1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý nguồn nhân lực sân khấu kịch ở thành phố hồ chí minh

104 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nguồn Nhân Lực Sân Khấu Kịch Ở Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Nghệ Thuật
Chuyên ngành Quản Lý Nguồn Nhân Lực
Thể loại luận văn
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các nhà quản lý văn hóa – nghệ thuật, với tốc độ phát triển hết sức mau lẹ và diễn biến vô cùng phức tạp trong nghệ thuật biểu diễn, các văn bản pháp quy, các nghị quyết, thông t

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

5 Đối tượng nghiên cứu 13

6 Phạm vi nghiên cứu 13

7 Phương pháp nghiên cứu 14

8 Những đóng góp của luận văn 14

8.1 Đóng góp về mặt lý luận 14

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 14

9 Cấu trúc của luận văn 15

Chương 1 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGUỒN NHÂN LỰC 16

SÂN KHẤU KỊCH TP HỒ CHÍ MINH 16

1.1 Cơ sở lý luận 16

1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 16

1.1.2 Quan điểm, chủ trương Quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực 22

1.1.3 Nghệ thuật sân khấu Kịch nói 23

1.1.4 Đặc điểm nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói 26

1.2 Tổng quan Nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh 28

1.2.1 Nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Sài Gòn trước năm 1975 28

1.2.2 Nguồn nhân lực sân khấu Kịch Tp Hồ Chí Minh sau năm 1975 31

1.2.3 Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật 33

Tiểu kết 36

Chương 2 37

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC 37

Trang 3

SÂN KHẤU KỊCH TP HỒ CHÍ MINH 37

2.1 Nguồn nhân lực sáng tạo 37

2.1.1 Tác giả 37

2.1.2 Đạo diễn 39

2.1.3 Diễn viên 41

2.1.4 Đào tạo 42

2.2 Các mô hình quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh 44

2.2.1 Mô hình công lập 44

2.2.2 Mô hình ngoài công lập 49

2.3 Công tác quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh 60 2.3.1 Quản lý nguồn nhân lực sáng tạo nghệ thuật 60

2.3.2 Công tác đào tạo 62

2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý nguồn nhân lực 64

Tiểu kết 66

Chương 3 68

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC SÂN KHẤU KỊCH TP HỒ CHÍ MINH 68

3.1 Chính sách đầu tư cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật 68

3.1.1 Chính sách cho đầu tư, sáng tạo tác phẩm 68

3.1.2 Chính sách cho công tác đào tạo lực lượng sáng tạo 68

3.2 Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch Tp Hồ Chí Minh 70

3.2.1 Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch 70

3.2.2 Giải pháp và kiến nghị 74

Tiểu kết 94

KẾT LUẬN 96

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC 104

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sân khấu Kịch nói được hình thành và phát triển gần một thế kỷ.Vào đầu thế kỷ XX, sau khi Pháp thiết lập quyền bảo hộ ở Việt Nam xong, phong trào thành thị hóa phát triển, giai cấp tư sản dân tộc ra đời, tầng lớp trí thức Tây học ngày càng đông đảo Nghệ thuật kịch nói xuất hiện nhằm đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống mới

Là thể loại du nhập và tiếp thu từ Phương Tây, đặt trong bối cảnh phát triển sân khấu Việt Nam, kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh có một quá trình phát triển khá đặc biệt Sự đặc biệt ấy thể hiện ở chỗ mặc dù được tiếp nhận từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX nhưng trong hơn nửa thế

kỷ, kịch nói không phải là loại hình nghệ thuật sân khấu chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn học - nghệ thuật của thành phố Dù nỗ lực thế nào, kịch vẫn xếp sau cải lương - thể loại kịch hát mới của Nam bộ Đến thập niên cuối của thế kỷ XX, với việc chuyển đổi phương thức tổ chức hoạt động biểu diễn theo hướng xã hội hóa, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước chuyển mình mạnh mẽ trong bối cảnh sân khấu kịch nói của cả nước vẫn đang khó khăn trong việc thu hút khán giả Sự chuyển mình ấy tạo nên một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử kịch nói ở Sài Gòn -Thành phố Hồ Chí Minh Từ địa phương được xem là trung tâm của sân khấu cải lương, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những trung tâm sôi động của kịch nói Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển đó để lại những bài học quý báu cả về mặt lý luận, lẫn thực tiễn để kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay kế thừa nhằm có được một sự phát triển bền vững trong tương lai

Trước năm 1975, so với sân khấu Kịch nói, sân khấu Cải lương chiếm

ưu thế Tại Sài Gòn, chỉ có một vài nhóm kịch hoạt động lẻ tẻ Từ khi miền Nam đất được hoàn giải phóng, nhiều đoàn Kịch nói theo mô hình công lập

Trang 6

và công lập được thành lập Dưới sự quản lý của Nhà nước, sân khấu Kịch nói

Tp Hồ Chí Minh đã cho ra đời nhiều tác phẩm có nội dung và chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của nhân dân thành phố Cũng từ đây, nhiều tác phẩm kinh điển ra đời và vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay

Để có được thành tựu này, sân khấu Tp Hồ Chí Minh đã có sự đóng góp của đội ngũ: tác giả, diễn viên, đạo diễn, họa sỹ, nhạc sỹ,… được đào tạo

ở các nước XHCN trước đây Họ là nguồn nhân lực sáng tạo hùng hậu tạo nên diện mạo mới cho bộ môn sân khấu Kịch nói Thành phố, xây dựng nhiều tác phẩm hay về nội dung, đẹp về hình thức để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng khán giả Cũng từ đây, Kịch nói là món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân Thành phố

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa với nhiều biến động, Tp Hồ Chí Minh cùng với cả nước mở rộng, giao lưu với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới về lĩnh vực: khoa học, kinh tế, văn hóa… Nhiều loại hình văn

hóa nghệ thuật của các nước trên thế giới đã ồ ạt xâm nhập vào nước ta Khán

giả có nhiều thể loại “hàng hóa đặc biệt” để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật Sân khấu Kịch hát nói chung và sân Kịch nói riêng cũng chịu ảnh hưởng và rơi vào khủng hoảng trong từng giai đoạn

Mặt khác, chịu ảnh hưởng của sự tác động kinh tế, các tác phẩm sân khấu rất hiếm xuất hiện các tác phẩm đỉnh cao Các sân khấu Kịch nói hiện nay về bề nổi, vẫn “có đất” hoạt động biểu diễn, tuy nhiên, các sân khấu hoạt động kém hiệu quả Các chương trình game show tràn lan trên các kênh truyền hình với nội dung và chất lượng kém cũng đã “góp phần” đẩy sân khấu Kịch nói Thành phố đến mức báo động

Đối với các nhà quản lý văn hóa – nghệ thuật, với tốc độ phát triển hết sức mau lẹ và diễn biến vô cùng phức tạp trong nghệ thuật biểu diễn, các văn bản pháp quy, các nghị quyết, thông tư…chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội; bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, chưa bắt kịp với những

Trang 7

diễn biến phức tạp trong quản lý nghệ thuật biểu diễn Hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý chưa cao để kịp thời sửa đổi và tiếp nhận cách thức quản lý cho phù hợp với hoàn cảnh Về lâu dài, nếu không có một cách thức quản lý nguồn nhân lực, một đường lối, chính sách phù hợp thì không thể phát triển bền vững sân khấu Kịch nói

Trước đây cũng có nhiều tác giả, nhiều bài báo… đã đề cập nhiều đến vấn đề về tình trạng báo động của sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đó chỉ là các hội thảo, các bài tham luận,… nêu lên thực trạng chung

về khủng hoảng toàn diện của nghệ thuật biểu diễn với các mục đích nghiên cứu khác nhau, chưa đi sâu vào nghiên cứu về nguồn nhân lực trong sân khấu Kịch nói Thực trạng quản lý nguồn nhân lực như thế nào? Giải pháp nào cho quản lý nguồn nhân lực ở Tp Hồ Chí Minh? Làm thế nào để củng cố và phát triển sân khấu? Làm thế nào để củng cố nguồn nhân lực đang được đào tạo nhiều về số lượng nhưng chất lượng chưa hiệu quả, cùng với nhiều cơ chế trong quản lý còn nhiều bất cập là vấn đề hết sức cấp bách Với đề tài: “Quản

lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói ở Tp Hồ Chí Minh”, người viết sẽ phân

tích, đánh giá sân khấu Kịch nói Thành phố trên cơ sở thực tiễn, từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm góp phần củng cố, phát triển sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận về quản lý sân khấu Kịch nói ở Tp

Hồ Chí Minh, bao gồm: phương pháp, mô hình Thực trạng quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói, những nét riêng khác biệt trong cách quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh Đề tài đưa ra các kiến nghị và các giải pháp nhằm đổi mới cách thức quản lý và phát triển sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội hôm nay

Trang 8

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm phân tích thực trạng sân khấu Kịch nói Thành Phố, luận văn tìm ra những giải pháp phù hợp cho phương pháp quản lý nguồn nhân lực sáng tạo nghệ thuật đối với sự phát triển sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh

Từ kết quả nghiên cứu, đánh giá những mặt mạnh cũng như những mặt còn tồn tại của sự tác động này, đề xuất một số giải pháp đổi mới các mô hình quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn hôm nay

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu không phải là lĩnh vực hoàn toàn mới Trước đó, đã có nhiều bài viết và một số công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực trong sân khấu Kịch nói

Sân khấu Kịch hiện nay đang đứng trước nguy cơ thoái trào Hoạt động quản lý nhà nước chưa thể hiện hết vai trò định hướng lâu dài cho sự phát triển của nguồn nhân lực sân khấu nói chung và sân khấu Kịch nói riêng Vì vậy, đây là vấn đề cần sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạt động thực tiễn Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quản lý văn hóa - nghệ thuật, quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Đó

là các công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề lý luận quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như;

Dự án “Nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý văn hóa – nghệ thuật trong bối cảnh nền kinh tế thị trường” (2000 – 2004) do Quỹ Ford tài trợ, đã giúp ngành văn hóa xây dựng khung giáo trình chuyên ngành quản lý văn hóa – nghệ thuật, nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy về quản lý văn hóa trong bối cảnh mới… và có những giải pháp để nâng cao công tác quản lý văn hóa ở Việt Nam Bên cạnh đó, chúng ta còn phải kể đến công trình nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp, định hướng về quản lý văn hóa Việt Nam Những giải pháp, định hướng này được rút ra từ các vấn đề nảy sinh trong

Trang 9

thực tiễn cũng như trong so sánh với các phương thức quản lý văn hóa của nước ngoài

Cũng trong khuôn khổ Dự án hợp tác giữa quỹ Ford và Viện Văn hóa Thông tin về vấn đề “Nghiên cứu giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam”, hai công trình có liên quan đến quản lý văn hóa đã được hoàn thành vào năm 2004, đó

là “Thuật ngữ quản lý văn hóa nghệ thuật” và “Nhập môn quản lý văn hóa nghệ thuật” Những tài liệu này mang tính chất tổng hợp các quan niệm và cách thức quản lý văn hóa của các nước trên thế giới, đặc biệt là mô hình quản lý văn hóa nghệ thuật của phương Tây [54, 55]

Trong lĩnh vực nghiên cứu này, cần phải kể đến các công trình khoa học có liên quan đến thực trạng quản lý văn hóa Đề cập đến những biến đổi trong quản lý đối với một số lĩnh vực văn hóa cụ thể cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trên lĩnh vực văn hóa có các công trình: Đỗ Xuân Định: “ Lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Luận án Tiến sĩ Hà nội

1994, Đề tài khoa học cấp Bộ 1998-2000, Học viện Chính trị Quốc gia do GS Hoàng Vinh làm chủ nhiệm: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý văn hóa theo tinh thần nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII”; Phạm Hồng Toàn, “Thị trường văn hóa và quản lý văn hóa nghệ thuật”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 2004…

Đáng lưu ý, với sự tài trợ của quỹ SIDA (Thụy Điển), Viện văn hóa- Thông tin đã xây dựng một “ Báo cáo quốc gia về hiện trạng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2002” Đây là một đánh giá tương đối toàn diện, thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn mà nền văn hóa Việt Nam đối mạt trong giai đoạn đó ở các lĩnh vực do ngành văn hóa thông tin quản lý

Bên cạnh đó là nhiều đề tài cấp Bộ của Bộ văn hóa có liên quan đến công tác quản lý trong nhiều lĩnh vực… Những công trình qui mô này phần

Trang 10

nào đã phản ánh những bức tranh đa dạng trong đời sống văn hóa nước ta Đã

có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra một số giải pháp định hướng về quản lý văn hóa Việt Nam của các tác giả: Đặng Văn Bài (1995), Nguyễn Chí Bền (1998), Đình Quang (2001), Phan Hồng Giang (2004)…Và gần đây nhất là

đề tài khoa học cấp nhà nước KX.03/06-10: “Quản lý văn hóa Việt Nam trong

tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của Phan Hồng Giang, (2012), đề tài

mang tính kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, đưa ra những kiến giải mới, đồng thời là cơ hội để các nhà nghiên cứu, quản lý thống nhất một quan điểm chung về quản lý văn hóa trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh và nước ta đã gia nhập WTO, chủ động hội nhập với thế giới không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội.Với mục tiêu nhằm góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc

tế Điểm lại những nét chính trong quản lý văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ (từ 1945), nêu lên những điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn trong quản lý Văn hóa hiện nay Đặc biệt, công trình đã xác định được những vấn đề đặt ra trong quản lý văn hóa; từ phía các cơ quan quản lý và người dân…Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa trong tiến tình đổi mới

Các công trình đề cập đến các khía cạnh của nghệ thuật biểu diễn, quản

lý nhà nước về NTBD là: “Nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa – Sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI” của Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb Văn học, Hà Nội, 2004 Đã phản ảnh rõ nét loại hình nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa Việt Nam đến đầu thế kỷ XXI

Đề tài khoa học cấp Thành phố của Th.S Nguyễn Thị Hằng (8/2016):

“Quản lý nhà nước trên lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp”, đã nêu lên được thực trạng công tác quản lý nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh Đặc biệt, đề tài đã đề cập đến vấn đề đội

Trang 11

ngũ làm công tác quản lý còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân [23, tr.92], chiến lược hoạt động, đào tạo,… nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn nói chung hiệu quả chưa cao, tính chuyên nghiệp chưa sâu [23, tr.105] Trên

cơ sở đó, đưa ra các giải pháp giúp cho các hoạt động chuyên sâu của từng nhà hát, đơn vị đạt hiệu quả

Đây là đề tài mang tính kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, đưa ra những kiến nghị, giải pháp mới, đồng thời là cơ hội để các nhà nghiên cứu, quản lý thống nhất một quan điểm chung về quản lý NTBD trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh và nước ta đã gia nhập WTO, chủ động hội nhập thế giới không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn trong các lĩnh vực văn hóa xã hội

Giáo trình “Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa - nghệ thuật” (2009) của nhóm giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là một tài liệu có nội dung đi sâu vào công tác quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật Nội dung nêu lên được các thực trạng quản lý nguồn nhân lực văn hóa - nghệ thuật hiện nay còn nhiều vấn đề bất câp

Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố nguồn nhân lực, tất cả mọi

cá nhân, tổ chức cần phải quan tâm mạnh mẽ hơn nữa tới công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực - công tác quyết định để một quốc gia, một tổ chức

có thể tồn tại và đi lên trong cạnh tranh, trong thời kỳ hội nhập

Trong đề cương hội thảo khoa học "Thực trạng và giải pháp để phát triển nghệ thuật biểu diễn" do Cục Nghệ thuật biểu diễn Bộ Văn hóa Thông tin soạn thảo ngày 7/11/2005 về lĩnh vực sân khấu đã đề cập đến những vấn

đề như: tình trạng khan hiếm kịch bản hay; sự khủng hoảng lực lượng đạo diễn, phê bình sân khấu, diễn viên trẻ; khủng hoảng về đội ngũ tác giả truyền thống và đặc biệt vai trò quản lý nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt vấn đề đang được quan tâm nhất: xã hội hóa Xã hội hóa là cơ hội cho sân khấu phục hưng Đấy là xu hướng tất yếu của nền kịch nghệ phát triển… Đây là những

Trang 12

vấn đề cốt tử, liên quan tới sự sống còn của sân khấu Kịch Tp Hồ Chí Minh ở thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI Cơ quan chủ quản đã nhận ra vấn đề, thấy

rõ thực trạng, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để đưa ra bàn thảo, mổ xẻ và tìm đường tháo gỡ, cho định hướng Một định hướng khoa học, thực tiễn và đột phá [60]

Tác giả Ngô Thảo trong cuốn “Mấy vấn đề của sân khấu trong cơ chế thị trường”, từ góc độ của một người trong cuộc, đề cập khái quát đến hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1954 đến thời điểm công trình ra đời [43, tr 17-18] Với cái nhìn và phân tích giàu tính biện chứng – thực tiễn, tác giả đi khá sâu, toàn diện và cụ thể vào bản chất hiện trạng So sánh những điều được và mất, thành công và tồn tại của sân khấu Việt Nam trước và sau thời kỳ Đổi mới từ đó đưa ra những yêu cầu khẩn thiết của sân khấu

Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu

Các công trình này ít nhiều đã đề cập tới việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nói chung và lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nói riêng và đã

có những đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn Đó là kết quả nghiên cứu chuyên sâu nghiêm túc và công phu của các tác giả của các sở ban ngành trong cả nước

Các công trình đã phân tích vấn đề theo tính đặc thù của của loại hình

và cả thực trạng; đồng thời đưa ra những đề xuất mang tính tham khảo trên các góc độ khác nhau trong tương lai về chức năng quản lý nhà nước

Mặc dù có những đóng góp, nhưng tất cả các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ trong quản lý văn hóa của đề tài Chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước, quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói trên lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn còn rất hạn chế; hầu như chỉ dừng lại ở những bài tham luận ngắn trong các cuộc hội thảo hay các bài báo…

