1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học hệ thống chính trị với quản lý xã hội tư tưởng hồ chí minh về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật ở việt nam

45 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật ở Việt Nam
Chuyên ngành Hệ thống chính trị với quản lý xã hội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 64,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tổng kết và vận dựng các tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh phục vụ cách mạng trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là một bộ phận cấu thành của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, với những nội dung nổi bật là: Xây dựng pháp luật để thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; Ban hành pháp luật để tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện một nhà nước pháp quyền; Ban bố pháp luật để công bố các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Nghiêm trị bằng pháp luật các tội phạm và vi phạm pháp luật; Pháp luật phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Tư tưởng về nhà nước và pháp luật là kim chỉ nam cho xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Việt Nam qua từng giai đoạn cách mạng. Hiện nay, trong quá trình đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dựng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kết tinh giá trị nhân loại và tư tưởng về nhà nước và pháp luật của Hồ Chí Minh. Ngoai ra, trong các giai đoạn cách mạng Lào, Đảng nhân dân cách mạng Lào và các lãnh đạo của Lào luôn học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật vào thực tiễn cách mạng Lào. Học tập những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật vận dụng sáng tạo vào điều kiện đất nước Lào để trở thành những phương hướng và giá trị xây dựng nhà nước Lào trên nền tảng pháp luật. Xuất phát từ những yêu cầu trên, em chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật ở Việt Nam” để làm tiểu luận kết thúc học phần hệ thống chính trị với quản lý xã hội.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI

Đề tài :

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MÌNH VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI BẰNG NHÀ

NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôntổng kết và vận dựng các tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh phục vụ cáchmạng trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là một bộ phận cấu thành của tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam, với những nội dung nổi bật là: Xây dựng pháp luật để thực hiệnchính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; Ban hành pháp luật để tổchức bộ máy nhà nước, thực hiện một nhà nước pháp quyền; Ban bố pháp luật

để công bố các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Nghiêm trị bằng pháp luậtcác tội phạm và vi phạm pháp luật; Pháp luật phục vụ cho công cuộc khángchiến và kiến quốc

Tư tưởng về nhà nước và pháp luật là kim chỉ nam cho xây dựng nhànước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Việt Nam qua từnggiai đoạn cách mạng Hiện nay, trong quá trình đổi mới Đảng Cộng sản ViệtNam đã vận dựng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kết tinh giá trị nhân loại và tư tưởng về nhànước và pháp luật của Hồ Chí Minh

Ngoai ra, trong các giai đoạn cách mạng Lào, Đảng nhân dân cáchmạng Lào và các lãnh đạo của Lào luôn học tập và vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về nhà nước và pháp luật vào thực tiễn cách mạng Lào Học tập nhữnggiá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật vận dụng sáng tạo vào

Trang 3

điều kiện đất nước Lào để trở thành những phương hướng và giá trị xây dựngnhà nước Lào trên nền tảng pháp luật.

Xuất phát từ những yêu cầu trên, em chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật ở Việt Nam” để làm

tiểu luận kết thúc học phần hệ thống chính trị với quản lý xã hội

2 Tình hình nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là vấn đề quan trọngđược nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhautrong đó có các công trình tiêu biểu là:

Bài viết Một số vấn đề của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật (2009)

của tác giả Bùi Thị Ngọc Mai đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số7/2009 Bài viết đã phân tích những tư tưởng chính của Hồ Chí Minh về phápluật

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2014) của Bộ Giáo dục và Đào tạo

được Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản Cuốn sách đã tổng kết những giá trị về

tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có tư tưởng về nhà nước và pháp luật

Bài viết Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay của tác giả

Hoàng Thị Kim Quế Bài viết đã phân tích những nét đặc thù trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật từ đó vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về nhà nước và pháp luật trong thực tiễn Việt Nam hiện nay

Bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật - nền tảng tư tưởng chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng (2020) của tác giả Lê Vĩnh Tân đăng trên tạp chí điện tử

Trang 4

Tổ chức nhà nước Bài viết đã tổng hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

và pháp luật từ đó phân tích quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật vào xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật Việt Namdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật đềrút ra những giá trị và quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

