1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tp hồ chí minh

70 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Quyết Khiếu Kiện Quyết Định Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai Từ Thực Tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Quốc Anh
Người hướng dẫn TS. Thái Thị Tuyết Dung
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 149,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Luận án Tiến sỹ của tác giả Lê XuânThân: “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, năm 2004;- Báo cáo tham luận“ Thực trạng giải quyết tranh c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

-NGUYỄN QUỐC ANH

GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

-NGUYỄN QUỐC ANH

GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS THÁI THỊ TUYẾT DUNG

Hà Nội, năm 2021

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu

để xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như bảo vệ an ninh, quốcphòng của một quốc gia Vì vậy, Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003 đều

khẳng định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” và Luật Đất đai hiện hành 2013 tái khẳng định chủ sỡ hữu và có bổ

sung thêm vai trò quản lý của nhà nươc đối với đất đai Nhà nước chỉ traoquyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức mà không trao quyền sỡ hữu Tuynhiên người sử dụng đất hợp pháp lại có gần như toàn bộ các quyền của mộtchủ sỡ hữu tài sản như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế,thế chấp, góp vốn,… về quyền sử dụng đất hợp pháp của mình

Theo thời gian, hệ thống chính sách pháp luật đất đai đã được điều chỉnh,

bổ sung sửa đổi để đáp ứng và giải quyết một số vấn đề bất cập, vướng mắctrong thực tiễn Tuy nhiên công tác này còn thiếu đồng bộ, chồng chéo và tính

ổn định chưa cao, gây khó khăn cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước

về đất đai Từ đó ngày càng xuất hiện nhiều tranh chấp, xung đột quyền lợicủa người sử dụng đất dẫn tới khiếu nại, khiếu kiện ngày càng nhiều và tínhchất vụ việc ngày một phức tạp

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi có tranh chấp về quyền sửdụng đất thì cá nhân, tổ chức có hai sự lựa chọn để yêu cầu giải quyết tranhchấp khi cho rằng quyết định hành chính xâm hại tới quyền lợi ích hợp phápcủa mình, bằng việc thông qua thủ tục giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếunại 2011 hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân theo thủ tục của Luật Tố tụngHành chính năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2016

Hiện nay trong tổng số các vụ án hành chính mà cá nhân, tổ chức khiếukiện tới Tòa án nhân dân yêu cầu giải quyết tranh chấp, thì các vụ án khởikiện quyết định hành chính trong lĩnh vực vực đất đai chiếm tới hơn 50%

Trang 5

Mặc dù Luật TTHC 2015 có nhiều điểm mới, thay đổi, bổ sung nhưng sauhơn 4 năm áp dụng, Luật TTHC 2015 đã lộ ra nhiều vần đề bất cập, chưa thật

sự phù hợp với sự đổi mới và hội nhập của đất nước, Luật chưa tiên lượng, dựliệu đầy đủ các mối quan hệ phát sinh mới trong công tác quản lý đất đai trênthực tế, nên việc giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai theo theo thủ tục tốtụng hành chính còn nhiều vướng mắc và chưa thật sự đạt hiệu quả cao

Mặc dù Tòa án nhân dân các cấp đã nỗ lực, cố gắng giải quyết được rấtnhiều các vụ án khiếu kiện quyết định hành chính về đất đai, pháp luật đượctôn trọng, bảo vệ được cơ bản quyền, lợi ích chính đáng, của các bên tranhchấp, được xã hội đồng tình ủng hộ Tuy nhiên chưa thật sự đáp ứng được như

kỳ vọng, bởi có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có hai nguyên nhânchính và cơ bản là pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu đồng bộ, chồngchéo và yếu tố con người, trong đó phải nói tới đội ngũ cán bộ trực tiếp thựchiện công tác quản lý hành chính về đất đai và cán bộ ngành Tòa án

Từ những vần đề như tôi trình bày trên và bản thân là một Luật sư, tôiluôn mong muốn thông qua nghiên cứu của mình, góp một phần nhỏ bé vàoviệc hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết các vụ

án khiếu kiện hành chính liên quan tới đất đai nói chung và giải quyết khiếukiện quyết định hành chính trong lĩnh vực dất đai nói riêng Vì lẽ đó, tác giả

lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giải quyết khiếu kiện Quyết định hành chính

trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn TP.Hồ Chí Minh” làm Luận văn Thạc sĩ

chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Hiến pháp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giải quyết khiếu kiện tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết vụ ánkhiếu kiện quyết định hành chính liên quan tới đất đai là đề tài vô cùng phứctạp nhưng cũng là đề tài luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa họcpháp lý, trong đó phải kể đến một số đề tài tiến sỹ, thạc sỹ và các bài thamluận của nhiều tác giả như sau:

Trang 6

- Luận án Tiến sỹ của tác giả Lê XuânThân: “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, năm 2004;

- Báo cáo tham luận“ Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa

án nhân dân – Kiến nghị và giải pháp” của Tiến sỹ Nguyễn Văn Cường và cử

nhân Trần Văn Tăng, Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao tại hội

thảo “Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực trạng và giả pháp”, ngày 08/09/2008 tại Buôn Mê Thuột – Đắk Lắk;

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Hoa Lê: “Một số vấn đã lý luận và thực tiễn về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính” (bảo vệ năm 2011)

cũng đã đánh giá quy định của pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật vềxét xử vụ án hành chính, trong Luận văn này đã không đề cập một cách toàndiện và sâu sắc do thời điểm nghiên cứu vào năm 2011, nên Luận văn trên chỉdừng lại ở việc nghiên cứu thực tiễn xét xử vụ án hành chính theo quy địnhcủa Luật Tố tụng Hành chính năm 2010 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

Trang 7

- Luận án Tiến sĩ Luật học của Mai Thị Tú Oanh (2013), Viện Nhà nước

và pháp luật “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở nước ta”;

- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Hà “Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

ở Việt Nam” (bảo vệ năm 2017) đã đánh giá toàn diện các quy định của pháp

luật và thực trạng thực hiện pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính,

nhưng Luận án này chỉ dừng lại ở mức độ phân tích về phiên tòa sơ thẩm nhưmột khía cạnh nhỏ của việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, nên vấn đề vềphiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính chưa được nghiên cứu một cách chuyênsâu và đầy đủ nhất;

Ngoài ra trên Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát, Báo Công lý và trongchuyên mục pháp luật của các tờ báo có uy tín cũng có những bài viết nghiêncứu về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu kiện hành chính về đất đai

