thú hoặc đầu thú thì thực hiện
theo trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 152 BLTTHS năm 2015 [3] 11
Trang 16Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm được quy định cụ thể tại Điều 145 BLTTHS theo đó mọi tố giác, tin báo
về tội phạm, phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Thẩm quyền tiếpnhận tố giác, tin báo về tội phạm tương đối rộng, Khoản 2 Điều 145 quy định
bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm, Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an, cơ quan báo chí, các
cơ quan, tổ chức khác cũng có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Việc quy định đa dạng các cơ quan, tổ chức như trên tạo thành một
mạng lưới tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nhằm tạo điều kiện thuận lợi chongười dân tố giác và báo tin, kịp thời phát hiện, ngăn chặn tội phạm và hạnchế tình trạng bỏ lọt tội phạm
BLTTHS năm 2015 quy định hạn chế hơn về số lượng cơ quan có thẩmquyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, được giới hạn chỉ bao gồm banhóm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với phạm vi giải quyết tương
ứng, cụ thể là CQĐT giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền
điều tra của mình; Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình; Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm
mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó phải chuyển hồ
sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết(khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015) Sự hạn chế hơn về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, là do để giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, cần thực hiện cácbiện pháp kiểm tra,
Trang 17xác minh nguồn tin, một số biện pháp điều tra tố tụng như khám nghiệm hiệntrường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, định giá tài sản…cũng cóthể phải tiến hành trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và chỉnhững cơ quan có thẩm quyền mới được áp dụng các biện pháp này.
- Khái niệm: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định việc tổ chức một cơ quan có
chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động ADPL của các cơ quan nhà nước vàcông dân là đòi hỏi mang tính cấp thiết cần phải thành lập một cơ quan cóchức năng giám sát nên đã thành lập cơ quan VKS Kiểm sát các hoạt động tưpháp có thể hiểu là giám sát Nhà nước về tư pháp, là hoạt động mang tínhquyền lực nhà nước Cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp làchức năng quan trọng của VKS, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sáttrực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụngvới mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh vàthống nhất Từ phân tích trên theo chúng tôi có thể đưa ra khái niệm kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong TTHS như sau: Kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong TTHS là chức năng Hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất [13, tr.15].
Hoạt động của VKS có nhiều nội dung khác nhau, có thể kể đến nhưThực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tộiphạm; Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra; thực hànhquyền công tố, kiểm sát việc xét xử; kiểm sát thi hành án hình sự; kiểm sátviệc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, kiểm sát
Trang 18việc giải quyết các vụ án hành chính đó là những hoạt động thể hiện vai trò
và nhiệm vụ của VKS trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ củamình Bộ luật TTHS Việt Nam chưa có một định nghĩa thống nhất về kháiniệm: "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm" và còn tồn tạinhiều cách hiểu khác nhau về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm, có quan điểm cho rằng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm là việc VKS bằng quyền năng pháp lý theo luật định thực hiện việc kiểm tra, giám sát trực tiếp và liên tục hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tuy nhiên cũng có quan điểm
cho rằng hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm củaVKS chỉ giới hạn dưới góc độ kiểm tra, giám sát có hay không việc giải quyếttin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan có thẩm quyền chứ không đi sâu vàokiểm sát nội dụng giải quyết Cách hiểu thứ nhất theo quan điểm của cá nhântôi là cách hiểu đúng và đầy đủ nhất, chỉ ra được rõ nhất vị trí, vai trò, chứcnăng, của VKS trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tộiphạm
Theo pháp luật thực định, chỉ có một loại chủ thể có chức năng kiểmsát việc giải quyết, tin báo tố giác tội phạm, đó là VKS Từ các phân tích trên,
có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm như sau: "Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm là một nhóm quyền năng pháp lý của VKS, có nội dung là kiểm tra, giám sát trực tiếp và liên tục hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật".
- Khái niệm áp dụng pháp luật
Thực hiện pháp luật là những hoạt động, quá trình làm cho những quytắc xử sự chung chứa đựng trong các quy phạm pháp luật trở thành hành vi,cách xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật Khi các quy phạm
Trang 19pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thì các quan hệ xã hội trở thành cácquan hệ pháp luật với các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng.Thực hiện pháp luật làm "hiện thực hóa" các quyền và nghĩa vụ của các chủthể pháp luật trong đời sống xã hội.