- Đánh giá vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

- Phân tích quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vàpháp luật của Đảng cộng sản Việt Nam

4 Đối tưởng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Phạm vi nghiên cứu

Tại nước Cộng hòa Xã hội chủ Nghĩa Việt Nam (từ năm 1945 đến nay)

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Trang 5

-Phương pháp cụ thể: Vận dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống,phân tích tài liệu, lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh…

Trang 6

II NỘI DUNG

2.1 Một số vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật

2.1 Lý luận chung về nhà nước

Khái niệm nhà nước

Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnhthổ, dân cư và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luậtnhằm thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình Nhànước là một tổ chức đặc biệt, nên so với các tổ chức khác, Nhà nước có cácdấu hiệu đặc trưng, cơ bản sau: phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính -lãnh thổ không phụ thuộc vào giai cấp, dân tộc, tôn giáo, huyết thống, địa vị

xã hội, nghề nghiệp; có bộ máy quyền lực công với sức mạnh cưỡng chế baogồm quân đội, cảnh sát, Toà án và một đội ngũ công chức chuyên nghiệp làmnhiệm vụ cai trị, quản lí xã hội; có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổcủa đất nước mình, quyết định các vấn đề quan trọng nhất của đất nước về đốinội cũng như đối ngoại; có quyền ban hành pháp luật, những quy tắc xử sựmang tính bắt buộc chung đối với mọi thành viên trong xã hội, với tư cách làmột công cụ đắc lực trong cai trị, quản lí xã hội; có quyền quy định các loạithuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân và tổ chức trong xã hội nhằm thiếtlập nguồn tài chính nuôi bộ máy công quyền và thực hiện các chức năng củamình

Vì vậy có thể hiểu nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lựcchính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chứcnăng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vịcủa giai cấp thống trị trong xã hội

Trang 7

Nguồn gốc nhà nước

Có nhiều quan điểm, học thuyết khác nhau về nguyên nhân, điều kiệndẫn đến sự ra đời của nhà nước như: Học thuyết bạo lực cho rằng chiến tranhgiữa các bộ lạc, sự chính phục của bộ lạc này đối với bộ lạc khác chính lànguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước; Học thuyết tôn giáo (ThiênChữa giáo, Nho giáo, Hồi giáo ) giải thích nguồn gốc siêu nhiên của nhànước Họ cho rằng Nhà nước ra đời là do ý muốn của thượng đế Người làmvua của một nước là người do thượng đế lựa chọn, là người “thế thiên hànhđạo, trị quốc an bang”; Học thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước ra đời là do

sự hình thành và phát triển của gia đình Mỗi gia đình có một người đứng đầu

- người đó là gia trưởng, mỗi dòng tộc có một người đứng đầu - người đó làtộc trưởng Nhà nước cũng như gia đình, dòng tộc cần có một người đứng đầu

để lãnh đạo, cai quản - người đó là hoàng đế; Học thuyết “Khế ước xã hội”của Ruxô (Jean Jacques Rousseau) thì xem Nhà nước là sản phẩm của sự thoảthuận của các thành viên trong xã hội về việc thành lập một tổ chức điều hòacác mối quan hệ xã hội vì lợi ích của tất cả cộng đồng Học thuyết “Khế ước

xã hội” có những hạt nhân hợp lí và là học thuyết phổ biến ở các nhà nước tưsản về nguồn gốc nhà nước Các học thuyết trên đây hoặc là sai lầm hoặc làxem xét chưa thật đầy đủ, toàn diện nguyên nhân, điều kiện ra đời của Nhànước

Học thuyết Mác - Lênin xem xét nguồn gốc ra đời của nhà nước gắnliền với sự phát triển của kinh tế, xã hội Trong xã hội cộng sản nguyên thủy,

do công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thất nên con người không tạo

ra được của cải dư thừz không có sở hữu tư nhân Khi con người biết chế tạo

ra các công cụ lao động bằng đồng, bằng sắt, năng suất lao động cao hơn,xuất hiện của cải dư thừa, sở hữu tư nhân xuất hiện Dần dần có sự phân cônglao động trong xã hội, xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuất hiện

