1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an

106 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Hoạt Động Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Lợi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đình Thi
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 8,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG 1.2 Các tác động đến ĐDSH ở VQG Xuân Thủy bởi các tác động của 3.4 So sánh số loài thực vật có mạch ở một số vườn quốc gia tại Việt Nam 36 3.6 Số lượng và tỷ lệ các loài c

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LỢI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - -

NGUYỄN THỊ LỢI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN ĐÌNH THI

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lợi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là Quý Thầy cô trong Bộ môn Sinh thái nông nghiệp - những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS.Nguyễn Đình Thi giảng viên Bộ môn Sinh thái nông nghiệp, đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin được trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ Vườn quốc gia Pù Mát; đặc biệt

là các cán bộ Phòng Giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tại Vườn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lợi

Trang 5

MỤC LỤC

1.2.4 Thực trạng về bảo tồn đa dạng sinh học ở một số VQG trên thế giới 14 1.2.5 Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia ở Việt Nam 15

1.3.1 Sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến một số vườn quốc gia điển hình trên

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học ở một số vườn quốc

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia

Trang 6

2.2.1 Về không gian 24

2.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực vườn quốc gia Pù Mát 24

2.3.3 Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát 24 2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa

3.3 Một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát 75

3.4.2 Giải pháp về tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTĐDSH : Bảo tồn đa dạng sinh học

IUCN : Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và

tài nguyên thiên nhiên HST : Hệ sinh thái

SFNC : Dự án lâm nghiệp cộng đồng và bảo tồn thiên nhiên

UBND : Ủy ban nhân dân

UNEP : Chương trình môi trường Liên hợp quốc

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1.2 Các tác động đến ĐDSH ở VQG Xuân Thủy bởi các tác động của

3.4 So sánh số loài thực vật có mạch ở một số vườn quốc gia tại Việt Nam 36

3.6 Số lượng và tỷ lệ các loài cây có ích phục vụ nhu cầu của con người

3.12 Nhận xét của người dân về mức độ tuyên truyền, tập huấn về hoạt

3.13 Các loại hình tuyên truyền của cán bộ VQG Pù Mát tới người dân

3.17 Phân tích mỗi quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan tại khu

Trang 9

3.19 Nhận biết của người dân về vai trò của VQG Pù Mát đối với tài

3.20 Nhận biết của người dân đối với các lợi ích của Vườn quốc gia Pù

3.24 Thành phần loài và công dụng của các cây dược liệu người dân khai

3.25 Hoạt động thu hái lâm sản ngoại gỗ của người dân vùng đệm tại

3.28 Hiện trạng sử dụng đất của 3 bản trong vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát 69 3.29 Tương quan diện tích đất canh tác với sự phân hóa giàu nghèo của

3.30 Mỗi liên hệ giữa vật nuôi và sự phân hóa giàu nghèo của người dân

3.31 Ý thức của du khách trong việc xả thải tại các điểm du lịch ở khu

3.32 Số lượng khách tham quan du lịch tại vườn quốc gia Pù Mát giai

3.33 Dự định của người dân vùng đệm tham gia vào hoạt động du lịch

Trang 11

MỞ ĐẦU

Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho

đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Nhiều loài động vật và thực vật bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là

do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý tài nguyên

và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999)

Vườn quốc gia (VQG) Pù Mát được thành lập vào ngày 08/11/2001 (tiền thân là khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát được thành lập năm 1995) nằm dọc theo biên giới Việt Lào thuộc khu vực Tây Nam tỉnh Nghệ An Đây là VQG có diện tích lớn nhất phía Bắc Việt Nam, với diện tích 94804,4ha VQG Pù Mát là một trong những VQG tiêu biểu của Việt Nam và thế giới, có nguồn tài nguyên ĐDSH phong phú, chứa nhiều nguồn gen động vật và thực vật quý hiếm, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và có nét văn hóa bản địa rất đặc sắc Với 2.494 loài thực vật bậc cao có mạch và 1.824 loài động vật thuộc các nhóm thú, chim, bò sát, lưỡng cư,

cá, côn trùng và kiến Đặc biệt, nơi đây phân bố các loài thú quý hiếm, đặc hữu mới được các nhà khoa học phát hiện trong thập niên 90 của thế kỷ 20 gồm: Sao

la, Mang Trường Sơn Vườn còn là nơi lưu giữ bảo tồn các loài thực vật quý hiếm không chỉ cho Việt Nam mà cả thế giới như: Pơ Mu, Sa Mu Dầu Thông qua các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu khoa học (NCKH), du lịch sinh thái, VQG đã và đang góp phần thúc đẩy phát triển, nâng cao đời sống cho người dân Đồng thời giữ gìn và phát triển bền vững bản sắc và giá trị văn hóa của các dân tộc sinh sống trên địa bàn (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm VQG Pù Mát có các dân tộc: Thái,

vào việc khai thác và sử dụng các loại nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) trong Vườn (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Trang 12

Hoạt động BTĐDSH ở đây vẫn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng tài nguyên ĐDSH tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp của ĐDSH đối với cuộc sống con người rất lớn Bên cạnh đó, nhận thức của người dân thấp và năng lực quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp bảo tồn chưa cụ thể nên hiệu quả bảo tồn

đa dạng sinh học chưa cao

Để đánh giá hiện trạng và quản lý tài nguyên ĐDSH làm cơ sở đề xuất một

số giải pháp bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát, tôi thực hiện đề tài “Thực trạng

hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”

Mục đích nghiên cứu

- Xác định thực trạng đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát

- Đánh giá hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát

Yêu cầu của đề tài

- Tìm hiểu được tổng thể hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát

- Tìm hiểu được tất cả những hoạt động ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vườn quốc gia

1.1.1 Khái niệm vườn quốc gia

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về vườn quốc gia:

Theo quyết định số 62/2005/QĐ - BNN ngày 12/10/2005 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn: Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho thế hệ hôm nay và mai sau Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động DLST được kiểm soát và ít

là mỗi quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí

+ Ở đó, có quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ nhanh chóng sự khai thác cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ

+ Việc thiết lập VQG và khu bảo tồn nhằm mục đích chính cho sự BTĐDSH và tính toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục và tạo môi trường du lịch Như vậy, VQG là địa bàn phù hợp cho du lịch sinh thái Theo quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ngày 14/08/2006 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam về quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một loại rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

Trang 14

+ Vườn quốc gia là khu rừng tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập, bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay bị tác động rất ít từ bên ngoài, bảo tồn các sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

+ Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái

+ Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng, các động thực vật đặc hữu, về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

1.1.2 Vài nét về một số VQG trên thế giới và ở Việt Nam

a) Một số VQG trên thế giới

Vườn quốc gia Kruger

Đây là nơi bảo tồn động vật lớn nhất Nam Phi, nhằm kiểm soát các loài động vật hoang dã bị săn bắn làm các loại hàng hóa đặc biệt Kruger là nơi cư trú của hơn 517 loài chim, 147 loài động vật có vú khác Năm 1989, số lượng voi

bị giết hại trở nên nhiều nên VQG đã cố gắng bảo vệ chúng Đến năm 2004 số lượng voi đã tăng lên 11670 con, năm 2006 là 13500 con…Ở đây với nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm như: Sư tử, voi, chó hoang, ngựa vằn, linh dương, tê giác, bò rừng…Du khách đến đây có nhiều cơ hội thỏa mãn sở thích chụp ảnh (Hà Duy, 2011)