Làm thế nào để pháp luật đi vào cuộc sống, làm thế nào để pháp luậtđược thực hiện một cách có hiệu quả nhất, đó là những đòi hỏi luôn đặt ratrong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay Thực hiện pháp luật được phân chia thành những hình thức cụ thểnhư sau: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụngpháp luật[17, tr 2];
- Tuân thủ pháp luật: là việc các chủ thể thực hiện pháp luật không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm
- Thi hành pháp luật: là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
- Sử dụng pháp luật: Là việc các chủ thể thực hiện pháp luật sử
dụng các quyền mà pháp luật cho phép
- Áp dụng pháp luật: là việc thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quanNhà nước thông qua các cơ quan nhà nước, hoặc cán bộ, công chức có thẩmquyền, tổ chức xã hội được trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật đểđưa ra các quyết định cá biệt nhằm giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trongđời sống xã hội
Áp dụng pháp luật có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, ADPL về nguyên tắc chỉ do những cơ quan Nhà nước, người
có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền tiến hành Phápluật quy định các chủ thể khác nhau sẽ có thẩm quyền áp dụng pháp luật khácnhau
Thứ hai, ADPL được hiểu là một hoạt động có tính tổ chức quyền lực
Nhà nước Trong nhiều trường hợp các cơ quan Nhà nước, người có
Trang 20thẩm quyền tiến hành ADPL là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực Nhànước theo ý chí đơn phương không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị ápdụng, sự áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và được bảođảm bởi sức mạnh cưỡng chế Nhà nước.
Thứ ba, ADPL là hoạt động phải được tiến hành chặt chẽ theo các thủ
tục do pháp luật quy định
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, bởi vì áp
dụng pháp luật là quá trình vận dụng cái chung (Các quy phạm pháp luật) đểgiải quyết các vụ việc cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụngpháp luật phải vận dụng cái chung cái phù hợp với cái riêng rất phong phú, đadạng và phức tạp
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Áp dụng pháp luật là
hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể.
- Khái niệm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động áp dụng pháp luật tốtụng hình sự và pháp luật khác trong trường hợp có tố giác, tin báo về tộiphạm Hoạt động đó thể hiện đầy đủ các yếu tố nội hàm đặc trưng của ápdụng pháp luật được cụ thể hóa trong lĩnh vực kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm và do VKSND thực hiện Cụ thể là:
Chủ thể của hoạt động ADPL là VKSND: Pháp luật thực định chỉ quyđịnh một loại chủ thể có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng hình sự đó là VKS Cùng với chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tưpháp là chức năng đặc thù của VKS tạo ra nền tảng cơ sở pháp lý vững chắc
Trang 21để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Với chức năng của mình ngành kiểm sát mang trên vai trọng trách,nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử
lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải được đảmbảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ngườiphạm tội, không làm oan người vô tội Viện kiểm sát nhân dân là cơ quanthực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại Điều 2, Luật Tổ chức Viện kiểmsát nhân dân năm 2014 Kiểm sát việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm,
là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm hay không
để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Trách nhiệm củaViện kiểm sát trong công tác này là kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm, bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của Cơquan điều tra đúng pháp luật, đầy đủ; bảo đảm mọi tội phạm đều được pháthiện, khởi tố, điều tra và xử lý
Hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạmcủa Viện kiểm sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành
vi phạm tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng phápluật Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết
tố giác, tin báo tội phạm sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố,kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử những bước quan trọng để có thể khẳngđịnh có hay không có hành vi tội phạm xảy ra, người nào thực hiện hành viphạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra như thếnào Đồng thời, thông qua hoạt động này để có cơ sở khẳng định việc khởi tố
là đúng người, đúng tội và bảo đảm các căn cứ để xử lý tội phạm, bảo đảmcho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý theo quy định của pháp luật,tránh làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm Kiểm sát tốt việc giải quyết tinbáo và tố giác tội phạm sẽ giúp cho việc đồng ý hoặc hủy bỏ quyết định
Trang 22không khởi tố của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra chính xác và có căn
cứ Như vậy, có thể khẳng định hoạt động kiểm sát giải quyết tố giác, tin báotội phạm là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình tố tụng hình sự vì
nó bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật và không bỏ lọt tội phạm
Đối tượng được ADPL là: Hoạt động tuân theo pháp luật trong quátrình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của các cơ quan cóthẩm quyền theo quy định của luật TTHS Trách nhiệm tiếp nhận và thẩmquyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được quy định tại Điều 145BLTTHS năm 2015
Nội dung của hoạt động ADPL: Hoạt động kiểm sát được hiểu là hoạtđộng kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước VKS là cơquan có trách nhiệm kiểm sát hoạt động tư pháp, ADPL trong kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một giai đoạn tố tụng đượcquy định trong BLTTHS năm 2015
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Áp dụng pháp luật
trong Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân là việc Viện kiểm sát trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, sử dụng tổng hợp quyền năng pháp lý để kiểm tra, giám sát hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền, nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của các cơ quan đó.
