1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kỹ năng chung về tư vấn pháp luật

11 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Môn Kỹ Năng Chung Về Tư Vấn Pháp Luật
Tác giả Nguyễn Thị Hà Giang
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ Năng Chung Về Tư Vấn Pháp Luật
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 635,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, theo em trong tình huống này Luật sư hay chuyên viên tư vấn của Trung tâm Tư vấn pháp luật cần đặt ra các câu hỏi nhằm làm rõ nội dung vụ việc và yêu cầu của khách hàng như sau

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Tiểu Luận

MÔN: KỸ NĂNG CHUNG VỀ TƯ VẤN

PHÁP LUẬT

LỚP : N05-TL1

Trang 2

NỘI DUNG

Theo tình huống nêu trên, chúng ta được biết: Chị A đến Trung tâm Tư vấn pháp luật để yêu cầu tư vấn, từ đây có thể xác định được đây là một buổi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Vì vậy, trước tiên chúng ta cần phải có sự chuẩn bị

kỹ lưỡng dựa trên 7 bước cơ bản trong một buổi tiếp xúc khách hàng để có được buổi làm việc đạt hiệu quả

Về cơ bản một buổi tiếp xúc khách hàng có 7 bước cơ bản như sau, tuy nhiên không nhất thiết những bước này có thể và phải thực hiện trong một buổi làm việc:

- Bước 1: Chuẩn bị

Buổi tiếp xúc khách hàng trước khi đi vào buổi làm việc chính thức, Luật

sư cần rà soát những đầu mục cần chuẩn bị như sau: Chuẩn bị về văn phòng; Tài liệu liên quan đến luật sư và tổ chức nơi Luật sư làm việc (chứng chỉ hành nghề Luật sư; danh thiếp và thông tin sách giấy giới thiệu Trung tâm tư vấn về thời gian thành lập, những thành tựu đã đạt được, phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý…); chuẩn bị về nhân sự; chuẩn bị về trang phục (gọn gàng, nghiêm túc); chuẩn bị một số chủ đề tạo môi trường giao tiếp; chuẩn bị bảng hỏi dự kiến sẽ áp dụng đối với khách hàng…

- Bước 2: Tạo môi trường giao tiếp

Luật sư có thể linh động trong việc đặt những câu hỏi mở hay sử dụng lời mời dùng đồ uống nhẹ…nhằm mục đích thay đổi môi trường giao tiếp tạo ra sự thoải mái, cởi mở cho khách hàng (đặc biệt là đối với những khách hàng lần đầu tiếp xúc)

Đồng thời trong bước này Luật sư cũng cần giải thích với khách hàng trách nhiệm bảo mật thông tin về vụ việc và bảo mật thông tin về khách hàng khi Luật

sư tiếp nhận thông tin từ khách hàng Giải thích lý do Luật sư phải ghi chép các thông tin khách hàng cung cấp để phục vụ cho việc xử lý thông tin và Luật sư sẽ chỉ tiết lộ các thông tin này khi khách hàng cho phép Điều này giúp cho khách hàng hiểu được dặc thù hoạt động trong nghề Luật sư và có thể yên tâm để nói

Trang 3

ra những thông tin mà có thể khách hàng không chia sẻ đối với những người thân thiết nhất của mình

- Bước 3: Tìm hiểu vụ việc

Tại bước này Luật sư cần phải đặt những câu hỏi nhằm nắm thông tin vụ việc và mong muốn của khách hàng

- Bước 4: Làm rõ vấn đề

Tại bước này, việc Luật sư cần làm là chốt lại những thông tin quan trọng của vụ việc thông qua những câu hỏi đóng và qua đó giúp Luật sư có được những đánh giá, nhìn nhận về vụ việc được chính xác và toàn diện hơn

- Bước 5: Xác định yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý của khách hàng

Lúc này, Luật sư cần lắng nghe và để khách hàng tự nói ra mong muốn của mình Sau đó, bằng những câu hỏi lồng ghép việc điều chỉnh và sử dụng thuật ngữ pháp lý thích hợp Luật sư diễn giải lại câu hỏi của khách hàng để khách hàng khẳng định lại xem ý hiểu của Luật sư có đúng hay không Tiếp đến, Luật

sư cần trao đổi với khách hàng về các phương án giải quyết và các phương thức cung cấp dịch vụ pháp lý mà bên phía Luật sư có thể cung cấp để khách hàng lực chọn phương thức cung cấp dịch vụ phù hợp với mình