Trang 13

Các công trình dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm cập về cách thức quản lý Nhà nước Trước thực trạng như vậy, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nói chung và sân khấu Kịch nói, nói riêng phải tính đến những đặc thù riêng

Quản lý nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói ở Tp Hồ Chí Minh đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập ít nhiều, nhưng chưa thành hệ thống, các tài liệu liên quan cũng chỉ đề cập ít nhiều chủ yếu ở dạng nêu lên thực trạng chung của sân khấu Kịch nói nước nhà Chỉ có các bài tham luận, các bài báo

có viết nhiều về vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Thành phố nhưng cũng chưa có công trình nào hệ thống một cách bài bản về quản lý nguồn nhân lực trong sân khấu Kịch nói

Luận văn sẽ tiếp tục đóng góp vào việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sân khấu Kịch tại Tp Hồ Chí Minh, qua tác động của các mô hình quản lý trong mối tương quan về chính sách và hoạt động quản lý nguồn nhân lực của sân khấu Kịch nói Xem xét mối tương tác của chúng với chủ thể nghệ thuật

5 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu cách thức quản lý nguồn nhân lực và 4 nguồn lực cơ bản làm nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm sân khấu và duy trì hoạt động biểu diễn, đó là: Tác giả, Đạo diễn, Diễn viên, Các nhà quản lý

6 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu mô hình quản lý một số sân khấu Kịch nói của Tp Hồ Chí Minh như; Nhà hát Kịch Thành Phố, sân khấu Kịch Phú Nhuận, sân khấu 5B – Võ Văn Tần, sân khấu Idecaf, Nhà hát Thế Giới Trẻ…

Về không gian

Trang 14

Nghiên cứu chính sách quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn sân khấu, các phương pháp quản lý, đã có tác động sâu sắc đến sự phát triển nguồn nhân lực của sân khấu Kịch Tp Hồ Chí Minh

Về thời gian

Nghị quyết Trung ương 5V khóa VIII sự phát triển và toàn diện và sáng tạo đường lối xây dựng văn hóa Việt Nam Từ khi Nghị quyết đã ra đời và đi vào cuộc sống hơn 15 năm nay

Qúa trình phát triển của sân khấu Kịch ở Tp Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay, đây là năm sau khi Đảng và Nhà nước chủ trương xã hội hóa cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật và cũng từ năm 2000 đến nay đã có nhiều sân khấu Kịch nói Tư nhân ra đời mang lại nhiều diện mạo mới cho bộ mặt sân khấu Tp Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những vấn đề nêu trên, người nghiên cứu phải vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp điều tra, phỏng vấn, phương pháp so sánh, cách tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê, so sánh trong quá trình xử lý tư liệu

8 Những đóng góp của luận văn

8.1 Đóng góp về mặt lý luận

Về phương diện lý luận, luận văn tổng hợp và góp phần hoàn thiện về

hệ thống lý luận về phương thức quản lý, góp phần bổ sung và đổi mới phương thức quản lý nguồn nhân lực các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu (3 trang), kết luận (3 trang) và tài liệu tham khảo (6 trang) và phụ lục (15 trang), nội dung chính của Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nguồn nhân lực sân khấu Kịch ở

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGUỒN NHÂN LỰC

SÂN KHẤU KỊCH TP HỒ CHÍ MINH

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.1.1.1 Khái niệm Quản lý

Quản lý được giải thích như là một nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý

“Quản lý” là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lý luận và nghiên cứu khoa học Xét trên phương diện của nghĩa từ, quản

lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau Cùng với phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên

rõ rệt

Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý Để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cấn có chủ thể quản lý: ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?

Có được ba yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi

trường, điều kiện nhất định nào đó [11, tr.17]

Trang 17

Trong Lý luận quản lý nhà nước, GS Mai Văn Khuê đã định nghĩa:

“Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [13, tr.68]

Do tính chất xã hội của lao động con người, quản lý là một biện pháp cần thiết đối với nhiều lĩnh vực, nó có tính chất quyết định cho sự thành bại của chủ thể Vì vậy cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các

tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định Quản lý là một khoa học, trong đó quản lý:

Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội Đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và đang thực hiện qua những thể xã hội đặc biệt Mục đích, nội dung cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế

độ chính trị - xã hội [11, tr.580]

Trong quá trình tiến bộ xã hội, những hình thức quản lý có ý thức đã có những biến đổi sâu sắc - từ việc quản lý xã hội nguyên thủy bằng những truyền thống và tập quán, đến việc quản lý một cách tự giác và khoa học sự phát triển của xã hội tiến dần lên trình độ phát triển cao

Quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn: “Để tiến hành công việc quản lý chúng ta phải dựa vào các phương tiện và chính sách về luật pháp, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực v.v… để đạt được mục tiêu quản lý

đề ra” [11, tr.10]

Trang 18

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩ hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau Theo người viết; Phương thức quản lý là cách thức và phương pháp tổ chức

và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

1.1.1.2 Quản lý văn hóa

Nhà nước quản lý văn hóa thông qua việc ban hành tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa Theo UNESCO, chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thức thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và giải pháp về ngân sách của nhà nước dung làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa

“Trong lĩnh vực hoạch định chính sách quốc gia, người ta đều coi chính sách nghệ thuật là chính sách văn hóa và khái niệm “chính sách văn hóa” được thế giới sử dụng thông dụng và chính thức hơn” [46, tr30]

Về cơ bản, quản lý nhà nước về văn hóa là quá trình tác động đến mọi hoạt động văn hoá trong đời sống xã hội của con người dưới nhiều hình thức,

từ bộ máy tổ chức, cơ chế phối hợp các bộ, ban, ngành, đoàn thể; từ hoạch định chiến lược lâu dài, xác lập hệ thống pháp luật ở tầm quốc gia đến việc xây dựng và thực thi các chính sách văn hoá phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng lĩnh vực văn hoá ở các thời điểm và địa bàn khác nhau Mục tiêu của quản lý văn hóa ở nước ta là nhằm thúc đẩy nền văn hóa của đất nước ta, của nhân dân ta không ngừng lớn mạnh, ngày càng mang đậm tính chất nhân văn, dân tộc và hiện đại, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội

1.1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực

“Nguồn nhân lực con người” hay” nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: các công trình nghiên cứu trên thế

Trang 19

giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc

độ khác nhau

Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” (human resourses) xuất hiện vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX bắt nguồn từ sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động trước đây, quan niệm về nguồn nhân lực quản lý nguồn nhân lực (personnel management) này có khác đôi chút, người ta quan tâm đến việc xem nhân viên là một lực lượng thừa hành, phụ thuộc, bị khai thác sức lao động

Quan niệm mới hiện nay nhìn nhận vấn đề này nhẹ nhàng hơn, thân thiện hơn đó là việc tạo điều kiện tối đa để người lao động phát huy hết tiềm năng vốn có của họ qua quá trình lao động sản xuất [22]

Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ nguồn nhân lực là một trong những biểu hiện cụ thể cho việc thực hiện một phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người

Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển các tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [35, tr.256]

Cách hiểu nguồn nhân lực theo định nghĩa như trên xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên nguồn lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức

Theo tổ chức Liên Hợp Quốc khi đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa liên quan đến nguồn nhân lực Theo đó nguồn nhân lực được hiểu là trình độ lành nghề, kiến thức

và năng lực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng con người Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Trong đó việc đánh giá cao

Trang 20

là xem tài năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những

cơ chế thực hiện trong quản lý, sử dụng Quan niệm về nguồn nhân lực như vậy cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên Hợp Quốc đối với phương thức quản lý mới

Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn

mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [7, tr 282]

GS Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa” [17, tr 269]

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong tổng thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển

Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa

Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của một cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Trang 21

Do đó, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả

số lượng và chất lượng: không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động

mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên xã hội

Vì vậy, có thể định nghĩa: nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những sản phẩm chất đạo đức – tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự nghiệp phát triển và tiến bộ xã hội

Từ cách hiểu chung nhất về nguồn nhân lực trên có thể nói nguồn nhân lực trong các tổ chức hay đơn vị văn hóa là một bộ phận của nguồn nhân lực

xã hội do đó nó cũng bảo đảm những yêu cầu chung về thể lực, trí lực và nhân cách Tuy nhiên, ngoài những điểm chung đó thì nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật cũng có những điểm khác biệt Điểm khác biệt đó trước hết là phụ thuộc vào tính chất công việc của từng đơn vị Nói cách khác

là căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị mà có yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực trong tổ chức của mình về trình độ chuyên môn, khả năng về thể lực, về nhận thức, về thẩm mỹ… vì vậy tùy thuộc vào tính chất công việc của của đơn vị mà đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể đặc biệt đối với nguồn nhân lực trong Sân khấu nói chung Kịch nói, nói riêng hiện nay phải có trình độ chuyên môn, tận tâm với nghề… vì đây là nghề phục vụ công chúng nên phải đáp ứng tiêu chí nhằm đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ

Trang 22

1.1.1.4 Khái niệm Sân khấu Kịch nói

Theo Từ điển tiếng Việt- NXB Thống Kê- năm 2005

Là nghệ thuật dùng sân khấu trình bày hành động và đối thoại của các nhân vật để phản ánh xung đột trong đời sống xã hội