Vườn quốc gia Galapagos

VQG Galapagos ở Equador không chỉ là một VQG mà còn là một di sản thế giới, một khu dữ trữ sinh quyển và giờ đây còn là một khu dữ trữ sinh thái biển Về mặt vị trí thì VQG Galapagos nằm tách khỏi lục địa, có môi trường phù hợp cho các loài sinh vật thích nghi như: rùa, chim sẻ, xương rồng khổng lồ và

họ hàng hướng dương, chim bói…(Hà Duy, 2011)

Tuy ở các nước khác nhau nhưng các VQG có đặc điểm chung là bảo vệ các loài động - thực vật hoang dã, quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, các

Trang 15

cảnh đẹp thiên nhiên hùng vỹ mà thiên nhiên ban tặng cùng với nét văn hóa địa phương nhiều bí ẩn mà khách du lịch muốn khám phá

b) Các vườn quốc gia điển hình ở Việt Nam

Năm 2003, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 192/2003/QĐ

- TTg ban hành chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm 2012 (Chính phủ, 2003)

Hình 1.1: Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004

Đến năm 2012, việc quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam được đẩy mạnh, trong đó có 30 vườn quốc gia (Bộ NN & PTNT, 2004)

Vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Cạn

VQG Ba Bể được thành lập vào ngày 10/11/1992 thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn VQG Ba Bể có tổng diện tích là 44.750 ha được chia thành các khu vực như sau: vùng lõi 10.048 ha, vùng đệm 34.702 ha Vùng lõi bao gồm: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.931 ha, phân khu phục hồi sinh thái 6.083 ha, phân khu hành chính 34 ha (Vườn quốc gia Ba Bể, 2013)

Từ khi thành lập vườn quốc gia Ba Bể đã thu được những kết quả như: + Về công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học, các kết quả điều tra khảo sát cho thấy: có 1268 loài thực vật bậc cao Ở đây, đã chăm sóc, bảo vệ những loài động vật hoang dã bị đe dọa như: hổ, gấu, sơn dương…(VQG Ba Bể, 2013)

Trang 16

+ Công tác quản lý và bảo vệ rừng: VQG Ba Bể đã bố trí các trạm kiểm tra tại các địa bàn trọng điểm Thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng thông qua chương trình 661 Xây dựng cơ chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng với các xã trong và xung quanh vườn Thường xuyên bàn giao với lãnh đạo UBND huyện, các cơ quan khối nội chính về quản lý bảo vệ rừng Tuyên truyền giáo dục và vận động cộng đồng tại các thôn bản tham gia quản lý bảo vệ rừng, thực hiện quy ước bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng + Hoạt động DLST và tuyên truyền giáo dục môi trường: thực hiện theo quy chế 104 của BNN&PTNT về hoạt động DLST trong rừng đặc dụng Thực hiện các hoạt động thu phí tham quan, tổ chức các dịch vụ ăn nghỉ, hướng dẫn khách tham quan Thu hút sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST Tổ chức hướng dẫn cho học sinh, sinh viên, du khách đến tham quan về việc bảo vệ rừng và bảo vệ môi trường Xuất bản các ấn phẩm (tờ rơi, sách…) tuyên truyền cho du khách (VQG Ba Bể, 2013)

Bên cạnh những kết quả vẫn còn những hạn chế như: kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế do vườn trực thuộc tỉnh Bắc Cạn Các

đề tài nghiên cứu mang tính chất thử nghiệm

Qua những hoạt động đã đạt được và chưa đạt được của Vườn ta có thể rút

ra một số bài học kinh nghiệm như: dưới sự lãnh đạo của UBND tỉnh Bắc Cạn, giám đốc VQG Ba Bể là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động, chương trình của Vườn Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương đó chính là những cán bộ, người dân có năng lực đều đã được huy động tham gia vào các hoạt động, chương trình của Vườn, chính họ đã góp phần quyết định đến sự thành công trong công tác bảo tồn thiên nhiên và phát triển DLST Cần phải duy trì và tiếp tục phát triển các hạt nhân địa phương này theo cùng mục tiêu chung để tập trung nguồn nhân lực, giữ vững các thành quả đạt được và tiến tới thành công mới Bên cạnh nguồn lực chính từ ngân sách nhà nước thì ban quản lý Vườn có nhiều hoạt động nhằm thu hút nguồn tài trợ từ các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước để cung cấp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển DLST Sự tham gia

và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong đó có cộng đồng là thực sự cần

Trang 17

thiết cho sự điều phối hiệu quả Để trên cơ sở đó, mọi hoạt động diễn ra đều được các bên liên quan hiểu rõ, tham gia và ủng hộ

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được thành lập năm 2001 nằm ở phía tây tỉnh Quảng Bình VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là một trong những khu rừng đặc dụng hàng đầu của Việt Nam đang lưu giữ nhiều giá trị khoa học rất quan trọng Vườn đã thống kê được 2.651 loài thực vật bậc cao có mạch, 843 loài thực vật có xương sống BQLVQG đã có những nỗ lực quan trọng trong quá trình hợp tác NCKH với nhiều tổ chức trong và ngoài nước Năm 2003, lần đầu tiên chương trình hợp tác NCKH giữa VQG Phong Nha - Kẻ Bàng với vườn thú Cologne - cộng hòa liên bang Đức Các nhà khoa học đã phát hiện ra 1 loài bò sát mới cho khoa học đó là loài tắc kè Phong Nha Cũng năm 2003, tiến sĩ Nguyễn Thái Tự đã công bố 10 loài cá mới cho khoa học ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Năm 2005, các nhà khoa học thuộc viện thực vật Comarop - viện hàn lâm khoa học Liên Bang Nga, trường đại học khoa học tự nhiên Hà Nội đã phát hiện mới

về quần thể bách xanh đá cổ sơ và rộng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Đinh Hải Dương, 2010)

Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định trong công tác nghiên cứu khoa học và phát huy những giá trị di sản thiên nhiên nhưng VQG Phong Nha - Kẻ Bàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn:

+ Công nghệ thông tin và thiết bị nghiên cứu còn thiếu và yếu

+ Thiếu ngân sách cho hoạt động nghiên cứu khoa học: Trung tâm không

có nguồn kinh phí hoạt động chuyên môn mà cũng không tranh thủ được nguồn kinh phí từ ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ của tỉnh để tổ chức các nghiên cứu khoa học

+ Thiếu nhân lực: mặc dù có 27 biên chế cho trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ với đa phần là các kỹ sư và bác sĩ thú y được đào tạo chính quy nhưng đều là cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm trong thực tiễn

