1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố cao lãnh đồng tháp

126 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Quản Lý Lễ Hội Truyền Thống Ở Thành Phố Cao Lãnh Đồng Tháp
Trường học trường đại học
Chuyên ngành quản lý văn hóa
Thể loại luận văn
Thành phố Cao Lãnh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi lễ hội truyền thống đều được tổ chức ở một không gian nhất định, có thể là Đình, Đền, Lăng, Miếu..., gắn với một lịch sử nhất định, với tên tuổi của đối tượng nhân dân lịch sử được t

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3.1 Một số công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về lễ hội và quản lý lễ hội 4

3.2 Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lịch sử - văn hóa ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu 10

4.2.1 Không gian 10

4.2.2 Thời gian 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 11

6.1 Giả thuyết nghiên cứu 11

6.2 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12

7.1 Ý nghĩa khoa học 12

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

8 Cấu trúc đề tài 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1.Khái niệm Quản lý 14

1.1.2 Khái niệm và nội dung quản lý Nhà nước về văn hóa 15

1.1.2.1 Khái niệm 15

1.1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa 16

1.1.3 Khái niệm lễ hội và lễ hội truyền thống 17

Trang 2

1.1.4 Khái niệm và nội dung quản lý lễ hội truyền thống 19

1.1.4.1 Khái niệm 19

1.1.4.2 Nội dung cơ bản của quản lý lễ hội 19

1.1.5 Ý nghĩa và giá trị lễ hội truyền thống trong xã hội 22

1.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 24

1.2.1 Khái quát về thành phố Cao Lãnh 24

1.2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên 24

1.2.1.2 Đặc điểm dân cư 26

1.2.1.3 Đặc điểm tình hình kinh tế 26

1.2.1.4 Đặc điểm văn hóa - xã hội 26

1.2.2 Lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 28

1.2.2.1 Thống kê lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 28

1.2.2.2 Phân loại lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 31

1.2.2.3 Vai trò lễ hội truyền thống đối với thành phố Cao Lãnh 32

1.2.2.4 Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở thành phố Cao Lãnh 33

Tiểu kết chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH 43

2.1 Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân sự và cơ chế quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 43

2.1.1 Tổ chức bộ máy quản lý lễ hội 43

2.1.1.1 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp 43

2.1.1.2 Phòng Văn hoá - Thông tin thành phố Cao Lãnh 43

2.1.1.3 Cán bộ Văn hoá - Thông tin xã/phường 44

2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự Ban quản lý và Ban tổ chức lễ hội 45

2.1.2.1 Ban quản lý Di tích lịch sử - văn hóa 45

2.1.2.2 Ban tổ chức và các tiểu ban tổ chức lễ hội 47

2.1.3 Cơ chế quản lý lễ hội 49

2.1.3.1 Cơ chế quản lý nhà nước 49

2.1.3.2 Hoạt động tự quản của cộng đồng 51

2.2 Hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 53

Trang 3

2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo 53

2.2.2 Quản lý chuyên môn nghiệp vụ bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội 55

2.2.2.1 Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý lễ hội truyền thống, ý nghĩa của lễ hội truyền thống 55

2.2.2.2 Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội 57

2.2.3 Quản lý nguồn lực tổ chức lễ hội 61

2.2.3.1 Quản lý nguồn nhân lực 61

2.2.3.2 Quản lý nguồn tài chính 63

2.2.4 Đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh, phòng chống cháy nổ 64

2.2.4.1 Quản lý các hoạt động dịch vụ 64

2.2.4.2 Công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm 65

2.2.4.3 Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ 67

2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng 68

2.2.6 Cộng đồng trong tổ chức và quản lý lễ hội 69

2.2.6.1 Sự tham gia của cộng đồng trong tổ chức lễ hội 69

2.2.6.2 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý lễ hội 73

2.3 Đánh giá việc quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 74

2.3.1 Những ưu điểm 75

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 79

2.3.2.1 Một số hạn chế 79

2.3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 82

Tiểu kết chương 2 84

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH 85

3.1 Định hướng quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh 85

3.1.1 Định hướng chiến lược quản lý di sản văn hóa (lễ hội truyền thống) 85

3.1.2 Định hướng mục đích quản lý lễ hội 87

3.1.3 Định hướng nguồn lực quản lý lễ hội 88

3.1.4 Định hướng tiêu chí lựa chọn lễ hội để phát triển 89

3.1.5 Định hướng các sản phẩm thuyết minh cho lễ hội 90

Trang 4

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao

Lãnh 92

3.2.1 Giải pháp tăng cường nhận thức về vai trò và giá trị lễ hội truyền thống 92

3.2.2 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý lễ hội truyền thống 95

3.2.3 Giải pháp đầu tư nguồn lực bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống98 3.2.3.1 Nâng cao vai trò Ban quản lý di tích và Ban tổ chức lễ hội 98