Như tôi đã trình bày ở trên, mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứucủa các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành và các Thạc sĩ về lĩnh vựcgiải quyết quyết các vụ án khiếu liện hành chính về đất đai, nhưng cho đếnnay chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một cách toàn diện, đầy

đủ, có hệ thống dưới góc độ giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính liênquan tới lĩnh vực đất đai trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các kết quảnghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đây sẽ là những tiền đề, cơ sở

lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả thực hiện Luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về lý luận về giải quyết khiếu kiệnquyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai được quy định trong Luật tố tụnghành chính năm 2015 và pháp luật có liên quan Thông qua thực tiễn xét xửtại các phiên tòa án và phân tích các bản án từ đó rút ra những hạn chế, vướngmắc để đưa ra giải pháp khắc phục, góp phần xây dựng hoàn thiện Luật Tốtụng hành chính 2015

Trang 8

Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ làm rõ khái niệm, đặcđiểm, ý nghĩa của quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai và giải quyếtkhiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

- Phân tích, đánh giá thông qua thực tiễn xét tại Tòa án TP.Hồ Chí Minh

để tìm ra nguyên nhân hạn chế, vướng mắc từ đó đưa ra giải pháp khắc phục

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn

Luận văn này là công trình nghiên cứu về lý luận về việc giải quyếttranh chấp tại Tòa án nhân dân, khi giải quyết khiếu kiện quyết định hànhchính trong lĩnh vực đất đai trên cơ sở nguyên cứu những đối tượng sau:

- Các quy định hiện hành của pháp luật về giải quyết khiếu kiện quyếtđịnh hành chính trong lĩnh vực quản lý đất

- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về việc giải quyết khiếukiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại Tòa án nhân dântrên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Những bất cập, vướng mắc và khó khăn trong quá trình áp dụng cácquy định pháp luật hiện hành khi giải quyết vụ án

4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn

Pháp luật tố tụng hành chính là trọng tâm, bên cạnh đó có đề cập tớimột số quy định của pháp luật liên quan khi giải quyết khiếu kiện quyết địnhhành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

Về không gian: Giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính về đất đaitại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian: Pháp luật áp dụng và thực tiễn xét xử của Tòa án tại thànhphố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình

nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Trang 9

- Công trình nghiên cứu này được xây dựng và thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

-Trên cơ sở quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nướctheo Nghị quyết số 48-NQ/TW về “chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số

49-NQ/TW về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ chính trị.

- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phươngpháp bình luận, diễn giải, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảotrong quá trình nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn và nâng cao hiệu quảtrong công việc giải quyết các vụ án khiếu kiện quyết định hành chính về đấtđai tại Tòa án nhân dân

Ngoài ra, nó có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiêncứu giảng dạy các môn khoa học pháp lý nói chung và trong hệ thống đào tạochức danh tư pháp nói riêng Công trình nghiên cứu một phần nào góp phầnxây dựng kỹ năng hành nghề của Luật sư khi tham gia bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự trong các vụ án khiếu kiện quyết định hành chính nóichung và khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về giải quyết khiếu kiện

quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Chương 2: Giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong vực đất đai

từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyếtkhiếu kiện quyết định hành chính về đất đai

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.1.

Khái niệm, đặc điểm của quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.1.1 Khái niệm quyết định hành chính và quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Theo pháp luật hiện hành, khái niệm quyết định hành chính đang quy định tại một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Tại khoản 8 Điều

2 Luật Khiếu nại 2011 quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể” và tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính 2015 quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước,

cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Ngoài ra, do trong quá trình giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính

đã nảy sinh những cách hiểu khác nhau về quyết định hành chính là đối tượngkhởi kiện của vụ án hành chính Bởi trên thực tế có nhiều văn bản xét về chủthể ban hành hoàn và nội dung thì toàn thỏa mãn đặc điểm, tính chất của mộtquyết định hành chính nhưng hình thức và tên văn bản chỉ thể hiện dưới dạngthông báo, công văn, thư trả lời, v.v nên nhiều Tòa án đã không chấp nhậncác văn bản này là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính và không thụ

lý để giải quyết Để thống nhất trong toàn ngành Tòa án, Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số: 02/2011/NQ-HĐTP

Trang 12

ngày 29 tháng 7 năm 2011, trong Nghị quyết này, tại Điều 1 quy định: “Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm:

a/ Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan,

tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;

b/ Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính được hướng dẫn tại điểm a khoản này.

Thông qua các khái niệm được quy định tại ba văn bản nêu trên thì đểxác định một văn bản có phải là quyết định hành chính hay không thì khôngnhất thiết văn bản đó phải có tên là quyết định mà chỉ cần thỏa mãn về chủ thểban hành và nội dung của văn bản

Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai trước hết nó phải

là một quyết định hành chính và trong đó có chứa đựng nội dung quy định vềquản lý đất đai Các loại quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai baogồm:

Trang 13

- Quyết định hành chính về giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

- Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư…vv

- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thu hồi Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, gia hạn thời gian sử dụng đất; Quyết định giải quyết khiếunại lần 01 lần 02 của cá nhân và UBND có thẩm quyền và một số văn

bản khác được áp dụng theo công văn giải đáp của Toà án nhân dân tối caođược xem là quyết định hành chính

1.1.2 Đặc điểm của quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai do quan hành chính nhànước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước banhành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về quản lý đất đai, nó mang tính quyền lực nhànước Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở nội dung văn bản thể hiện tínhmệnh lệnh và phục tùng, đảm bảo nội dung của quyết định phải được thi hành

kể cả là bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.1 Khái niệm việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính về đất đai là một trongnhững cách thức giải quyết tranh chấp về quan hệ hành chính Bởi theo quyđịnh của pháp luật hiện hành, khi cá nhân tổ chức cho rằng quyết định hànhchính đã xâm hại tới quyền lợi ích hợp pháp của mình thì ngoài việc khởi kiệnquyết định đó tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo Luật Tố tụng Hànhchính 2015, thì cá nhân, tổ chức vẫn có thể lựa chọn phương thức giải quyếttranh chấp bằng thủ tục khiếu nại quyết định hành chính đó tới cá nhân, tổ

Trang 14

chức có thẩm quyền để bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy địnhcủa Luật Khiếu nại 2011.