Trang 18

+ Những áp lực của người dân địa phương lên tài nguyên rừng đang là những đe dọa lớn đến sự nguyên vẹn của TNTN thế giới VQG Phong Nha -

Kẻ Bàng

Qua những hoạt động đã đạt được và chưa đạt được của Vườn, ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm như sau: VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã có những nỗ lực trong công tác nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, để có nguồn kinh phí lớn cho NCKH thì BQLVQG cần có những hoạt động nhằm thu hút sự tham gia của các cá nhân, tập thể trong và ngoài nước, để toàn thể cộng đồng cùng chung tay góp sức xây dựng và phát triển bền vững vườn quốc gia VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được thiên nhiên ưu đãi có nhiều cảnh đẹp, là địa điểm hấp dẫn khách du lịch BQLVQG cần có những chương trình tập huấn các hoạt động nhằm thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào việc bảo vệ rừng và phát triển DLST của Vườn (Đinh Hải Dương, 2010)

1.1.3 Vai trò của vườn quốc gia trong bảo tồn đa dạng sinh học

- Phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại và sinh vật ngoại lai xâm hại, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại rừng, môi trường cảnh quan

- Các VQG được thành lập thu hút được nhiều dự án cho BTĐDSH và các

dự án phát triển kinh tế cho người dân sống trong vùng đệm của VQG

- Giải quyết được việc làm và tăng thu nhập cho người dân Các dự án phát triển kinh tế sẽ giúp cho người dân cải thiện được cuộc sống Du lịch sinh thái ở VQG phát triển sẽ giúp cho người dân có thêm việc làm trong các dịch vụ sinh thái phục vụ khách du lịch Giúp cho kinh tế của người dân được tốt hơn từ đó giảm được sức ép của người dân vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (Hà Duy, 2011)

Trang 19

1.1.3.2 Ở Việt Nam

Vườn quốc gia được thành lập có vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn

đa dạng sinh học và những loài động vật quý hiếm đang bị đe dọa Trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới cũng như nhiều loài vừa mới được phát hiện gần đây:

- Có giá trị đa dạng sinh học cao và có sinh cảnh đa dạng

- Phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại và sinh vật ngoại lai xâm hại, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại rừng, môi trường cảnh quan

- Phát triển và mở mang du lịch sinh thái tạo điều kiện phát triển kinh tế

xã hội và văn hóa vùng núi đồng thời tạo thêm nguồn thu bổ sung cho kinh phí bảo vệ TNTN của vườn quốc gia

- Tạo cơ hội trong việc thu hút các nguồn tài trợ quốc tế phục vụ cho mục đích bảo tồn thiên nhiên (Nguyễn Văn Tý, 2014)

1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học

1.2.1 Khái niệm đa dạng sinh học

Năm 1989, quỹ bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH

là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật

và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn

bộ các sinh vật sống trên Trái Đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và cả sự khác biệt của mối tương tác gữa chúng với nhau (IUCN, UNEP, WWF, 1996)

Theo công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa

Trang 20

dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng sinh thái) Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và tổ hợp (Bộ NN & PTNN, 1998)

Theo khoản 5, điều 3, luật đa dạng sinh học năm 2008: ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên (Luật ĐDSH, 2008)

ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên Trái Đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ vi sinh vật, nấm, thực vật, động vật, các hệ sinh thái và môi trường chúng sinh sống

ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo…Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu thụ và sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH và cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện

nay (Hồ Văn Cử, 2003)

1.2.2 Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học (BTĐDSH) là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau

Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể loài đang tồn tại và phát triển Công việc này được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên Có nhiều phương pháp và công cụ để bảo tồn đa dạng sinh học Theo Bộ tài nguyên và môi trường (2004) thì có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:

- Bảo tồn tại chỗ:

Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo

vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp

Trang 21

Để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, Việt Nam đã tiến hành công tác BTĐDSH khá sớm Hai hình thức BTĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển vị Bảo tồn tại chỗ là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng

Bảng 1.1: Phân loại hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam

Tổng cộng khu bảo tồn 128 2.400.092

Nguồn: Nguyễn Văn Dũng, 2007

Trong 128 khu bảo tồn rừng hiện nay có 30 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 48 khu dữ trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu bảo vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm 7,24% diện tích tự nhiên trên đất liền của cả nước (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2007)

Hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh thái toàn quốc Tuy nhiên, hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện nay có đặc điểm là phần lớn các khu rừng đặc dụng đều có diện tích nhỏ, phân bố phân tán Trong số 128 khu bảo tồn có 14 khu có diện tích nhỏ hơn 1000 ha, chiếm 40,6% các khu bảo tồn, bao gồm: vườn quốc gia có 4 khu, 9 khu dữ trữ thiên nhiên, 9 khu bảo vệ loài, 30 khu bảo vệ cảnh quan Chỉ có 12 khu có diện tích từ 50.000

ha trở lên (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2007)

- Bảo tồn chuyển vị:

Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng (Bộ tài nguyên và môi

Trang 22

trường, 2005) Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi

vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm: các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…

Ở Việt Nam công tác bảo tồn chuyển vị còn tương đối mới, nhưng trong những năm gần đây công tác này đã đạt được những thành tựu nhất định

◦ Bước đầu hình thành mạng lưới vườn thực vật, vườn động vật, vườn sưu tập trên toàn quốc và dần đi vào hoạt động ổn định hơn

◦ Các vườn thực vật, vườn cây thuốc, vườn động vật đã sưu tập được số lượng loài và cá thể tương đối lớn

◦ Bảo tồn chuyển vị góp phần đáng kể cho bảo tồn tại chỗ đối với các loài động vật hoang dã, sắp tuyệt chủng ngoài tự nhiên Một số loài động thực vật hoang dã bị tiêu diệt ngoài tự nhiên đã được gây nuôi thành công như: Hươu Sao, Hươu xạ, cá sấu hoa cà, lim xanh…

Tuy nhiên công tác bảo tồn chuyển vị ở Việt Nam còn một số tồn tại như:

◦ Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết Hệ thống các vườn thực vật, vườn cây gỗ, thường được quy hoạch, thiết kế chưa có hệ thống, chưa có tính chất chuyên đề, chuyên sâu hay đại diện cho từng vùng sinh thái trên toàn quốc Các vườn thú chủ yếu vấn mang tính chất phục vụ tham quan, chưa chú ý đến công tác bảo tồn

◦ Công tác sưu tập chưa chú ý tới các loài quý hiếm, các loài lâm sản ngoại

gỗ, số lượng loài sưu tập còn ít, chưa có vườn thực vật nào vượt quá 500 loài

◦ Việc đào tạo cán bộ bảo tồn chuyển vị rất hạn chế, nhất là cán bộ chuyên sâu bảo tồn chuyển vị làm việc tại các vườn thực vật, vườn động vật, trạm cứu hộ

◦ Vấn đề bảo tồn chuyển vị chưa được quan tâm đúng mức trong các chủ trương chính sách về BTTN Cho đến nay mới chỉ có một số văn bản như: Quyết định số 225/1999/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về giống cây trồng, giống vật nuôi Quyết định 86/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về việc quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tồn tự nhiên Việt Nam đến năm 2020

