Vấn đề quản lý văn hóa nói chung, quản lý thiết chế văn hóa nói riêng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học xã hội quan tâm, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 8
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
7.1 Phương pháp luận 9
7.2 Phương pháp cụ thể 9
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
9 Bố cục của luận văn 10
Chương 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 12
VỀ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VĂN MIẾU TRẤN BIÊN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Một số khái niệm 12
1.1.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa và doanh nghiệp quản lý văn hóa 16
1.2 Tổng quan về Văn miếu Trấn Biên 20
1.2.1 Lịch sử hình thành Văn miếu Trấn Biên 20
1.2.2 Các hạng mục, công trình của Văn miếu Trấn Biên 22
1.2.3 Giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Văn miếu Trấn Biên 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
Trang 2Chương 2 30
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN 30
2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về Văn miếu Trấn Biên 30
2.1.1 Chủ thể quản lý Văn miếu Trấn Biên 30
2.2 Công tác quản lý Văn miếu Trấn Biên 38
2.2.1 Quản lý Văn miếu Trấn Biên trước khi chuyển giao về Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai 38
2.2.2 Quản lý Văn miếu Trấn Biên khi chuyển giao về Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai 41
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý Văn miếu Trấn Biên 50
2.4 Kinh nghiệm quản lý và phát huy giá trị Văn miếu ở Việt Nam và khu vực 53
2.4.1 Cách thức quản lý một số Văn miếu ở Việt Nam 53
2.4.2 Cách thức quản lý Khổng miếu ở khu vực 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57
Chương 3 59
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ 59
VĂN MIẾU TRẤN BIÊN 59
3.1 Những điều kiện để bảo tồn và phát huy giá trị của Văn miếu Trấn Biên hiện nay 59
3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực công tác quản lý Văn miếu Trấn Biên trong thời gian tới 62
3.2.1 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai 63
3.2.2 Đối với cơ quan quản lý chuyên ngành và phối hợp tổ chức 64
3.2.3 Đối với Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai 65
3.2.4 Đối với chính quyền địa phương 66
3.2.5 Đối với Trung tâm Văn miếu Trấn Biên 66
3.2.6 Đối với công chúng 73
Trang 3TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thiết chế văn hóa đóng vai trò quan trọng và là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa là góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã đề ra, đồng thời góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết 33 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
Nhiều năm qua, ở nhiều địa phương, các thiết chế văn hóa đã được quan tâm đầu tư và hoạt động tương đối hiệu quả, phát huy được chức năng, nhiệm
vụ, giữ vững định hướng chính trị trong hoạt động, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả tích cực thì một số thiết chế vẫn còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế nhất định, gây lãng phí cho nguồn ngân sách của Nhà nước
Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho thấy năm 2012, cả nước có 71 thiết chế văn hóa cấp tỉnh nhưng còn tới 8 tỉnh (Phú Thọ, Điện Biên, Cà Mau, Đồng Tháp…) chỉ có bộ máy hoạt động, không có địa điểm “đóng quân” Đội ngũ cán bộ đang làm việc tại thiết chế văn hóa cấp tỉnh cũng chỉ có 60% số người có trình độ đại học trở lên Không chỉ thiếu về số lượng, hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa còn rất nhiều bất cập Trung bình mỗi năm, kinh phí dành cho hoạt động của nhà văn hóa cấp tỉnh là 500 - 900 triệu đồng, cấp huyện là 200 - 300 triệu đồng (bao gồm cả lương và chi phí hành chính); kinh phí hoạt động của nhà văn hóa xã, thôn chủ yếu do nhân dân đóng góp [19]
Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa được triển khai nhằm khắc phục tình trạng “Nhà nước hóa” các hoạt động văn hóa, khai thác các nguồn lực sẵn có trong nhân dân, tạo điều kiện cho người dân được tổ chức,
Trang 5đầu tư và tất nhiên được hưởng lợi từ các hoạt động văn hóa Một số mô hình xuất hiện thể hiện tính năng động, sáng tạo trong các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân Vì vậy, xã hội hóa không chỉ là những vấn đề trước mắt mà còn là vấn đề lâu dài, mang ý nghĩa cấp bách, bởi nó góp phần giải quyết những khó khăn mà hoạt động văn hóa trong cơ chế thị trường đang vấp phải, trước hết là cơ chế tài chính Thực
tế cho thấy, thiết chế văn hóa nào huy động được nhiều nguồn xã hội hóa và liên kết tổ chức đa dạng nhiều hoạt động thì thiết chế đó khai thác hết được công năng sử dụng
Đồng Nai là một trong số tỉnh, thành của cả nước đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và sâu sắc trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) Trong đó, việc đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu tinh thần của người dân ngày càng được chú trọng Tính đến tháng 11 năm
2014, toàn tỉnh có 732 thiết chế văn hóa (gồm 01 Trung tâm văn hóa cấp tỉnh,
13 Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện, thị, thành phố; 106 Trung tâm Văn hóa, Thể thao - Học tập cộng đồng và 612 nhà văn hóa ấp, khu phố); 48 khách sạn và 372 nhà nghỉ, 20 điểm du lịch thuộc nhiều loại hình, như: Du lịch sinh thái, du lịch thể thao, tín ngưỡng… thu hút trên 2 triệu lượt khách đến tham quan, vui chơi, giải trí và lưu trú với doanh thu đạt 626 tỷ đồng [53] Nhìn chung, các thiết chế văn hóa có nguồn ngân sách đều do cơ quan nhà nước quản lý theo phân cấp, còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao [PL
số 12]
Văn miếu Trấn Biên (VMTB) là thiết chế văn hóa đặc biệt của tỉnh Đồng Nai thu hút được sự quan tâm của người dân trong và ngoài tỉnh Qua nhiều đơn vị quản lý như: Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao VMTB cho Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai đầu tư, khai thác dưới
sự quản lý, định hướng của tỉnh Đây không chỉ là sự mạnh dạn của tỉnh trong
Trang 6việc đẩy mạnh xã hội hóa thiết chế văn hóa trong nền kinh tế thị trường như hiện nay mà còn tạo ra một “mô hình mới” Vì vậy, cần có những nghiên cứu
có hệ thống, coi đó là cơ sở khoa học để đánh giá tính hiệu quả của mô hình
hoạt động Xuất phát từ đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên ở Biên Hòa - Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
chuyên ngành quản lý văn hóa
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục đích đánh giá thực trạng quản lý và hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên ở Biên Hòa - Đồng Nai Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp quản lý để Văn miếu Trấn Biên phát triển đúng định hướng và đạt hiệu quả tốt nhất
Vấn đề quản lý văn hóa nói chung, quản lý thiết chế văn hóa nói riêng
là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học xã hội quan tâm,
đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa và quản lý thiết chế văn hóa như: Nhiều tác giả đã nghiên cứu và biên soạn sách Quản lý
hoạt động văn hóa (1997), Chính sách văn hóa (2010), Quản lý văn hóa Việt Nam (2012); Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của tác giả Phạm Hồng Giang - Bùi Hoài Sơn (2012), bài viết “Vai trò của hệ thống thiết chế văn hóa” của tác giả Nguyễn Thị Anh đăng trên website http/:www.tapchicongsan.org.vn, ngày 20/8/2014 hay bài viết “Gỡ khó cho thiết chế văn hóa cơ sở” của tác giả Hiền Dung trên website
http/:www.hanoimoi.com.vn, ngày 17/11/2012…có thể giúp người đọc hiểu
rõ hơn về hoạt động quản lý văn hóa, thiết chế văn hóa và vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội, tuy nhiên các công trình này chưa xem Văn miếu như một thiết chế văn hóa
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bên cạnh đó, cũng có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về Văn miếu
như: Văn miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội của tác giả Nguyễn
Trang 7Quang Lộc, Phạm Thúy Hằng (2010), luận văn thạc sĩ Văn miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống Văn miếu, văn từ, văn chỉ của Đỗ Hương Thảo (2009), Kỷ yếu hội thảo khoa học Văn miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống di tích Nho học