Trang 8

người bóc lột và người bị bóc lột Các xung đột trong xã hội ngày càng gaygắt và quyết liệt hơn Tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp để quản lí xãhội Xã hội cần có một tổ chức quyền lực đặc biệt đủ sức mạnh để điều hòacác mối quan hệ trong xã hội Tổ chức đó ra đời chính là nhà nước Như vậy,nhà nước ra đời do hai nguyên nhân:

Thứ nhất, nguyên nhân kinh tế là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệusản xuất;

Thứ hai, nguyên nhân xã hội là sự ra đời các giai cấp đối kháng cũngnhư sự mâu thuẫn giữa chúng phát triển đến mức không thể điều hoà đượcmột cách tự nhiên mà cần có một bộ máy đặc biệt có sức mạnh cưỡng chế, bộmáy đó chính là Nhà nước

Bản chất nhà nước

Thứ nhất, tính chất giai cấp của nhà nước

Đi từ sự phân tích nguồn gốc Nhà nước các nhà kinh điển của chủnghĩa Mác-Lênin cho rằng nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội cógiai cấp và luôn mang tính chất giai cấp sâu sắc Làm rõ tính chất giai cấp củaNhà nước phải giải đáp được câu hỏi: Nhà nước do giai cấp nào tổ chức ra vàlãnh đạo, nhà nước tồn tại và hoạt động trước hết phục vụ lợi ích của giai cấpnào trong xã hội

Nghiên cứu nguồn gốc ra đời của nhà nước, các nhà tư tưởng khẳngđịnh: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấpkhông thể điều hòa được Nhà nước trước hết là bộ máy trấn áp đặc biệt củagiai cấp này đối với giai cấp khác là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp.Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị giai cấp xét về nội dung thể hiện ở 3mặt: kinh tế, chính trị và tư tuởng Để thực hiện sự thống trị của mình, giai

Trang 9

cấp thống trị phải tổ chức và sử dụng nhà nuớc, củng cố và duy trì quyền lực

về chính trị, kinh tế và tư tưởng đối với toàn xã hội Bằng nhà nước, giai cấpthống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấpthống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà nước, bắtbuộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, các giai cấp, các tầng lớpdân cư phải hành động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích củagiai cấp thống trị

Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ sắc bén nhấtduy trì sự thống trị giai cấp, đàn áp lại sự phản kháng của các giai cấp bịthống trị, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị Do nắm được quyềnlực nhà nước, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị biến thành hệ tư tưởng thốngtrị trong xã hội Trong các xã hội bóc lột, nhà nước có thuộc tính chung là bộmáy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu sốđối với đa số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấpbóc lột Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là công cụ thựchiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dânlao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ máy thống trị của đa số vớithiểu số

Thứ hai, tính xã hội của nhà nước

Nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợiích của giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công, là phươngthức tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội Nhà nước không chỉ phục vụlợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra giải quyết những vấn đề nảy sinh

từ trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung, sự ổn định, bảo đảm các giátrị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển Như vậy nhà nước khôngchỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà phải bảo đảm lợi ích của các

Trang 10

giai tầng khác trong xã hội khi mà những lợi ích đó không mâu thuẫn căn bảnvới lợi ích của giai cấp thống trị.

Chức năng của nhà nước

Chức năng của Nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhiệm vụ củaNhà nước Nhiệm vụ, công việc phải làm, vì một mục đích và trong một thờigian nhất định, là sự cụ thể hoá chức năng - phương hướng hoạt động của nhànước trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước trên từng lĩnh vực quan hệ,sinh hoạt xã hội nhất định Do chức năng của Nhà nước xuất phát từ bản chấtgiai cấp, vai trò, sứ mệnh xã hội của Nhà nước nên chức năng là một phạm trùtồn tại thường trực, và có tính lâu dài Một kiểu nhà nước đang tồn tại thì cácchức năng của nó vẫn hoạt động, vận hành Nhiệm vụ cụ thể hoá chức năngcủa Nhà nước trên từng giai đoạn phát triển của Nhà nước thì có thể thay đổi,khi nhiệm vụ lịch sử được đặt ra trước nhà nước đã hoàn thành Đối với nhàrước xã hội chủ nghĩa chẳng hạn, có chức năng tổ chức, phát triển, quản lí nềnkinh tế xã hội được cụ thể hoá thành nhiệm vụ có tính chiến lược, lịch sử làtiến hành công nghiệp hoá đối với một giai đoạn phát triển nhất định, có thểkéo dài nhiều thập kỉ, nhưng vẫn là chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định