1.1.2.Đặc điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân.
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân là một trong những hoạt động ápdụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho nên cũng có nhữngđặc điểm chung như các loại hình áp dụng pháp luật nói chung Đồng thời có
Trang 23những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng có của Viện kiểmsát nhân dân
Theo quy định của pháp luật thì VKSND các cấp là cơ quan có chứcnăng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm nói riêng Thông qua việc thực hiện chứcnăng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực Nhà nước, trực tiếp thựchiện quyền kiểm sát góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN,quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước ADPL trong kiểmsát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đúng đắn nhằm bảođảm mọi tội phạm, mọi hành vi phạm tội phải được xử lý nghiêm minh trướcpháp luật Do vậy, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm của VKSND là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng có củaViện kiểm sát nhân dân
Thứ hai, Hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm chỉ được tiến hành khi có tố giác, tin báo về tộiphạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến Tin báo, tố giác về tội phạm
là sự kiện pháp lý làm phát sinh quá trình ADPL Xuất phát từ nguyên tắckhông tránh khỏi trách nhiệm hình sự, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyềncon người, bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của công dân, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và xử lýnghiêm minh trước pháp luật Do đó, nếu không có tố giác, tin báo về tộiphạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến thì sẽ không có hoạt độngADPL trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và trong kiểmsát hoạt động nói trên
Thứ ba, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm luôn tuân thủ chặt chẽ những quy định của pháp luật về trình
Trang 24tự, thủ tục tố tụng Thủ tục ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tinbáo, tố giác về tội phạm là thủ tục tố tụng tư pháp, không phải là thủ tục hànhchính Trong tổ chức và hoạt động của mình, VKS thực hiện rất nhiều hoạtđộng ADPL, có hoạt động ADPL được thực hiện theo thủ tục tố tụng tư pháp(ADPL khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tưpháp), có hoạt động ADPL thực hiện theo thủ tục hành chính (ADPL khi thựchiện hoạt động quản lý nội bộ cơ quan kiểm sát, ví dụ: tuyển dụng, bổ nhiệmcán bộ …) Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 160 BLTTHSnăm 2015 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếpnhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Thứ tư, hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm có đối tượng kiểm sát rất đặc thù: Đối tượng kiểmsát ở đây là các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền (CQĐT, ĐTV, cán
bộ điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra…).Các cơ quan này mang quyền lực nhà nước, không giống như các côngdân, tổ chức Mối quan hệ giữa người có thẩm quyền ADPL với đối tượngđược ADPL là mối quan hệ tố tụng, không phải là mối quan hệ trực thuộc cấptrên – cấp dưới
1.1.3.Vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân.
- Thứ nhất, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm là hoạt động đầu tiên của quá trình giải quyết vụ
án hình sự, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật đối với cánhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
- Thứ hai, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
Trang 25báo về tội phạm góp phần vào việc bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo anninh chính trị, tạo dựng môi trường pháp lý - xã hội ổn định, lành mạnh, antoàn cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, hợp tác quốc tế
và phát triển Hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, thể hiện chứcnăng kiểm sát hoạt động tư pháp trong ngành kiểm sát nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm ngay từ khâu tiếp nhận nguồn tin về tội phạm
- Thứ ba, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm góp phần giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật
đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là cán bộ công chức nhà nước gópphần nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm nghề nghiệp của những ngườitiến hành tố tụng trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
- Thứ tư, ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm có vai trò quan trọng đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tốtụng hình sự nói riêng cũng như pháp luật trong các lĩnh vực khác nói chung Bằnghoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm các quy phạm pháp luật được kiểm nghiệm về tính phù hợp hay chưa phùhợp với cuộc sống cần thay đổi
- Thứ năm: ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm góp phần quan trọng vào việc chống oan sai, bỏ lọt tội phạm đảmbảo pháp chế XHCN Bản chất Pháp chế là sự tôn trọng và bảo
đảm tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội Từ bản chất của hoạtđộng kiểm sát tư pháp nói chung và kiểm sát trong tiếp nhận, giải quyết tốgiác tin báo về tội phạm nói riêng (là kiểm tra sự tuân thủ pháp luật của các cơquan tư pháp) Nên ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm góp phần bảo đảm pháp chế XHCN Bảo đảm
Trang 26những vi phạm pháp luật trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm phải được phát hiện, khắc phục và xử lý; bảo đảm việc tố giáccủa công dân, cơ quan, tổ chức được thực hiện theo quy định của pháp luật
1.2.Nội dung áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân.