Lựa chọn những xung đột trong đời sống làm đối tượng miêu tả, phản ảnh hiện thực đời sống

1.1.1.5 Khái niệm Kịch nói

Kịch là một loại khấu mà nghệ thuật đài từ dùng bằng văn vần hay văn xuôi Phương thức biểu diễn là dùng lời nói (hoặc ngâm nếu là văn vần) “Yếu

tố ca nhạc trong kịch chỉ là thứ yếu”

Kịch nói là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp Đối tượng mô tả của Kịch

là những xung đột trong đời sống, có sự tham gia của nhiều ngành thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: kịch bản (lĩnh vực văn học), đạo diễn, diễn viên, họa sĩ, nhạc sĩ, … (thuộc lĩnh vực sân khấu) Trong đó, ba đối tượng quan trọng nhất, đó là: kịch bản, đạo diễn, diễn viên

*So sánh sự khác nhau giữa kịch nói và kịch hát

Kịch nói là phương thức biểu diễn đài từ dùng bằng lời thoại (lời nói), còn Kịch hát là phương thức biểu diễn đài từ dung bằng lời hát, yếu tố ca nhạc trong kịch hát là chủ yếu

1.1.2 Quan điểm, chủ trương Quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực

Cùng với sự phát triển của các nước trong khu vực và thế giới Việt Nam là một đất nước có dân số đông và lực lượng sức trẻ khá dồi dào đây là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên lực lượng này cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và Đảng cũng thấy rõ những yếu kém của nguồn nhân lực này

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2011-2020 của Đảng đã xác định rõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với

Trang 23

tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa các cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội[8, tr.13]

Từ sau Đại hội 8, Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục Xác định vai trò giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực và phát triển giáo dục là quốc sách

Đối với các công chức, quân nhân trong quân độ nhà nước trực tiếp thực hiện các các công việc, Đảng yêu cầu mỗi ngành đều phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, điều hành và quản lý công việc

Nghị quyết xác định phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của toàn

Như vậy, để hòa nhập thế giới và phát triển đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực dồi dào và có chuyên môn, kiến thức, đào tạo bài bản… nhà nước phải có các chính sách phù hợp để khai thác triệt để tiềm năng nguồn nhân lực này

1.1.3 Nghệ thuật sân khấu Kịch nói

1.1.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ sân khấu

Nghệ thuật sân khấu thuộc số những loại hình nghệ thuật không gian – thời gian Nó gần với các không gian như hội họa, điêu khắc, kiến trúc vì nó cũng có những yếu tố như trang trí và các yếu tố khác trong việc giải quyết về

Trang 24

mặt tạo hình của vở diễn Nó cũng gần với nghệ thuật thời gian như văn học,

âm nhạc vì có sự thay thế tuần tự các cảnh của từng lớp kịch Sân khấu là loại hình nghệ thuật được thụ cảm vừa bằng thị giác, vừa bằng thính giác Phương tiện ngôn ngữ của sân khấu là hành động (hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động ngôn ngữ) thông qua diễn xuất của diễn viên, thực hiện ngay trước mắt khán giả

Hành động của sân khấu là hành động kịch, hành động – xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch chứ không phải bất kỳ hành động ngẫu nhiên nào Do các hành động trong kịch phải nhất quán nhằm biểu hiện một

tư tưởng nhất định, nên lý luận kịch gọi hành động này là “hành động thống nhất”, “hành động xuyên”…

Cơ sở của sân khấu là kịch bản Đồng thời nó bao gồm cả hội họa, điêu khắc, đôi khi cả kiến trúc (với tính chất trang trí), đôi khi cả điện ảnh, âm nhạc, múa…Tính chất tổng hợp của nghệ thuật sân khấu qui định tính chất tập thể của nó: trong vở diễn có sự liên kết những nỗ lực sáng tạo của người viết kịch bản, đạo diễn, họa sĩ, nhạc sĩ, diễn viên Đứng đầu tập thể tham gia xây dựng vở diễn là người đạo diễn Đạo diễn không những lãnh đạo tập thể này

mà còn giải thích ý đồ của người viết kịch bản, biến kịch bản thành buổi biểu diễn và hướng dẫn toàn bộ quá trình biểu diễn

Trong sân khấu, “chất liệu xây dựng” hình tượng nghệ thuật là người diễn viên Ý đồ của người viết kịch bản và đạo diễn được thể hiện thông qua diễn viên Diễn viên đem lại tính sân khấu cho tất cả những gì có trên sân khấu Diễn viên vừa là người biểu diễn, vừa là người sáng tạo

Đặc điểm quan trọng của sân khấu là ở đây hành động sáng tạo (việc diễn viên xây dựng hình tượng) diễn ra ngay trước mắt người xem Nhờ vậy sân khấu có những khả năng to lớn trong việc tác động đến thế giới tinh thần của người xem Trong sân khấu, khán giả xem ngay chính bản thân quá trình sáng tạo Điều đó làm cho khoái cảm do buổi diễn gây ra có sức hấp dẫn đặc

Trang 25

biệt Người xem trở nên người cùng sáng tạo với những người tham gia buổi diễn và có tác động trở lại đối với diễn viên Điểm hạn chế của sân khấu so với điện ảnh là nó không có khả năng tăng bản buổi biểu diễn thành hàng trăm bản sao được Còn việc quay phim các tiết mục sân khấu thì sẽ làm mất

đi phần lớn đặc trưng sân khấu, trước hết là làm mất đi sự tiếp xúc sinh động giữa diễn viên và người xem, làm mất đi sự sáng tạo ngay trước mắt người xem

Ưu thế của sân khấu so với văn học ở chỗ, hành động diễn ra ngay trước mắt người xem mang tính chất trực quan, mắt nhìn thấy được So với nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc) ở tính chất động, ở việc trình bày các

sự kiện và các tính cách trong quá trình phát triển của chúng Việc thụ cảm tập thể tác phẩm sân khấu lại tăng cường thêm sức mạnh tác động tình cảm của nó

1.1.3.2 Đặc điểm sân khấu Kịch nói

Kịc nói là một thể loại thuộc loại hình nghệ thuật sân khấu Vì vậy, đặc điểm ngôn ngữ kịch mang những đặc điểm ngôn ngữ của nghệ thuật sân khấu Nghệ thuật Kịch nói được hình thành khoảng thế kỷ thứ VI và thứ V tr.cn và không ngừng phát triển ở châu Âu và nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, kịch chỉ mới làm quen với công chúng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX Gần một thế kỷ qua, Kịch nói từng bước vươn đến trình độ hiện đại, có những thành tựu nhảy vọt Kịch nói trở nên quen thuộc trong đời sống tinh thần mỗi người Việt Nam

Về phương diện sân khấu, kịch nói khác với múa ba lê, xiếc, tuồng ở chỗ, nó rất gần với đời sống Người diễn kịch nói trang điểm, ăn mặc, đi đứng, nói năng chẳng khác con người ngoài đời Người xem kịch tưởng đang chứng kiến một phần cuộc sống quanh mình Tuy nhiên, kịch nói vẫn là nghệ thuật, nên những diễn viên tồi thường gây ra ngộ nhận cho người xem: nhầm lẫn nghệ thuật và cuộc đời

Trang 26

Đặc trưng của Kịch nói, trước hết phải có kịch bản văn học, đồng thời

có thể diễn được trên sân khấu Vở kịch phải luôn chứa kịch tính Vấn đề đặt

ra trong kịch phải thật cô đọng và có sức khái quát cao, nghĩa là nó phải có giá trị biểu diễn Kịch không cho phép soạn giả, đạo diễn lộ diện trong vở kịch Mọi vấn đề trong vở diễn phải được thể hiện như chính quy luật của đời sống, qua sự nhập vai của diễn viên, chứ không thể tùy thuộc vào sự lý giải chủ quan của họ Bản thân vở kịch phải có tính hành động Kịch không cho phép thời gian chết, nhân vật thừa trên sân khấu Ngôn ngữ kịch phải ghi lại

ấn tượng sâu sắc cho người xem Chúng phải được lưu lại trong trí nhớ của

họ, sau khi vở diễn kết thúc

Kịch nói chú trọng tái hiện lại những xung đột trong đời sống xã hội, nhất là xung đột giữa các hệ ý thức đối kháng Nó phản ánh các xung đột ấy thông qua hành động và đối thoại của các nhân vật Ngay những xung đột trong bản thân ý thức một con người cũng được kịch hình tượng hóa bằng hai nhân vật: thiện và ác Lúc này, kịch chính là đời sống đã được mỹ hóa, đạo đức hóa, chuẩn hóa, xã giao hóa

1.1.4 Đặc điểm nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói

Nguồn nhân lực trong văn hóa - nghệ thuật nói chung và sân khấu Kịch nói riêng, Nó có vai trò quyết định trong thành công và sự phát triển của tổ chức nghệ thuật Vì vậy, trong bất kỳ một tổ chức nào thì vai trò của nguồn nhân lực cũng được đặt lên hàng đầu vì sự đóng góp của nguồn nhân lực cho

tổ chức đó được phát triển Các tổ chức sẽ đặt lợi ích của tổ chức mình lên hàng đầu và sẽ có kế hoạch sử sụng và khai thác nguồn nhân lực này một cách hữu hiệu nhất