Chức năng của Nhà nước có thể được phân chia thành chức năng đốinội và chức năng đối ngoại Chức năng đối nội là những hoạt động chủ yếucủa Nhà nước về mặt đối nội như chức năng chính trị, chức năng kinh tế,chức năng quản lí văn hoá, giáo dục, chức năng quản lí khoa học, kĩ thuật vàcông nghệ, chức năng bảo vệ các quyền công dân và quyền con người; chứcnăng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Chức năng đối ngoại lànhững hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong quan hệ với các quốc gia, cácdân tộc và các tổ chức quốc tế như phòng thủ đất nước, thiết lập các quan hệ

Trang 11

ngoại giao và hợp tác quốc tế, đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ và dân chủ trênphạm vi toàn thế giới.

2.2.2 Lý luận chung về pháp luật

Khái niệm pháp luật

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung doNhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí củagiai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phùhợp với lợi ích của giai cấp mình

khái niệm pháp luật được thể hiện bằng 4 ý cơ bản gồm:

Thứ nhất, pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắtbuộc chung

Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến Tức là nói đếntính khuôn mẫu, mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến chung Trong xãhội không chỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm Đạo đức, tập quán, tín điềutôn giáo, các điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúngđều có tính quy phạm Cũng như pháp luật, tất cả các quy phạm trên đều làkhuôn mẫu, quy tắc xử sự của con người Nhưng khác với đạo đức, tập quán,tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quy phạm của pháp luật mang tính phổ biến.Đây chính là dấu hiệu để phân biệt pháp luật và các loại quy phạm nói trên.Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ:

Một là, khuôn mẫu chung cho nhiều người

Hai là, được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn

Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước banhành và đảm bảo thực hiện thống nhất Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:

Trang 12

Một là, việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ýthức chủ quan của mỗi người Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức

vụ như thế nào cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật

Hai là, nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức

độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảmbảo thực hiện đúng các quy tắc đó

Ba là, tính quyền lực nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm chopháp luật được tôn trọng và thực hiện

Thứ hai, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận Ngoài việc ban hànhNhà nước còn có thể thừa nhận những tập quán trong xã hội bằng cách phápđiển hóa, ghi nhận trong luật thành văn

Thứ ba, đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Pháp luật đượcnhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện phápcưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tùchung thân… Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn đượccác tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trongđời sống xã hội

Thứ tư, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Cũng giốngnhư bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tínhgiai cấp Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấpthống trị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinhhoạt vật chất của giai cấp thống trị Ý chí của giai cấp thống trị được cụ thểhóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành

Trang 13

Nguồn gốc của pháp luật

Theo học thuyết Mác-Lênin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượnglịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị xã hội, là hai người bạn đồng hành

có số phận lịch sử như nhau cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển và cùngtiêu vong khi nhân loại đã tiến tới chủ nghĩa cộng sản

Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính lànhững nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật: một là sự phát triển của nền kinh

tế trong xã hội nguyên thủy từ chỗ vô cùng thấp kém, lạc hậu và chế độ sởhữu chung đến chỗ dần dần có của cải dư thừa và xuất hiện chế độ chiếm hữu

tư nhân (tư hữu) về tư liệu sản xuất và của cải làm ra; hai là, sự phân hóa xãhội thành những tầng lớp, giai cấp có lợi ích đối kháng nhau và mâu thuẫngiai cấp, đấu tranh giai cấp phát triển đến mức không thể điều hòa được