3.2.3.2 Tiếp tục thực hiện công tác trùng tu, tôn tạo các di tích, giữ gìn không gian văn hóa của lễ hội 99

3.2.3.3 Đào tạo nguồn nhân lực 101

3.2.3.4 Đầu tư tài chính cho lễ hội truyền thống 103

3.2.4 Giải pháp phát huy vai trò của cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống 104

3.2.5 Giải pháp khai thác các giá trị lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế - du lịch địa phương 107

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 121

PHỤ LỤC 122

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử văn hoá (LSVH) có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng; trong lễ hội chứa đựng cả tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và văn nghệ dân gian, đó là tất cả những gì thể hiện truyền thống tốt đẹp, những kỹ năng, kỹ xảo và trí tuệ của người Việt được lưu giữ, trao truyền từ nghìn đời xưa cho đến ngày nay Mỗi lễ hội truyền thống đều được tổ chức ở một không gian nhất định, có thể là Đình, Đền, Lăng, Miếu , gắn với một lịch sử nhất định, với tên tuổi của đối tượng nhân dân lịch sử được tôn vinh, thờ tự; có thể đó là một vị tiên thánh bất tử có trong tâm thức, tín ngưỡng của nhân dân hoặc đó có thể là một nhân thần có công đánh giặc, khai canh

lập ấp, tổ truyền nghề… Lễ hội là nơi hình thành truyền thống dân tộc “Uống nước

nhớ nguồn”, cũng là môi trường lưu giữ và giáo dục cho các thế hệ kế tiếp những

giá trị văn hóa mà cha ông ta đã sáng tạo, để mãi được trường tồn cho muôn đời sau Chính vì thế Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã khẳng định: “Di sản văn hóa (DSVH) (trong đó có lễ hội) là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” [20, tr.58]

Lễ hội không chỉ có ý nghĩa trong nền văn hóa xưa mà còn ý nghĩa hơn trong nền văn hóa xã hội đương đại Lễ hội mang lại những giá trị văn hoá to lớn có ý nghĩa giáo dục quần chúng về ý thức cộng đồng, về cội nguồn, về truyền thống yêu nước cũng như những quá khứ hào hùng của dân tộc và các nhân vật lịch sử cùng nhiều giá trị nhân văn khác Bên cạnh đó, lễ hội hiện nay còn là đòn bẩy kích cầu cho các hoạt động văn hoá và du lịch Thông qua việc tổ chức lễ hội truyền thống,

du lịch tín ngưỡng tâm linh được phát triển mạnh mẽ, làm tăng nguồn thu về nhiều mặt cho địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu giao lưu, hội nhập văn hóa giữa các vùng miền trong nước và quốc tế

Trang 6

1.2 Lễ hội truyền thống là DSVH phi vật thể, là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hoá dân tộc, do đó lễ hội truyền thống là một đối tượng nghiên cứu mà việc tiếp cận nó sẽ giải quyết được những vấn đề lý luận, lịch sử, văn hoá Nghiên cứu lễ hội truyền thống không những giải đáp được những câu hỏi liên quan đến những vấn đề của bản thân lễ hội truyền thống, mà trên cơ sở đó có thể nhận định, đánh giá, đưa ra các giải pháp phù hợp để thực hiện tốt quản lý và tổ chức lễ hội, thực hiện tốt việc bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội truyền thống với tư cách là một DSVH phi vật thể, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.3 Thành phố Cao Lãnh là trung tinh tâm kinh tế, chính trị, văn hóa; là nơi hội tụ và lan tỏa nhiều giá trị văn hóa của vùng đất Đồng Tháp từ xa xưa, có lẽ vì thế mặc dù là vùng đất “bưng biền” mới hình thành trong hơn 300 năm lịch sử mở cõi nhưng thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp cũng có khá nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc mang sắc thái riêng của vùng miền, của công cuộc thời khai hoang mở cõi

và chống ngoại xâm Đây chính là tiềm năng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, là động lực phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội (VHXH) Vì lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh không những là nơi mang ý nghĩa thỏa mãn các nhu cầu tâm linh, vui chơi giải trí của người dân, giúp cấu kết cộng đồng mà còn tôn vinh, quảng bá hình

ảnh văn hóa, con người và đặc sản quê hương xứ sở của vùng đất mệnh danh “Thủ

phủ đất sen hồng” của Đồng Tháp đến mọi miền của đất nước

Trong những năm qua, công tác quản lý và tổ chức lễ hội ở thành phố Cao Lãnh đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân; các lễ hội được tổ chức tốt, đảm bảo an toàn trật tự, hoạt động lễ hội dần

đi vào nề nếp, thu hút được đông đảo nhân dân và khách thập phương tham gia Thông qua lễ hội góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao lòng

tự hào về quê hương, đất nước, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân, tạo không khí phấn khởi cho nhân dân, động viên nhân dân tích cực tham gia thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa của địa phương, đồng thời tạo điều kiện tốt hơn cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH ở thành phố Cao Lãnh