Trang 23

◦ Cho đến nay, việc đầu tư phát triển các vườn thực vật, vườn cây gỗ, cây rừng, vườn động vật và các trạm cứu hộ chưa được thực sự chú ý Chưa có chính sách đầu tư các nguồn khác như các tổ chức kinh tế, xã hội, cộng đồng

- Phục hồi (Rehabilitation):

Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển vị Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái Việc phục hồi sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các hệ sinh thái tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động - thực vật như trước

đã từng có (Bộ tài nguyên và môi trường, 2004) Một trong những mục tiêu quan trọng trong công việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH Ngoài việc xây dựng các khu bảo tồn cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực

mà con người đa làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học

1.2.3 Sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia

Việt Nam là nơi có ĐDSH cao trên thế giới nhưng ĐDSH ở nước ta đang giảm sút với tốc độ khá nhanh Chính vì diện tích rừng ngày càng giảm sút nên hàng năm số lượng các loài trong sách đỏ Việt Nam không ngừng gia tăng Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm ĐDSH là do các hoạt động của con người như: chặt phá rừng, săn bắt động vật, lấn chiếm đất đai làm thu hẹp không gian sống của động vật

Nhằm khắc phục tình trạng mất môi trường của động vật cũng như bảo vệ các nguồn gen của thực vật nhà nước đã phê chuẩn xây dựng hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

Trang 24

Việc hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong những biện pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp BTĐDSH (Tổng cục môi trường, 2010)

Có thể nhận định rằng, việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn và VQG

đã làm cho công tác BTĐDSH ở Việt Nam phần nào đáp ứng được mục đích bảo tồn Vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình, kèm theo đó là những thay đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là thực hiện tiến trình này cần rất sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước có liên quan (Bộ NN & PTNT, 2004)

1.2.4 Thực trạng về bảo tồn đa dạng sinh học ở một số VQG trên thế giới

Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các khu bảo tồn là ý tưởng đầu tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày 01/3/1872 (Oilwatch, 2004)

Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức hội nghị thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thể kỷ XX, vấn đề đào tạo chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm, các giải pháp BTĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và khu bảo tồn được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các khu bảo tồn đến việc chú ý nhiều đến các khu bảo tồn ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ các tổ chức bảo tồn và các chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn (Ý Lâm, 2011)

Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng BTĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện Công tác quản

lý BTĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống các khu bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các tài nguyên di truyền một cách bình đẳng và công bằng

Trang 25

Bài học kinh nghiệm rút ra trong hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia trên thế giới

Mỗi quốc gia với những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nên có các biện pháp phù hợp để quản lý hiệu quả khu bảo tồn của quốc gia mình Trong một số quốc gia, việc cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương được xem như một biện pháp chủ yếu để thu hút người địa phương tham gia trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng trong các khu bảo tồn Điều này có thể được thực hiện thông qua các hoạt động như khuyến khích du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn, chuyển giao các kỹ thuật canh tác tiên tiến tới người dân địa phương Trong các quốc gia khác nhau, thông qua các cuộc hội họp với cộng đồng địa phương và các hoạt động nâng cao nhận thức như: giáo dục môi trường, người dân địa phương sẽ tham gia tích cực hơn trong quá trình đưa ra các quyết định quản lý trong các khu bảo tồn (Ý Lâm, 2011)

1.2.5 Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia ở Việt Nam

Việc thành lập các khu bảo tồn và VQG đã làm cho công tác BTĐDSH

ở Việt Nam phần nào đáp ứng được mục đích bảo tồn Ban quản lý các VQG cũng đã đề ra và thực hiện các chương trình, hoạt động nhằm mục đích bảo tồn đa dạng sinh học (Nguyễn Văn Tý, 2014) như:

+ Tuần tra, bổ sung các trang thiết bị cho các trạm bảo vệ rừng, ký hợp đồng bảo vệ và trồng rừng, phòng chống cháy rừng, chống buôn bán động vật hoang dã

+ Giáo dục môi trường và truyền bá các thông tin liên quan cho người dân sinh sống xung quanh vùng đệm Vườn quốc gia

+ Cung cấp, bổ trợ các kỹ thuật khoa học cho công tác quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu, duy trì chương trình cứu hộ động vật Duy trì và bổ sung các mẫu thực vật

+ Đào tạo cán bộ và xây dựng các tuyến đường tại vùng đệm

Tuy nhiên, trong công tác BTĐDSH vẫn còn gặp nhiều khó khăn:

+ Có nhiều khu bảo tồn có diện tích nhỏ, tính liên kết yếu nên hạn chế đến các hoạt động bảo tồn trên phạm vi khu vực rộng

Trang 26

+ Nguồn ngân sách cho bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước, chưa có chính sách cụ thể để xã hội hóa công tác bảo tồn

+ Trong quản lý hiện nay chủ yếu là bảo vệ nghiêm ngặt, chưa gắn kết được quan điểm hiện đại về bảo tồn là vừa bảo tồn vừa phát triển

Một số ví dụ điển hình

Vườn quốc gia Bến Én

VQG Bến Én được thành lập năm 1992 với tổng diện tích 16.634 ha BQLVQG Bến Én đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học vào công tác bảo tồn ĐDSH

Năm 2005, vườn đã khoanh nuôi, phục hồi được 2.006 ha rừng tự nhiên, khoanh nuôi kết hợp tác động kỹ thuật cao 96 ha, chăm sóc rừng trồng phục hồi sinh thái 60 ha, xây dựng và chăm sóc vườn thực vật 29 ha, điều tra phân loại thực vật 30

ha với 984 loài cây Ngoài ra cán bộ của vườn còn theo dõi các thông số kỹ thuật về diễn biến các loài cây quý hiếm, thực nghiệm xử lý gieo giống, gieo ươm, gây trồng một số cây mới để bảo tồn quỹ gen thực vật (Nguyễn Anh Tài, 2010)

VQG Bến Én là nơi lưu giữ diện tích và số lượng lim xanh lớn nhất cả tỉnh với diện tích khoảng 1000 ha Lim xanh ở VQG Bến Én có độ tuổi từ 25 - 30 năm, đường kính dao động từ 20 - 25cm (Nguyễn Anh Tài, 2010)

VQG Bến Én đã triển khai nhiều biện pháp để quản lý, bảo vệ như khoanh vùng, giao trách nhiệm cho cán bộ trực tiếp quản lý đến từng tiểu vùng Thậm chí thành lập các chốt gác ngay giữa rừng, cắt cử cán bộ thay phiên nhau trực Tuy nhiên, cuộc chiến giữa rừng giữ lim xanh vẫn còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng khai thác trộm chủ yếu là dân bản địa, thông thuộc đường rừng như lòng bàn tay Bên cạnh công tác bảo vệ VQG triển khai công tác bảo tồn Công tác bảo tồn lim xanh hiện nay ở VQG Bến Én chủ yếu là công tác bảo tồn chuyển vị Trong hai năm gần đây, thông qua dự án 661, VQG Bến Én đã trồng mới 80 ha lim với mật