Dưới góc độ lý luận thì giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính tronglĩnh vực quản lý đất là hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân có thẩm quyềnnhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quyết định hành chính trong lĩnhvực quản lý đất đai bị khiếu kiện Cụ thể là Tòa án nhân danh Nhà nước xemxét về tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện để ra quyết địnhbác bỏ, chấp nhận toàn bộ hay một phần yêu cầu của người khởi kiện theođúng quy định của pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Tòa án nhân dân

Đặc điểm cơ bản nhất là đối tượng tài phán trong tố tụng hành chính làquyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai do cá nhân trong các cơ quancông quyền, UBND, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện; trong tốtụng hành chính không có khái niệm "nguyên đơn", "bị đơn" (như tố tụng dân

sự ), mà là "người khởi kiện" và "người bị kiện" và mối quan hệ giữa hai loạichủ thể này không ngang bằng nhau, một bên chủ yếu là công dân, một bên làcác cơ quan hành chính thực thi quyền lực công và thực tế chủ yếu là Ủy bannhân dân các cấp Trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết người khởi kiện có thểkhiếu nại đến cơ quan hành chính có thẩm quyền để xem xét giải quyết trướckhi khởi kiện đến Tòa án Trong vụ án hành chính, không sử dụng thuật ngữ

"tranh chấp hành chính" mà sử dụng thuật ngữ "khiếu kiện hành chính"; trong

tố tụng hành chính cũng không có thủ tục "hòa giải", "thỏa thuận", mà chỉ có

thủ tục "đối thoại", vì vậy tố tụng hành chính cũng không thể có "Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự" như trong tố tụng dân sự.

Như vậy, hình thức tiến hành hoạt động giải quyết khiếu kiện quyết địnhhành chính trong lĩnh vực đất đai được hiểu là cách thức tiến hành việc xét xửcủa Tòa án nhân dân nhằm mục đích xem xét tính hợp pháp của đối tượng

Trang 15

khởi kiện để đưa ra quyết định không chấp nhận, chấp nhận toàn bộ, hay mộtphần về yêu cầu của đương theo sự nhằm đảm báo tính đúng đắn của pháp luậtbảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan trong vụ án, cũng như lợiích của Nhà nước Việc giải quyết khiếu kiện phải tuân thủ trình tự, thủ tục theoquy định pháp luật tố tụng hành chính, đảm bảo việc giải quyết vụ án được kịpthời, khách quan và hợp pháp Giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính tronglĩnh vực quản lý đất đai là một trong những chức năng, nhiệm vụ của cơ quanđược giao thực hiện quyền tư pháp gồm Tòa án và Viện kiểm sát.

Việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện làthông qua việc xem xét các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, thông quaviệc hỏi và tranh luận tại phiên tòa để đánh giá quyết định hành chính bị khiếukiện có những vấn đề gì đúng, vấn đề gì sai theo quy định của pháp luật Việcđúng, sai đó ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi hợp pháp của người khởikiện, người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ

án Căn cử vào việc xem xét, đánh giá các chứng một cách khách quan toàndiện và thông quan việc tranh tụng tại Tòa của các bên, Hội đồng xét xử sẽđưa ra những quyết định của mình bằng một bản án trong đó có thể hủy bỏquyết định sửa một phần quyết định hoặc giữ nguyên quyết định, buộc cơquan nhà nước, cá nhân ban hành quyết định thực hiện theo đúng quy địnhcủa pháp luật

Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ ántrong phạm vi yêu cầu của người khởi kiện Giải quyết khiếu kiện quyết địnhhành chính có thể chỉ thông quan một phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng nếu cókháng cáo kháng nghị bản án sơ thẩm và phải xét xử theo thủ tục phúc thẩmnếu có kháng cáo kháng nghị Ngoài ra bản án, quyết định có hiệu lực phápluật còn có thể được xem xét bởi hai thủ tục đặc biệt khác là giám đốc thẩm

và tái thẩm

Trang 16

Căn cứ điều kiện để kháng nghị giám đốc thẩm Trong trường hợp đương

sự không đồng tình với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bởiquyết định trong bản án quyết đinh không phù hợp với sự thật khách quan của

vụ việc, có vi phạm nghiêm trong trong tố tụng hoặc có sai làm trong việc ápdụng pháp luật dẫn tới ra bản án không đúng gây thiệt hại tới quyền lợi íchhợp pháp của đương sự thì họ có quyền đề nghị người có thẩm quyền xem xétkháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm.Quy định về thủ tục tái thẩm vụ án hành chính là xét lại bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mớiđược phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định màTòa án, đương sự không biết được khi giải quyết vụ án Trong trường hợpđương sự không đồng tình với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luậtthì họ chỉ có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực theo thủ tục tái thẩm

1.2.3 Ý nghĩa của việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Hoạt động giải quyết khiếu kiện hành chính về đất đai có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách về đất đaicủa Nhà nước Đảm bảo cho pháp luật về đất đai được thực hiện nghiêmminh, thống nhất trên phạm vi cả nước

Thứ nhất: Những vụ án khiếu kiện quyết định hành chính về đất đai,

đặc biệt là các quyết định về thu hồi đất thực hiện dự án phát triển kinh tếthường rất phức tạp về nội dung dung vụ việc cũng như số lượng người khiếukiện và có tinh đối kháng lợi ích vật chất rất cao Vì vậy khi giải quyết tốt vàhiệu quả các vụ án khiếu kiện hành chính về đất đai là một trong những biệnpháp hữu hiệu để giữ vững ổn định chính trị, xã hội, nhất là trong thời kỳ hiệnnay chúng ta đang mở cửa hội nhập và đẩy nhanh phát triển cơ sở hạ tầng đểmời gọi nhà đầu tư Đất được coi là loại hàng hóa đặc biệt có giá trị cao nên

Trang 17

dễ xảy ra xung đột về quyền lợi Bên cạnh đó khi chúng ta giải quyết tốt và cóhiệu quả các vụ khiếu kiện quyết định hành chính liên quan tới đất đai sẽ tácđộng tích cực đến việc ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng từ việc giải tranh chấp đểxuyên tạc, tuyên truyền chống Nhà nước.