Đối với công tác quản lí nhân sự của người làm nghệ thuật sân khấu không thể thực hiện máy móc như ở các tổ chức đơn vị hoạt động kinh tế, kĩ thuật… vì môi trường nghệ thuật là một môi trường mang tính “đặc thù”

Trang 27

Đặc thù đối với người học, người giảng dạy cũng như cơ sở đào tạo So với các ngành nghề khác đòi hỏi về thời gian về khổ luyện… Đặc biệt là phải

có tâm huyết, lòng đam mê mãnh liệt đối với nghề thì mới có thể bám trụ và sáng tạo

Tư chất đầu tiên và cơ bản của người nghệ sĩ là phải có một tâm hồn xúc cảm mãnh liệt Tình cảm là biểu hiện tâm lý con người nói chung Đã là một con người thì ai cũng có yêu, ghét, vui, buồn… Nhưng ở người nghệ sĩ điều này trở nên đặc biệt dễ xúc động, dễ nhạy cảm

Người nghệ sĩ thể hiện tài năng trong tác phẩm của mình họ phải có óc quan sát tinh tế để thu thập tài liệu và để xây dựng hình tượng nhân vật của mình, họ phải có trí tưởng tượng, đây là dấu hiệu quan trọng nhất của tài ba nghệ thuật là một trong những sức mạnh của quá trình sáng tạo và cảm hứng sáng tạo Đặc biệt họ phải có cá tính độc đáo, phải có khả năng sáng tạo, có tiếng nói, có giọng nói riêng được gọi là bản sắc riêng của người nghệ sĩ

Đặc tính nổi bật khác nữa đó là sự tự phát, thích thay đổi, theo đuổi những cái mới và những ý tưởng mới Họ cần nhiều hơn một công việc, họ cần một nơi có thể giúp họ phát huy tính sáng tạo thể hiện tài năng nghệ thuật

và đưa trí tưởng tượng của họ bay xa Họ không thích công việc hành chính,

họ thích tự do và không làm tốt trong một môi trường có kỷ luật chặt chẽ Họ không thích kế hoạch dài hạn và chỉ thích sống trong hiện tại, họ dễ bị tổn thương, dễ bị căng thẳng và rất cạnh tranh

Với những tư chất và đặc điểm đó, nếu quản lý quá chặt chẽ, nghệ sĩ sẽ cảm thấy căng thẳng, mất đi sự thăng hoa trong nghệ thuật Các nghệ sĩ được hoạt động thoải mái mới tự do sáng tạo được

Chịu ảnh hưởng của tư nhân từ những năm trước ngày miền Nam giải phóng Sau thời kỳ Đổi mới, bên cạnh những sân khấu được sự quản lý của Nhà nước, được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động, các sân khấu kịch xã hội hóa liên tục được thành lập và hoạt động rất hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh

Trang 28

những nghệ sĩ, diễn viên luôn khẳng định vị trí của mình qua các vai diễn thì cũng không ít những nghệ sỹ, diễn viên không trau dồi nghề nghiệp, cẩu thả trong tập luyện, biểu diễn Hậu quả là nhiều kịch bản được dàn dựng và biểu diễn không còn mang ý nghĩa cao đẹp “chân – thiện – mỹ” của nghệ thuật mà hướng khán giả đến những trò giải trí mang tính chất hù dọa (kịch ma, kịch kinh dị) hoặc chọc cười “rẻ tiền”, không mang tính định hướng, dự báo của một tác phẩm nghệ thuật chân chính

Trong cơ chế thị trường, sản phẩm văn hóa là một dạng hàng hóa đặc biệt “Về cơ bản giá cả hàng hóa trên thị trường bị quy định bởi quy luật giá trị và quy luật cung - cầu” [29, tr.30] Chính khán giả là một nguồn nhân lực quyết định để sân khấu tồn tại và phát triển, bởi không có khán giả thì không

có hoạt động biểu diễn Có khán giả, các sân khấu mới có thể tái sản xuất các

vở diễn - chủng loại hàng hóa “đặc biệt”, phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật và giải trí của công chúng

1.2 Tổng quan Nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh

1.2.1 Nguồn nhân lực sân khấu Kịch nói Sài Gòn trước năm 1975

Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy là lý thuyết rất cơ bản mà ta có thể áp dụng với việc nghiên cứu sân khấu Sài Gòn xưa Sự chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc dưới hai thể chính trị đối lập đã tạo ra hai thực trạng hoạt động sân khấu khác biệt: sân khấu của miền Bắc XHCN (bao gồm cả hoạt động của sân khấu giải phóng miền Nam) và sân khấu của vùng bị tạm chiếm miền Nam

- Về Đội ngũ sáng tạo nghệ thuật

Nếu như sân khấu Kịch nói miền Bắc đã phát triển tương đối tốt với những đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, đội ngũ tác giả, đạo diễn, diễn viên, nhạc sỹ, họa sỹ thiết kế sân khấu,… khá đồng bộ thì sân khấu kịch miền Nam hầu như chỉ dừng lại hình thức sân khấu nghiệp dư (theo nghĩa chưa có được

Trang 29

đội ngũ lành nghề chuyên nghiệp, phương thức hoạt động không thường xuyên)

Trước ngày 30/4/1975, miền Nam chưa có đoàn Kịch nói chuyên nghiệp nào, có chăng, chỉ có một số chập tấu hài, biểu diễn xen kẽ trong các chương trình ca nhạc, đại nhạc hội Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành cho rằng, sân khấu Sài gòn nói riêng, sân khấu miền Nam nói chung trước giải phóng 1975 là sân khấu độc chiếm của Cải lương, thiếu hẳn tính đa dạng, nhiều thể loại của sân khấu Việt Nam Các nghệ sĩ Kịch như: Nghệ sỹ Bảy Nam, Kim Cương,… hầu hết đều xuất thân từ các gánh hát Cải lương Đội ngũ tác giả, họa sỹ,… tập trung ở các gánh hát Cải lương như: Kim Chung, Thanh Minh – Thanh Nga,…

Kịch Sài Gòn không thể cạnh tranh cùng Cải lương Đến những năm 70 thì các ban Kịch Kim Cương, Bông Hồng… gần như không hoạt động Diễn viên phải bỏ sân khấu, chuyển sang làm nghề khác Các nghệ sĩ Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường… chuyển hẳn sang làm phim hoặc dựa vào truyền hình để sống

- Về Mô hình quản lý

Trước năm 1975, Nhà nước thuộc địa quản lý văn hóa nghệ thuật bằng

luật pháp như: là luật hành nghề Các gánh hát khi thành lập, phải có giấy phép của Bộ Thông tin Sài Gòn cấp Ở đây, có sự tập trung về quản lý tổ chức và nhân sự các gánh hát, không phân cấp cho các tỉnh Toàn bộ các gánh hát Cải

lương miền Nam lúc bấy giờ, coi như là của Sài Gòn

Luật kiểm duyệt Mỗi tuồng hát cho đến khi được công diễn, phải có hai loại

giấy phép Một, giấy phép cho dàn dựng kịch bản văn học Hai, giấy phép cho công diễn tuồng hát Giấy phép do Hội đồng kiểm duyệt của Bộ Thông tin cấp Ty Thông tin các tỉnh chỉ có việc theo dõi, kiểm tra giấy phép khi thực hiện

Trang 30

Luật thuế má Mỗi gánh hát phải chịu biết bao thứ thuế: nào là thuế môn bài,

thuế quảng cáo, thuế du hí (còn gọi là thuế soi lỗ) đánh vào mỗi vé bán xem

hát v.v… chưa kể thuế lợi tức đánh vào bầu gánh và diễn viên có thu nhập

cao

… Lại có một sắc luật khác, đáng được nghiên cứu, đó là luật lao động, qua

những hợp đồng (contract) ký giữa bầu gánh và diễn viên, đặc biệt những diễn viên ngôi sao Nội dung hợp đồng có những khoản nhằm cam kết với

nhau: Một, thời hạn hợp tác lao động (thông thường 18 tháng) Hai, về tiền

thưởng xứng đáng, đương sự được hưởng khi hết hợp đồng Ba, về trường hợp vi phạm hợp đồng, thì tòa án giải quyết, v.v… [42, tr.148 - 149]

Nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng nhận xét thêm rằng, cách quản lý bằng luật pháp của chế độ cũ có bài bản, có sự phân công, phân cấp khá rạch ròi Nếu gánh hát vi phạm về tuồng tích, thì cơ quan Thông tin xử lý Trường hợp vi phạm về thuế, thì cơ quan Thuế xử lý Còn nếu vi phạm về hợp đồng lao động thì Tòa án giải quyết, sau khi hòa giải không xong

Việc quản lý hoạt động biểu diễn bằng luật pháp của chính quyền Sài Gòn đã ổn định sân khấu về nhân sự cũng như hoạt động sân khấu Đối với phương thức quản lý bằng luật pháp này, vai trò cá nhân quyết định sự tồn tại

và hoạt động của một đơn vị nghệ thuật Cá nhân làm trưởng đoàn (bầu gánh)

có nhiều tiền, có tài sản thế chấp theo luật phá sản, mời được soạn giả có uy tín cộng thêm diễn viên ngôi sao sẽ hình thành đoàn đại ban Dưới đại ban là trung ban, dưới nữa là tiểu ban Rõ ràng ở đây không có sự tài trợ của Nhà nước