Trang 7

Tuy nhiên, lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã trải qua những biến cố của thời gian, chủ quan cũng như nhiều yếu tố khách quan Để đáp ứng yêu cầu phát triển của một Thành phố trung tâm tỉnh lỵ trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế, trong những năm gần đây, nhiều công trình, dự án, khu đô thị mới, các tuyến giao thông trọng điểm được hoàn thành và đưa vào sử dụng, một mặt đã tạo nên một diện mạo đô thị văn minh cho Thành phố, mặt khác cũng đặt ra nhiều khó khăn, thử thách đối với công tác quản lý văn hóa nói chung, cũng như đối với việc quản lý lễ hội truyền thống nói riêng Ở một số địa phương, do buông lỏng quản lý, nhiều Di tích LSVH đang bị mất dần không gian để tổ chức lễ hội truyền thống Bên cạnh đó, nhiều giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống cũng đang bị mai một dần đã làm việc quản lý lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng đang có

1.4 Là giảng viên đang công tác ở trường Đại học Đồng Tháp, tôi có điều kiện để tiếp xúc, nghiên cứu về Di tích LSVH và lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh Với mong muốn tìm hiểu về lễ hội truyền thống và những giá trị của lễ hội truyền thống mang lại cho người dân, tìm hiểu về thực trạng quản lý lễ hội truyền thống, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống của Thành phố đối với sự phát triển văn hóa của tỉnh Đồng Tháp và đất nước Đồng thời khai thác tiềm năng của lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Cao Lãnh và cả tỉnh Đồng Tháp, một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết Chính từ những lý do

trên mà tôi chọn đề tài “QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH - ĐỒNG THÁP” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hóa góp

phần vào việc giữ gìn và phát huy giá trị DSVH địa phương

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 8

cao hơn nữa hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tra cứu, tìm hiểu cơ sở lý thuyết về lễ hội truyền thống, địa bàn nghiên cứu, thống kê, phân loại lễ hội truyền thống ở địa bàn nghiên cứu và vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội

- Đi thực tế điền dã khảo sát, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu để thu thập thông tin thực tiễn, đa chiều về vấn đề nghiên cứu

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh hiện nay, tìm ra nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh trong thời gian tới

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu

3.1 Một số công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về lễ hội và quản lý lễ hội

Hiện nay, việc nghiên cứu về lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống đã được khá nhiều nhà văn hóa nghiên cứu có đề cập đến, một trong những tài liệu ấy có thể kể đến như:

Tác giả Đinh Gia Khánh chủ biên cuốn Ý nghĩa xã hội và văn hóa của lễ hội

dân gian, trong các công trình ý nghĩa xã hội và văn hoá của hội lễ dân gian của nhà

xuất bản (Nxb) Khoa học Xã hội, năm 1985 Tác giả chủ yếu nhìn nhận các vấn đề

giá trị của lễ hội truyền thống theo phương pháp định tính [32] Bên cạnh đó, ở

cuốn Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, của Nxb Khoa học Xã hội năm

1994, tác giả còn nhận xét về các mặt tích cực và tiêu cực của sự phát triển trở lại của các lễ hội truyền thống Tác giả nêu ra một số quan điểm phổ biến khi đánh giá

về sự trở lại của lễ hội như sau: Những ý kiến không tán thành với sự trở lại này vì cho rằng điều đó gây lãng phí tiền của, thời gian Những ý kiến cho rằng sự trở lại của lễ hội gây ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội do nó liên quan đến các hiện tượng

mê tín, dị đoan Hay phê phán sự pha tạp giữa các yếu tố truyền thống và các yếu tố hiện đại, coi đây là những sự lai căng, cần phải loại bỏ Tác giả nêu ra những ảnh

Trang 9

hưởng do sự bùng phát trở lại của lễ hội đối với cuộc sống đương đại, như nhu cầu

lễ hội có thực sự là nhu cầu của đa số người dân hay không, hay đó chỉ là nhu cầu

do một số người muốn lợi dụng lễ hội, để tiến hành các hoạt động mê tín dị đoan, kinh doanh lễ hội để kiếm lời khai thác Những biến đổi kinh tế - xã hội sẽ tác động

ra sao đối với nhu cầu hội lễ của người dân và ngược lại [35]

Để đánh giá về vai trò của lễ hội đối với sự phát triển của xã hội, về những giá trị của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại, GS Ngô Đức Thịnh đưa

ra quan điểm, trong xã hội đương đại, lễ hội truyền thống còn giữ năm giá trị cơ bản

ở Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay trong Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật năm 2001 là: Giá trị cộng đồng, trong đó, lễ hội chính là “sự biểu dương sức mạnh của cộng đồng” và là chất kết dính tạo nên “sự cố kết cộng đồng” Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm “cộng mệnh” và