- Bước 6: Thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý

- Bước 7: Kết thúc cuộc gặp

Lúc này cần sử dụng lời chào và lời cảm ơn nhã ý đã sử dụng dịch vụ pháp

lý của Trung tâm tư vấn nhằm tạo cho khách hàng cảm giác được tôn trọng sau buổi làm việc với Luật sư

CÂU HỎI ĐỀ BÀI:

1/ Anh (chị) hãy đặt các câu hỏi để hỏi khách hàng nhằm làm rõ nội dung vụ việc và yêu cầu của khách hàng? (04 điểm)

Qua 7 bước cơ bản của một buổi tiếp xúc khách hàng như đã trình bày trên, chúng ta có thể thấy được công việc đặt các câu hỏi để hỏi khách hàng nhằm

Trang 4

làm rõ nội dung vụ việc và yêu cầu của khách hàng thuộc nội dung công việc cần làm tại các bước tìm hiểu vụ việc và làm rõ vấn đề trong 7 bước cơ bẩn trên

Vì vậy, theo em trong tình huống này Luật sư hay chuyên viên tư vấn của Trung tâm Tư vấn pháp luật cần đặt ra các câu hỏi nhằm làm rõ nội dung vụ việc

và yêu cầu của khách hàng như sau:

Câu hỏi 1: Vợ chồng Chị A kết hôn với nhau từ thời điểm nào? Quan hệ

hôn nhân của anh chị có được Nhà nước thừa nhận và giấy đăng ký hết hôn không?

Câu hỏi 2: Thửa đất và 2 ngôi nhà của bố mẹ chồng Chị A có Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không? Giấy tờ này đứng tên của ai?

Câu hỏi 3: Bố mẹ chồng Chị A phân chia nhà và đất cho 2 người con của

mình thông qua hình thức chuyển giao nào? (tặng cho, mua bán…)

Lúc bố mẹ chồng Chị A phân chia đất và nhà cho các con có yêu cầu gì đối

vợ chồng Chị A không? Nhà và đất ông bà chia cho vợ chồng Chị A có được bán không? Hay để lại tài sản này dùng cho mục đích thờ cúng? Lúc phân chia đất và nhà cho các con ông bà có nói rõ là cho riêng chồng Chị A không? Hay ông bà cho chung hai vợ chồng Chị? Mảnh đất và nhà được ông bà cho có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không? Và giấy tờ này đứng tên của ai?

Câu hỏi 4: Bố mẹ chồng và chồng Chị A mất từ thời điểm nào? Và trước

lúc mất có để lại di chúc không?

Câu hỏi 5: Từ thời điểm vợ chồng Chị A kết hôn và chung sống với nhau

đến thời điểm chồng Chị A mất, anh chị có những tài sản chung và tài sản riêng nào nữa không? Ngoài mảnh đất và ngôi nhà được bố mẹ chồng chia cho

Câu hỏi 6: Vợ chồng Chị Acó tất cả bao nhiêu người con chung và ngoài

những người con chung với chị thì chồng Chị A còn có người con nào khác nữa không? Và ở thời điểm hiện tại những người con này bao nhiêu tuổi?

Trang 5

Câu hỏi 7: Từ khi kết hôn, vợ chồng chị A có thỏa thuận nào về chế độ tài

sản không? Có thỏa thuận gộp chung tài sản riêng nào vào tài sản chung của hai

vợ chồng không?

Sau khi chồng Chị A mất, anh nhà có để lại tài sản nào nữa không? Ngoài thừa đất và căn nhà được bố mẹ chia cho? Và chồng Chị A có để lại khoản nợ hay nghĩa vụ đến hạn thanh toán nào không?

Câu hỏi 8: Chị A có ý định bán hay làm gì với mảnh đất và ngôi nhà được

bố mẹ chồng cho không? Và Chị A có đi bước nữa (lấy chồng mới) hay không? Nếu có thì sau khi kết hôn với người khác, con gái chị sẽ đi theo và tiếp tục ở chung với chị hay vẫn ở lại ngôi nhà?