ở Việt Nam do Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội biên tập (2013), Non nước Việt Nam: Sách hướng dẫn du lịch của tác giả Vũ Thế Bình (chủ biên) năm 2012, Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các Văn miếu tiêu biểu ở B c bộ của tác giả Dương Văn Sáu (2014), bài viết “Khai thác giá trị của Văn miếu Mao Điền (Hải Dương) để phát triển
du lịch trong giai đoạn hiện nay” đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa, số 3 (24)
năm 2008 của tác giả Dương Văn Sáu… Nhìn chung, các Văn miếu đều do cơ quan Nhà nước quản lý, ít đề cập đến vai trò và sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp đồng hành cùng Nhà nước đầu tư, quản lý Văn miếu
Nghiên cứu về VMTB có các công trình: Gia Định thành thông chí của tác giả Trịnh Hoài Đức (Lý Việt Dũng dịch và chú giải, năm 2004); 290 năm Văn miếu Trấn Biên của tác giả Huỳnh Văn Tới, Bùi Quang Huy (chủ biên) năm 2005; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tiếp tục thực hiện quy hoạch và phát huy các giá trị văn hóa Văn miếu Trấn Biên do Trung tâm Văn miếu Trấn Biên biên tập năm 2014, luận văn thạc sĩ Văn miếu Trấn Biên của tác giả Lê
Anh Tuấn - Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hầu hết các đề tài, công trình, bài viết đều tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành; các giá trị, kiến trúc nghệ thuật; công tác tổ chức hoạt động, chưa có công trình nghiên cứu về cách thức và hiệu quả quản lý Văn miếu Trấn Biên
Nhìn chung, các công trình trên đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về công tác quản lý văn hóa, thiết chế văn hóa; bảo tồn, phát huy giá trị của Văn miếu và hệ thống di tích Nho học Tuy vậy, lâu nay chưa
có công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa nói chung và quản lý VMTB nói riêng Tuy nhiên, trong quá
Trang 8trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu, khảo sát của các tác giả đi trước, kết hợp với những số liệu thống kê, tổng hợp và
hệ thống lại thành nội dung thống nhất để thực hiện mục đích nghiên cứu của
đề tài
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách thức và hiệu quả quản lý thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên tại
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Về thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2002 đến năm 2015, các định hướng phát triển Văn miếu Trấn Biên và các giải pháp được đưa ra cho thời
gian tới (Năm 2002, VMTB được khánh thành và đưa vào hoạt động Số liệu
có so sánh đối chứng theo từng mốc thời gian)
5 Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Xã hội hóa hoạt động văn hóa là cần thiết nhằm huy động các nguồn lực, sự tham gia của các tầng lớp xã hội trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân
Thực hiện chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa
Thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên có vai trò quan trọng trong đời
sống xã hội Việc chuyển đổi VMTB từ thiết chế văn hóa truyền thống do cơ quan quản lý nhà nước quản lý sang thiết chế văn hóa do doanh nghiệp quản
lý là phù hợp với điều kiện phát triển hiện nay
Trang 96 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung giải quyết và làm
rõ những câu hỏi sau:
- Thiết chế văn hóa Văn miếu Trấn Biên ở Biên Hòa - Đồng Nai có vai trò và giá trị như thế nào trong đời sống cộng đồng? Để bảo tồn và phát huy những giá trị của VMTB cần có những điều kiện gì?
- Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý chuyên ngành và doanh nghiệp trong quá trình quản lý VMTB Việc chuyển đổi cơ quan quản lý có tác động như thế nào đến tính chất và giá trị hoạt động của Văn miếu Trấn Biên Tính hiệu quả và tính bền vững của mô hình này trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Những hạn chế, khó khăn cần khắc phục?
- Giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý Văn miếu Trấn Biên?
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và vận dụng những quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
7.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp khảo sát thực địa: Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả thường xuyên đến VMTB và một số Văn miếu khác để quan sát, chụp ảnh, thu thập tài liệu, số liệu và tham gia các hoạt động được tổ chức tại đây
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn sâu những nhà quản lý, nhà nghiên cứu về những nội dung có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra xã hội học về văn hóa bằng phiếu thăm dò, đối tượng là cán bộ, người lao động đang công tác tại Văn miếu và khách tham quan, số lượng 150 người
Trang 10- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: So sánh theo từng mốc thời gian và tham khảo cách thức quản lý của một số Văn miếu khác, trên cơ
sở đó phân tích, đánh giá và kết luận
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn góp phần nghiên cứu, làm rõ giá trị của Văn miếu Trấn Biên - thiết chế văn hóa đặc biệt ở xứ Đồng Nai Đồng thời, luận văn góp phần làm
rõ vai trò quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành đối với thiết chế, trong
đó có vai trò của doanh nghiệp được giao nhiện vụ quản lý thiết chế, chứng minh tính khả quan của chính sách phối hợp các hoạt động văn hóa với nguồn lực kinh tế
Từ kết quả nghiên cứu, giúp những nhà quản lý hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động, bảo tồn và phát huy giá trị của Văn miếu, những mặt đạt được
và những mặt còn hạn chế trong cách thức quản lý Trên cơ sở đó, luận văn đề
ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
Với kết quả nghiên cứu và những số liệu thu thập được là cơ sở để các nghiên cứu sâu hơn về quản lý thiết chế văn hóa nói chung và quản lý VMTB nói riêng
9 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung luận văn chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ THIẾT CHẾ
VĂN HÓA VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
Trong chương này, tác giả đưa ra một số khái niệm giúp người đọc hiểu thế nào là thiết chế văn hóa, doanh nghiệp quản lý văn hóa, quản lý nhà nước
về văn hóa và doanh nghiệp quản lý văn hóa, trên cơ sở đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu công tác quản lý thiết chế văn hóa Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu khái quát về thiết chế văn hóa VMTB, tổng quan giá trị vật thể và phi vật thể của Văn miếu
Trang 11Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN Trong chương này, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý VMTB Từ thực tiễn hiệu quả hoạt động, phân tích những mặt đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý; so sánh với một số Văn miếu khác
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
Trong chương này, tác giả xác định những điều kiện để bảo tồn và phát huy các giá trị của Văn miếu Trấn Biên hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn Văn miếu
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
VỀ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
- Thiết chế văn hóa
Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn
hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Tuy nhiên,cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về thiết chế văn hóa, nhiều người chỉ đơn giản nghĩ đó là cơ sở vật chất Sự nhầm lẫn này đã dẫn đến sự phiến diện trong việc đầu tư hoặc tổ chức các hoạt động Vậy thiết chế văn hóa là gì?
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: Cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [34, tập 4, tr 230]
Trong đó, cơ sở vật chất là những cơ sở, điều kiện cần có tối thiểu cho các hoạt động văn hóa, các sinh hoạt cộng đồng diễn ra và quan trọng nhất là không gian sinh hoạt cộng đồng Bộ máy tổ chức nhân sự là tổ chức gồm những người tham gia điều hành và tổ chức các hoạt động của thiết chế Quy chế hoạt động là những quy định được xây dựng để làm cơ sở cho thiết chế hoạt động Và kinh phí hoạt động do ngân sách của Nhà nước cấp hoặc nhân dân đóng góp một cách tự nguyện và các nguồn tài trợ, hỗ trợ hợp pháp khác
- Quản lý thiết chế văn hóa
Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy góc độ khoa học cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Từ thế kỷ
Trang 13XXI, các quan niệm về quản lý ngày càng phong phú Các trường phái quản
lý đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [18, tr.22]
Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [43, tr.22]
Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã
đề ra” [24].