“cộng cảm” của sức mạnh cộng đồng; Giá trị hướng về nguồn: Lễ hội có nguồn gốc

tự nhiên, nguồn gốc cộng đồng Chính vì vậy, lễ hội thường gắn với hành hương -

du lịch; Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: Lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu

về đời sống tâm linh của con người; Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hoá: Lễ hội

do nhân dân tự tổ chức, làm tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng, và cũng chính bản thân họ là những người hưởng thụ các sinh hoạt văn hoá đó; Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc: Lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống về văn hoá dân tộc, nhờ đó, nền văn hoá ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ [74]

Hay như công trình khác, đánh giá tương đối đầy đủ về thực trạng lễ hội truyền thống Việt Nam, là đề tài khoa học cấp Bộ của các tác giả Nguyễn Thu Linh

và Phan Văn Tú về Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp năm 2004

Nhóm nghiên cứu nhận xét: Con người các thế hệ đã biết và hiểu về lịch sử - văn hoá dân tộc địa phương mình qua các trải nghiệm hội hè Rất nhiều trò chơi, trò diễn dân gian có giá trị tìm lại được môi trường phục sinh và tôn tạo Hàng loạt các nghề thủ công - mỹ nghệ, ẩm thực truyền thống… được củng cố và phát triển tạo ra những cơ hội việc làm và thu nhập cho không ít lao động, góp phần bảo vệ di sản

Trang 10

công nghệ dân gian đang có cơ trở thành hàng hoá có giá trị trong xã hội hiện đại Các tác giả nhấn mạnh rằng lễ hội đang trở thành một sản phẩm của ngành du lịch,

có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế ở nhiều địa phương [40]

Tác giả Bùi Hoài Sơn với quyển sách Quản lý lễ hội truyền thống của người

Việt năm 2009, do Nxb Văn hóa dân tộc Tác giả nghiên cứu lễ hội và các vấn đề lý

luận và thực tiễn về quản lý lễ hội với tư cách là di sản, tác giả nêu những vấn đề đặt ra đối với quản lý lễ hội truyền thống của người Việt nhìn từ các văn bản quản lý; nghiên cứu những mặt làm được, chưa làm được và những khó khăn trong việc

tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống trong thời gian vừa qua Phạm vi nghiên cứu của tác giả rộng, về các lễ hội truyền thống diễn ra trên cả nước, nên giúp cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về quản lý lễ hội truyền thống hiện nay, tác giả đã đưa ra những giải pháp phù hợp cho quản lý thực trạng chung của các lễ hội [57]

Một quyển sách rất đặc sắc của nhà văn Sơn Nam, Đình miếu và Lễ hội dân

gian miền Nam, (Nxb Trẻ, TP.HCM - 2014) Với cách tiếp cận các vấn đề thiết thực

thông qua phương pháp điền dã, tham dự và trao đổi cùng các nhà nghiên cứu địa phương, tác giả đã có cái nhìn hệ thống về đình miếu và lễ hội của miền Nam, các

lễ nghi tín ngưỡng của người miền Nam cùng với việc phân tích các ý nghĩa của nghi thức tín ngưỡng truyền thống của người miền Nam trong công cuộc khoai hoang mở đất và sự kế thừa của các thế hệ ngày nay Quyển sách sẽ góp phần vào việc giới thiệu những DSVH tinh thần, là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu cho những người trong và ngoài nước muốn tìm hiểu truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam [48]

Tác giả Nguyễn Xuân Hồng đã có công trình viết về Lễ hội truyền thống của

người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long vấn đề bảo tồn và phát huy, (Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội-2014) Quyển sách nêu lên tình hình tổng quan và đặc trưng về

lễ hội truyền thống của người Việt, tác giả đã dùng phương pháp thống kê, phân loại lễ hội truyền thống giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn một cách có hệ thống hơn về lễ hội truyền thống của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vì vùng này vốn rất đa dạng và phong phú về lễ hội Đồng thời qua

Trang 11

nghiên cứu thực tế (điền dã) một số lễ hội tiêu biểu trong vùng tác giả đã nêu một số vấn đề bức bách của lễ hội, những yếu tố tác động đến lễ hội truyền thống của người Việt ở ĐBSCL trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong sự giao thoa văn hóa ngày càng mạnh mẽ hiện nay Từ đó, tác giả đặt ra những vấn đề trong việc bảo tồn phát huy, những quan điểm, những giải pháp, mô hình thiết thực trong công tác bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống là cơ sở hữu ích cho việc nghiên cứu về

lễ hội từng địa phương trong vùng [30]