Với mô hình quản lý tư nhân, NSND Ba Vân đã có sự đánh giá về các thực trạng tốt xấu của bầu chủ gánh hát Cải lương trong giai đoạn này Theo ông, nghệ sĩ được tôn trọng khi người bầu chủ có tâm, bằng ngược lại thì nghệ sĩ phải chịu cảnh chủ - tớ và tính chất bóc lột, áp chế “Bầu hồi ấy đều là những người nghề nổi tiếng, dạy một số người mới vào nghề, rồi kiếm thêm

Trang 31

vài ba bạn cũ mà lập gánh Đi hát được bao nhiêu, trừ chi phí ăn nhậu, còn lại đem chia cho mọi người theo mức nghề Những bầu bì sau này, thì tuy cũng lắm người giỏi nghề đấy, nhưng đối xử với nghệ sĩ, thì cũng chẳng khác hội đồng Thăng “chăn dắt” tá điền của hắn” [26, tr.52-53]

1.2.2 Nguồn nhân lực sân khấu Kịch Tp Hồ Chí Minh sau năm

1975

Từ năm 1975, nghệ thuật Cải lương và nghệ thuật Kịch nói phát triển rất thuận lợi Sau 30 năm chiến tranh gian khổ kéo dài, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất nhưng còn vô số những vấn đề cả khó khăn lẫn thuận lợi trong cuộc sống

Trong điều kiện mới, toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, sân khấu Kịch nói Thành phố đã từng ngày chuyển mình, xây dựng một nền sân khấu mới chính quy, chuyên nghiệp Đoàn Kịch nói Kim Cương và Đoàn Kịch nói Bông Hồng được thành lập Đoàn kịch Nam Bộ với những nghệ sĩ được đào tạo chính quy, trải qua hai mốt năm rèn luyện tay nghề vững vàng trên đất Bắc, nay trở về, xây dựng hậu cứ lại Tp Hồ Chí Minh đã gây cho khán giả sự ngỡ ngàng, rồi thán phục, yêu mến với những vở diễn hay Những đợt lưu diễn của các đoàn kịch nói miền Bắc, đặc biệt là Nhà hát kịch Trung Ương, đã làm công chúng thêm yêu mến bộ môn Kịch nói còn “mới mẻ” đối với người dân Thành phố

Chỉ hai năm sau ngày giải phóng, cùng với sự có mặt của lực lượng sáng tạo chuyên nghiệp, chính quy của Đoàn kịch Cửu Long Giang và một số đoàn nghệ thuật Kịch nói Miền Bắc vào lưu diễn với phong cách nghệ thuật nghiêm túc, sáng tạo, đã gây được ảnh hưởng tích cực và có tác động tích cực đến sự phát triển của sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh Từ những bước đi chập chững ban đầu đó, thông qua việc học hỏi được rút đúc từ kinh nghiệm thực tế của các nghệ sĩ miền Bắc, các nghệ sĩ miền Nam đã có những bước

Trang 32

phát triển vượt trội, để trở thành một trong hai trung tâm lớn của sân khấu Kịch nói chuyên nghiệp toàn quốc

- Về Nguồn nhân lực sáng tạo

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Sự ảnh hưởng của nền sân khấu Pháp đã cho ra đời hai kịch chủng mới

ở Việt Nam, đó là nghệ thuật Kịch nói, phát triển rất mạnh mẽ từ ngày đầu hình thành tại miền Bắc và nghệ thuật Cải lương, phát triển rất mạnh mẽ ở Nam Bộ Tuy nhiên, cho đến giai đoạn này, không ít nhà nghiên cứu sân khấu

đã phải thốt lên rằng, trung tâm sân khấu Kịch nói đã chuyển dịch vào phía Nam

Sau ngày thống nhất đất nước, Trường Nghệ thuật Sân khấu II tại Tp

Hồ Chí Minh vốn là một bộ phận của trường Quốc Gia âm nhạc và Kịch nghệ

cũ tách ra (từ năm 1976) được thành lập, làm công tác đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo cho Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TPHCM hiện đang có 3 phó giáo

sư chuyên ngành nghệ thuật, 3 tiến sĩ, 3 nghiên cứu sinh, 14 thạc sĩ, 5 giảng viên đang theo học cao học và một số chuyên gia là các NSND, NSƯT, các nghệ nhân dân gian, chuyên gia nghiên cứu, hoạt động chuyên ngành nghệ thuật sân khấu điện ảnh trực tiếp tham gia giảng dạy [2]

Nguyên Hiệu trưởng nhà trường Phan Thị Bích Hà cho biết rằng nhà trường hiện đang đào tạo khoảng 500 sinh viên theo học hệ trung cấp, cao đẳng và đại học Về lực lượng giảng viên, nhà trường đang thiếu Mặt khác, trường là đơn vị đào tạo nghệ thuật có yếu tố đặc thù nên sinh viên cần phải

có nhiều không gian hơn như không gian sân khấu để sáng tạo, nhà hát thể nghiệm… phục vụ giảng dạy, mà cơ sở hiện nay chưa đáp ứng được

Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Tp HCM, ngoài những hạng mục có tính phục vụ chung như hội trường, giảng đường, phòng học, thư viện, trung tâm học liệu, ký túc xá… thì những hạng mục cần có để phục vụ đào tạo

Trang 33

ngành nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, mỹ thuật như xưởng may, xưởng vẽ, phòng triển lãm, phòng trưng bày, sân khấu đa năng, sân khấu chuyên ngành nhạc, kịch… thì trường chưa đạt chuẩn Để đáp ứng nhu cầu đào tạo khoảng 1.400 sinh viên như hiện nay, nhà trường phải cần thêm trên 40 giảng viên để

bổ sung vào số định biên ít ỏi 70 người hiện tại [2]

Trong sự nghiệp phát triển rực rỡ của sân khấu phía Nam, không thể không kể đến công lao của những nghệ sĩ đạo diễn như: Ngô Y Linh, Đoàn

Bá, Trần Minh Ngọc… Các đạo diễn được đào tạo ở các nước Xã hội chủ nghĩa và Liên Xô (cũ) cùng các nghệ sỹ đã đem đến một dáng vẻ mới cho nền sân khấu Thành phố Hiện nay, NGƯT – Đạo diễn Trần Minh Ngọc ngoài công tác dàn dựng, ông vẫn tiếp tục tham gia công tác đào tạo tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp Hồ Chí Minh

Như vậy, trong quá trình hội nhập, công chúng Tp Hồ Chí Minh khi

được tiếp nhận, hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn từ nhiều nguồn phong phú,

chất lượng Với đặc điểm là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước, Tp Hồ

Chí Minh là địa phương có hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ cộng đồng mang tính hệ thống và tính chuyên nghiệp cao Vì vậy, đây là môi trường rất thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực biểu diễn nghệ thuật Xã hội hóa là sự cần thiết cho sự phát triển nghệ thuật, đồng thời cũng góp phần giải quyết đời sống vật chất cho những người lao động sáng tạo nghệ thuật

1.2.3 Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật

1.2.3.1 Nhiệm vụ và chức năng

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần IX, ngày 14 tháng 5 năm 2011 Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND kèm theo Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX về Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Thành phố Hồ Chí Minh Giai đoạn 2011-2015 Trong đó,

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được phân công chủ trì xây dựng kế hoạch

Trang 34

thực hiện Chương trình nâng cao chất lượng, phát hiện bồi dưỡng năng khiếu, nhân tài lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, thể dục – thể thao Ngày 13 tháng 6 năm 2011, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 2831/SVHTTDL-KH hướng dẫn việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX, giai đoạn 2011-2015 Trong đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tập trung vào định hướng tăng cường phát hiện, tuyển chọn, đào tạo tài năng trên các lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, thể dục thể thao, song song với việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn Trên cơ sở đó, xây dựng lực lượng này trở thành những chuyên gia ở các lĩnh vực trên, góp phần thực hiện tốt định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà, bản sắc dân tộc

1.2.3.2 Nguồn nhân lực của Sở Văn hóa –Thể thao Tp Hồ Chí Minh

- Về nhân sự

Hàng năm, để đáp ứng yêu cầu công tác, Sở đều có kế hoạch tuyển chọn nhân sự phục vụ cho sự phát triển của ngành Tuy nhiên, số lượng và chất lượng đội ngũ làm công tác quản lý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc Với số lượng 13 người, trong đó có 1 thạc sĩ, 2 người đang học thạc sĩ

và 10 người là cử nhân Qua khảo sát tại Sở văn hóa – Thể thao Tp Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu cho thấy: đa số ý kiến cho rằng số lượng biên chế

so với yêu cầu công việc chỉ đáp ứng ở mức bình thường (43,8%), số ý kiến đánh giá ở mức ít hợp lý tương ứng (19,4% và 16%), số ý kiến đánh giá mức

“rất hợp lý” chiếm tỉ lệ không đáng kể (1,8%) [23, tr 92]