độ 500 cây/ha nguồn giống lim bản địa Hiện nay, toàn bộ diện tích lim này đang sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Anh Tài, 2010)

Trang 27

• Thuận lợi trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bến Én Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, các tổ chức trong nước và quốc tế VQG Bến Én đã thu hút được nhiều dự án đầu tư nhằm tăng cường chất lượng của công tác BTĐDSH của khhu vực này

+ Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1997 và từ tháng 10 đến tháng 12 năm

1998, tổ chức khám phá môi trường Việt Nam và viện sinh thái tài nguyên sinh vật đã điều tra ĐDSH của VQG Bến Én (Nguyễn Anh Tài, 2010)

+ Từ năm 1998 - 2000, hội bảo tồn sinh thái Nhật Bản và trường đại học

tự nhiên Hà Nội đã tiến hành thực hiện dự án bảo tồn động vật hoang dã ở VQG Bến Én, dự án đã đánh giá các giá trị ĐDSH và xây dựng chiến lược bảo tồn cho VQG (Nguyễn Anh Tài, 2010)

+ Năm 1999 chương trình điều tra hổ Đông Dương cũng đã tiến hành bởi các nhà khoa học viên sinh thái và tài nguyên sinh vật và cục kiểm lâm tại VQG Bến Én (Nguyễn Anh Tài, 2010)

• Những khó khăn trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở VQG Bến Én Bên cạnh những thuận lợi nêu trên trong công tác BTĐDSH tại VQG Bến

Ở đây họ phát nương làm rẫy, săn bắt các động vật, khai thác các sản phẩm của

Trang 28

rừng để sinh sống Các hoạt động của họ đã làm tổn hại đến mục tiêu của các khu bảo tồn, làm cho các khu bảo tồn bị giảm chất lượng một cách nhanh chóng

Để giảm bớt khó khăn, Chính phủ đã cho phép di chuyển một số dân ra khỏi khu bảo tồn và đã thực hiện tốt ở Vườn quốc gia Cúc Phương từ năm 1987

Số dân chuyển ra được định cư ngoài khu bảo tồn, trong vùng đệm Ở nơi mới,

họ đã được cung cấp các điều kiện để sinh sống ổn định Chương trình này đã đạt được những kết quả bước đầu Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng, để thực hiện được công tác bảo tồn, điều quan trọng hơn hết là không tạo thêm sự đối lập giữa nhân dân địa phương và khu bảo tồn, mà phải cộng tác với họ một cách chặt chẽ

và chấp nhận những yêu cầu chính đáng của họ và điều quan trọng là phải xem

họ có được hưởng những lợi ích trực tiếp gì từ khu bảo tồn Cần thiết phải xây dựng vùng đệm, tạo thêm công ăn việc làm hợp lý cho nhân dân ở đó, giúp họ giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống để họ tự nguyện giảm dần sức ép lên khu bảo tồn và rồi tham gia tích cực vào việc bảo vệ vì lợi ích thiết thực của họ Một số khu bảo tồn và vườn quốc gia đã thực hiện các dự án như trên và bước đầu đạt kết quả khả quan

Tóm lại, nước ta đang gặp nhiều khó khăn trong công việc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng một cách bền vững tài nguyên thiên nhiên nói chung và xây dựng các khu bảo tồn và vườn quốc gia nói riêng Thử thách quan trọng nhất đối với nước ta trong công cuộc bảo vệ là sớm tìm được biện pháp ngăn chặn kịp thời sự suy thoái của rừng nhiệt đới, suy thoái các hệ sinh thái điển hình cùng với hệ động vật và hệ thực vật phong phú ở đó

Nước ta là một trong những nước nghèo trên thế giới, dân số lại đông

Để duy trì cuộc sống trước mắt, nhiều người buộc phải khai thác mọi thứ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời họ đã làm suy thoái môi trường và gây tổn hại cho sự phát triển trong tương lai Vì vậy để giải quyết vấn đề bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, kể cả những giống cây trồng, vật nuôi, cứu các loài khỏi nạn diệt vong, không phải chỉ là vấn đề giáo dục, thực thi pháp luật, nâng cao kỹ thuật và tìm vốn đầu tư mà còn phải chú ý đến vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, mà chủ yếu là cải thiện mức sống của người dân, nhất

Trang 29

là những người dân nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ môi trường, rừng, các hệ sinh thái điển hình, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất, rừng, nước, các loài động vật - thực vật mà họ có trách nhiệm bảo vệ và được quyền quyết định về cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống của họ, con cháu họ và cho cả cộng đồng

Vì rừng và đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển bền vững của đất nước, cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong công tác trồng rừng, bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học Để có thể hoàn thành được nhiệm vụ khó khăn này cần phải động viên được sự đồng tâm của đông đảo nhân dân với nhận thức sâu sắc về vấn đề môi trường Phát động phong trào rộng rãi trong toàn dân về bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn và sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên, đồng thời đẩy mạnh chương trình kế hoạch hoá gia đình và sớm hoàn thành công việc xoá đói giảm nghèo

Cần bổ sung, hoàn thiện chính sách giao đất, giao rừng, chính sách đối với người làm công tác quản lý bảo vệ rừng, chính sách hưởng lợi của những người sản xuất, bảo vệ rừng Cần đề cao ý thức trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền địa phương, nơi nào để xảy ra phá rừng, chính quyền nơi đó phải chịu trách nhiệm chính (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học

1.3.1 Sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến một số vườn quốc gia điển hình trên thế giới

Các VQG đều nằm ở giữa các vùng dân cư mà đời sống của họ còn gặp nhiều khó khăn Người dẫn ở đây chủ yếu là tá điền, cuộc sống của họ dựa vào tài nguyên thiên nhiên của rừng để sinh sống Trình độ dân trí của họ thấp Vì vậy, các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên từ rừng vẫn là yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dang sinh học ở vườn quốc gia

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học ở một số vườn quốc gia ở Việt Nam

Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định

VQG Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam Sinh vật ở VQG Xuân Thủy rất đa dạng, tuy nhiên VQG Xuân Thủy đang bị tác động bởi một số áp lực