Những công trình này nghiên cứu lễ hội dưới góc độ văn hóa dân gian, dân tộc học, quản lý văn hóa đã nêu khá đầy đủ về nội dung và hình thức thể hiện của lễ hội truyền thống, đồng thời cũng mô tả diễn biến của các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tục, tín ngưỡng dân gian và những biện pháp bảo tồn, phát huy trong

thời đại hiện nay

3.2 Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lịch sử - văn hóa ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

- Các ấn phẩm đã xuất bản, hội thảo khoa học

+ Quyển sách Địa chí tỉnh Đồng Tháp (Ban tuyên giáo tỉnh ủy Đồng Tháp -

2014) Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Đồng Tháp, cùng với sự đóng góp trong nhiều năm của một tập thể chuyên gia trong và ngoài tỉnh, sự tham gia của đội ngũ cộng tác viên trong tỉnh, đặc biệt được các nhà khoa học hỗ trợ thẩm định nâng cao chất lượng, quyển sách cho thấy bức tranh khái quát về mảnh đất và con người Đồng Tháp Với những kết quả đạt được, công trình này góp phần cung cấp cho nhân dân trong và ngoài tỉnh những hiểu biết về vùng đất và con người Đồng Tháp, về quá trình tạo dựng và phát triển của tỉnh, qua đó hiểu rõ hơn công sức, trí tuệ của cha ông, tự hào về mảnh đất quê hương Công trình còn là một “địa chỉ đỏ” để tra cứu, tham khảo phục vụ việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và đặc biệt cung cấp nguồn tài liệu có độ tin cậy nhất định cho giáo viên, học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy, học tập về địa lý, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội

Trang 12

+ Cuốn Đồng Tháp di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, do Sở VHTT Đồng

Tháp xuất bản 1997, đã giới thiệu sơ bộ một số DSVH tiêu biểu của tỉnh Đồng Tháp như các Di tích LSVH, các lễ hội và các làng nghề truyền thống…

+ Quyển sách Đồng Tháp 300 năm của nhóm tác giả Hội sử học Đồng Tháp

và các cộng tác (Nxb Trẻ phát hành 2004) là công trình ngiên cứu tái hiện lại diễn trình hình thành và phát triển của vùng đất Đồng Tháp 300 năm qua Quyển sách là tập hợp nhiều bài viết và được chia làm ba phần: phần một về đặc điểm điều kiện tự nhiên, địa danh, di tích; phần hai về các nhân vật và sự kiện lịch sử, văn hóa, cách mạng; phần ba nói về những nét văn hóa của vùng đất và con người Đồng Tháp

+ Đình Mỹ Ngãi của Võ Văn Sổ biên soạn do Trung tâm nghiên cứu và thực

hành gia phả TP Hồ Chí Minh phát hành năm 2008 công trình nói về lịch sử vùng đất qua từng thời kỳ và sự hình thành đình Mỹ Ngãi cùng với không gian kiến trúc

và lễ hội đình Mỹ Ngãi

+ Năm 2012, Thành ủy Cao Lãnh cho xuất bản quyển sách Lịch sử truyền

thống và cách mạng thị xã Cao Lãnh 1930 – 2005, đã khái quát về lịch sử hình

thành vùng đất, con người cùng với các cuộc đấu tranh cách mạng và từng giai đoạn phát triển đi lên của vùng đất cách mạng Cao Lãnh

+ UBND thành phố Cao Lãnh phối hợp với Hội sử học tỉnh Đồng Tháp xuất

bản cuốn Ông bà Đỗ Công Tường và thành phố Cao Lãnh (2014) đã viết về những

lưu dân đầu tiên khai phá vùng đất này; nói lên nguồn gốc lịch sử hình thành vùng đất và công ơn của ông bà Đỗ Công Tường trong việc hình thành địa danh Cao Lãnh ngày nay Bên cạnh đó, quyển sách còn giới thiệu về ban tế tự của di tích lịch

sử qua các thời kỳ và chương trình lễ hội hàng năm

+ Ngoài ra trong các năm vừa qua UBND thành phố Cao Lãnh còn tổ chức các hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử gắn liền với vùng đất, Di tích LSVH… Trong các cuộc hội thảo có sự tham gia của các nhà nghiên cứu văn hoá, nghiên cứu lịch sử, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn di tích lịch sử, các nhà quản lý văn hoá Mục đích của hội thảo nhằm đánh giá những giá trị văn hóa, tìm ra giải pháp tối ưu nhất trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của các di tích trong tình hình hiện nay

Trang 13

- Các đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận, luận văn tốt nghiệp

+ Một công trình nghiên cứu luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, (Trường Đại học Vinh – 2010) của

Nguyễn Thuận Quý là “Tín ngưỡng dân gian của người Kinh ở thành phố Cao

Lãnh” đã giới thiệu về văn hóa, con người, hệ thống tín ngưỡng dân gian và đặc điểm

của tín ngưỡng dân gian của các cá nhân, gia đình và cộng đồng ở thành phố Cao Lãnh