Từ những định nghĩa về quản lý nêu trên cho thấy, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cách thức quản lý: quản lý như thế nào? Và cuối cùng xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?
Còn quản lý thiết chế văn hóa là gì? Nhìn chung, chúng ta thường hiểu, quản lý thiết chế văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, quản lý thiết chế văn hóa
Trong đề tài, tác giả xác định quản lý thiết chế văn hóa là sự tác động
của chủ thể quản lý (Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân ) lên thiết chế văn hóa về cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn
tiêu quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa Như vậy về bản chất, quản lý thiết chế văn hóa là quản lý các hoạt động của con người hay cộng đồng xã hội có thể tác động ở cả hai chiều đến thiết chế
Trang 14- Doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa
Để hiểu được định nghĩa “Doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa”, trước hết chúng ta tìm hiểu về định nghĩa “Doanh nghiệp nhà nước”
Theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2014: Doanh nghiệp nhà nước
là tổ chức do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý [48]
Thông thường, chỉ thấy quản lý của doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, ít thấy nói đến quản lý của doanh nghiệp nhà nước đối với thiết chế văn hóa, vì chủ yếu các doanh nghiệp nhà nước được giao nhiệm vụ kinh doanh, ít khi được giao nhiệm vụ quản lý đối với thiết chế văn hóa
Theo đó, có thể hiểu doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tham gia đầu tư nguồn kinh phí, điều hành, thực hiện các hoạt động đối với thiết chế văn hóa trong sự quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, nhằm hài hòa mục đích phục vụ cộng đồng và lợi nhuận
Thời gian gần đây, doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa được thành lập ở nhiều địa phương trong cả nước và hoạt động tương đối hiệu quả Tại Đồng Nai, có thể kể đến các doanh nghiệp như: Tổng Công ty Cao su Đồng Nai (quản lý Trung tâm Văn hóa Suối Tre), Công ty TNHH 1TV Đầu tư - Phát triển Bửu Long (quản lý Danh thắng Bửu Long), Công ty TNHH Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài, Công ty cổ phần Du lịch Giang Điền…
- Xã hội hóa hoạt động văn hóa
XHH là một quá trình thông qua đó con người hình thành nên tính cách của mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm Nói cách khác, chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã
Trang 15hội Như vậy, xã hội hóa bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi con người không còn tồn tại
Thuật ngữ xã hội hóa trong khoa học xã hội nói chung, xã hội học nói riêng không đồng nhất với khái niệm xã hội hóa đang được sử dụng phổ biến
ở Việt Nam hiện nay như: xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, hay thể thao Theo đó, XHH hoạt động văn hóa là sự huy động các nguồn lực, sự tham gia của các tầng lớp xã hội trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ngày càng cao của nhân dân, đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của đất nước và được hưởng lợi bằng chính sự tham gia của mình
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những nhìn nhận chưa đúng về xã hội hóa
Có nhiều người cho rằng, mục đích chính của xã hội hóa là giảm nhẹ ngân sách đầu tư từ Nhà nước Đây là một vấn đề cần phải làm rõ, vì nếu không nhận thức đúng, rất dễ biến xã hội hóa thành thương mại hóa hoặc tư nhân hóa
Xã hội hóa hoạt động văn hóa nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu, định hướng của Đảng về văn hóa Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế và tăng cường quản lý văn hóa bằng cách hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng nguồn lực đầu tư, tăng cường lực đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên, chương trình quốc gia về phát triển văn hóa
- Chính sách văn hóa
UNESCO định nghĩa: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên
t c hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật”
Với thực tiễn của Việt Nam, chính sách văn hóa được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Chính sách văn hóa đặt ra
Trang 16các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển văn hóa chung của đất nước [31].
Các chính sách về quản lý và phát triển văn hóa hiện nay có thể kể đến: sáng tạo các giá trị văn hóa; bảo tồn, phát huy tài sản văn hóa; phát triển văn hóa cơ sở; giao lưu văn hóa quốc tế; hiện đại hóa kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hóa; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa…
Chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhưng chính sách văn hóa không thể thay thế pháp luật Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người
1.1.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa và doanh nghiệp quản lý văn hóa
- Đường lối, chủ trương về xây dựng và phát triển văn hóa
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phát triển kinh tế phải luôn gắn liền với phát triển văn hóa, giáo dục Có
thể nói Đề cương văn hóa năm 1943 là văn kiện đầu tiên khẳng định vị trí, vai
trò quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng, trong đó nêu rõ quan điểm Dân tộc - Khoa học - Đại chúng trong đường lối văn hóa của Đảng
Tuy nhiên, theo từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam, quan điểm và đường lối, chính sách của Đảng về văn hóa có sự thay đổi uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với thực tế khách quan Kể từ năm 1986 trở lại đây, cùng với sự đổi mới tư duy về kinh tế, Đảng ta đã có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa Các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới nhất quán khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, là mục tiêu của sự phát
Trang 17triển Để hiện thực hóa vai trò của văn hóa, một trong những nhiệm vụ được Đảng quan tâm đó là xây dựng các chính sách văn hóa phù hợp
Thực tế cho thấy, mọi chính sách của Đảng về văn hóa đều được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tiễn khách quan ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mở cửa, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời chú ý yếu tố phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, yếu tố đa dân tộc, đa văn hóa
Điều đó được thể hiện qua các kỳ đại hội của Đảng: Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), Ðại hội Đảng lần thứ VIII (1996), Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đại hội Đảng lần thứ X (2006), Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) và Đại hội Đảng lần thứ XII (2016) Mục tiêu chung của các kỳ đại hội là phát triển bền vững văn hóa, xã hội; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Trong đó về lĩnh vực văn hóa, Đảng ta xác định tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của dân tộc Chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa, quảng bá văn hóa Việt Nam, tiếp nhận
có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục các biểu hiện xuống cấp về đạo đức xã hội Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, xã hội
Đồng thời, năm 1998, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã xác định rõ quan điểm: “Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa, đồng thời đảm bảo
Trang 18yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”