Trang 30

Bảng 1.2: Các tác động đến ĐDSH ở VQG Xuân Thủy bởi các tác động của

con người Các hoạt động Môi trường Hệ sinh thái Loài bảo tồn

+ Mất thảm rừng thực vật lâu năm

+ Phân mảnh hệ sinh thái rừng ngập mặn và biến đổi diện mạo sinh cảnh sống

+ Mất/giảm chất lượng nơi cư trú của các loài sống trong rừng ngập mặn

+ Thay đổi cấu trúc thành phần loài Phát triển nuôi

ngao Bến Tre ở

bãi triều lầy không

có rừng ngập mặn

Làm thay đổi tính chất cơ lý nền đáy bãi triều bồi tự nhiên

Biến đổi tính chất

tự nhiên và biến đổi cấu trúc loài động vật đáy của bãi triều lầy không

có rừng ngập mặn

Mất nơi cư trú và giảm số lượng ngao bản địa

Trồng mới rừng

ngập mặn

Tác động tích cực tới vùng cửa sông, ven biển

Phát triển kiểu hệ sinh thái bãi triều

có rừng ngập mặn

+ Mất nơi cư trú

và bãi đậu kiếm mồi của các loài chim di trú

+ Giảm số lượng quần thể các loài chim di trú quý hiếm Xây dựng và phát

triển đường giao

Phân mảnh hệ sinh thái rừng ngập mặn và biến đổi diện mạo, sinh cảnh sống

+ Mất/giảm chất lượng nơi cư trú của các loài sống trong rừng ngập mặn + Thay đổi cấu trúc thành phần loài Khai thác quá

Giảm số lượng các loài quý hiếm,

có giá trị kinh tế

Nguồn: Hoàng Thị Thanh Nhàn và cs, 2012

Trang 31

Bên cạnh đó một nguyên nhân quan trọng gây thêm sức ép về bảo tồn và quản lý đất ngập nước trong khu vực đó là áp lực dân số: sự tăng trưởng dân số trong khu vực có tỷ lệ 1,7% mỗi năm với mật độ dân số cao (1.246 người/km2) Cùng với áp lực gia tăng dân số nhận thức về bảo vệ môi trường và TNTN của cộng đồng dân cư trong khu vực cò hạn chế khiến việc sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước ở khu vực này còn nhiều thách thức

Vườn quốc gia Tràm Chim

VQG Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp được thành lập năm 1998 với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, hệ động - thực vật đa dạng, phong phú VQG Tràm Chim đã thu hút sự tham quan của rất nhiều khách du lịch

Bên cạnh lợi ích thu được thì phát triển du lịch cũng gây ra những tác động tiêu cực đến ĐDSH ở VQG Tràm Chim

• Tác động đến thảm thực vật - hệ sinh thái

Sự mất mát tài nguyên thực vật - HST bị ảnh hưởng do việc phát quang thảm thực vật để làm đường mòn du lịch Hoạt động này ảnh hưởng rất lớn đến các loài thực vật, đời sống động vật xung quanh đường mòn Một lượng lớn khách du lịch đến VQG và sử dụng dịch vụ câu cá, chính hoạt động này gây ra tác động tiêu cực tới HST bởi lẽ: để tránh bị vướng lưỡi câu dưới cỏ mà một số khách du lịch đã khoanh vùng và móc hết lớp cỏ trên bờ, thậm chí còn sử dụng hóa chất để thu hút cá, gây ô nhiễm môi trường, bẻ cành cây cho vào thùng đựng

cá (Nguyễn Văn Tý, 2014)

Hằng năm, số lượng học sinh, sinh viên về VQG tham quan, học tập, nghiên cứu với số lượng đông Với sự hiếu động, tò mò của tuổi trẻ khi tận mắt chứng kiến nhiều loài thực vật lạ, quý hiếm, ý thích, ham muốn ghi lại những khoảnh khắc đẹp sẽ dẫn đến sự chen lẫn nhau và vô tình giẫm đạp lên các loài thực vật để chụp ảnh

Bên cạnh đó, cắm trại là một hình thức vui chơi lành mạnh giúp tạo ra một sân chơi bổ ích cho tất cả khách du lịch Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì mặt tiêu cực của nó là: ảnh hưởng đến công tác bảo tồn, đến đời sống sinh vật trong

Trang 32

vườn, gây tác động xấu đến các loài thực vật xung quanh khu vực cắm trại (Nguyễn Văn Tý, 2014)

Qua đó rút ra được bài học kinh nghiệm là: các hoạt động của con người

dù ở mức độ nào thì vẫn là yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Vì vậy, mỗi người cần có ý thức tốt trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của mình

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia

Pù Mát, Con Cuông, Nghệ An

Từ lâu cuộc sống của đồng bào các dân tộc bản địa dựa vào TNTN Một

bộ phân dân cư sống bằng sản xuất trên nương rẫy Rừng còn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu, cây thuốc…cho dân trong vùng Từ khi VQG Pù Mát được thành lập các hoạt động phát rẫy trái phép không còn nhưng khai thác lâm sản, bắt thú rừng vẫn còn khá phổ biến

Một số tuyến mà dân cư bên ngoài hay xâm nhập vào vườn quốc gia: Tuyến sông Giăng: tuyến này người dân Môn Sơn có thể ngược sông xâm nhập vào vườn quốc gia khai thác măng ở bên ngoài ranh giới VQG, nhưng đôi khi người dân vẫn xâm nhập vào vị trí bên trong vườn quốc gia Các tuyến Khe Bu, Khe Choang, Khe Thơi cũng là những nơi xung yếu mà các hoạt động xâm nhập

có thể xảy ra (Bộ NN&PTNT, 2011)

Vì mục đích thỏa mãn các nhu cầu sử dụng tại chỗ và thương mại, trong bối cảnh khá năng của các cơ quan chức năng trong việc giảm sát, xử lý các hình thức khai thác, buôn bán trái phép các loại tài nguyên động vật, thực vật rừng ở địa phương cũng như trên phạm vi toàn quốc còn hạn chế cũng như thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa thấp của người dân địa phương đặc biệt là bản dân tộc người Đan Lai đang định cư trong vùng lõi VQG đã có các hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên rừng và cảnh quan vườn quốc gia (Bộ NN&PTNT, 2011):

- Phá rẫy, làm nương là nguyên nhân dẫn đến cháy rừng, mất rừng, phá vỡ cân bằng sinh thái

Trang 33

- Khai thác gỗ, măng, củi trái phép tác động xấu đến tài nguyên rừng Rừng bị tàn phá dẫn đến một số loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng cũng như hủy hoại môi trường sống của nhiều loài động vật

- Săn bắn động vật hoang dã giảm suy giảm số lượng cá thể các loài, đe dọa tuyệt chủng một số loài khác và gây nhiễu loạn đối với động vật sinh sống trong rừng

- Đánh bắt cá bằng mìn, điện, chất độc trên sông suối, phá hủy môi trường, hủy diệt hệ động thực vật thủy sinh

- Các hoạt động buôn bán gỗ, động vật hoang dã là nguyên nhân cho việc khai thác, săn bắt trái phép trong rừng

- Chăn thả gia súc quá mức dưới tản rừng ngăn cản quá trình phục hồi rừng, phá hoại cây non

- Các hoạt động khai thác lâm sản: lấy trầm, lấy măng, cây thuốc, mật ong…làm khan hiếm thậm chí đe dọa tuyệt chủng một số loài

Vì vậy, để bảo vệ tài nguyên rừng bên cạnh các biện pháp quản lý bằng luật pháp cần có chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng đệm nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với việc bảo vệ và phát triển rừng

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Pù Mát

- Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Về không gian: Vườn quốc gia Pù Mát