+ Bên cạnh đó, trong đề tài khóa luận tốt nghiệp của nhóm sinh viên: Nguyễn

Thị Thu, Nguyễn Thanh Tuấn trường Đại học Đồng Tháp viết về “Đình Thần Đồng

Tháp và sự biến đổi trong đời sống đương đại” Đề tài đã nêu được đặc điểm của

Đình ở Đồng Tháp, sự tác động của xã hội và những biến đổi của đình thần Đồng Tháp hiện nay, đưa ra một số giữ gìn đình thần Đồng Tháp trong đời sống hiện nay

Với đề tài “Lễ hội dân gian ở tỉnh Đồng Tháp trong việc phát triển du lịch thực trạng

và giải pháp”của nhóm sinh viên Nguyễn Thanh Vũ, Vương Võ Ngọc Huyền nói về

thực trạng các lễ hội dân gian trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp từ đó nhìn thấy lễ hội như chất liệu xúc tác cho phát triển du lịch địa phương từ đó đưa ra các giải pháp phát triển lễ hội dân gian thu hút khách du lịch

Các công trình đi trước đã nghiên cứu về các yếu tố văn hóa của người Việt, có

sự hệ thống, khái quát được cấu trúc, đặc trưng, chức năng của lễ hội truyền thống Đồng thời nêu lên tính chất, vai trò của lễ hội đối với đời sống của người dân, những đặc điểm cũng như những thực trạng của lễ hội trong đời sống của người Việt, từ đó

đã đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống của con người Việt Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên vẫn còn tính khái quát cao và chưa đi cụ thể vào vấn đề tôi muốn nghiên cứu là quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Hiện nay, theo tôi được biết, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đề cập đến vấn đề này giúp cho việc quản lý lễ hội truyền thống góp phần phát triển kinh tế, VHXH hoàn thiện hơn, đồng thời giáo dục truyền thống quý báu của các những bậc tiền nhân đi trước, qua đó quảng bá nét đẹp văn hóa

Trang 14

của vùng đất Đồng Tháp nói chung và thành phố Cao Lãnh nói riêng đến với mọi miền của đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống của người Việt (Kinh) ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 2010 - 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử, theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách cả Đảng và Nhà nước Việt Nam về văn hóa, DSVH dân tộc (lễ hội)

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Lịch sử, Bảo tàng học, xã hội học…đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành để có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về lễ hội và công tác quản lý lễ hội trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp tài liệu phân tích, thống kê, phân loại Thông qua việc đọc tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu viết về lễ hội, xin số liệu từ các cơ quan quản

lý về lễ hội trên địa bàn nghiên cứu để tiến hành thống kê số lượng, loại hình, phân nhóm lễ hội trong công tác nghiên cứu, viết luận văn

Trang 15

- Phương pháp điều tra, khảo sát điền dã về thực trạng hệ thống di tích và tình trạng quản lý Di tích LSVH, quản lý lễ hội truyền thống giúp cho việc nghiên cứu sát với thực tiễn đang diễn ra ở các lễ hội truyền thống trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu tiến hành phỏng vấn một số người để biết thêm thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:

* Phỏng vấn cán bộ Phòng Văn hóa – Thông tin (Phòng VHTT), cán bộ văn hóa xã/phường (2 người): để biết sự nhìn nhận thực trạng về lễ hội truyền thống và công tác quản lý lễ hội thông qua việc áp dụng các quan điểm, chính sách, kế hoạch

tổ chức quản lý lễ hội trong thời gian qua và sắp tới…

* Phỏng vấn những người tham gia tổ chức lễ hội (3 người): biết được các tiêu chuẩn để được tham gia vào ban tổ chức lễ hội và những nhìn nhận đánh giá từ những người trực tiếp tổ chức lễ hội truyền thống, biết được sự phối hợp giữa các ngành chức năng trong công tác tổ chức quản lý lễ hội, đồng thời biết được những khó khăn, đề xuất kiến nghị của những người tham gia vào tổ chức lễ hội để công tác tổ chức quản lý lễ hội truyền thống được tốt hơn…

* Phỏng vấn người dân địa phương tham dự lễ hội (3-5 người): để biết được mong muốn và mục đích của người dân khi đến lễ hội và ý nghĩa của lễ hội đối với

họ Những hoạt động, những cách thức khi người dân tham gia vào lễ hội và thông qua đó tìm hiểu sự quan tâm đánh giá của họ về công tác tổ chức và quản lý lễ hội tại địa phương mình đang sinh sống

6 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Lễ hội truyền thống góp phần thỏa mãn nhu cầu của người dân, gắn kết cộng đồng, giao lưu, giáo dục, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng, đồng thời có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

- Cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, tuy nhiên, vai trò đó chưa được khai thác hết tiềm năng để có

Trang 16

thể đóng góp tốt hơn cho hoạt động quản lý lễ hội truyền thống cũng như sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