Câu hỏi 9: Yêu cầu của Chị khi đến Trung tâm Tư vấn pháp luật có phải là

khởi kiện anh B hay không? Và Chị A có bằng chứng nào để chứng minh hành

vi của anh B về việc cưỡng ép Chị A phải trích lại một phần đất hay anh B có hành vi chiếm đoạt thửa đất và ngôi nhà không?

2/ Theo anh (chị), Chị A cần phải cung cấp các loại giấy tờ gì phục vụ cho việc tư vấn? Vì sao? (02 điểm)

Dựa trên các câu hỏi để làm rõ nội dung vụ việc và yêu cầu của khách hàng

ở các bước trên Luật sư/ Chuyên gia tư vấn cần yêu cầu khách hàng cung cấp các loại giấy tờ, tài liệu và thông tin sau:

- Giấy chứng tử (Trích lục khai tử) của bố mẹ chồng và chồng Chị A;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng Chị A;

- Sổ hộ khẩu của gia đình vợ chồng Chị A;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất và ngôi nhà Chị A đang ở mà bố mẹ chồng cho (Thửa đất đang tranh chấp);

- Giấy khai sinh của con gái – đứa con chung của vợ chồng Chị A;

- Chứng minh nhân dân/ căn cước công dân của Chị A;

Trang 6

Sở dĩ, Luật sư/ chuyên gia tư vấn cần yêu cầu Chị A cung cấp các giấy tờ nêu trên là vì:

- Yêu cầu cung cấp Giấy chứng tử (Trích lục khai tử) của bố mẹ chồng và chồng Chị A nhằm mục đích xác định chính xác bố mẹ chồng và chồng Chị

A đã mất, qua đó biết được chính xác thời điểm mất của họ để làm căn cứ cho việc mở thừa kế và xác định thời điểm mở thừa kế

- Yêu cầu cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng Chị A nhằm xác định đúng quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị theo quy định của pháp luật và tư cách pháp lý của chị trong trường hợp này, Chị A có được tính vào hàng thừa kế thứ nhất hay không Đồng thời qua đó giúp khách hàng xác định được quyền lợi và nghĩa vụ của mình

- Yêu cầu cung cấp sổ hộ khẩu của gia đình vợ chồng Chị A nhằm xác định được sơ đồ các mối quan hệ trong gia đình vợ chồng chị A, qua đó xác định được các quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên – chủ thể có liên quan đến vụ việc

- Yêu cầu cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất và ngôi nhà được bố mẹ chồng Chị A cho Giấy tờ này nhằm giúp cho người tư vấn xác định được đúng chủ sở hữu của thửa đất và ngôi nhà theo quy định của pháp luật cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến vụ việc

- Yêu cầu cung cấp Giấy khai sinh của con gái – đứa con chung của vợ chồng Chị A nhằm mục đích xác định được đúng độ tuổi và tư cách chủ thể của con gái chị A trong quan hệ thừa kế Qua đó, xác định được các quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng

- Yêu cầu cung cấp chứng minh nhân dân/ căn cước công dân của Chị A và anh B nhằm thu thập thông tin phục vụ cho trường hợp Chị A yêu cầu khởi kiện anh B

3/Anh (chị) viết thư tư vấn gửi chị A trong đó có đưa ra những lời khuyên cho Chị A trong vụ việc nêu trên? (04 điểm).