Bên cạnh đó, Điều 60 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013 cũng nêu rõ: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân
Và để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của
nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Luật
Di sản văn hóa năm 2013 xác định: Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu nhà nước; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể,
sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa
Ngoài ra, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, xác lập những mục tiêu, nhiệm vụ
Trang 19và các giải pháp chủ yếu; là cơ sở hoạch định quy hoạch, kế hoạch để từng bước thực hiện việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Nhiệm vụ trọng tâm đã được đề ra trong chiến lược là xây dựng con người toàn diện; xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, tín ngưỡng
Mục tiêu trọng tâm của chiến lược là hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo; tuân thủ pháp luật; có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, đi đôi với việc tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững
- Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tham gia quản lý thiết chế văn hóa
Để nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, ngày 30/5/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP Nghị quyết nêu rõ:
Nhà nước, xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm
và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa
Nhà nước áp dụng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở thực hiện xã hội hóa để khuyến khích đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 20Cơ sở thực hiện XHH được liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ hoạt động nhằm huy động vốn, nhân lực và công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ
Tiếp tục hoàn thiện hoặc ban hành mới quy chế hoạt động của các loại quỹ; thể chế hóa vai trò và chức năng của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xã hội hóa
Hoàn thiện việc phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của các địa phương Các địa phương căn cứ vào cơ chế, chính sách chung, quyết định cơ chế, chính sách cụ thể cho địa phương, xây dựng quy hoạch phát triển XHH đối với từng lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao trên từng địa bàn
1.2 Tổng quan về Văn miếu Trấn Biên
1.2.1 Lịch sử hình thành Văn miếu Trấn Biên
Văn miếu xuất hiện ở nước ta đầu tiên vào năm 1070 đời vua Lý Thánh Tông, được lấy làm nơi thờ Khổng Tử và các bậc Thánh hiền Sau đó vào năm 1076, vua Lý Nhân Tông thành lập Quốc Tử Giám kế bên Văn miếu, đây
là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước theo tư tưởng Nho giáo, với những nét đặc trưng của Nho giáo như: xây dựng quy tắc ứng xử cho gia đình và xã hội, lấy ngũ luân với thuyết chính danh và chữ “nhân” làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Sau này đến thời Nguyễn, các vua nhà Nguyễn đóng đô ở Huế nên nhà Quốc học được dời vào Huế, Văn miếu chỉ còn chức năng thờ tự các bậc Thánh hiền
Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn
thống kê đến thời Nguyễn cả nước ta có 28 Văn miếu được xây dựng ở kinh
đô và các tỉnh, thành, dinh trấn Hầu hết các Văn miếu đều có chức năng kép vừa tôn vinh Nho học vừa là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước [49] Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh một số Văn miếu đã bị tàn phá, hiện nay
Trang 21chỉ có khoảng 10 tỉnh, thành phục dựng, trùng tu Văn miếu và phần lớn do các cơ quan Nhà nước quản lý [PL số 11]
VMTB là Văn miếu được xây dựng sớm nhất ở Nam bộ, là một trong những thiết chế thuộc hệ thống thiết chế Nho học Việt Nam, thể hiện sự tiếp nối của hệ thống Văn miếu hàng tỉnh dưới Văn miếu Thăng Long và Văn miếu Huế Sự ra đời của VMTB đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hình thành nền giáo dục Nho học ở vùng đất mới phương Nam, gắn liền với truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng hiền tài
Văn miếu được chúa Nguyễn Phúc Chu cho xây dựng vào năm Ất Mùi (1715) ở địa phận thôn Bình Thành và thôn Tân Lại huyện Phước Chánh, cách phía Tây trấn 2 dặm rưỡi
“Đời vua Hiển Tông năm Ất Mùi thứ 25 (1715), Trấn thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Phan Long, Ký lục Phạm Khánh Đức lựa chỗ đất dựng lên ban đầu, phía Nam hướng đến sông Phước, phía B c dựa theo núi rừng, núi sông thanh tú, cỏ cây tươi tốt Năm Giáp Dần thời Trung hưng (1794), Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô khâm mạng giám đốc trùng tu, giữa làm Đại Thành điện và Đại Thành môn, phía Đông làm Thần miếu, phía Tây làm Dục Thánh từ, trước xây tường ngang, phía tả có cửa Kim Thanh, phía hữu có cửa Ngọc Chấn, chính giữa sân trước dựng gác Khuê Văn treo trống, chuông trên đó, phía tả có Sùng Văn đường, phía hữu có Duy Lễ đường Trong thành, trăm hoa tươi đẹp… cành nhánh liền nhau rợp bóng, thân tàng to lớn sum suê Thường năm, chọn ngày Đinh hai mùa xuân và thu, vâng mạng vua, Tổng trấn quan hành lễ, phân hiến hai bên thì dùng Trấn quan và Đốc học quan, kỳ
dư đều là bồi tế, lệ đặt 50 lễ sanh và 50 miếu phu, đều lo làm phận sự” [27]
Từ nguồn tư liệu khác cho biết thêm: “Đầu đời Trung hưng nhà vua thường đích thân làm lễ, về sau sai quan tế thay Năm Tự Đức thứ 5 (1852), Văn miếu Trấn Biên được tu bổ, chính đường và tiền đường đều năm gian; dựng thêm hai dãy tả vu và hữu vu, mỗi dãy năm gian; đền Khải Thánh, chính
Trang 22đường và tiền đường đều ba gian, một tòa cửa giữa ba gian, một tòa cửa trước một gian, một tòa kho đồ thờ ba gian, một tòa Khuê Văn các có hai tầng, ba gian hai chái; phía trước biển “Đại Thành điện” đổi làm “Văn miếu điện” và “Khải Thành điện” đổi làm “Khải Thánh từ” [49]
Những tư liệu trên cho thấy, Văn miếu từ khi xây dựng và trải qua nhiều giai đoạn nhưng luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của vùng đất phương Nam lúc bấy giờ
Khi thực dân Pháp chiếm đóng Biên Hòa, năm 1861, VMTB đã bị phá hủy Mặc dù bị hủy hoại (sau 146 năm tồn tại), xong dấu ấn của Văn miếu vẫn còn in đậm trong tâm trí của người dân nơi đây và được ghi chép rõ ràng trong các tư liệu lịch sử [PL số 1, hình số 1] Chính vì vậy, việc phục dựng lại VMTB của tỉnh Đồng Nai là một chủ trương đúng đắn gắn liền với dịp kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển (1698-1998) đồng thời là một sự kiện văn hóa - lịch sử - chính trị đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân Ngày 14 tháng 02 năm 2002, VMTB được khánh thành và đi vào hoạt động Văn miếu được phục dựng nhằm mục đích khuyến học, tôn vinh hiền tài, nối kết truyền thống với hiện đại, văn hóa phương Nam với dòng mạch văn hóa Thăng Long - Đại Việt
Hiện nay, quần thể kiến trúc Văn miếu được xây dựng tương đối hoàn chỉnh trở thành thiết chế văn hóa quan trọng, tổ chức nhiều hoạt động lễ hội, văn hóa, giáo dục và được sự quan tâm lãnh đạo, quản lý của chính quyền tỉnh Đồng Nai
1.2.2 Các hạng mục, công trình của Văn miếu Trấn Biên
Công trình VMTB được phục dựng lại theo mô tả của Trịnh Hoài Đức
trong sách Gia Định thành thông chí; sử dụng kiểu nhà truyền thống, vật liệu
bền, mái cong có cải tiến; chạm khắc hoa văn, màu sắc hợp với tín ngưỡng dân gian, phối cảnh hài hòa giữa thiên tạo và nhân tạo; lấy tư tưởng văn hóa thời đại Hồ Chí Minh làm hạt nhân kết nối truyền thống và hiện đại, bản sắc