2.2.2 Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2014 đến tháng

12/2015

2.2.3 Về nội dung

Nghiên cứu tập trung vào thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực vườn quốc gia Pù Mát 2.3.2 Thực trạng đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Pù Mát

2.3.3 Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát 2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Tài liệu thứ cấp là những dữ liệu, dẫn liệu có sẵn liên quan đến nội dung nghiên cứu và tập trung để đạt được mục tiêu nghiên cứu, do đó tôi tiến hành thu thập những tài liệu liên quan như sau:

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn) vườn quốc gia Pù Mát được thu thập từ ban quản lý vườn quốc gia

- Các thông tin, số liệu về vườn quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học được thu thập từ sách, báo, internet, tạp chí…

Trang 35

2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp ban quản lý, kiểm lâm VQG Pù Mát, người dân sống trong vùng đệm, vùng lõi VQG Pù Mát để thu thập thông tin về tính ĐDSH, hoạt động BTĐDSH

+ Phỏng vấn cán bộ, kiểm lâm VQG Pù Mát

Tổng biên chế cho vườn quốc gia là 120 người Do tính chất công việc của từng cán bộ nên tôi tiến hành phỏng vấn 17 cán bộ Vườn quốc gia Pù Mát

Nội dung phỏng vấn: tôi tiến hành phỏng vấn các nội dung chủ yếu như:

các thông tin chung về VQG, hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG, tình trạng khai thác tài nguyên ở Vườn quốc gia, hoạt động của khách du lịch khi đến tham quan VQG Pù Mát

+ Phỏng vấn người dân sống trong khu vực Vườn quốc gia Pù Mát

Người dân sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG Pù Mát có 7 dân tộc là: Thái, Kinh, Khơ Mú, Đan Lai, H’Mông, Poong, Ơ Đu Trong đó, có 3 dân tộc có số người sinh sống đông nhất trong khu vực VQG Pù Mát là Thái, Kinh và Khơ Mú Theo số liệu thống kê của VQG Pù Mát (2012) thì 7 dân tộc sinh sống trong khu vực VQG với tổng số là 16.954 hộ và 93.335 nhân khẩu

- Khu vực vùng lõi VQG Pù Mát có: 256 hộ gồm 03 bản, tôi tiến hành xác định dung lượng mẫu điều tra như sau:

+ Bản Cò Vạt gồm 98 hộ: tôi tiến hành phóng vấn đại diện 17 hộ

+ Bản Khe Cồn gồm 75 hộ: tôi tiến hành phóng vấn đại diện 16 hộ

+ Bản Bủng gồm 92 hộ: tôi tiến hành phóng vấn đại diện 16 hộ

Như vậy, trong khu vực vùng lõi VQG Pù Mát tôi tiến hành điều tra khảo sát với số lượng mẫu là 49 mẫu (nông hộ)

- Khu vực vùng đệm VQG Pù Mát gồm: 16.791 hộ thuộc 16 xã là: Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Tường Sơn, Hội Sơn, Phúc Sơn (huyện Anh Sơn); Môn Sơn, Lục

Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Chi Khê, Châu Khê, Lạng Khê (huyện Con Cuông); Tam Quang, Tam Đình, Tam Thái, Tam Hợp (huyện Tương Dương) Trong 16

xã đó thì 7 xã của huyện Con Cuông có vị trí gần VQG Pù Mát và hoạt động của người dân liên quan trực tiếp đến tài nguyên của Vườn 7 xã thuộc huyện Con

Trang 36

Cuông được chia thành 3 khu vực Khu vực 1 gồm: Châu Khê, Môn Sơn; Khu vực 2: Lục Dạ, Chi Khê, Bồng Khê; Khu vực 3 gồm: Lạng Khê, Yên Khê Do thời gian và các điều kiện khác tôi tiến hành khảo sát như sau Khu vực 1 tôi chọn phóng vấn bản Xiềng thuộc xã Môn Sơn (Bản Xiềng nằm sát rừng đặc dụng, là nơi giao thoa giữa con đường vào vùng lõi và đường đi ra vùng ngoài) Khu vực 2 tôi chọn phỏng vấn bản Khe Rạn thuộc xã Lục Dạ (nằm gần trụ sở VQG Pù Mát) Khu vực 3 tôi chọn phỏng vấn bản Nưa thuộc xã Yên Khê Mỗi bản tôi lựa chọn 20 phiếu khảo sát và tổng số phiếu khảo sát cho khu vực vùng đệm là 60 phiếu

Tổng số phiếu khảo sát người dân khu vực vùng đệm và vùng lõi của VQG Pù Mát là 109 phiếu

Nội dung điều tra phóng vấn: ở mỗi hộ gia đình tôi tập trung khảo sát

những nội dung cơ bản sau đây: tình hình sử dụng tài nguyên, hoạt động sinh hoạt, thu nhập của người dân và đánh giá của họ trong việc bảo vệ đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát

2.5 Tổng hợp và xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được trong nghiên cứu, tôi tiến hành phân tổ và tổng hợp thống kê lại theo từng nội dung nghiên cứu Sau đó tôi sử dụng phần mềm microsft excel để xử lý các số liệu đã thu thập được

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại vườn quốc gia Pù Mát

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Tây Nam giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (61km)

- Phía Đông Nam giáp 2 xã của huyện Anh Sơn là: Phúc Sơn và Hội Sơn

- Phía Tây Bắc giáp 3 xã của huyện Tương Dương là: Tam Hợp, Tam Quang, Tam Đình (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Hình 3.1: Bản đồ chỉ dẫn đường đến VQG Pù Mát

Nguồn: VQG Pù Mát, 2013

Trang 38

3.1.1.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng

a) Địa hình

Vườn quốc gia Pù Mát thuộc vùng núi cao, có địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối dày đặc, độ dốc lớn Độ cao biến động từ 200 - 1.841m, trong đó 90% diện tích có độ cao<1000m Khu vực cao nhất là các đỉnh dông giáp biên giới nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đỉnh cao nhất

là đỉnh Pù Mát cao 1.841m được đặt tên cho vườn quốc gia Từ hệ dông chính này hình thành các dải dông phụ chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và các thung lũng, tạo nên 4 hệ thống suối chính: Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choăng, Khe Khặng (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

b) Địa chất, thổ nhưỡng

Qua kết quả khảo sát thực địa và bản đồ thổ nhưỡng, vườn quốc gia Pù Mát có các nhóm loại đất chính sau:

- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu đỏ vàng phát triển trên đá trầm tích

và biến chất có kết cấu hạt mịn (FHs): đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, phân bố nhiều ở phía nam và phía đông nam

- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu vàng nhạt hay vàng xám phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (FHq): đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình, phân bố nhiều ở phía Tây và Tây Nam

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét (Fs): phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía đông, đất có thành phân cơ giới nặng đến trung bình

- Nhóm đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (Fq): phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc, đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, trong đất nhiều đá lẫn, tầng đất trung bình

- Nhóm đất Feralit phát triển trên đá vôi (Fv): phân bố chủ yếu phía Đông Bắc, đất có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, màu đỏ vàng hay nâu đỏ