Bản chất của pháp luật

Cũng giống như bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiệntrước hết ở tính giai cấp Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nướccủa giai cấp thống trị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điềukiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị Ý chí của giai cấp thống trị được

cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành

Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh cácquan hệ xã hội, pháp luật là yếu tố điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xãhội nhằm định hướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu,một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vịcủa giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó pháp luật chính là công cụ thể hiện sựthống trị của giai cấp

Trang 14

Bên cạnh tính giai cấp, không thể coi nhẹ giá trị xã hội to lớn của phápluật vì trong cuộc sống hàng ngày các cá nhân và tổ chức có mối quan hệ vớinhau rất đa dạng được thể hiện qua những hành vi xử sự khác nhau Xã hộithông qua nhà nước ghi nhận những cách xử sự hợp lý, khách quan được sốđông chấp nhận phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội, cách xử sự nàyđược nhà nước thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật Giá trị xã hộicủa pháp luật còn được thể hiện ở chỗ một quy phạm pháp luật vừa là thước

đo của hành vi con người vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiệntượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quá trình xãhội Ngoài ra pháp luật còn có tính dân tộc, tính mở

Thuộc tính của pháp luật

Tính quy phạm phổ biến (tính bắt buộc chung): Pháp luật có đối tượngđiều chỉnh rộng hơn các quy phạm xã hội khác, pháp luật lại là khuôn mẫu xử

sự cho các hành vi nên nó có tính bắt buộc với tất cả mọi người Điều này tạonên hiệu lực lớn của pháp luật trong quản lý xã hội Các quy phạm pháp luậtđược áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian, tính phổ biến của phápluật dựa trên ý chí của nhà nước “được đề lên thành luật”, pháp luật làm cho ýchí này có tính chất chủ quyền duy nhất trong một quốc gia

Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Là sự thể hiện nội dung phápluật trong những hình thức nhất định, nội dung của pháp luật phải được xácđịnh rõ ràng, chặt chẽ điều này nhằm bảo đảm nguyên tắc “bất cứ ai được đặtvào những điều kiện ấy cũng không thể làm khác được” Nội dung của phápluật phải được quy định rõ ràng, chặt chẽ, khái quát trong các khoản của mọiđiều luật, trong các điều luật, trong một văn bản pháp luật và toàn bộ hệ thốngpháp luật nói chung Nếu các quy phạm pháp luật quy định không đủ, không

rõ, không chính xác thì sẽ tạo ra những kẽ hở cho sự chuyên quyền, lạm dụng,

Trang 15

những hành vi vi phạm pháp luật như tham ô, lãng phí, phá hoại… Như vậynội dung của pháp luật phải được biểu hiện bằng ngôn ngữ pháp luật rõ ràng,chính xác dưới hình thức nhất định của pháp luật.

Tính được đảm bảo bằng nhà nước: Khác với các quan hệ xã hội khácpháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận vì vậy được nhà nước bảođảm thực hiện, điều đó có nghĩa là nhà nước đã trao cho các quy phạm phápluật tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và công dân Phápluật đã trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung Tùy theo các mức độ

mà nhà nước áp dụng các biện pháp khác nhau như tổ chức, khuyến khích kể

cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo cho pháp luật được thực hiệnđúng

2.2 Quản điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật

2.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền

Năm 1994, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” chính thức được sử dụngtrong văn kiện của Đảng Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994)lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” vànêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.Trong Văn kiện hội nghị đã nêu nhiệm vụ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” với nộidung như sau: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước phápquyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa” Đó là, những quan điểm cơ bản về các nộidung chủ yếu của phạm trù Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

Trang 16

do dân, vì dân đã được xác lập, đặt cơ sở lý luận cho việc triển khai các quanđiểm, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong nhữnggiai đoạn phát triển tiếp theo.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa VIII) về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”, Đảng ta

đã phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Mặt khác, khi phân tíchnguyên nhân yếu kém trong xây dựng Nhà nước, Nghị quyết chỉ rõ: “Việcxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổinền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việcphải làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm”