Thứ hai: Về khía cạnh xã hội, giải quyết khiếu kiện hành chính về đất

đai góp phần giải quyết, khắc phục những hậu quả nặng nề về mặt xã hội, hàngắn sự đoàn kết giữa người dân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức và giải quyếttriệt để những mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi của người sử dụng đất vớinhau và với các cơ quan hành chính, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng

và Nhà nước về chính sách đất đai

Thứ ba: Trong lĩnh vực kinh tế hoạt động giải quyết khiếu kiện quyết

định hành chính về đất đai hiệu quả, đúng pháp luật và nhanh chóng sẽ giúptiết kiệm được thời gian, công sức, kinh tế cho người dân và đưa đến cho họ

sự an tâm, ổn định cuộc sống, chú tâm và các hoạt động sản xuất, kinh doanh.Bên cạnh đó đối với nhà nước ( bên bị kiện)m việc giải quyết nhanh chónghiệu quả các vụ khiếu kiện quyết định hành chính trong linh vực đất đai sẽgóp phần làm giảm các tổn hại công sức, tiền bạc, thời gian và kinh phí củacác cơ quan nhà nước và góp phần tích cực vào việc quản lý nhà nước về đấtđai được hiệu quả hơn

Thứ tư: Hoạt động giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính giúp

cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật Tố tụnghành chính nói riêng Thông qua thực tiễn xét xử các vụ án khiếu kiện hànhchính về đất đai, quy phạm của pháp luật về tố tụng hành chính và các quyphạm của pháp luật đất đai cũng như các quy phạm pháp luật có liên quankhác đều được kiểm nghiệm trong thực tiễn, để từ phát hiện ra những quyphạm pháp luật nào chưa phù hợp, chồng chéo hay cần bổ sung, sửa đổi đểphù hợp với thực tế để từ đó hoàn thiện quy phạm pháp luật Tránh nhữngtrường quy định chung chung dẫn tới khi áp dụng luật có những cách hiểu

Trang 18

khác nhau tạo ra tình trạng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện Như vậy, quathực tiễn giải quyết các vụ án khiếu kiện hành chính về đất đai chính là nơikiểm nghiệm các quy phạm pháp luật để phát hiện những hạn chế đó, gópphần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Thứ năm: Việc giải quyết vụ án khiếu kiện quyết định hành chính liênquan đến đất đai sẽ phần nào tác động tới hoạt động giáo dục, tuyên truyền,phổ biến chủ trương của Nhà nước đến người dân, cơ quan tổ chức góp phầngiảm số vụ việc khiếu nại, khiếu kiện của người dân đối với các quyết địnhhành chính của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản

lý đất đai, đồng thời giúp cho người dân hiểu được pháp luật và biết được cácquyền và nghĩa vụ của mình khi có tranh chấp xảy ra và khi tham gia tố tụnghành chính Việc giải quyết khiếu kiện hành chính về đất đai có vai trò làmgiảm bớt những sai sót do lỗi chủ quan của cơ quan hành chính nhà nước, củangười có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được giao thực hiệnquản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai

1.3 Quy định của pháp luật về giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

Hiện nay quy định pháp luật về giải quyết khiếu kiện quyết định hànhchính trong lĩnh vực đất đai được ghi nhận trong các văn bản sau:

+ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật này quy định về tổ chức

hệ thống Tòa án nhân dân, thẩm quyền của các cơ quan Tòa án từng cấp trong việcgiải quyết khiếu kiện hành chính về đất đai

+ Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 Quy định về thẩm quyền, nguyêntắc cơ bản trong xét xử vụ án khiếu kiện hành chính tại tòa án, quy định tráchnhiệm, quyền hạn hội đồng xét xử cu4nh như quyền và nghĩa vụ của người thamgia tố tụng tại tòa án có

+ Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính

Trang 19

+ Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và sửa đổi bổ sung năm 2020.Quy định về thẩm quyền, rình tự xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp xử

lý hành chính

+ Luật Đất đai năm: 1987; 1993; 2003; 2013 là các văn bản pháp luật vềnội dung quan trong nhất để giải quyết khiếu kiện hành chính về đất đai

+ Luật Nhà ở năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2014, Luật quy định về xử

lý bất động sản trên đất và các giao dịch liên quan về nhà ở

+ Luật Khiếu nại 2011 Quy định về quyền khiếu nại và trình tự thẩmquyền giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quanhành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhànước và giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức vv+ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003

+ Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2004của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

+ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chínhphủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi cá nhân, tổ chức Nhà

nước thu hồi quyền sử dụng đất

+ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ban hành ngày 25 tháng 05 năm 2007của Chính phủ Quy định bổ sung bổ sung việc cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, thu hồi đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khiNhà nước thu hồi đất và trinh tự giải quyết khiếu nại

+ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ban hành ngày 15/ 05/ 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai năm 2013

+ Thông tư: 07/2013/TT-TTCP ban hành ngày 31 tháng 10 năm 2013 quy định trình tự giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 20

+ Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố tụng Hành chính năm 2011;

+ Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 01 năm 2015 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2011/NQQ-HĐTP ngày 29/7/2011;+ Nghị quyết của hội đồng thẩn phán Tòa án Nhân dân tối cao (số:02/2016/NQ-HĐTP ban hành ngày 30/ 06/ 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 07 năm 2011

Các quy định trên được thể hiện qua các nội dung sau:

1.3.1 Nguyên tắc cơ bản khi xét xử vụ án hành chính

Thứ nhất: Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (Điều 11 Luật Tố

tụng hành chính 2015)

1 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét

xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật này Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2 Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Thứ hai: Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

(Điều 15 LTTHC 2015)

Tòa án xét xử tập thể vụ án hành chính và quyết định theo đa Việc xét xửphải được tiến hành theo cơ chế Hội đồng xét xử, Với hình thức xét xử bằnghội đồng xét xừ sẽ bảo đảm việc giải quyết vụ án được thận trọng, khách quan

và chính xác hơn Hội đồng xét xử mỗi cấp xét xử được quy định

Trang 21

cụ thể, chi tiết trong luật tố tung hành chính, nhằm đảm bảo cho hoạt động xét

xử đạt hiệu quả cao nhất

Thứ ba: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 13 LTTHC 2015)

Khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoàn toàn độc lập và chỉtuân thủ quy định pháp luật Đây không là một nguyên tắc cơ bản được quyđịnh trong Luật Tố tụng Hành chính Do đó khi xét xử quan điểm, nhận địnhcủa Thẩm phán và Hội thẩm là độc lập không bị ràng buộc hay phụ thuộcnhau Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và quy định pháp luật để đưa ra ý kiến,quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án hành chính, chứ không đượctùy tiện hay bằng cảm tính để vận dụng trong giải quyết vụ án và tự chịu tráchnhiệm Quy định này nhằm mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa vừathể hiện tính chất độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan, tổ chức hay cánhân nào trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

Thứ tư: Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành

chính (Điều 17 LTTHC 2015)

1 Trong tố tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình

độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội.