- Về Cơ sở vật chất

Điều kiện việc làm (bao gồm phòng làm việc và phương tiện làm việc) chưa được tốt Những yếu tố trên tuy không phải là điều kiện tiên quyết quyết định đến hiệu lực và chất lượng quản lý Nhà nước đối với NTBD, nhưng nó

Trang 35

cũng được xem là điều kiện quan trọng góp phần thành công chung của hoạt động này

- Về Kinh phí

Một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và tiên quyết đến chất lượng hoạt động của bộ máy là nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ hằng năm của tổ chức

Quá trình hội nhập kinh tế thay đổi quan hệ sản xuất, tạo dựng nền kinh

tế phồn vinh, là cơ hội phát triển nghệ thuật Đây là một tâm điểm tạo ra những thuận lợi phát triển nghệ thuật, có tác động rất lớn đến sân khấu Thành phố nói chung và sân khấu Kịch nói, nói riêng

Mỗi đơn vị sân khấu đứng lên trước nền kinh tế hàng hóa, tìm cơ chế tiêu thụ các trào lưu nghệ thuật toàn cầu, dẫn đến đổi mới nền sân khấu nước ta từ bao cấp tuyên truyền, chuyển sang nghệ thuật giải trí, thành sản phẩm hàng hóa tiêu thụ ngoài thị trường Hội nhập quốc tế dẫn đến những đặc điểm sân khấu giải trí, tự do sáng tác, ra đời sân khấu nghệ thuật thị trường [10, tr.43]

Tác động các trào lưu nghệ thuật toàn cầu, dẫn đến đổi mới nền sân khấu nước ta từ bao cấp tuyên truyền, chuyển sang nghệ thuật giải trí, thành sản phẩm hàng hóa tiêu thụ ngoài thị trường Hội nhập mang đến cơ hội thách thức nghệ sĩ rộng đường sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm phản ảnh đa chiều tâm

tư, khát vọng con người xã hội đương đại; hướng đến xây dựng nền sân khấu Việt Nam: Đa sắc màu, dân tộc và thời đại

Tóm lại, cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn vẫn chưa thật hợp lý, vì nội dung quản lý nhiều nhưng số lượng biên chế ít Bên cạnh đó, nguồn kinh phí cho hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế Chính vì những nguyên nhân trên đã làm hạn chế hoạt động quản lý trên địa bàn Thành phố thời gian qua

Trang 36

Tiểu kết

Kịch nói là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam Tuy Kịch nói là bộ môn “sinh sau đẻ muộn” hơn đối với loại hình nghê thuật khác như Chèo, Tuồng… nhưng vẫn có sức hút mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố mang hơi thở thời đại, gần gũi cuộc sống nhân dân, cho nên được đón nhận mạnh mẽ trong một thời gian khá dài Tuy nhiên hiện nay cũng như nhiêu loại hình bộ môn nghệ thuật truyền thống Kịch nói đang đứng trước khủng hoảng theo từng giai đoạn, đòi hỏi các nhà quản lý cùng chung tay vực dậy loại hình nghệ thuật này, để làm tốt được điều này đòi hỏi các ngành chức năng, nhà quản lý có các mô hình đổi mới, bước đột phá ngoạn mục… mới mong vực

dậy nghệ thuật này

Các nhà quản lý văn hóa của chúng ta từ trước tới nay thực chất làm quản lý về phương diện Nhà nước, chứ không phải là những nhà quản lý có chuyên môn đúng với nghĩa như quản lý là một ngành kinh tế đặc thù Vì thế, nhu cầu cấp bách hiện nay của nước ta, của ngành văn hóa là phải đào tạo những nhà quản lý văn hóa nghệ thuật vừa am hiểu lĩnh vực này, vừa có kỹ năng quản lý kinh tế trong cơ chế thị trường

Quản lý văn hóa - nghệ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng lâu dài cho sự phát triển văn hóa của một quốc gia Và quản lý nói chung, quản lý văn hóa nói riêng là một khoa học, không thể không dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động Xét ở bình diện vi mô, những định hướng đúng đắn của quản lý văn hóa trong đó có lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn sẽ giúp cho các hoạt động văn hóa ở địa phương, các vùng trở nên thuận tiện hơn, tránh sự lúng túng, tùy tiện trong việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC SÂN KHẤU KỊCH TP HỒ CHÍ MINH

Từ ngày đất nước thống nhất, lực lượng văn nghệ sĩ ngày càng đông đảo góp phần tạo nên bề nổi của thành phố và cả nước Lực lượng này đã có những đóng góp không nhỏ trong việc nâng cao trình độ dân trí Nghệ thuật

có định hướng với chủ trương đường lối đúng đắn nhằm phục vụ nhân sinh, ngày càng nở rộ ra thêm nhiều điểm diễn, hàng đêm phục vụ rộng rãi cho công chúng Sân khấu Kịch nói đã và đang góp phần không nhỏ tạo dựng một diện mạo đa dạng trong hoạt động nghệ thuật nói chung Nhưng kể từ thập niên đầu thế kỷ XXI, hoạt động nghệ thuật nói chung lại đối mặt với một thực trạng: khán giả dần đánh mất lòng tin trước những sản phẩm nghệ thuật lại thiếu nghệ thuật, những giá trị giáo dục thẩm mỹ lại thiếu thẩm mỹ

2.1 Nguồn nhân lực sáng tạo

Tp Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực văn hóa – nghệ thuật lớn thứ hai trong cả nước sau Tp Hà Nội Chính từ nơi đây, nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn được lan tỏa đi khắp đất nước, bổ sung vào các đoàn nghệ thuật cho các tỉnh

2.1.1 Tác giả

Trước hết không có tác giả thì không có kịch bản và không có kịch bản thì không có nghệ thuật sân khấu Tuy nhiên, tại Tp Hồ Chí Minh, nhiều năm qua số lượng tác giả không nhiều và không được đào tạo bài bản Một vấn đề khác quan trọng không kém, đó là một khi có kịch bản hay thì mới có đạo diễn giỏi, diễn vên giỏi

Theo báo cáo tổng kết hoạt động 5 năm (2005 -2010) của Chi hội tác giả thuộc Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, chi hội có khoảng 50 hội

Trang 38

viên, gần một nửa trong số đó vẫn đang viết kịch bản văn học và sống bằng nghề viết kịch bản Như vậy, sau một thời gian xây dựng và phát triển, sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nên cho mình đội ngũ những người viết kịch bản chuyên nghiệp Nhiều tác giả thường xuyên có kịch bản văn học được dàn dựng tại một sân khấu kịch cụ thể Tên tuổi của tác giả gắn liền với sân khấu kịch đấy như Lê Duy Hạnh với Sân khấu nhỏ, Lê Hoàng,

Mỹ Dung với Sân khấu kịch Idecaf, Lê Chí Trung với sân khấu kịch Hồng Vân, Nguyễn Thị Minh Ngọc với sân khấu Hoàng Thái Thanh, Bùi Quốc Bảo với Sân khấu kịch Thế giới trẻ… Tác giả Vương Huyền Cơ có nhiều kịch bản văn học được thường xuyên dàn dựng trên nhiều sân khấu kịch nói khác nhau hay Hoàng Thái Thanh và Tâm Ngọc có nhiều kịch bản văn học được dàn dựng trên chính sân khấu kịch nói do mình thành lập và điều hành

Số lượng các kịch bản văn học đã được dựng thành vở diễn từ 1997 đến nay, tính riêng ở Sân khấu nhỏ, Sân khấu kịch Idecaf, Sân khấu kịch Hồng Vân, Sân khấu kịch Sài Gòn và Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh là hơn 150 tác phẩm, với các thể loại phong phú từ hài kịch, bi kịch đến chính kịch Đề tài của kịch khá phong phú: từ các vấn đề lịch sử, những vấn đề thời sự đặt ra trong cuộc sống cho đến những vấn đề mang tính triết lý liên quan đến tình yêu, hôn nhân, gia đình Riêng từ năm 2005 đến 2010, số lượng kịch bản văn học thu được từ các trại sáng tác thường niên do Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức là 84 kịch bản Và từ năm 2011-2013, số kịch bản tham gia trại sáng tác do Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đã trên 65 kịch bản

Hiện nay, Hội Sân khấu Tp HCM có gần 200 tác giả nhưng rất ít vở được diễn, được dựng [4]

Hai phần ba nguồn kịch bản cũ được sử dụng lại trong những tháng đầu năm 2016 đã cho thấy sân khấu Kịch và Cải lương đang đứng trước thực trạng khan hiếm kịch bản nghiêm trọng Thực tế cho thấy sân khấu đang rơi

Trang 39

vào tình trạng khủng hoảng tác giả chuyên nghiệp Chọn kịch bản cũ để dựng lại và công diễn trong thời gian qua của các sàn diễn sân khấu chỉ là giải pháp tình thế khi nguồn kịch bản thu hút khách của sân khấu xã hội hóa đang khan hiếm Ông bầu Huỳnh Anh Tuấn của Sân khấu Idecaf nhấn mạnh:

“Trước hết, tên kịch bản cũ đã là thương hiệu, như “Người mua hạnh phúc” của NSND Kim Cương, “Bông hồng cài áo” của Hoàng Khâm - Kim