Trang 23Đồng Nai và dòng mạch văn hóa Thăng Long [PL số 1, hình số 2], gồm các khu:
Thứ nhất, khu sinh hoạt truyền thống rộng 2 hecta với các hạng mục
Văn miếu môn, Nhà bia truyền thống, Khuê Văn các, Thiên Quang tỉnh, Nhà Truyền thống, Nhà Đề danh, Đại Thành môn, Nhà thờ Khổng Tử, Văn vật
khố, Thư khố và Bái đường
Trong các hạng mục trên, Bái đường là công trình kiến trúc quan trọng nhất của quần thể kiến trúc VMTB Bái đường được xây dựng trang trọng theo kiểu nhà ba gian hai chái Gian chính điện là bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam Gian bên tả (từ ngoài vào) thờ các vị danh nhân văn hóa tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn và Nguyễn Du Đây là những vị quan thanh liêm từng giữ nhiều chức vụ rường cột trong triều đình, là những nhà giáo dục, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của dân tộc Gian bên hữu thờ các vị danh nhân văn hóa, các nhà giáo gắn bó với vùng đất Nam bộ xưa, như: Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Gia Định Tam Gia (Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định), Bùi Hữu Nghĩa và Nguyễn Đình Chiểu Tuy việc chọn lựa các đối tượng thờ trong Văn miếu có khác so với các Văn miếu trong cả nước, xong vẫn đảm bảo hình thức cửa Khổng sân Trình thờ Khổng tử và các bậc hiền triết Nho giáo; thờ các danh nhân văn hóa của cả nước và vùng miền, điều đó thể hiện sự tiếp nối mạch nguồn văn hóa dân tộc, hướng đến tương lai Đặc biệt trong Bái đường còn trưng bày 18 kg đất và 18 lít nước được rước về từ Đền Hùng (Phú Thọ) biểu trưng cho 18 đời Vua Hùng, cội nguồn của dân tộc Ngoài ra, còn có Bia Tiến
sĩ, Trống hội Thăng Long (quà tặng của Văn miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội), Bia đá Văn miếu, chiêng đồng, Đại hồng chung…
Hàng ngày, Văn miếu Trấn Biên mở cửa đón khách thập phương vào dâng hương, tưởng niệm, thể hiện lòng thành đối với các biểu tượng văn hóa
Trang 24được thờ phụng Vào các ngày lễ trọng như Tết Nguyên đán, ngày Quốc khánh 02/9, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11… Ban Tổ chức hành lễ theo nghi thức cổ truyền và hiện đại với những sinh hoạt phù hợp với nội dung ngày lễ Việc tế lễ gắn với các hình thức sinh hoạt văn hóa lành mạnh, đa dạng phục
vụ nhu cầu tín ngưỡng và giải trí của công chúng
Thứ hai, cụm dịch vụ Hội quán Trấn Biên
Hội quán Trấn Biên được đầu tư xây dựng vào năm 2013, với không gian mở, hài hòa với tổng thể kiến trúc VMTB, trở thành địa điểm trao đổi học thuật, tổ chức các sự kiện văn hóa, giao lưu các câu lạc bộ nghệ thuật, làng nghề truyền thống
Thứ ba, khu công viên
Gồm vườn tượng danh nhân văn hóa, vườn tượng nghệ thuật, công viên cây xanh, vườn thực vật rừng Đông Nam bộ, đường nội bộ và các hồ nước
Thứ tư, những nội dung trong định hướng phát triển Văn miếu Trấn Biên giai đoạn 3
Trong thời gian tới, tỉnh Đồng Nai tiếp tục đầu tư, phát triển VMTB đúng với vai trò là Văn miếu của vùng đất Nam bộ, đồng thời đây không chỉ
là thiết chế văn hóa riêng biệt mà còn gắn kết với Danh thắng Bửu Long và các địa điểm sinh hoạt văn hóa trong vùng tạo nên tổng thể khu du lịch văn hóa, sinh thái, tâm linh thu hút đông đảo du khách; trở thành điểm nhấn hài hòa trong tổng thể không gian của vùng đất địa linh Bửu Long nói riêng và Biên Hòa nói chung, tạo nên thương hiệu của Đồng Nai trong bản đồ du lịch
cả nước
Bên cạnh đó phát triển VMTB gắn với quy hoạch tổng thể, phát triển bền vững, hài hòa công trình thiên tạo và nhân tạo, phát huy lợi thế, kết nối không gian đô thị hiện đại với hệ thống giá trị sinh thái, văn hóa, lịch sử, với phương châm lấy việc phát huy giá trị văn hóa - bảo vệ môi trường làm mục tiêu phát triển, lấy hoạt động văn hóa, du lịch làm hoạt động chủ đạo
Trang 25Tiếp tục thực hiện các hạng mục công trình đã quy hoạch, thực hiện hoạt động đề danh và tôn vinh hiền tài
1.2.3 Giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Văn miếu Trấn Biên
- Giá trị lịch sử
Giá trị đầu tiên của VMTB là giá trị lịch sử Để xây dựng quốc gia độc lập và hưng thịnh phải có một hệ thống triết học làm nền tảng, một thể chế tổ chức xã hội vững mạnh và một nền giáo dục để đào tạo nhân tài cho đất nước
Để đáp ứng nhu cầu đó, nhà Lý đã chọn Nho giáo, một học thuyết chính trị, đạo đức ra đời trước đó gần 2000 năm và đã du nhập vào nước ta từ lâu
Vì vậy, quá trình hình thành và phát triển hệ thống Văn miếu trong cả nước nói chung qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở mỗi thời có những nét riêng nhưng nhìn chung đều mang giá trị văn hóa lịch sử to lớn Trong đó, việc cách nay đã hơn ba thế kỷ (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu chủ trương xây Văn miếu trên vùng đất Trấn Biên không chỉ cho thấy sự sáng suốt của người đứng đầu Đàng Trong mà còn cho thấy nguyên lý xuyên suốt của sự nghiệp dựng nước luôn coi trọng việc kế thừa truyền thống văn hiến gắn với
sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc Đây cũng là trong những thiết chế Nho học minh chứng cho truyền thống trọng học, trọng hiền tài
- Giá trị tâm linh
VMTB nói riêng và các di tích Nho học nói chung là nơi tôn vinh đạo học và là một hình thức khuyến học, duy trì thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam Trong suy nghĩ của người Việt, tầng lớp trí thức đứng trên cùng trong quan niệm về thứ bậc xã hội: sĩ, nông, công, thương mà khoa cử là con đường chân chính để trở thành kẻ sĩ Trên đất nước ta trước đây, nơi nào có người đi học nơi đó xây Văn miếu, các tỉnh có Văn miếu ở tỉnh, các huyện có Văn miếu ở huyện, các xã có Văn chỉ để thờ ông tổ đạo Nho, các tiên hiền và những người khoa bảng đã khuất của địa phương mình VMTB thờ Khổng tử, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân đạo cao đức trọng của dân tộc cũng
Trang 26nhằm tôn vinh công đức của các bậc hiền triết, tuyên truyền, giáo dục, hướng con người tìm đến các giá trị tốt đẹp, noi gương sáng các bậc hiền tài và tự hoàn thiện mình
- Giá trị kiến trúc nghệ thuật
Kiến trúc của VMTB với đường nét kiến trúc truyền thống kết hợp với
hiện đại, phối cảnh hài hòa giữa thiên tạo và nhân tạo như: các cột sơn son thiếp vàng, vòm mái cong lợp ngói âm dương bằng chất liệu gốm với màu xanh đặc trưng của gốm Biên Hòa (xanh lưu ly) Các đầu đao được gắn phù điêu cách điệu hình chim phượng Đỉnh mái trang trí biểu tượng “lưỡng long tranh châu” tượng trưng cho sức mạnh, giá trị nhân văn, trí tuệ và ước vọng
của con người
Về các hạng mục có các công trình kiến trúc tiêu biểu như Khuê Văn các, Nhà Bia truyền thống, cổng Tam quan, Bái đường được bố trí đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc - Nam; sử dụng chất liệu của bốn làng nghề truyền thống ở Biên Hòa - Đồng Nai như gỗ, gốm, đồng và đá Bái đường được xây dựng theo kiểu nhà ba gian hai chái Bài trí ở các gian thờ theo cách thờ cúng truyền thống, có lư hương, nhang, đèn, hoa, quả; có chỗ cho khách tham quan thắp nhang, tưởng niệm
Toàn bộ các công trình Văn miếu được xây dựng trong phạm vi 15 hecta, gồm khu sinh hoạt truyền thống cùng với hệ thống hồ phía trước (Minh đường), núi Long Ẩn và núi Bửu Phong phía sau (Thanh Long, Bạch Hổ) phối cảnh với vườn cây xung quanh gồm nhiều loại hoa trái có ghi trong sách
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức
Về đại thể, các công trình kiến trúc của VMTB có nhiều nét tương đồng với hệ thống Văn miếu trong cả nước, mang đặc điểm chung của kiến trúc Nho giáo
- Giá trị xã hội
Trang 27VMTB không chỉ là thiết chế văn hóa thiên về thờ phụng các bậc tiền hiền, danh nhân văn hóa mà còn mang giá trị kết nối truyền thống với hiện đại, văn hóa xứ Đồng Nai và văn hóa Đại Việt; là thiết chế văn hóa hướng đến tương lai, xây dựng cho tương lai, lấy truyền thống làm nền tảng tôn vinh các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Ngoài ra, VMTB không phải là thiết chế văn hóa hoạt động độc lập, riêng biệt mà còn là hạt nhân kết nối hoạt động văn hóa - giáo dục - du lịch; kết nối với hệ thống các trường học, trung tâm văn hóa; các di tích, cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo trên địa bàn thông qua nhiều hoạt động truyền thống hàng năm tại Văn miếu, đặc biệt là lễ Tết Thầy vào sáng mùng 3 tết Nguyên đán [PL số 1, hình số 4] Đây cũng là nét đặc sắc của VMTB so với một số Văn miếu khác trong cả nước, thông qua đó góp phần nâng cao vai trò, vị trí của Văn miếu trong đời sống cộng đồng
Sau hơn 15 năm đi vào hoạt động, VMTB đã trở thành một trong những điểm đến của tuyến du lịch Đồng Nai, với kiến trúc cảnh quan đẹp, giao thông thuận lợi (gần trung tâm thành phố Biên Hòa, gần Thành phố Hồ Chí Minh); là công trình độc đáo, có ý nghĩa về văn hóa, giáo dục ở phương Nam đáp ứng khuynh hướng du lịch tìm về cội nguồn của du khách ngày càng cao Văn miếu có đủ tiềm năng và điều kiện để đề xuất Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia
Năm 2014, Tổ chức Kỷ lục Sách Việt Nam đã công nhận VMTB là 1 trong 5 Văn miếu đánh dấu nền học vấn lâu đời của Việt Nam, TOP điểm đến hấp dẫn
Trang 28TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Xã hội muốn phát triển bền vững đòi hỏi không chỉ có kinh tế vững mạnh mà còn phải đặc
sống nhân dân ấm no, chất lượng cuộc sống được nâng cao thì nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều
chế văn hóa ngày càng thể hiện rõ vai trò thiết thực trong đời sống Thông qua hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa góp phần thực hiện tốt các
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Ngày nay, quản lý thiết chế văn hóa không chỉ là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện, quản lý thiết chế
động các nguồn lực, sự tham gia của các tầng lớp xã hội cùng đầu tư và quản
thời phát huy, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa
Biên Hòa - Đồng Nai là một trong những trung tâm kinh tế có tầm cỡ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước và đặc biệt là khu vực phía Nam Không chỉ tập trung đầu tư cho phát triển kinh tế, Đồng Nai luôn quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, giáo dục Là một trong số tỉnh, thành của cả nước đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và sâu sắc trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) Trong đó, việc đầu tư xây dựng các thiết
Trang 29chế văn hóa phục vụ nhu cầu tinh thần của người dân ngày càng được chú trọng
Văn miếu Trấn Biên là thiết chế văn hóa mang nhiều giá trị được tỉnh Đồng Nai phục dựng lại nhằm tôn vinh các danh nhân văn hóa tiêu biểu, truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, khuyến học, khuyến tài của vùng đất Biên Hòa - Trấn Biên Đây là thiết chế văn hóa đặc biệt, qua nhiều đơn vị quản lý như Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
và hiện nay là Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai, là “mô hình mới” được chuyển đổi từ thiết chế văn hóa truyền thống do cơ quan quản lý nhà nước quản lý sang thiết chế văn hóa do doanh nghiệp quản lý
Đây là chương viết hình thành cơ sở lý luận, soi sáng những nội dung tiếp theo ở chương sau của đề tài
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về Văn miếu Trấn Biên
2.1.1 Chủ thể quản lý Văn miếu Trấn Biên
Khi đưa VMTB vào hoạt động, tỉnh Đồng Nai đã thành lập Trung tâm Văn miếu Trấn Biên theo Quyết định số 905/2005/QĐ.UBT ngày 28/02/2005 của UBND tỉnh, trong đó giao UBND thành phố Biên Hòa quản lý trực tiếp
và toàn diện, đồng thời có sự hướng dẫn về chuyên môn của Sở Văn hóa - Thông tin
Năm 2011, UBND tỉnh Đồng Nai chấp thuận chuyển giao Trung tâm Văn miếu Trấn Biên về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý
Ngày 01/12/2011, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 3215/QĐ-UBND về việc chấp thuận chuyển giao quyền quản lý, đầu tư và khai thác Văn miếu Trấn Biên từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về Ban Quản lý Dự án Bửu Long (Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai)
Ngày 28/12/2011, Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai thành lập Trung tâm Văn miếu Trấn Biên - đơn vị sự nghiệp hạch toán phụ thuộc Tổng công ty theo Quyết định số 429/QĐ - HĐTV
Và hiện nay, Trung tâm Văn miếu Trấn Biên chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; là đơn vị hạch toán phụ thuộc TCty CNTP ĐN, chịu
sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Tổng công ty; đồng thời chịu sự quản lý nhà nước về chuyên môn của SVHTTDL và có sự phối hợp quản lý của các
cơ quan chuyên môn khác [PL số 6]
2.1.2 Phối hợp quản lý nhà nước đối với Văn miếu Trấn Biên
VMTB là thiết chế văn hóa được Nhà nước quyết định thành lập, giao nhiệm vụ quản lý cho đơn vị có điều kiện và khả năng thực hiện Năm 2012,
Trang 31UBND tỉnh quyết định giao Văn miếu Trấn Biên cho TCty CNTP ĐN quản
lý, đầu tư và có sự phối hợp quản lý của các cơ quan chuyên môn khác là hợp
lý với điều kiện và xu hướng phát triển hiện nay
Để phối hợp quản lý nhà nước đối với Văn miếu, UBND tỉnh đã ban hành Quy chế phối hợp quản lý kèm theo Quyết định số 239/QĐ-UBND ngày 21/01/2016 nhằm bảo tồn và phát huy tốt các giá trị của Văn miếu, đồng thời nhằm đảm bảo sự thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho TCty CNTP ĐN trong việc quản lý, đầu tư và khai thác có hiệu quả VMTB [PL số 14]
Theo Quy chế phối hợp quản lý, Văn miếu Trấn Biên (bao gồm toàn bộ giá trị đất đai, nhà cửa, hiện vật, kiến trúc và tài sản khác trên đất thuộc phạm
vi VMTB quản lý) là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, được Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho TCty CNTP ĐN quyền quản lý, khai thác, sử dụng; không giao quyền sở hữu tài sản và tài sản này không được xác định là tài sản
và nguồn vốn của Tổng công ty Tất cả các hoạt động liên quan đến tài sản của Văn miếu phải có ý kiến chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh mới có giá trị pháp lý
Mọi hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng đối với VMTB đều phải thông qua cơ quan đầu mối là TCty CNTP ĐN Đồng thời phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn giúp
Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước đối với VMTB như sau:
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai chịu trách nhiệm về công
tác quản lý nhà nước và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các
hoạt động của VMTB, cụ thể:
Hướng dẫn và phối hợp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động bảo tồn, tôn tạo và khai thác các giá trị di sản văn hóa của VMTB theo đúng quy định của pháp luật
Hướng dẫn tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học về lịch sử, văn hóa vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai để tuyên truyền, quảng bá và phục vụ