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng ta tiếp tục chủtrương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xác định bản chấtcủa nhà nước Đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Đồng thời với chủtrương tăng cường pháp chế, các Nghị quyết của Đại hội IX cũng chủ trương

mở rộng dân chủ - là cơ sở chính trị - xã hội của nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Như vậy, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định xây dựng Nhà nướcpháp quyền là vấn đề có tính quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Điểm nổi bật là quan điểm về xây dựng Nhà nước phápquyền của Đảng ta đã được thể chế hóa tại điều 2, Hiến pháp năm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2001): “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng ta khẳng định: “Nhànước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây dựng cơ chế vận

Trang 17

hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc

về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợpgiữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta tiếp tục nêurõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân

và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực nhànước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng ta tiếp tục đúc kếtquan điểm nhất quán của Đảng về đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân tronggiai đoạn phát triển mới Báo cáo chính trị trình Đại hội XII xác định: “Xâydựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng

bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệthống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh

tế, văn hóa, xã hội Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và

cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của bộ máy nhà nước Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thiquyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sởquyền lực nhà nước là thống nhất, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệmcủa mỗi quyền”

Trang 18

2.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống pháp luật

Sau gần hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có nhữngtiến bộ quan trọng Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đượcđổi mới Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp

lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên cáclĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Nguyên tắc phápquyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trên thực tế Côngtác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường đáng kể Những tiến bộ

đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý điều hành của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội của đất nước

Trong nghị quyết 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam của Bộ chính trị năm 2005 đã nêu rõ các quan điểmcủa Đảng Cộng sản về hệ thống pháp luật cụ thể:

Về mục tiêu

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khảthi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản

cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của phápluật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế,hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiệnquyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước tatrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Trang 19

Về quan điểm chỉ đạo

Thứ nhất, thể chế hoá kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng,

cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảmquyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá - xã hội, giữ vữngquốc phòng, an ninh

Thứ hai, phát huy cao độ nội lực, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế,thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền,

an ninh quốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọckinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; kết hợp hàihoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệthống pháp luật

Thứ tư, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong quá trình xâydựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật

Thứ năm, tiến hành đồng bộ với cải cách hành chính, cải cách tư pháp,với những bước đi vững chắc; coi trọng số lượng và chất lượng, có trọng tâm,trọng điểm; dự tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hànhcủa pháp luật

Về định hướng

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt độngcủa các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà

Trang 20

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền conngười, quyền tự do, dân chủ của công dân

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm

là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoahọc - công nghệ, y tế, văn hoá - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số,gia đình, trẻ em và chính sách xã hội

Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng và an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội

Thứ sau, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế

2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh

về quản lý xã hội bằng nhà nước và pháp luật

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là một bộ phận cấuthành của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, với những nội dung nổi bật là: Xây dựng phápluật để thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; Ban hànhpháp luật để tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện một nhà nước pháp quyền;Ban bố pháp luật để công bố các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Nghiêmtrị bằng pháp luật các tội phạm và vi phạm pháp luật; Pháp luật phục vụ chocông cuộc kháng chiến và kiến quốc Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vàpháp luật được hình thành và phát triển gắn liền với các dấu mốc lịch sử trong

Trang 21

cuộc đời hoạt động cách mạng gần sáu mươi năm liên tục của Người (từ năm

1911 đến năm 1969), bao gồm:

Giai đoạn từ tuổi thiếu niên đến trước ngày ra đi tìm đường cứu nước,giải phóng dân tộc: từ lòng yêu nước truyền thống và được tiếp xúc với tưtưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng tư sản Pháp, ngày 05/6/1911,Nguyễn Tất Thành đã quyết định đi sang phương Tây để tìm con đường cứunước, giải phóng dân tộc Đây là sự kiện đánh dấu bước đầu hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Trong giai đoạn từ giữa năm 1911 đến năm 1930, Nguyễn Tất Thành Nguyễn Ái Quốc tập trung nghiên cứu bản chất chế độ nhà nước và pháp luật

-tư sản; tiếp nhận lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật; đưa ra nhữngphác họa về mô hình nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam

Từ việc phê phán mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc chế độ cai trị thuộc địa

và chế độ nhà nước, pháp luật tư sản, thể hiện rõ nhất qua các tác phẩm: “Yêusách của nhân dân An Nam”, “Nhời hô hoán cùng Hội Vạn quốc”, “Bản ánchế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cho rằngphải thiết lập chế độ nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; song Việt Nam khôngthể đi theo con đường cách mạng tư sản, vì đó là những cuộc “cách mệnhkhông đến nơi”

Được tiếp xúc và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốckhẳng định đây là học thuyết duy nhất đúng đắn để giành độc lập cho dân tộcViệt Nam và xây dựng đất nước Năm 1920, Người tham gia thành lập ĐảngCộng sản Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III Đó là những sự kiệnkhẳng định lý luận mác xít về nhà nước và pháp luật trở thành nội dung quantrọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Trang 22

Đầu năm 1930, trong các văn kiện chuẩn bị cho Hội nghị thống nhấtcác tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn ÁiQuốc đã đưa ra những phác thảo đầu tiên về mô hình nhà nước và pháp luậtkiểu mới ở Việt Nam Đây là những dấu ấn cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh

về nhà nước và pháp luật đã bao hàm cả tư duy lý luận và tư duy thực tiễn,gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới

Giai đoạn từ năm 1931 đến năm 1940: những phác thảo bước đầu củaNguyễn Ái Quốc về cách mạng Việt Nam đã bị Quốc tế cộng sản phê phángay gắt và đưa ra chủ trương thay thế; song Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên địnhlập trường và tư tưởng của mình Người đã có những bài viết phê phán nhữngquan điểm phiến diện về cách mạng Việt Nam Thực tiễn cách mạng ViệtNam từ năm 1931 đến năm 1939 đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng

Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam; và sau này được chínhnhững người tham gia Quốc tế Cộng sản thừa nhận Như vậy, chính thực tiễncách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm, xác thực tính đúng đắn, phù hợp của tưtưởng Hồ Chí Minh và bản lĩnh chính trị của Người

Giai đoạn từ năm 1941 đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945: đây làgiai đoạn Nguyễn Ái Quốc triển khai thực hiện những hình thức tiền thân củanhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam Mặt trận Việt Minh, các Ủy bannhân dân cách mạng tỉnh, liên tỉnh và Chương trình Việt Minh chính là nhữnghình thức tiền thân của Nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam, đánh dấu

sự hiện thực hóa và thêm một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của mô hìnhnhà nước và pháp luật Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đãchuẩn bị ròng rã trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng (1911 - 1945)

Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1969: đây làgiai đoạn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật được bổ sung và

Ngày đăng: 17/11/2023, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
2. Thành Duy (1995), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đạo đức và lợi ích công dân , tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệgiữa pháp luật và đạo đức, đạo đức và lợi ích công dân
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1995
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-NQ/TW về Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (1999), Giáo trình chính trị đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính trị đại cương
Tác giả: Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
6. Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2010), Giáo trình chính trị với quản lý xã hội, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính trị với quản lý xã hội
Tác giả: Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
7. Bùi Thị Ngọc Mai (2009), Một số vấn đề của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 7/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của tư tưởng Hồ Chí Minhvề pháp luật
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Mai
Năm: 2009
9. Vũ Đình Hoè (2001), Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Đình Hoè
Nhà XB: NxbVăn hoá Thông tin
Năm: 2001
10. Hồ Chí Minh (1971), Nhà nước và Pháp luật, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 1971
11. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Hoàng Thị Kim Quế, Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, Trang thông tin điện tử Viện nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minhvề nhà nước và pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiệnnay
13. Lê Vĩnh Tân (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật - nền tảng tư tưởng chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và phápluật - nền tảng tư tưởng chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luậtViệt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Lê Vĩnh Tân
Năm: 2020
14. Ngô Ngọc Thắng (2014), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước phápquyền
Tác giả: Ngô Ngọc Thắng
Năm: 2014
15. Đào Trí Ức (2000), Di sản tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Mình về nhà nước và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Mình vềnhà nước và pháp luật
Tác giả: Đào Trí Ức
Năm: 2000
8. Trần Thị Mai, Nguyễn Tân Hùng (2016), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w