- Nhóm đất dốc tụ và đất phù sa sông suối (D, P): phân bố ven các sông suối, nhiều nhất là ở thung lũng Khe Khặng, Khe Choăng, Khe Thơi Đất có màu nâu xám, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Trang 39

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Vườn quốc gia Pù Mát nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc lạnh và gió mùa Tây Nam (gió Lào) khô nóng Các yếu tố khí hậu mang tính phân cực mạnh, hình thành 2 mùa rõ rệt, mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm 23,60C, cao nhất 42,70C; thấp nhất 1,70C; nhiệt

độ trung bình tháng thấp nhất 170C (tháng 1), nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,70C (tháng 7) (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.791mm, năm cao nhất 2.287mm, năm thấp nhất 1.190mm, số ngày mưa trung bình là 140 ngày, Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 8, 9, 10 và tháng 5 (mưa tiểu mãn) nên thường gây ra lũ lụt, những tháng còn lại lượng mưa phân bố không đều dẫn tới hạn hán (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

3.1.1.4 Thảm thực vật ở vườn quốc gia Pù Mát

Thảm thực vật ở vườn quốc gia Pù Mát khá phong phú, đa dạng gồm những đồi núi đá vôi, thảm thực vật tái sinh, rừng nguyên sinh lớn và rừng hỗn giao Vườn quốc gia Pù Mát có địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt mang nét độc đáo của Việt Nam

Các kiểu thảm thực vật:

- Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim á ẩm nhiệt đới chiếm 29%

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm 46,5%

- Kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi chiếm 1,7%

- Rừng phục hồi sau khai thác và sau nương rẫy chiếm 21%

- Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác chiếm 1,4%

- Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy chiếm 0,4%

Độ che phủ của rừng đạt 98%, trong đó rừng nguyên sinh và rừng giàu chiếm hơn 76% tổng diện tích của vườn quốc gia (Trần Xuân Cường và cs, 2012)

Trang 40

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Dân tộc

Sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG có các dân tộc là: Thái,

Bảng 3.1: Thành phần dân tộc các huyện trong khu vực VQG Pù Mát

Mật độ dân số của các xã trong khu vực VQG Pù Mát được phản ảnh trong bảng 3.2

Ngày đăng: 16/11/2023, 18:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), ĐDSH và bảo tồn hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam, trang thông tin chuyến đề nông nghiệp và phát triển nông thôn, tr 2 - 8 Khác
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Chương trình bảo tồn ĐDSH và sinh thái Trung Trường Sơn giai đoạn 2004 - 2010, Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Chương trình Birdlife quốc tế tại Việt Nam, thông tin về các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở Việt Nam (tái bản lần thứ 2), sản phẩm của dự án: Hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp ở Việt Nam, Hà Nội Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự án đầu tư, Dự án khả thi đầu tư xây dựng vườn quốc gia Pù Mát giai đoạn 2002 - 2011 Khác
5. Bộ Quốc Phòng (2007), Dự án quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái Thác Kèm thuộc vườn quốc gia Pù Mát, tr 6 - 12 Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Đa dạng sinh học và bảo tồn, Hà Nội Khác
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia – Chuyên đề ĐDSH”, Hà Nội Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng tại Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Khác
9. Hồ Văn Cử (2003), Nghiên cứu đề xuất mốt số giải pháp bảo tồn ĐDSH tại vườn quốc gia Yokđôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Đại học lâm nghiệp Khác
10. Trần Xân Cường (2011), Cẩm nang nhận dạng các loài động vật - thực vật quý hiếm, NXB Nghệ An Khác
11. Trần Xuân Cường và Bùi Đức Hảo (2012), Cẩm nang giá trị đa dạng sinh học và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, NXB Nghệ An Khác
12. Nguyễn Văn Dũng, Vũ Huy Dũng (2007), Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam - Mỗi liên hệ giữa phát triển bền vững và biến đổi khí hậu, Hội thảo chuyên đề về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu: Mỗi liên hệ giữa đói nghèo và phát triển bền vững, Hà Nội Khác
13. Đinh Hải Dương (2010), Nâng cao nhận thức và vai trò của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thiên nhiên thế giới VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Ban Quản lý dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng Khác
14. IUCN, UNEP, WWF (1996), Cứu lấy Trái Đất chiến lược cho cuộc sống bền vững, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Khác
15. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999), Bảo tồn đa dạng sinh học, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
16. Hoàng Thị Thanh Nhàn, Hồ Thanh Hải, Lê Xuân Cảnh (2012), Đa dạng sinh học vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định, Cục bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ Tài nguyên và Môi trường Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 1.1 Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam (Trang 15)
Bảng 1.1: Phân loại hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 1.1 Phân loại hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam (Trang 21)
Bảng 1.2: Các tác động đến ĐDSH ở VQG Xuân Thủy bởi các tác động của - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 1.2 Các tác động đến ĐDSH ở VQG Xuân Thủy bởi các tác động của (Trang 30)
Hình 3.1: Bản đồ chỉ dẫn đường đến VQG Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.1 Bản đồ chỉ dẫn đường đến VQG Pù Mát (Trang 37)
Bảng 3.1: Thành phần dân tộc các huyện trong khu vực VQG Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Thành phần dân tộc các huyện trong khu vực VQG Pù Mát (Trang 40)
Bảng 3.2: Mật độ và dân số các xã trong khu vực VQG Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Mật độ và dân số các xã trong khu vực VQG Pù Mát (Trang 41)
Bảng 3.3: Các taxon thực vật có mạch ở vườn quốc gia Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Các taxon thực vật có mạch ở vườn quốc gia Pù Mát (Trang 46)
Bảng 3.6: Số lượng và tỷ lệ các loài cây có ích phục vụ nhu cầu của con - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ các loài cây có ích phục vụ nhu cầu của con (Trang 47)
Bảng 3.9: Một số loài động vật quý hiếm và đặc hữu ở Vườn quốc gia - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.9 Một số loài động vật quý hiếm và đặc hữu ở Vườn quốc gia (Trang 51)
Bảng 3.10: Các toxon phân loại động vật ở vườn quốc gia Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.10 Các toxon phân loại động vật ở vườn quốc gia Pù Mát (Trang 52)
Hình 3.2: Sơ đồ hiện trạng tổ chức bộ máy VQG Pù Mát. - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.2 Sơ đồ hiện trạng tổ chức bộ máy VQG Pù Mát (Trang 54)
Bảng 3.13: Các loại hình tuyên truyền của cán bộ VQG Pù Mát tới người - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.13 Các loại hình tuyên truyền của cán bộ VQG Pù Mát tới người (Trang 59)
Bảng 3.19: Nhận biết của người dân về vai trò của VQG Pù Mát đối - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.19 Nhận biết của người dân về vai trò của VQG Pù Mát đối (Trang 70)
Sơ đồ vị trí địa lý vườn quốc gia Pù Mát - Thực trạng hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia pù mát, huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Sơ đồ v ị trí địa lý vườn quốc gia Pù Mát (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w