Trang 32nhiệm vụ chính trị; hướng dẫn thực hiện các đề tài nghiên cứu; hội thảo khoa học; tọa đàm lịch sử - văn hóa; phối hợp xuất bản sách, tài liệu liên quan đến VMTB
Hỗ trợ tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên và người lao động của Trung tâm VMTB trong việc hướng dẫn, thuyết minh phục vụ khách tham quan
Chủ trì lập hồ sơ và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận VMTB là di tích lịch sử cấp quốc gia để tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị về lịch sử, văn hóa cũng như việc quản lý VMTB theo Luật Di sản văn hóa
- Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai
Chỉ đạo triển khai quy hoạch, xây dựng đề án, thi công các hạng mục công trình phục vụ các thiết chế văn hóa tại VMTB đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt
Chỉ đạo tổ chức các hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh dịch vụ, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch tại Khu du lịch Bửu Long và VMTB; riêng các kiến trúc liên quan đến VMTB phải có ý kiến của Hội đồng Tư vấn Nội dung và Hội đồng Nghệ thuật tượng đài, tranh hoành tráng tỉnh trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt
Tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền về lĩnh vực hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tại VMTB và các nội dung chỉ đạo có liên quan của UBND tỉnh đến công tác quản lý nhà nước, các chương trình, kế hoạch hoạt động tại Văn miếu
Phối hợp Hội đồng Tư vấn nội dung và Hội đồng Nghệ thuật tượng đài, tranh hoành tráng tỉnh trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học, tọa đàm về lịch sử, văn hóa vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai; biên soạn các ấn phẩm văn hóa, phối hợp xuất bản sách, tài liệu, sưu tầm hình ảnh, hiện vật… liên quan đến di tích VMTB
Trang 33Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về tổ chức các sự kiện, lễ hội phục vụ nhiệm vụ chính trị tại Văn miếu; lập hồ sơ trình UBND tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận VMTB là Di tích lịch sử cấp quốc gia
Phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan và UBND thành phố Biên Hòa xử lý các hoạt động trái với quy định của pháp luật, xâm phạm, hủy hoại, làm biến dạng và phá hủy cảnh quan môi trường VMTB
- Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa
Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh và phối hợp với TCty CNTP ĐN, các sở, ban, ngành có liên quan trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai có liên quan đến Văn miếu (nếu có) Thực hiện quản lý địa bàn nơi Văn miếu tọa lạc
Phối hợp các đơn vị liên quan thực hiện việc quản lý hành chính, an ninh trật tự công cộng tại VMTB theo thẩm quyền Tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển, giữ gìn di tích và đảm bảo an ninh trật tự tại VMTB
- Sở Tài chính
Chủ trì, phối hợp với TCty CNTP ĐN hướng dẫn, kiểm tra Trung tâm VMTB thực hiện các quy định của pháp luật về công tác kế toán, thống kê, kiểm toán, chế độ tài chính và xử lý các vi phạm theo thẩm quyền hoặc đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
- Cục Thuế tỉnh
Hướng dẫn Tổng công ty hạch toán khoản kinh phí chi thường xuyên
và kinh phí phục vụ các hoạt động khác tại VMTB trên cơ sở Trung tâm là đơn vị hạch toán phụ thuộc trực thuộc TCty CNTP ĐN, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp được giao quản lý đầu tư, khai thác thiết chế văn hóa đặc biệt của tỉnh Hỗ trợ giải quyết vướng
Trang 34mắc của doanh nghiệp liên quan đến việc hạch toán các khoản chi phí liên quan đến Văn miếu
- Ngành Công an
Công an tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo công an các đơn vị địa phương phối hợp thực hiện theo chức năng; đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các hoạt động lễ hội
Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy tỉnh định kỳ kiểm tra; hướng dẫn Trung tâm VMTB thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, trang bị phương tiện, dụng cụ phòng cháy chữa cháy tại chỗ
- Trung tâm Văn miếu Trấn Biên
Tổ chức quản lý, giữ gìn, tôn tạo cơ sở vật chất, cảnh quan, môi trường trong và ngoài khuôn viên thuộc diện tích VMTB được giao quản lý Trong quá trình tổ chức quản lý toàn bộ cơ sở vật chất (bao gồm đất đai và tài sản trên đất) của VMTB, Trung tâm có trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến cụ thể của Tổng công ty những vấn đề liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản
lý và khai thác
Tổ chức sưu tầm, bảo quản, phục chế, trưng bày tư liệu, hiện vật, hình ảnh về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai qua các thời kỳ; nghiên cứu các nội dung, nghi thức, các hoạt động lễ hội truyền thống của vùng đất Trấn Biên xưa
Tổ chức các hoạt động, sự kiện văn hóa - giáo dục, hướng dẫn tham quan; tổ chức sinh hoạt truyền thống, nghiên cứu khoa học về văn hóa, lịch sử Biên Hòa - Đồng Nai và của vùng đất Trấn Biên xưa và nay Tổ chức các hoạt động dịch vụ, văn hóa, du lịch và giáo dục truyền thống trong phạm vi quản
lý
Tổ chức, hướng dẫn, thành lập các câu lạc bộ văn hóa - giáo dục, đội nhóm, điểm sinh hoạt dã ngoại, tổ chức các sự kiện, các hoạt động lễ hội, biểu diễn văn hóa, nghệ thuật tại khu vực Văn miếu
Trang 35Lập hồ sơ quản lý cơ sở vật chất; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và nâng cao hiệu quả các hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho
Giám đốc Trung tâm VMTB có trách nhiệm báo cáo TCty CNTP ĐN trình UBND tỉnh quyết định các công trình đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa và chỉ được triển khai thực hiện khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng Tư vấn Nội dung và Hội đồng Nghệ thuật tượng đài, tranh hoành tráng tỉnh và UBND tỉnh chấp thuận
Trung tâm VMTB là chủ đầu tư các dự án xây dựng, sửa chữa có liên quan; có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản Các công tác sửa chữa nhỏ thực hiện theo quy định của UBND tỉnh về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị
Thực hiện kê khai đăng ký, báo cáo tài sản nhà nước theo đúng quy định hiện hành Công khai tiêu chuẩn, định mức, tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của đơn vị theo quy định
Phối hợp với cơ quan công an xây dựng các quy định và tổ chức kiểm tra công tác giữ gìn an ninh trật tự trong phạm vi của Văn miếu
- Hội đồng Tƣ vấn Nội dung xây dựng VMTB
Hội đồng là tổ chức phối hợp liên ngành được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh Thành phần của Hội đồng bao gồm các nhà nghiên cứu,
Trang 36nhà khoa học, đại diện lãnh đạo các cơ quan tham gia quản lý VMTB Hội đồng có quy chế hoạt động và các thành viên trong Hội đồng làm việc không chuyên trách
Hội đồng Tư vấn Nội dung có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh trong các vấn đề liên quan đến nội dung trưng bày và hoạt động của VMTB bao gồm: các nội dung như việc phối thờ và bố trí phối thờ bên trong Văn miếu, nội dung trưng bày, nội dung hoạt động tôn vinh các giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học [PL số 13]
- Hội đồng Tƣ vấn Nghệ thuật VMTB
Hội đồng cũng là tổ chức phối hợp liên ngành, được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh Thành phần của Hội đồng bao gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan tham gia quản lý VMTB và các nhà nghiên cứu, họa sĩ, kiến trúc sư Hội đồng có quy chế hoạt động và các thành viên trong Hội đồng làm việc không chuyên trách