2 Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án.

3 Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án không phânbiệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ vănhóa, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vàohình thức tổ chức, hình thức sỡ hữu và những vấn đề khác Các đương sự bìnhđẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

Trang 22

Thứ năm: Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của đương sự (Điều 18, 19 LTTHC 2015)

1 Đương sự được tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hay người khác bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho

đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

họ Thứ sáu: Bảo đảm tranh tụng trong xét xử

1 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ

thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này.

2 Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ

đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Luật này.

3 Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy

đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của Luật này Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa

rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

1.3.2 Quy định về quyền khởi kiện, đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền Tòa án giải quyết.

- Quyền khởi kiện được Luật Tố tụng Hành chính 2015 quy định tạiĐiều 115, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối vớiquyết định hành chính khi không đồng ý với quyết định đó hoặc đã khiếu nạiquyết định đó tới người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giảiquyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc

đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại thì có

Trang 23

quyền khiếu kiện quyết định hành chính đó tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Về Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện trong vụ án hànhchính được quy định tại Điều 3 của Luật Tố tụng Hành chính 2015 và Điều 1của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao thì Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầuTòa án giải quyết là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc côngvăn, thông báo, kết luận do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chứckhác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành ápdụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể quyết định về vấn đềnhất định trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, mà người khởi kiệncho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại Việc quy định cácvăn bản có tựa đề như “công văn, thông báo v.v ” như tại Nghị quyết02/2011/NQ- HĐTP đã mở rộng quyền khởi kiện của cá nhân tổ chức và tạođiều kiện cho cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình đượctốt hơn, đồng thời việc quy định như trên cũng phù hợp với tình trạng thựctiễn đang xảy ra trong đời sống xã hội Như vậy các quyết định hành chínhtrong lĩnh vực đất đai được xem là đối tượng khởi kiện trong vụ án hànhchính, về hình thức phải thể hiện bằng văn bản Hình thức văn bản có thểđược thể hiện dưới hình thức, quyết định, công văn, kết luận, thông báo nếuchứa nội dung quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhànước về đất đai được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụthể, trừ các quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lýhành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; quyết định hành chính,hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức Quyết định hànhchính trong lĩnh vực đất đai là đối tựng khởi kiện trong vụ án hành chính phải

là quyết định hành chính cá biệt, có nội dung liên quan đề việc giải quyết mộtvấn đề cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai Quyết định đó

Trang 24

làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

là đối tượng khởi kiện bao gồm: Quyết định hành chính về giao đất, côngnhận quyền sử dụng đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phépchuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất; Quyết định gia hạn thời gian sử dụng đất, Quyết định bồithường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư, v.v và Quyết định giảiquyết khiếu nại của cá nhân, UBND có thẩm quyền

- Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng Hànhchính năm 2015, đối với quyết định hành chính là 01 năm kể từ ngày nhậnđược hoặc biết được quyết định hành chính Nếu vì sự kiện bất khả khánghoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện đượctrong thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hànhchính thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan kháckhông tính vào thời hiệu khởi kiện Theo quy định tại Điều 118 Luật Tố tụngHành chính, trong đơn khởi kiện, người khởi kiện phải trình bày rõ các thôngtin liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện và phải gửi cho Tòa ánquyết định hành chính kèm theo đơn khởi kiện Vì vậy, để khởi kiện quyếtđịnh hành chính thì người khởi kiện phải gửi quyết định kèm theo đơn khởikiện nhưng thực tế không phải lúc nào người khởi kiện cũng có được quyếtđịnh hành chính trong tay Điều này cho thấy, quy định tại Điều 116 về việcngười khởi kiện “biết được” quyết định hành chính là chưa phù hợp với thựctiễn Hơn nữa, với trình độ hiểu biết pháp luật của đại đa số người dân cònthấp như hiện nay thì không phải ai cũng có thể biết được quy định về thờihiệu khởi kiện tại Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính để thực hiện quyền khởikiện của mình dẫn tới việc mất quyền khởi kiện Ngoài việc quy định thờihiệu khởi kiện là 01 năm là chưa thật sự phù hợp thì việc quy định như vậycũng chưa phù hợp về mặt pháp lý cũng như tính thống nhất trong toàn hệ

Trang 25

thống pháp luật hiện hành Chẳng hạn, khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án xácđịnh có quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật thì theo yêu cầu của đương sựTòa án xem xét hủy bỏ quyết định đó (Điều 34 BLTTDS) và theo Thông tưliên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 6/01/2014, hướng dẫnthi hành Điều 32a của Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, tạiĐiều 5 quy định “Tòa án không áp dụng thời hiệu quy định trong pháp luật tốtụng hành chính khi xem xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái phápluật” Do đó, khi xem xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái phápluật, Tòa án cũng không xem xét về thời hiệu Như vậy có sự trái ngược, mâuthuẫn về pháp lý giữa các văn bản pháp luật Bởi cùng một quyết định hànhchính rõ ràng trái pháp luật nhưng nếu xem xét trong vụ án dân sự thì không

áp dụng thời hiệu nên Tòa án có quyền hủy bỏ quyết định đó, còn khi khởikiện quyết định hành chính này theo thủ tục tố tụng hành chính thì Tòa khôngthụ lý bởi đã hết thời hiệu khởi kiện

- Thẩm quyền tòa án: Luật TTHC năm 2015 có sự thay đổi về thẩmquyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án, đó là những khiếu kiện quyết định hànhchính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, Chủ tịchUBND cấp huyện thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) cấp tỉnh,thay vì thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện như trước

đây Đây là một sự thay đổi lớn góp phần đáng kể vào khả năng bảo đảm tínhđộc lập của thẩm phán khi xét xử vụ án hành chính nói chung Đối với quyếtđịnh hành chính trong lĩnh vực đất đai đa phần là do Chủ tịch hoặc của UBNDban hành, vì vậy theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính 2015 thì phầnlớn các vụ án khởi kiện quyết định hành chính liên quan đất đai thuộc thẩmquyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.Việc chuyển thẩm quyền thụ lý giải quyết lên Tòa án tỉnh, thành phố là mộtbước đột phá nhằm năng cao chất lượng giải quyết vụ việc bởi tính chất phứctạp của vụ kiện hành chính, đồng thời phần nào tạo tâm lý thoải mái và

Trang 26

bớt áp lực cho Hội đồng xét xử góp phần đảm bảo tính độc lập trong xét xửcủa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Tuy nhiên nó cũng tạo áp lực về số vụviệc dồn lên Tòa cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rất nhiều dẫn tớiquá tải cho cán bộ Tòa án và hậu quả của nó là vụ việc bị kéo dài nhiều năm,làm vụ việc ngày càng trở nên phức tạp và khó giải quyết vụ việc một cáchtoàn diện và triệt để.