Nội dung của hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm được xác định trên cơ sở các quy định của phápluật TTHS về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và hoạtđộng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Căn cứ BLTTHS năm 2015; Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ngày02/5/2018 ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểmsát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 ban hành Quy chế tạm thờicông tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố;Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 ban hành Quy chế tạm thờicông tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường,khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định (Các quyết định nóitrên hiện đã được thay thế bởi Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày17/4/2020 ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việckhởi tố, điều tra và truy tố), hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có các nội dung sau:
- Kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, bao gồm: + Kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại tố giác, tin báo về tội phạm:
Trình tự, thủ tục thực hiện công tác này được quy định tại Điều 146BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể như sau: Khi cơ quan, tổ chức, cá nhântrực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền
Trang 27phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghihình có âm thanh việc tiếp nhận CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ
bộ ban đầu sau khi nhận được thông tin liên quan đến tội phạm, Thủ trưởngCQĐT trong thời hạn ba ngày làm việc, phải ra Quyết định phân công giảiquyết tin báo, tố giác về tội phạm và gửi ngay một bản đến VKS cùng cấp đểkiểm sát việc giải quyết theo quy định của pháp luật trong trường hợp xácđịnh thông tin đó là tin báo, tố giác về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa cơ quan mình Sau khi nhận được Quyết định phân công giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm của CQĐT, VKS phải ra Quyết định phân công kiểmsát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và gửi ngay một bản choCQĐT trong thời hạn ba ngày làm việc Đối với các cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vựcquản lý mà tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của
cơ quan mình thì khẩn trương tiến hành kiểm tra, xác minh, quyết định khởi
tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, phải thông báo ngay bằng vănbản cho VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộng điều tra của cơ quan mình
+ Kiểm sát việc chuyển tố giác, tin báo về tội phạm để giải quyết theo thẩm quyền;
Viện kiểm sát cũng có trách nhiệm chuyển ngay những tố giác, tin báo
về tội phạm, kèm theo tài liệu có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền khi pháthiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tốgiác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm kể từ ngày VKS cóyêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục, thì trong thời hạn 05ngày cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giảiquyết Trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp
Trang 28nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo vềtội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho CQĐT có thẩm quyềnthuộc về Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tốgiác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu vàchuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quancho CQĐT có thẩm quyền thuộc về Công an xã Các cơ quan, tổ chức khácsau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho CQĐT cóthẩm quyền Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoạihoặc hình thức khác cho CQĐT nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
CQĐT trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo vềtội phạm, phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đócho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền [17] VKSphải kiểm sát chặt chẽ việc lập sổ tiếp nhận, thụ lý, phân loại đối với các tốgiác, tin báo về tội phạm của Cơ quan có thẩm quyền điều tra cùng cấp đểnắm được kịp thời tình hình tiếp nhận đối với các tin báo, tố giác của CQĐT
và các cơ quan khác Một khâu công tác nghiệp vụ quan trọng nữa củaVKSND là công tác kiểm sát việc chuyển tố giác, tin báo về tội phạm để giảiquyết theo thẩm quyền, KSV báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc lãnh đạođơn vị có văn bản yêu cầu CQĐT cùng cấp chuyển cho CQĐT có thẩm quyềngiải quyết trong trường hợp qua xác minh sơ bộ, nếu thấy tố giác, tin báo vềtội phạm không thuộc thẩm quyền của đơn vị mình và thông báo đến Việnkiểm sát nơi tiếp nhận để thực hiện kiểm sát
- Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, gồm các nội dung
Trang 29giác về tội phạm VKSND trực tiếp kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ
sơ và kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của CQĐT, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trước khi hết thời hạnkiểm tra, xác minh trên, Chậm nhất là 05 ngày CQĐT, phải có văn bản đềnghị VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xácminh để kiểm sát được chặt chẽ thời hạn giải quyết tin báo, tố giác về tộiphạm thì VKS phải nắm được cụ thể nội dung thông tin, nếu thông tin về tộiphạm có nội dung rõ ràng, xác thực và xét thấy hành vi mà đơn thư tố giáchay tin báo phản ánh có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể yêu cầuCQĐT ra quyết định giải quyết ngay mà không cần thiết phải chờ hết 20 ngày.BLTTHS năm 2015 quy định tăng thêm thời hạn giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm là phù hợp với thực tiễn giải quyết Thời hạn giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng trong trường hợp
vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phảikiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm; trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểmtra, xác minh trong thời hạn quy định trên thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùngcấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lầnnhưng không quá 02 tháng Như vậy, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kể cả việc gia hạn, lâu nhất là không quá 04 tháng 20 ngày (không quá
140 ngày)
Kiểm sát viên khi thực hiện kiểm sát việc kiểm tra, xác minh trong giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm phải đánh giá được việc thu thập chứng cứdựa trên các nguồn là vật chứng, lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử, kếtluận giám định, định giá tài sản, biên bản hoạt động điều tra, các tài liệu đồvật khác; khi thu thập đánh giá chứng cứ phải đảm bảo ba nguyên tắc là tínhhợp pháp, tính xác thực và liên quan
+ Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp (quy định tại khoản 3 Đ147BLTTHS) trong giải quyết tố giác, tin báo
Trang 30Qúa trình ADPL trong giai đoạn này Kiểm sát viên phải kiểm sát thànhphần tiến hành, tham gia việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi,thực nghiệm điều tra bảo đảm đúng thẩm quyền, thành phần theo quy địnhcủa BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan; Kiểm sát chặt chẽviệc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra vàgiám định, kịp thời đề ra các yêu cầu cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người
có chuyên môn, Giám định viên kỹ thuật hình sự, Giám định viên pháp y thuthập, làm rõ các dấu vết thương tích, giải phẫu tử thi để xác định nguyên nhânchết, sơ bộ kết luận về nguyên nhân chết của nạn nhân (nếu có thể) để phục
vụ công tác truy nguyên hình sự và truy tìm người phạm tội đối với những vụ
án không quả tang; Kiểm tra, đối chiếu giữa sơ đồ hiện trường, biên bản khámnghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và các tài liệuliên quan khác so với thực tế hiện trường, diễn biến quá trình khám nghiệmhiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra để bảo đảm chính xác,khách quan, toàn diện và theo đúng quy định của pháp luật
+ Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm
Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm phảibảo đảm theo đúng quy định tại các điều 147, 148, 149, 160 BLTTHS và quyđịnh của pháp luật khác có liên quan Sau khi hết thời gian xác minh, CQĐT,
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải ra mộttrong các quyết định: Khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, tạmđình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (Theo quy định tại Điều
148 BLTTHS) Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được
áp dụng trong hai trường hợp: Một là, đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cungcấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố
hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả; hai là, đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng
Trang 31chưa có kết quả Cần lưu ý là việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm được thực hiện khi hết thời hạn mà chưa đủ căn cứ để ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự Do vậy,trong thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mặc dù cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêucầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả, song đã có đủ căn
cứ xác định được có dấu hiệu tội phạm, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng vẫn phải ra quyết định khởi tố vụ án chứ không được ra quyết địnhtạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm CQĐT, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định tạmđình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Việnkiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đìnhchỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, để kiểm sát và gửi quyết địnhtạm đình chỉ đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm.Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ trong trường hợpquyết định tạm đình chỉ không có căn cứ, để tiếp tục giải quyết theo quy định.Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó cho CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báotin về tội phạm trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyếtđịnh tạm đình chỉ Viện kiểm sát cử KSV theo dõi, quản lý hồ sơ các vụ việctạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát chặt chẽ việcgửi, thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho cơ quan, tổchức, cá nhân; phối hợp với Cơ quan có thẩm quyền điều tra kiểm tra, rà soát,
đề xuất lãnh đạo Viện có biện pháp chỉ đạo xử lý kịp thời khi lý do tạm đìnhchỉ không còn; trong trường hợp phát hiện vi phạm thì phải yêu cầu hoặc kiếnnghị CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều trathực hiện theo đúng quy định của pháp luật
CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
Trang 32tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quyđịnh của Điều 148 BLTTHS khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm không còn Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định phục hồi giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cóthẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm trongthời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, BLTTHS năm 2015 quy định VKS kiểm sát thời hạn giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm tiếp theo đảm bảo công tác xác minh không quá
01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi
1.3 Điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân.
Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự, hình sự, và các quy phạm pháp luật
quy định đầy đủ, chặt chẽ, về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn tiếp nhận,giải quyết tố giác tin báo về tội phạm sẽ giúp cho việc ADPL được nhanhchóng, kịp thời đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; ngược lại nếucác quy định của BLTTHS không được đầy đủ, còn nhiều hạn chế bất cập,lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn tới oan sai, hoặc
bỏ lọt tội phạm
+ PLHS quy định các hành vi bị coi là tội phạm, căn cứ vào đó, cơ quan
có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm, người phạm tội hay
Trang 33không; loại tội gì v.v… để làm căn cứ tiến hành các hoạt động tố tụng cầnthiết trong đó có việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm PLHSđúng đắn, đầy đủ là yếu tố đảm bảo cho hoạt động ADPL trong kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tôị phạm Ngược lại nếu PLHS khôngquy định cụ thể và thống nhất sẽ dẫn tới việc các Cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tôị phạm sai hoặc không chính xác gây khó khăn trong quá trình khởi tố,điều tra, truy tố và xét xử tội phạm
+ Hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tốgiác về tội phạm còn phụ thuộc vào các văn bản pháp luật có liên
quan khác như: các luật về tổ chức bộ máy (Luật tổ chức VKSND, Luật Tổchức CQĐTHS v.v…) Các văn bản pháp luật này quy định về cơ cấu tổ chức
bộ máy các cơ quan tiến hành tố tụng, quy định về đội ngũ cán bộ kiểm sát…Đây là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo cho sự vận hành của bộ máy cơ quankiểm sát Các văn bản pháp luật có liên quan quy định cụ thể, rõ ràng về cơcấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, trình tự, thủ tục, thẩm quyềncủa Viện trưởng, phó viện trưởng, kiểm sát viên, Thủ trưởng, phó thủ trưởng,Điều tra viên sẽ giúp cho quá trình ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tôị phạm được đúng thẩm quyền ngược lại nếu cácvăn bản pháp luật có liên quan quy định không chi tiết, cụ thể dẫn đến chồngchéo trong quá trình ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,tin báo về tôị phạm
Như vậy, chất lượng hệ thống PLTTHS, PLHS, và các văn bản phápluật khác có liên quan tới hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những điều kiện hàng đầu bảođảm cho hoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm
Viện kiểm sát muốn ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
Trang 34giác, tin báo về tội phạm thì trước hết phải có các quy phạm PLHS, TTHS vàcác văn bản khác liên quan PLHS, TTHS đầy đủ, đồng bộ sẽ tạo điều kiệncho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát được nhanh gọn, chính xác,đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bên cạnh BLHS, BLTTHS là những văn bản pháp luật quan trọng bảođảm quá trình ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành như Thông tư liên tịch,Nghị định quy định chi tiết cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việcbảo đảm thống nhất ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm Hệ thống pháp luật TTHS, PLHS và các văn bản phápluật có liên quan được xây dựng hoàn chỉnh sẽ góp phần đảo bảo cho việcADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạmđược đúng đắn, kịp thời và nghiêm minh
Thứ hai, đội ngũ cán bộ kiểm sát là yếu tố đảm bảo cho hoạt động
ADPL hiệu quả Chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát được đánh giá thông quacác tiêu chí về phẩm chất đạo đức; trình độ chuyên môn nghiệp vụ; kỹ năngnghiệp vụ Cán bộ kiểm sát có phẩm chất đạo đức tốt "Công minh, chính trực,khách quan, thận trọng, khiêm tốn"; có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vữngvàng đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp; được đào tạo kỹnăng nghiệp vụ chuyên sâu, có kiến thức pháp luật sẽ là nền móng vững chắc
để quá trình ADPL đạt hiệu quả cao Ngược lại đội ngũ cán bộ kiểm sát thahóa, năng lực yếu kém, trình độ chuyên môn hạn chế, kỹ năng, thao tácnghiệp vụ còn thụ động, thiếu linh hoạt, số lượng cán bộ không đáp ứng yêucầu công việc sẽ dẫn đến hoạt động ADPL kém hiệu quả
Chính vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát có vai tròquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động ADPL trong kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng và kiểm sát tư phápnói chung
Trang 35Thứ ba, Cơ sở vật chất, các chế độ đảm bảo cho hoạt động ADPL trong
kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của cán bộkiểm sát
Để đảm bảo cho cán bộ kiểm sát, đặc biệt là đội ngũ Kiểm sát viên trựctiếp ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, một trong những điều kiện cần đảm bảo quan tâm là trang thiết bị phục