Cương… đã tạo sự chú ý đối với khán giả và họ đã đón nhận nhiệt tình qua hai tác phẩm dựng mới này của đạo diễn Vũ Minh Việc chọn lại vở cũ:

“Phép lạ” và “Cướp dâu” để tái diễn đầu năm, cũng là hai vở cũ bảo đảm

doanh thu, tạo sự an toàn trong việc tái sản xuất khi có nguồn doanh thu của

số lượng khán giả trẻ yêu thích thương hiệu kịch Idecaf Tuy nhiên theo tôi,

đó chỉ là giải pháp tạm thời, mỗi sân khấu xã hội hóa không thể tự đánh mất phương hướng của riêng mình, mà phải tìm nguồn kịch bản để khẳng định phong cách thông qua tác phẩm” [PL.1, BB.5]

Như vậy, nghệ thuật biên kịch Việt Nam nói chung và biên kịch Tp Hồ Chí Minh nói riêng suốt nhiều năm qua đã vô cùng non yếu, cho dù hiện nay một vài tác phẩm của các sân khấu xã hội hóa dự thi liên hoan, dự thi sáng tác

có giải thưởng… thì tác phẩm đó vẫn chưa đạt chất lượng cao Nghệ thuật góp phần hình thành nhân cách và giá trị nhân văn Văn hóa là động lực phát triển kinh tế - xã hội Muốn làm được điều này, tác phẩm sân khấu phải bắt đầu từ khâu sáng tác kịch bản, bởi “Có bột mới gột nên hồ”

2.1.2 Đạo diễn

Có hàng trăm đạo diễn được đào tạo chính quy và trải rộng khắp các đơn vị nghệ thuật (có nhà hát tập trung 5 – 6 đạo diễn, tuy nhiên, hoạt động có

hiệu quả trên thực tế cũng chỉ có vẻn vẹn vài đạo diễn “cây đa, cây đề” Đạo

diễn là là thành phần thứ tư của nghệ thuật sân khấu – một quyền lực lớn lao: quyết định mọi thành bại của vở diễn, tuy nhiên trong những năm gần đây vẫn chưa có tác phẩm lớn [45, tr.81] Các tác phẩm được dàn dựng ít có tính đột

Trang 40

phá Thời gian gần đây các sân khấu Kịch nói ở Tp Hồ Chí Minh, đã xuất hiện một số đạo diễn trẻ như: Nguyễn Khắc Duy, Phan Nhật Phi Long, Bùi Quốc Bảo, Trần Kim Khôi,… nhưng chưa đủ bản lĩnh để tạo ra sự bức phá trong nghệ thuật

Khi phương tiện kỹ thuật dành cho sân khấu chưa đầy đủ, chưa cao, nhiều đạo diễn trẻ cứ loay hoay và không dám có những ý nghĩ táo bạo trong dàn dựng Hầu hết các đạo diễn cho biết khi bắt tay thực hiện tác phẩm, thủ pháp nghệ thuật được hoạch định trước đó gần như phải bị kéo xuống một bậc Điều kiện thực tế của sân khấu hiện nay không cho phép người sáng tạo thăng hoa về ý tưởng Chính vì thế, sân khấu Kịch nói Tp Hồ Chí Minh, các

vở diễn nội dung đơn giản, dễ hiểu phần lớn các kịch bản được chuyển thể từ các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, hoặc từ các vở Cải lương đã một thời thu hút rất đông khán giả trước đây như: Nửa đời hương phấn, … Các kịch bản mới vừa thiếu lại vừa yếu, phần lớn được sáng tác và dàn dựng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí vui vẻ của khán giả

Hằng năm, lực lượng đạo diễn sân khấu trẻ tốt nghiệp ra trường rất đông nhưng sự đào thải khắc nghiệt của thị trường đã khiến họ chùn bước Lực lượng đạo diễn trẻ có được vị trí hiện nay là nhờ nỗ lực để bám trụ với nghề, tương tác với thị trường sân khấu để tồn tại Theo NSND Trần Ngọc Giàu, ngay cả một số người trụ lại được với nghề vẫn còn thiếu sự táo bạo, thấy đề tài dễ ăn khách là chạy theo, quên xây dựng cho mình những phong cách riêng “Hiện nay, đạo diễn sân khấu chỉ cần dựng vở ma quỷ, đồng tính, gây sốc với phát ngôn trên các diễn đàn là lập tức có số đông khán giả hiếu kỳ đến xem Song, nếu chỉ vin vào số lượng vé bán được, mải mê chạy theo đề tài ăn khách, không dám làm những gì đúng nghĩa chất lượng sáng tạo thì nghề đạo diễn sân khấu đối với họ sẽ là bi kịch” [PL.1, BB.4]

Ngày đăng: 16/11/2023, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Diệu Anh (1998), Cải lương và Kịch nói trong bối cảnh Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải lương và Kịch nói trong bối cảnh Nam Bộ
Tác giả: Bùi Diệu Anh
Năm: 1998
2. Minh An, “Đào tạo văn hóa nghệ thuật chƣa xứng tầm”, Báo Sài Gòn Online ngày 11/4/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo văn hóa nghệ thuật chƣa xứng tầm
3. Nguyến Hòa An, “ Diễn viên Kịch nói trên sân khấu Tp. Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 378 tháng 12/2015, tr.62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn viên Kịch nói trên sân khấu Tp. Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay”
4. Thúy Bình, “Sân khấu xã hội hóa – không thể khoán trắng cho bầu sô”, Báo Sài Gòn Online, ngày 29/8/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu xã hội hóa – không thể khoán trắng cho bầu sô
5. Đăng Chương (2001), “Sân khấu đang khủng hoảng đội ngũ sáng tạo”, Tạp chí Sân khấu, tháng 1, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu đang khủng hoảng đội ngũ sáng tạo”
Tác giả: Đăng Chương
Năm: 2001
6. Duelunch, Peter (2003), The Nordic Cultural Model. Mô hình chính sách của các nước Bắc Âu. Copenhagen: Viện nghiên cứu văn hóa Bắc Âu Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Nordic Cultural Model
Tác giả: Duelunch, Peter
Năm: 2003
7. Devid Begg, Standley Fisher (2008), Kinh tế học, Đại học kinh tế Quốc dân dịch và giới thiệu, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học, Đại học kinh tế Quốc dân dịch và giới thiệu
Tác giả: Devid Begg, Standley Fisher
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
8. ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Chính trị - Quốc gia Hà nội tr,13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị - Quốc gia Hà nội tr
9. Tuấn Giang (2010), Những gương mặt sân khấu Việt Nam đương đại, Nxb Sân khấu Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những gương mặt sân khấu Việt Nam đương đại
Tác giả: Tuấn Giang
Nhà XB: Nxb Sân khấu Hà Nội
Năm: 2010
10. Tuấn Giang (2015), Đặc điểm nghệ thuật sân khấu thời hội nhập quốc tế, Tạp chí Sân khấu tháng 12/2015, tr.43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghệ thuật sân khấu thời hội nhập quốc tế
Tác giả: Tuấn Giang
Năm: 2015
11. Phan Hồng Giang - Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập, Nxb Chính trị - Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa Việt nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập
Tác giả: Phan Hồng Giang - Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị - Quốc gia
Năm: 2012
12. Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, Cải lương, Thoại kịch, Bản roneo của Thanh – Trung thƣ xã Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát bội, Cải lương, Thoại kịch
13. Mai Văn Khuê, (2003), Lý luận quản lý nhà nước, Nxb Hà Nội, tr.68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà nước
Tác giả: Mai Văn Khuê
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2003
14. Lê Nhƣ Hoa (chủ biên) (1996), Xã hội hóa hoạt động văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa hoạt động văn hóa
Tác giả: Lê Nhƣ Hoa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1996
15. Hostman, Jean. USA/origina/research (1997), “Nghiên cứu về chính sách văn hóa Mỹ”, biên tập bởi Rob Fisher và Anne. Cockitt. London: Hội đồng Nghệ thuật Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu về chính sách văn hóa Mỹ
Tác giả: Hostman, Jean. USA/origina/research
Năm: 1997
16. Trần Hoàn (chủ biên), (2000), Xã hội hóa hoạt động văn hóa: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Ban tư tưởng- Văn hóa Trung ương xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa hoạt động văn hóa: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Hoàn (chủ biên)
Năm: 2000
17. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Ngân Hoa, “Xã hội hóa biểu diễn tới đâu”, Báo Người lao động (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xã hội hóa biểu diễn tới đâu”
19. Đỗ Hương - Minh Ngọc (2007), Sân khấu TP. Hồ Chí Minh, Nxb TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Hương - Minh Ngọc
Nhà XB: Nxb TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2007
60. Website: http://vietnamnet.vn/Lỗ hổng trong quản lý nghệ thuật, 22/03/2014 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ NGUỒN NHÂN LỰC SÂN KHẤU KỊCH NÓI TP. - Luận văn quản lý nguồn nhân lực sân khấu kịch ở thành phố hồ chí minh
BẢNG THỐNG KÊ NGUỒN NHÂN LỰC SÂN KHẤU KỊCH NÓI TP (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w