1.3.3.Quy định của pháp luật về giai đoạn chuẩn bị xét xử và thu thập chứng cứ.

- Thời hạn chuẩn chuẩn bị xét xử đối được quy định tại Điều 130 Luật

Tố tụng Hành chính 2015: “Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xửtheo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về

danh sách cử tri được quy định như sau:

1 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm

a khoản 2 Điều 116 của Luật này

2 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm

b khoản 2 Điều 116 của Luật này

3 Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa

án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không

quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại Tòa 1 Điều này và không quá 01tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

4 Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thờihạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ

án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”

Với quy định tại khoản 3 và khoản 4 của Điều này Thẩm phán có quyềngia hạn thời thời gian chuẩn bị xét xử khi vụ án phức tạp hoặc trở ngại kháchquan Tuy nhiên, luật không quy định và cũng chưa có văn bản hướng dẫn nàoquy định chi tiết như thế nào thì được coi là vụ án phức tạp, vì thế không đã

vô tình tạo ra kẽ hở để Thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ án lợi dụng quy

Trang 27

đinh này không đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn trong khi vụ án không thật

sự phức tạp

- Về chứng cứ và thu thập chứng cứ: Điều 10 Luật Tố tụng Hành chính

2015 quy định về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền: “cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu,chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sátnhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) theo quy định của luật này khi có yêucầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu chứng

cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản vànêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết”

Trên thực tế việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức đanglưu giữ còn chậm, chưa đầy đủ, đặc biệt việc cung cấp chứng cứ của người bịkiện hiện nay rất chậm chạp nên đã gây khó khăn cho Tòa án khi giải quyết

vụ án làm ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án và chất lượng của bản án

- Về quyền yêu cầu về việc cung cấp tài liệu chứng cứ của đương sự:

Khoản 3, khoản 4 Điều 93 quy định: “3 Trường hợp có yêu cầu của

đương sự hoặc xét thấy cần thiết, tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình, tài liệu chứng cứ.”

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cótrách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trongthời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này

mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơquan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý docho Tòa án Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án

mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo quy định của Luật này vàpháp luật có liên quan Việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá

Trang 28

nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

4 Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì

cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.”.

Để xem xét giải quyết vụ án đúng pháp luật thì việc thu thập tài liệuchứng cứ là vô cùng cần thiết, tuy nhiên không phải lúc nào người khởi kiệncũng cung cấp đầy đủ cho tòa các tài liệu chứng cứ để làm căn cứ bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình Đặc biệt đối với các vụ án khiếu kiện hànhchính thì việc thu thập chứng cứ của người khởi kiện càng khó khăn hơn Mặc

dù Luật đã quy định về quyền của Tòa án, Viện kiểm sát và nghĩa vụ củađương sự, cơ quan tổ chức đang lưu giữ tài liệu chứng cứ về việc cung cấp tàiliệu chứng cứ đã phần nào giúp giải quyết vụ án được đúng đắn và nhanhchóng, nhưng do không quy định về chế tài nếu cơ quan tổ chức đang lưu giữ

mà không cung cấp chứng cứ nên việc trốn tránh nghĩa vụ vẫn xảy ra

1.3.4 Quy định pháp luật về Phiên tòa xét xử

- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm VAHCđược quy định tại Mục 2 Chương XI, bao gồm 6 điều, từ Điều 169 đến Điều

174 và Thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm được quy định tại Mục 2 ChươngXIII, từ Điều 233 đến Điều 235 Thủ tục này bao gồm các công việc như khaimạc phiên tòa; giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, ngườigiám định, người phiên dịch; bảo đảm tính khách quan của người làm chứng:hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; xem xét việc thay đổi, bổsung, rút yêu cầu; thay đổi địa vị tố tụng Đây là các công việc cần thiết phảitiến hành nhằm đảm bảo quyền của đương sự và đảm bảo tính khách quan,trung thực và đúng đắn trong xét xử tại phiên tòa

- Thủ tục hỏi (chủ thể, phạm vi, thứ tự, nội dung và phương thức hỏi) tại phiên toà sau khi thủ tục bắt đầu phiên tòa kết thúc

Trang 29

Hỏi là một khâu trọng tâm của quá trình tiến hành xét xử tại tòa án, nênviệc tiến hành thủ tục này tại phiên tòa luôn phải tuân theo nguyên tắc dânchủ, khách quan, công bằng, minh bạch Thông qua việc hỏi và trả lời củađương sự và các chủ thể có liên quan, Hội đồng xét xử sẽ có thêm căn cứ đểxác định tình tiết khách quan, làm rõ sự thật của vụ án Thủ tục hỏi tại phiêntòa được quy định từ Điều 177 đến Điều 186 của Luật TTHC năm 2015 Khixét thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Chủ toạ phiên toàhỏi các thành của Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, đương sự, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tốtụng khác xem họ có yêu câu hỏi thêm gì khác nữa không Nếu những chủ thểtrên không còn hỏi về vấn đề khác thì Chủ toạ tuyên bố kết thúc việc hỏi tạiphiên toà Nếu có yêu cầu thì chủ toạ sẽ cho tiếp tục hỏi nếu yêu cầu này là cócăn cứ Ngược lại, HĐXX sẽ bác yêu cầu và tuyên bố kết thúc việc hỏi vàchuyển sang phần tranh luận.