vụ công tác, sử dụng công nghệ thông tin, máy tính, máy ảnh, máy quayphim là những cơ sở vật chất thiết yếu hỗ trợ một cách nhanh chóng, kịp thờicho kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát Các chế độ chính sách tiền lượng,chính sách đãi ngộ, phụ cấp, thâm niên nghề
là những yếu tố kích thích động lực làm việc của cán bộ kiểm sát Nếu chế độ,chính sách đãi ngộ không thỏa đáng, cuộc sống người cán bộ kiểm sát khôngđược đảm bảo sẽ chi phối trực tiếp đến tinh thần, thái độ, trách nhiệm làmviệc của đội ngũ cán bộ kiểm sát
Vì vậy, điều kiện môi trường làm việc, chế độ, chính sách đãi ngộ đốivới cán bộ kiểm sát là những yếu tố đảm bảo quan trọng góp phần nâng caohiệu quả ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tộiphạm
Thứ tư, quan hệ phối kết hợp trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơquan khác
Mối quan hệ phối hợp giữa VKS với CQĐT và các cơ quan tiến hành
tố tụng khác có ý nghĩa hết sức quan trọng Có thể thấy rằng, có hai loại cơquan, tổ chức mà khi thực hiện các chức năng của mình có khả năng phát hiệndấu hiệu tội phạm: Loại thứ nhất là các cơ quan có chức năng bảo vệ phápluật, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động phòng ngừa, phát hiện tội phạmtrên địa hạt mình quản lý Đó có thể là các cơ quan Công an nhân dân, Quânđội nhân dân, Hải quan, Kiểm lâm, lực
Trang 36lượng Cảnh sát biển,… Thông qua các hoạt động chức năng của mình các cơquan này có nhiều khả năng phát hiện dấu hiệu tội phạm Ngoài một số trườnghợp mà luật quy định các cơ quan này có thể tiến hành kiểm tra, xác minh vàkhởi tố vụ án, có trách nhiệm phải cung cấp bằng văn bản cho Cơ quan điềutra có thẩm quyền các thông tin, tài liệu về tội phạm, phối hợp với Cơ quanđiều tra trong việc khám phá tội phạm đã xảy ra; loại thứ hai, là các cơ quan
tổ chức, tuy không có chức trách hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm,nhưng hoạt động chức năng của họ dễ phát hiện ra các dấu hiệu tội phạm, ví
dụ, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, các cơ quan kiểm toán,… Những cơ quannày trong quá trình thực hiện chức năng của mình do phải thường xuyên kiểmtra tính đúng đắn, hợp pháp của các hoạt động kinh tế – xã hội trong lĩnh vựcquản lý của mình mà có thể phát hiện được những dấu hiệu của tội phạm Do
đó mối quan hệ phối kết hợp trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quankhác quyết định việc phát hiện được tội phạm và người phạm tội để tiến hànhkhởi tố điều tra làm rõ tội phạm, để đưa ra truy tố, xét xử theo quy định củapháp luật, đảm bảo khách quan, đúng người, đúng tội, tránh oan sai và bỏ lọttội phạm Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa CQĐT, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra với VKS, hoạt động kiểm sátcủa VKS khó có thể thực hiện tốt và ngược lại Vì vậy, cần xây dựng mốiquan hệ phối hợp đồng bộ, đầy đủ, chặt chẽ giữa VKS với các cơ quan cóthẩm quyền điều tra là điều kiện đảm bảo quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tộiphạm
Trang 37Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã trình bày, làm rõ những vấn đề
về lý luận và pháp luật liên quan đến hoạt động ADPL trong kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dânnhư khái niệm, đặc điểm, vai trò, điều kiện đảm bảo áp dụng pháp luật trongkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểmsát nhân dân Theo đó, áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân là việc Việnkiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định đểkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhằm đảm bảomọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều trakịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy raoan sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Kết quả chương 1 đã giải quyết được bao gồm: Thứ nhất, Kiểm sát việc
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm: Kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại tốgiác, tin báo về tội phạm, kiểm sát việc chuyển tố giác, tin báo về tội phạm để
giải quyết theo thẩm quyền; Thứ hai, Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm: Kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồntin về tội phạm, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp (quy định tại khoản 3Đ147BLTTHS) trong giải quyết tố giác, tin báo, kiểm sát việc tạm đình chỉ,phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản của hoạt động ADPLtrong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSnhân dân là cơ sở lý luận quan trọng, làm nền tảng cho việc khảo sát thực tiễn
ở chương 2 và từ đó đưa ra những giải pháp cho chương 3
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG 2.1.Đặc điểm địa bàn tỉnh Cao Bằng có liên quan đến áp dụng pháp luật trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