Hội đồng Tư vấn Nghệ thuật có chức năng tham mưu đề xuất với UBND tỉnh trong các vấn đề liên quan đến nội dung trang trí mỹ thuật, xây dựng, trùng tu, tôn tạo VMTB [PL số 13]
2.1.3 Nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác quản lý, hoạt động của Văn miếu Trấn Biên
- Nguồn nhân lực
Bộ máy tổ chức của Trung tâm VMTB hiện nay gồm: Ban Giám đốc (01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc) và 06 phòng chức năng: Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Khoa học - Giáo dục, Phòng Sự kiện - Truyền thông - Bán hàng, Phòng Tài chính - Kế Toán, Phòng Kỹ thuật - Cảnh quan và Hội quán Trấn Biên với tổng số 122 cán bộ và người lao động
Trung tâm VMTB luôn quan tâm công tác đào tạo nguồn nhân lực và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ và người lao động được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiện có 1 cán bộ tham gia chương trình
Trang 37nghiên cứu sinh, 3 người lao động tham gia chương trình đào tạo sau đại học,
03 người lao động tham gia chương trình văn bằng 2 và hoàn chỉnh kiến thức đại học Thuyết minh viên được tham gia các khóa kỹ năng, các lớp hướng dẫn nghiệp vụ thuyết minh và các cuộc thi thuyết minh viên do SVHTTDL Đồng Nai tổ chức Người lao động được tham gia các lớp tập huấn, cán bộ quản lý được tham gia các chương trình học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước
Ngoài ra, Văn miếu còn được cấp bổ sung kinh phí không thường xuyên từ ngân sách nhà nước để chi các khoản như: Sửa chữa, tôn tạo cơ sở vật chất, trang bị các phương tiện phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ của Văn miếu theo quy hoạch phát triển Hàng năm, Văn miếu có trách nhiệm lập kế hoạch tài chính trình SVHTTDL và Sở Tài chính xem xét trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; quản lý sử dụng và thanh quyết toán theo quy định Trung tâm VMTB cũng có trách nhiệm báo cáo Tổng công ty để theo dõi, quản lý
Đồng thời, trong khi chờ nguồn ngân sách của nhà nước cấp bổ sung cho Văn miếu thực hiện các dự án đầu tư sửa chữa, tôn tạo; Tổng công ty đề xuất xin chủ trương của UBND tỉnh và tạm ứng nguồn vốn của Tổng công ty
để đảm bảo tiến độ thực hiện các công trình Đây cũng là một thuận lợi cho công tác quản lý và hoạt động của VMTB
Trang 38Bên cạnh đó, các hoạt động tại Văn miếu còn huy động được nguồn kinh phí xã hội hóa từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và nhân dân trên địa bàn tỉnh
VMTB chưa thực hiện việc bán vé vào cổng tham quan, không có nguồn thu từ tiền công đức như một số Văn miếu khác
2.2 Công tác quản lý Văn miếu Trấn Biên
2.2.1 Quản lý Văn miếu Trấn Biên trước khi chuyển giao về Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai
Từ khi được phục dựng và đưa vào hoạt động, VMTB chịu sự chỉ đạo
và quản lý toàn diện của UBND thành phố Biên Hòa, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Đồng Nai (nay là Sở VHTTDL) Năm 2011, UBND tỉnh ban hành quyết định chuyển giao Văn miếu về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực tiếp quản lý
Chủ trương của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai quyết định phục dựng lại VMTB là việc làm ý nghĩa, thể hiện tư tưởng quan điểm xuyên suốt của dân tộc ta là trọng học, tôn sư trọng đạo; lấy giáo dục, khuyến khích việc học để qua đó, đào tạo, tuyển chọn nhân tài cho đất nước, góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm, chủ trương của đảng
bộ, chính quyền như trên là thuận lợi lớn cho công tác quản lý và tổ chức hoạt động của VMTB Đồng thời, khi tỉnh Đồng Nai bắt đầu phục dựng lại Văn miếu đã nhận được sự đồng thuận của xã hội, sự ủng hộ của nhân dân, sự phối hợp của các ban, ngành
Dưới sự chỉ đạo và quản lý của UBND thành phố Biên Hòa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn miếu đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Hàng năm, Văn miếu đón tiếp chu đáo hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, nghiên cứu [PL số 1, hình số 6] Tổ chức sưu tầm, bảo quản,
Trang 39phục chế, trưng bày tư liệu, hiện vật, hình ảnh về Biên Hòa - Đồng Nai qua các thời kỳ Tổ chức hoạt động văn hóa, sinh hoạt truyền thống, hoạt động về nguồn, tuyên dương báo công, sinh hoạt chuyên đề, các hoạt động văn hóa, lễ hội (Lễ tết Thầy, đêm thơ Nguyên Tiêu…) Các hoạt động tại Văn miếu được
tổ chức chu đáo, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, thu hút đông đảo công chúng tham gia [Bảng 2.1, bảng 2.2]
Bảng 2.1 Số lượng khách tham quan, dự lễ tại VMTB (2006 - 2009)
- Khách tham quan tự do Lượt
người 13.171 54.817 125.702 84.018 (Nguồn: Trung tâm VMTB - 2006, 2007, 2008, 2009)
Bảng 2.2 Hoạt động văn hóa tổ chức tại VMTB (2006 - 2009)
(Nguồn: Trung tâm VMTB - 2006, 2007, 2008, 2009) Tuy nhiên, hoạt động quản lý phát huy các giá trị của VMTB cũng gặp khó khăn về nguồn nhân sự, kinh phí để có thể hoạt động hiệu quả hơn, đúng như mục đích yêu cầu đề án khi phục dựng Văn miếu của tỉnh Đồng Nai, cụ thể:
Thứ nhất, nguồn nhân sự trực tiếp tham gia quản lý và hoạt động tại
VMTB còn mỏng Tổng số cán bộ, người lao động là 13 người, gồm 01 Phó
Trang 40Giám đốc (không có Giám đốc), Tổ Thuyết minh - Tuyên truyền 02 người và
Tổ Hành chính - Tổng hợp 10 người (gồm 01 kế toán, 01 thủ quỹ, 06 bảo vệ
và 02 nhân viên tạp vụ) Biên chế của Văn miếu do Chủ tịch UBND thành phố Biên Hòa xem xét quyết định trong tổng số biên chế của thành phố được cấp có thẩm quyền phê duyệt Thu nhập chưa cao, điều kiện làm việc còn hạn chế…nên chưa thu hút người lao động gắn bó lâu dài với Văn miếu
Thứ hai, một số nhiệm vụ, chức năng theo quy chế đề ra như: Hoạt
động nghiên cứu khoa học về văn hóa, giáo dục, lịch sử của vùng đất Trấn Biên xưa và nay; hoạt động dịch vụ, sản phẩm du lịch phục vụ khách tham quan chưa được thực hiện Hoạt động chủ yếu của Văn miếu vẫn là đón tiếp khách tham quan và tổ chức một số hoạt động văn hóa Khách tham quan chủ yếu là người dân địa phương và một số tỉnh thành lân cận
Thứ ba, diện tích quy hoạch VMTB là 15 hecta với nhiều hạng mục,
tuy nhiên mới chỉ đưa vào khai thác và sử dụng 2 hecta để đón tiếp các đoàn khách, tổ chức các hoạt động lễ hội; 13 hecta còn lại theo quy hoạch là: Hội trường, khu sơn thủy, khu vườn cây ăn trái, khu câu cá - giải trí, bến thuyền, đường nối khu du lịch Bửu Long [61, tr.64] nhưng chưa được đầu tư, chủ yếu vẫn là công viên (thiếu người chăm sóc, bảo vệ)
Thứ tƣ, theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, VMTB là đơn vị sự
nghiệp có thu tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động Văn miếu được ngân sách cấp bổ sung để chi các khoản như: Sửa chữa, tôn tạo cơ sở vật chất, trang bị các phương tiện phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ của Văn miếu; Tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học; Quỹ lương cho cán bộ, người lao động Tuy nhiên, Văn miếu vẫn chưa đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, toàn bộ kinh phí vẫn do nhà nước cấp và còn rất hạn chế
Thứ năm, công tác tuyên truyền chưa được quan tâm nhiều, phần lớn
người dân trong tỉnh chưa biết đến VMTB cũng như các hoạt động, sự kiện nổi bật tại đây Chưa có hệ thống bảng chỉ dẫn chi tiết, rõ ràng giúp khách