- Thủ tục tranh tụng: Bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một trong nhữngnguyên tắc đặc trưng của pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng hànhchính nói riêng Nguyên tắc này khẳng định quyền chứng minh của

đương sự, trách nhiệm của Tòa án phải tạo điều kiện tối đa về thời gian và cơhội để các đương sự được trình bày, phân tích, tranh luận chứng minh cho cácyêu cầu của họ đưa ra là có căn cứ và hợp pháp Luật TTHC năm 2015 đã quyđịnh việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử

+ Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên toà là điểm mới tiến bộcủa Luật TTHC năm 2015 khi quy định rõ nội dung và phương thức tranhtụng tại phiên tòa tại Điều 175 giúp các đương sự, người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự được bình đẳng, chủ động và công khai đưa rachứng cứ, căn cứ pháp lí, lập luận và đối đáp với nhau đảm bảo tính kháchquan, công bằng, dân chủ trong quá trình xét xử tại phiên tòa Nội dung vàphương thức tranh tụng tại phiên toà được quy định như: Tranh tụng là việc

Trang 30

các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến

về việc đánh giá các tài liệu, chứng cứ, làm căn cứ đề xuất hướng giải quyết

vụ án theo quan điểm của đương sự Các ý kiến này được đưa ra dựa trên tàiliệu, chứng cứ đã thu thập và được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng nhưkết quả thông qua việc hỏi tại phiên tòa Những người tham gia tranh tụng cóquyền hỏi và đáp lại ý kiến của người khác Số lần phát biểu ý kiến tranh luận

và thời gian tranh tụng không bị hạn chế nhằm tạo điều kiện cho đương sựtrình bày đầy đủ ý kiến của mình Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa có quyền cắtnhững ý kiến phát biểu không liên quan đến vụ án và đã được trình bày Vềphương thức tranh tụng quy định tại Điều 188 và Điều 189 Luật Tố tụng Hànhchính 2015 quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu khi tranhluận đối đáp Sau khi đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa họ phát biểu ý kiến và đối đáp xong, Chủ tọa phiên tòa sẽ mời Kiểm sátviên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giảiquyết vụ án của những người tiến hành và người tham gia tố tụng kể từ khithụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến vềviệc giải quyết vụ án

+ Tranh luận: Mục đích của tranh luận là làm lập luận phân tích, chứngminh để làm rõ bản chất sự thận của sự việc, trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử sẽ

ra phán quyết về việc giải quyết vụ án Theo quy định tại Điều 188 LuậtTTHC năm 2015, các chủ thể được quyền tham gia tranh luận bao gồm đương

sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Do đặc trưng của

vụ án hành chính với tính chất là tranh chấp giữa đối tượng bị quản lý và chủthể quản lý nên quá trình tranh luận chỉ có thể diễn ra giữa các đương sự,người đại điện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự HĐXX không phải là chủ thể tham gia tranh luận mà chỉ đóng vaitrò là chủ thể điều khiển, quan sát quá trình tranh luận, phân tích và tổng hợpcác tài liệu, chứng cứ và kiết quả tranh luận để đưa ra kết luận về tính hợp

Trang 31

pháp hoặc không hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện Kiểm sátviên tham gia phiên tòa với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quátrình tố tụng nên sẽ không tham gia tranh tụng.

- Phát biểu của Kiểm sát viên được quy định tại Điều 190 của Luật

TTHC năm 2015, Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm VAHC đượcquyền phát biểu về hai vấn đề Một là, phát biểu ý kiến về việc tuân theo phápluật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụngtrong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hộiđồng xét xử nghị án Hai là, phát biểu về quan điểm, kiến nghị giải quyết vụ

án Khi phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát phân tích nộidung vụ án, đánh giá chứng cứ và đối chiếu với các quy định pháp luật có liênquan để đề xuất hướng giải quyết Theo đó, ý kiến phát biểu của Viện kiểmsát tại phiên tòa là một trong các căn cứ để HĐXX tham khảo, thảo luận vàxem xét giải quyết vụ án Với quy định việc kiểm sát được có ý kiến về giảiquyết vụ án là phù hợp với chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hànhchính, góp phần nâng cao vai trò của Viện kiểm sát và giúp Tòa án nhận định,đánh giá đúng bản chất vụ việc để đưa ra phán quyết chính xác, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

- Thủ tục nghị án và tuyên án: Nghị án là việc các thành viên HĐXX traođổi và biểu quyết về nội dung quyết định trong bản án Qua nghị án, HĐXX sẽ banhành bản án, quyết định giải quyết vụ án Do vậy, nghị án là thủ tục có

ý nghĩa rất to lớn trong việc giải quyết VAHC Hiện nay, thủ tục nghị án đượcquy định riêng biệt tại Điều 191 Luật TTHC năm 2015 Theo quy định thì trongthủ tục này, chỉ có các thành viên của HĐXX tham gia, tiến hành thảo luận, biểuquyết từng vấn đề trong vụ án Tại phòng nghị án, HĐXX thảo luận

để giải quyết tất cả vấn đề của vụ án như xem xét yêu cầu của người khởikiện, xác định cơ sở pháp lý của đối tượng bị khởi kiện, vấn để án phí, v.v…Việc nghị án phải tiến hành dựa vào tài liệu, chứng cứ đã kiểm tra, xem xét và

Trang 32

kết quả thủ tục hỏi tại phiên tòa cùng với ý kiến tranh luận của những ngườitham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Khi nghị án, HĐXXquyết định bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề Thứ tự biểu quyếtcũng được quy định chỉ tiết tại Điều 191 Luật TTHC năm 2015 “Hội thẩm nhândân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng; trường hợp HĐXX gồmnăm thành viên thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là người biểu quyết sau cùng”.Điều này xuất phát từ việc trong thành phần HĐXX thì Hội thẩm nhân dân lànhững người do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của Ủyban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, họ không có kiến thức chuyên sâu vềpháp luật mà chỉ có hiểu biết về mặt xã hội Do đó, nếu không có quy định vềthứ tự biểu quyết sẽ có thể xảy ra trường hợp Hội thẩm nhân dân vì tin tưởng vàotrình độ chuyên môn của Thẩm phán mà bỏ qua ý kiến của mình khi Thẩm phánbiểu quyết trước và khác với ý kiến của họ, không đảm bảo được tính độc lậpcủa các thành viên HĐXX Khi biểu quyết, người có ý kiến thiểu số vẫn cóquyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án đểphục vụ cho các giai đoạn tố tụng sau (nếu có) Quy định về biểu quyết trong thủtục nghị án thể hiện rõ việc tuân thủ nguyên tắc xét xử tập thể, quyết định theo

đa số và nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo phápluật trong tố tụng hành chính Các ý kiến đã thảo luận tại thủ tục nghị án vàquyết định cuối cùng của HĐXX phải được ghi lại tại biên bản nghị án Biên bảnnày được các thành viên HĐXX ký tên ngay tại phòng nghị án trước khi tuyên án