2.1.1.Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Cao Bằng
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam với đường biên giớidài 333km Tỉnh Cao Bằng có khí hậu ôn hòa dễ chịu, nhiệt độ trung bìnhhàng năm cao nhất 35°C, thấp nhất 0°C Diện tích đất tự nhiên của tỉnh CaoBằng là 6.724,6 km, chủ yếu là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ caotrung bình trên 200m Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có hai dòng sông lớn làsông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài racòn có một số sông khác như Sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế,sông Hiến…với đặc điểm tự nhiên chủ yếu là núi cao, địa hình hiểm trở gâykhó khăn trong quá trình hoạt động kiểm sát nói chung và hoạt động ADPLtrong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm củaVKSND tỉnh Cao Bằng
Đơn vị hành chính của Cao Bằng đến nay được tổ chức có 10 đơn vị(trong đó:09 đơn vị huyện và 01 thành phố trực thuộc tỉnh) Tỉnh Cao Bằngvới dân số hơn 520 nghìn người,trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc gồm các dântộc Kinh, Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Chỉ, Hoa trong đó có 90% là ngườidân tộc thiểu số, mật độ dân số 78 người/Km2 Có 9/10 huyện giáp biên giới.Núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, giàu tài nguyên khoáng sản,thiên nhiên mang nét hoang sơ, nguyên sinh là điểm nổi bật của vùng đất Cao
Bằng Thác Bản giốc là một thắng cảnh đẹp thuộc xã Ngọc Khê, huyện
Trang 39Trùng Khánh; Hồ Thang Hen ở huyện Trà Lĩnh… Là vùng đất có truyềnthống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam, CaoBằng tự hào với khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà,huyện Hà Quảng Với những thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên, xã hội và
sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các cấp các ngành, trong thời gian qua sựphát triển kinh tế của tỉnh Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng Tốc
độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) tiếp tục tăng trưởng với tốc độ nhanh, (đạt7,02% năm 2017; Năm 2016 đạt 6,13%) GRDP bình quân đầu người/năm đạt23,5 triệu đồng (Năm 2017); Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công nghiệp –xây dựng và dịch vụ; Thu ngân sách trên địa bàn nhiều năm đạt ngưỡng trên1.200 tỷ đồng; Phát triển nông nghiệp và nông thôn tiếp tục khởi sắc…Địnhhướng phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những thuận lợi, các đặc điểm tựnhiên kinh tế - xã hội riêng có của tỉnh Cao Bằng cũng còn những khó khănkhông nhỏ, chính vì dân cư tập trung chủ yếu là người dân tộc thiểu số, sống
ở vùng núi xa xôi, địa hình núi đá, trình độ dân trí còn thấp gây khó khăn chohoạt động ADPL trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm của VKSND tỉnh Cao Bằng
Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương luôn theo sát và
có các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn và sự quantâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát nhân dân Tình hình anninh chính trị được ổn đinh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đã tạo cơhội, môi trường giúp cho các cán bộ, công chức trong ngành có cơ hội trau dồikiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn phát huy được hết khả năng, cốnghiến hết mình vì sự nghiệp đấu tranh phòng chống tội phạm
*Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Diễn biến tình hình tội phạm theo số liệu báo cáo tổng kết của VKSNDtỉnh Cao bằng, trong giai đoạn 5 năm từ 2015 - 2019 như sau:
Trang 40Bảng 2.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2019
Trong đó Tổng số
Án Trật tự trị an Án kinh tế, tham
xã hội
Nguồn: Báo cáo tổng kết của VKSND tỉnh Cao bằng các năm từ 2015 - 2019
- Năm 2015: Trong năm 2015, tổng số vụ án hình sự đã khởi tố mới:
518 vụ/728 bị can, trong đó, tội phạm ma túy đều về hành vi mua bán, vận chuyểntrái phép các chất ma túy, khởi tố 188 vụ/269 bị can, chiếm 36% so với tổng số vụmới khởi tố; án trật tự trị an xã hội 108 vụ/187 bị can nhiều nhất là về Tội cố ý gâythương tích trong đó nguyên nhân phạm tội chủ yếu là do mâu thuẫn, thù tức cánhân Đáng chú ý, một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như giết người, hiếpdâm trẻ em chưa giảm (Cố ý gây thương
tích khởi tố 37 vụ/ 46 bị can; Giết người khởi tố 07 vụ/ 05 bị can; hiếp dâmtrẻ em khởi tố 06 vụ/ 05 bị can); các loại tội phạm khác trong lĩnh vực trật tựtrị an xã hội diễn biến bình thường, không có gì đáng chú ý; tội phạm án kinh
tế, tham nhũng, chức vụ, môi trường 220 vụ/272 bị can;
- Năm 2016: Trong năm 2016, tổng số vụ án hình sự đã khởi tố mới:
545 vụ, trong đó, tội phạm ma túy, khởi tố 203 vụ/285 bị can Kết quả đã khởi tốđiều tra 598 vụ/902 bị can, tăng 170 vụ/120 bị can so với năm 2016