Trang 7

Luật sư/ chuyên gia tư vấn pháp luật cần viết thư tư vấn gửi Chị A trong đó

có những lời khuyên cho Chị trong vụ việc nêu trên theo mẫu như sau:

TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP

LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

HÀ NỘI

Số: 107/TVPL-KH

Về việc: Tranh chấp thừa kế đối với

quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất và yêu

cầu khởi kiện

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019

Kính gửi: -Ông/bà: Nguyễn Thị A

Đ/c: Số nhà 10, đường Đê La Thành, Phường Láng Hạ, Đống

Đa, Thành phố Hà Nội, Việt Nam

Trung tâm Tư vấn pháp luật Trường Đại học Luật Hà Nội kính gửi tới Quý khách hàng lời chào trân trọng! Cảm ơn Quý khách hàng đã tin tưởng và

sử dụng dịch vụ của chúng tôi

Căn cứ vào Hợp đồng dịch vụ số 1001 ký ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa khách hàng và Trung tâm Tư vấn pháp luật Trường Đại học Luật Hà Nội

và theo yêu cầu của bà trong cuộc trao đổi vào ngày 10 tháng 5 năm 2019, chúng tôi xin đưa ra ý kiến pháp lý của chúng tôi đối với vụ việc tranh chấp

và yêu cầu của bà Trung tâm Tư vấn pháp luật Trường Đại học Luật Hà Nội kính gửi đến Quý khách hàng thư tư vấn pháp lý với nội dung như sau:

- Bản tóm tắt nội dung sự việc:

20/6/2003 Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị A đăng ký kết hôn

với nhau

THƯ TƯ VẤN

Trang 8

19/5/2004 Bố mẹ chồng chị A là ông Trần Văn C và bà Hoàng Thị T

có phân chia nhà và đất cho hai người con là anh Trần Văn D (chồng Chị Nguyễn Thị A) và anh Trần Văn B thông qua hợp đồng tặng cho

15/2/2010 Ông Trần Văn C (là bố chồng của chị Nguyễn Thị A) qua

đời

17/3/2012 Bà Hoàng Thị T (là mẹ chồng của chị Nguyễn Thị A) qua

đời

25/12/2017 Anh Trần Văn D (là chồng của chị Nguyễn Thị A) qua

đời do tai nạn giao thông

Đầu năm 2019 Anh Trần Văn B có đề nghị Chị A không được bán nhà

đất mà chị đang ở hoặc nếu có bán thì để lại 01 phần thửa đất và ngôi nhà để anh B quản lý vì là đây là Bố mẹ chồng Chị đã gắn bó cả đời và cũng là nơi thờ cúng cha,

mẹ và tổ tiên nhà chồng

10/5/2019 Chị Nguyễn Thị A đến Trung tâm Tư vấn pháp luật

để yêu cầu tư vấn về vụ việc với nội dung: muốn chuyên gia tư vấn chỉ rõ: Yêu cầu của B như vậy có hợp pháp không? Chị A có thể làm đơn khởi kiện B ra tòa ngay thời điểm này được không?

- Yêu cầu tư vấn của Quý khách hàng:

Ngày 10/5/2019, Chị A đến Trung tâm Tư vấn pháp luật để yêu cầu tư vấn với nội dung: yêu cầu chuyên gia tư vấn chỉ rõ yêu cầu của B là đề nghị Chị A không được bán nhà đất mà chị đang ở hoặc nếu có bán thì để lại 01 phần thửa đất và ngôi nhà để anh B quản lý đối với thửa đất và ngôi nhà được

bố mẹ chồng Chị A chi cho có hợp pháp không? Chị A có thể làm đơn khởi kiện B ra tòa ngay thời điểm này được không?

- Căn cứ pháp lý được chúng tôi sử dụng để giải quyết trong vụ việc này bao gồm:

1 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015;

Trang 9

2 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 29/01/2013;

3 Luật Tố tụng dân sự số: 92/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015

- Phần Giả định, bảo lưu:

Do chúng tôi không có cơ hội xác minh chi tiết mọi sự việc đã diễn ra cũng như tính hợp pháp của một số tài liệu giao dịch có liên quan (do Quý khách hàng đã cung cấp cho chúng tôi trước đó) Vì vậy, sự phân tích của chúng tôi sẽ dựa trên cơ sở giả định là bản sao các tài liệu nói trên hoàn toàn xác thực về hình thức và nội dung so với bản gốc của tài liệu đó Nếu có bất

kỳ sự kiện quan trọng nào mà chúng tôi không đề cập đến do không được các tài liệu phải ánh đầy đủ, xin Quý khách hàng vui lòng thông báo để chúng tôi điều chỉnh ý kiến của mình một cách phù hợp

- Ý kiến tư vấn:

Dựa vào những thông tin và tài liệu kèm theo mà Quý khách hàng cung cấp Qua nghiên cứu hồ sơ vụ việc, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn pháp lý

về vụ việc của Quý khách hàng như sau:

- Dựa vào hợp đồng tặng ngày 19/5/2004 cho của ông Trần Văn C và bà Hoàng Thị T đối với anh Trần Văn D (chồng Chị Nguyễn Thị A) đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 08….và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất mang tên anh Trần Văn D đối với thửa đất số 08… Chúng tôi nhận định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở đây thuộc quyền sở hữu của anh Trần Văn D và là tài sản được bố mẹ anh D tặng cho riêng Tại thời điểm tặng cho ông Trần Văn C

và bà Hoàng Thị T không có điều kiện yêu cầu nào cần anh anh Trần Văn D thực hiện (nội dung hợp đồng tặng cho trên không ghi nhận) và trước lúc ông Trần Văn C và bà Hoàng Thị T qua đời cũng không để lại di chúc và không

đề cập đến việc không được bán nhà đất và nếu có bán thì để lại 01 phần thửa đất và ngôi nhà để anh B quản lý và làm nơi thờ cúng cha, mẹ và tổ tiên nhà

Trang 10

chồng sau này Vì vậy, chúng tôi nhận định anh Trần Văn D là chủ sở hữu và quyền tài sản hoàn toàn đối với thửa đất và ngôi nhà nêu trên

- Vào ngày 25/12/2017 anh Trần Văn D qua đời do tai nạn giao thông và không để lại di chúc Sự kiện này, là cơ sở để thiết lập quan hệ thừa kế đối với di sản mà anh Trần Văn D để lại sau khi qua đời Căn cứ vào các Điểu 609; Điều 613; Điều 650; Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 chúng tôi khẳng định chị Nguyễn Thị A là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản mà anh Trần Văn D để lại là thửa đất và ngôn nhà thuộc thửa đất số 08… Vì vậy, đối với di sản anh Trần Văn D để lại thì Chị A

có quyền hưởng thừa kế và định đoạt đối với ½ giá trị di sản anh D để lại Do anh D qua đời không để lại di chúc nên di sản của anh sẽ được chia đều cho cháu Trần Quỳnh C và chị Nguyễn Thị A thuộc hàng thừa kế thứ nhất

- Vào đầu năm 2019, Anh Trần Văn B có đề nghị Chị A không được bán nhà đất mà chị đang ở hoặc nếu có bán thì để lại 01 phần thửa đất và ngôi nhà

để anh B quản lý vì là đây là Bố mẹ chồng Chị đã gắn bó cả đời và cũng là nơi thờ cúng cha, mẹ và tổ tiên nhà chồng Dựa vào các chứng cứ mà Chị Nguyễn Thị A cung cấp với chúng tôi cũng như các tài liệu từ hồ sơ chúng tôi thu thập được Chúng tôi xin nhận định, yêu cầu trên của B là không hợp pháp và Chị A có thể làm đơn khởi kiện anh B ra tòa ngay thời điểm này vì tội cưỡng đoạn tài sản theo quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015

 Dựa trên các nhận định ý trên pháp lý của chúng tôi nêu trên, chúng tôi xin đề xuất các phương án giải quyết vụ việc đối với yêu cầu Quý khách hàng là chị Nguyễn Thị A theo các phương án như sau:

- Phương án thứ nhất: Đề xuất hòa giải thương lượng với anh Trần

Văn B trách việc xung đột lợi ích ảnh hưởng đến tình cảm trong gia đình bằng việc để Chị Nguyễn Thị A tự hòa giải với anh B hoặc đề xuất việc để Luật sư/chuyên viên tư vấn của chúng tôi gặp và làm việc với anh B Trường hợp này chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ các chứng cứ pháp lý để chứng minh rằng chị Nguyễn Thị A có quyền lợi hợp pháp đối với mảnh đất và ngôi nhà được thừa kế từ chồng là anh Trần Văn D Và chứng minh được anh Trần Văn B không có quyền thừa kế và nghĩa vụ liên quan đến phần di sản này

Ngày đăng: 16/11/2023, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w