để đảm bảo tính xác thực của nó Thời gian nghị án có thể được HĐXX quyếtđịnh kéo dài nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian Tuynhiên, việc kéo dài thời gian nghị án không được quá 05 ngày làm việc tính từkhi kết thúc tranh luận tại phiên tòa Thời gian này là vừa đủ để HĐXX thực hiệntốt thủ tục nghị án ngay cả trong trường hợp vụ án quá phức tạp Trong trườnghợp này, những người có mặt tại phiên tòa và những người tham gia tố tụng vắngmặt tại phiên tòa cần được HĐXX thông báo về ngày, giờ và địa điểm tuyên án

Trang 33

Ngoài ra khoản 3 Điều 191 Luật TTHC năm 2015 đã quy định rõ hơncũng như bổ sung thêm các căn cứ để HĐXX nghị án và các vấn đề màHĐXX phải quyết định Theo đó, các căn cứ bao gồm: tài liệu, chứng cứ đãđược kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiếncủa Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệhành chính (nếu có) liên quan để quyết định các vấn đề sau: (1) tính hợp pháp

và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thựchiện hành vi hành chính bị khởi kiện; (2) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hànhchính; (3) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiệnhành vi hành chính; (4) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hànhchính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người cóliên quan; (5) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liênquan (nếu có); (6) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có) Quyđịnh này đã tạo ra hành lang pháp lý chặt chẽ để các thành viên HĐXX ápdụng thống nhất pháp luật, xem xét toàn diện vụ án, tránh việc tùy tiện khi rabản án hành chính hoặc các quyết định có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợpcủa các đương sự trong VAHC

+ Tuyên án, theo quy định tại Điều 194 Luật TTHC năm 2015, tuyên án

là việc Chủ tọa phiên tòa hoặc thành viên khác của HĐXX đọc bản án, quyếtđịnh trước toàn thể những người có mặt tại phiên tòa Đây là thủ tục đượcthực hiện sau khi HĐXX nghị án và thông qua bản án, quyết định tại phòngnghị án Trường hợp thời gian nghị án kéo dài thì sự vắng mặt của người thamgia tố tụng tại thời điểm tuyên án đã được thông báo cũng không ảnh hưởngđến việc thực hiện hoạt động này Thủ tục tuyên án phải được tiến hành theođúng các quy định tại Điều 195 Luật TTHC năm 2015 “Tòa án phải đảm bảonguyên tắc tuyên án công khai đề các đương sự, những người tham gia tô tụng

và mọi người tham dự phiên tòa đều được nghe bản án”;31 ngay cả các

Trang 34

trường hợp tiến hành xét xử kín theo quy định tại Điều 195 Luật TTHC năm

2015 thì HĐXX cũng phải thực hiện công khai thủ tục tuyên án Vì đây làhoạt động mang tính chất thông báo cho mọi người biết quyết định của cơquan có thẩm quyền về việc giải quyết VAHC, thể hiện quyền lực của cơquan tư pháp nên cần thực hiện một cách trang trọng và nghiêm túc Theo đó,mọi người có mặt tại nơi tuyên án phải đứng dậy khi thực hiện việc tuyên án,chỉ trừ trường hợp đặc biệt khi được Chủ tọa phiên tòa cho phép thì khôngphải đứng Sau khi chủ thể có thẩm quyền đọc bản án, quyết định thì có thểgiải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo để đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự Nếu có đương sự không biết tiếng Việt thìsau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản ánsang ngôn ngữ mà họ biết nhằm giúp họ biết được những quyền, nghĩa vụ củamình được ghi nhận trong bản án

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạtđộng xét xử của Tòa án nhân dân nhằm xác định tính đúng đắn, hợp pháp cócăn cứ của quyết định hành chính bị khởi kiện tới Tòa án nhân dân có thẩmquyền nhằm góp phần bảo vệ công lý, lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên có liên quan trong vụ án Đồng thời thông quan bản án,quyết định của Tòa án để giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành phápluật; bảo đảm tính ổn định, thông suốt trong công tác quản lý đất đai, bảo vệlợi của nhân dân và lợi ích của Nhà nước và bảo đảm tính hiệu lực của phápluật trong nền hành chính quốc gia chế độ xã hội chủ nghĩa,

Trong chương này tác giả đã nêu ra những vấn đề lý luận về khái niệm,đặc điểm của quyết định hành chính trong lĩnh vực về đất đai, khái niệm, đặcđiểm và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính tronglĩnh vực đất đai cũng như hoạt động xét xử vụ hành chính đối với quyết địnhhành chính trong lĩnh vực đất đai và pháp luật được sử dụng trong quá trìnhgiải quyết vụ án hành chính nói chung và vụ án khiếu kiện quyết định hànhchính trong lĩnh vực đất đai nói riêng Việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về giải quyết khiếu kiện hành chính, không chỉ có ý nghĩa nhận thức lý luận

mà còn là cơ sở để xem xét áp dụng nó vào thực tiễn giải quyết khiếu kiệnhành chính về đất đai và đưa ra những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệuquả việc giải quyết các vụ án khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vựcđất đai

Ngày đăng: 17/11/2023, 08:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng vụ án khiếu kiện hành chính trong lĩnh được  Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trên địa bàn thành phố - (Luận văn thạc sĩ) giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tp hồ chí minh
Bảng 2.1. Số lượng vụ án khiếu kiện hành chính trong lĩnh được Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trên địa bàn thành phố (Trang 38)
Bảng 2.3. Thống kê số lượng vụ án hành chính thụ lý và giải quyết theo thủ tục Phúc thẩm từ năm 2016 đến năm 2020 - (Luận văn thạc sĩ) giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tp hồ chí minh
Bảng 2.3. Thống kê số lượng vụ án hành chính thụ lý và giải quyết theo thủ tục Phúc thẩm từ năm 2016 đến năm 2020 (Trang 39)
Bảng 2.2. Kết quả giải quyết vụ án Hành chính theo thủ tục sơ thẩm từ năm 2016 đến năm 2020 - (Luận văn thạc sĩ) giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tp hồ chí minh
Bảng 2.2. Kết quả giải quyết vụ án Hành chính theo thủ tục sơ thẩm từ năm 2016 đến năm 2020 (Trang 39)
Bảng 2.5. Số liệu bản án, quyết định sai do nguyên nhân chủ quan - (Luận văn thạc sĩ) giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tp hồ chí minh
Bảng 2.5. Số liệu bản án, quyết định sai do nguyên nhân chủ quan (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w