6.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đang gặp những khó khăn và thuận lợi nào

- Làm thế nào có thể phát huy vai trò của cộng đồng trong việc quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

- Làm thế nào để việc quản lý lễ hội truyền thống đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Cao Lãnh

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

7.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài kế thừa những thành tựu cơ sở lý luận và thực tiễn của các công trình đi trước góp phần hoàn thiện hơn về hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh nói riêng và của tỉnh Đồng Tháp, cả nước nói chung

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các nhà quản lý văn hóa, các nhà tổ chức

và khai thác lễ hội có cơ sở hữu ích trong nghiên cứu cũng như ứng dụng thực tiễn lễ hội truyền thống góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương Từ đó có sự điều chỉnh bổ sung lý luận và hoàn thiện thực tiễn tốt hơn trong công tác quản lý lễ hội

ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Bên cạnh đó đề tài thành công cũng góp phần bổ sung nguồn tư liệu về DSVH cho vùng đất thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, là tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên về lễ hội, LSVH, du lịch

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:

Trang 17

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

Trình bài các khái niệm quản lý, quản lý Nhà nước về văn hóa và khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống, quản lý lễ hội truyền thống, vai trò ý nghĩa của lễ hội truyền thống Khái quát về thành phố Cao Lãnh Thống kê, phân loại lễ hội truyền thống thông qua việc giới thiệu một số lễ hội tiêu biểu ở thành phố Cao Lãnh

Chương 2: Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

Trình bài về tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân sự trong các cơ quan quản lý Nhà nước về lễ hội; cơ chế hoạt động, quản lý của cộng đồng, quản lý của Ban quản lý

di tích và Ban tổ chức lễ hội Đồng thời nói về hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, từ những thực trạng đó có sự nhìn nhận đánh giá những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh trong thời gian qua

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

Trình bài định hướng và các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, giúp hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống đi vào nề nếp và dần hoàn thiện hơn nữa trong thời gian tới

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người; còn theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc” [61, tr.22]

Có thể thấy trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao, thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên

Chính vì vậy: “Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một

hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng Ngoài ra, khái niệm quản

lý còn được hiểu như là một công việc nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí, các hoạt động trong tổ chức cụ thể” [61, tr.14-25]

Theo tác giả các hoạt động quản lý bao giờ cũng có các yếu tố sau: Chủ thể, khách thể và mục tiêu của quản lý

- Chủ thể quản lý: Là cá nhân, hoặc tổ chức tạo ra các tác động quản lý, tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ khác nhau, với những phương pháp khác nhau, sao cho thích hợp để mang lại hiệu quả

- Khách thể quản lý: Là đối tượng chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý

Trang 19

- Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt được, tại một thời điểm nhất định nào đó, do chủ thể quản lý định trước, là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp với từng đối tượng

Quản lý là một hoạt động rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý Vậy, để quản lý tốt một đối tượng, đòi hỏi người quản lý phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã đề ra Quản lý phải là một quá trình diễn ra lâu dài, để hướng xã hội phát triển theo những mục tiêu nhất định, chứ không phải là hành động tức thời, chớp nhoáng Về cơ bản, trong xã hội, quản lý có hai ngạch khác nhau, đó là: quản lý trong tự nhiên và quản

lý trong xã hội Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu phạm vi quản lý trong xã hội, mà đối tượng chính cần quản lý là quản lý hoạt động văn hóa - quản lý

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội” [69, tr.10]

Vì vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động của Nhà nước đối với văn hóa thông qua tổ chức điều khiển mọi hoạt động của văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình xây dựng xã hội [73, tr.197]

Ngoài ra, quản lý nhà nước về văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm

Trang 20

quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân…) [61, tr.26] 1.1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa

Quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa gồm những nội dung cơ bản như:

- Xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất các hoạt động văn hóa

- Xây dựng các thiết chế quản lý Nhà nước về văn hóa

- Ban hành và thực thi hệ thống chính sách về văn hóa

- Đầu tư tài chính cho văn hóa

- Tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa [73, tr.198-199]

Theo tác giả cho rằng quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước, trong lĩnh vực hành pháp, nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Nhà nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa, như: quyền học tập, sáng tạo, phê bình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết, để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội Còn UBND là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình, theo quy định của pháp luật Các Sở VHTTDL trực thuộc Tỉnh, Thành phố, các Phòng VHTT cấp huyện/thành phố, các Ban văn hóa các xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp UBND các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa Chính sách pháp luật

về văn hóa, được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước

về chủ trương đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Song song với việc tiến hành các chính

Trang 21

sách về văn hóa, để quản lý văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa, nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.3 Khái niệm lễ hội và lễ hội truyền thống

Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán Việt là “lễ” và “hội” “Lễ hội”: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2002 thì đó là cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc Lễ hội gồm 2 phần: phần Lễ và phần Hội Trong lễ hội thì sự phân chia giữa lễ và hội chỉ là tương đối Trên thực tế thì ranh giới giữa lễ và hội chỉ là tương đối, luôn có điểm giao thoa giữa lễ và hội, trong lễ lại bao hàm cả tính chất hội

Có nhiều khái niệm về “Lễ”, theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2002 thì

“Lễ” là từ chỉ những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó Lễ có nghĩa là vái, lạy để tỏ lòng cung kính theo phong tục cũ Lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ra nhằm tỏ lòng kính trọng, lịch sự

Còn theo tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nó chứa đựng biểu tượng cao đẹp về cái thiêng liêng cao cả, mà con người cần phải vươn tới: Chân - Thiện - Mỹ” [74, tr.7]

Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội Lễ là cốt lõi, là phần quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thánh, thần được coi là linh hồn của một lễ hội Không gian và thời gian tổ chức các nghi lễ được quy định chặt chẽ Công tác chuẩn bị lễ cần rất cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác Trong lễ bao giờ cũng phải có tế Tế bao gồm những nghi thức theo quy định như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ mãng cho đến việc tế thần được tổ chức như thế nào Thường thực hiện tế là những cụ cao niên, phúc đức, uy tín được dân làng chọn ra, trong đó có một người làm chủ tế, dâng hương, dâng rượu trắng, dâng lễ

Trang 22

vật Lễ vật được dâng tế thường là những sản phẩm của địa phương như: xôi, thịt, bánh, hoa quả, hương nến… Có những địa phương có lễ vật độc đáo, liên quan đến nhân vật được thờ Sau phần tế lễ của các vị chức sức sắc xong mới đến dân làng và khách thập phương.

Nếu “Lễ” là đạo, là quy chuẩn linh thiêng, thì “Hội” là đời Vì vậy theo từ điển Tiếng Việt năm 2002 viết: “Hội là những cuộc vui chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” Còn theo tác giả Ngô Đức Thịnh thì:

“Hội là các hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nảy sinh, tích hợp và bảo lưu trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nếu môi trường tín ngưỡng tôn giáo bị loại

bỏ thì bản thân các sinh hoạt văn hóa cũng không thể tồn tại” [74, tr.7] Hội là bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống, nó bảo lưu, gìn giữ những nét riêng,

phong tục tập quán thường được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện trọng đại

nào đó liên quan đến nhiều người Hội mang tính cộng đồng, bao gồm các trò diễn, trò chơi dân gian, các cuộc đua tài, văn nghệ giải trí Phần hội bao giờ cũng rất vui, rất hối hả, thu hút đông người nhất trong mỗi lễ hội và tùy vào đặc điểm của mỗi địa phương sẽ có những nét riêng biệt, đã tạo cho lễ hội truyền thống sự đa dạng, phong phú và đặc sắc Phần hội có thể thêm bớt, thay đổi, tùy theo cấu trúc lễ hội

Lễ hội trở thành truyền thống khi nó được cộng đồng gìn giữ và truyền từ năm này sang năm khác, đời này sang đời khác, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định, trở thành quy luật, thành truyền thống thì được gọi lễ lễ hội truyền thống, lễ

hội cổ truyền hay lễ hội dân gian, tùy theo cách gọi tên Theo Quy chế tổ chức lễ

hội thì có 4 loại lễ hội: lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống, lễ hội lịch sử cách

mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập nước ngoài vào Việt Nam [10, Điều 1]

Gọi lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống là để phân biệt với lễ hội hiện đại Lễ hội truyền thống là những lễ hội do cộng đồng làng xã đứng ra tổ chức, theo một chu

kỳ lặp đi lặp lại, năm này sang năm khác, đời này qua đời khác Trong lễ hội truyền thống thì mọi người cùng được tham gia bình đẳng, phần hội do mọi người cùng thực hiện, cùng vui, cùng hưởng Khác với lễ hội nảy sinh sau này là các lễ hội do Nhà nước hay một tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm, có kịch bản cụ thể, chỉ những thành

Trang 23

phần nhất định được tham dự, phần hội hay phần văn nghệ do các diễn viên chuyên nghiệp thực hiện Lễ hội hiện đại chỉ được tổ chức nhân một sự kiện trọng đại, một dịp kỷ niệm nào đó, không có sự lặp lại, không có tính chu kỳ Có khi nhiều lễ hội ngày trước bản chất là lễ hội truyền thống nhưng sau thời gian vận động phát triển trở thành loại hình lễ hội khác

1.1.4 Khái niệm và nội dung quản lý lễ hội truyền thống

1.1.4.1 Khái niệm

Lễ hội được truyền từ năm này sang năm khác, đời này sang đời khác, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định, trở thành quy luật, thành thông lệ theo quy cũ thì được gọi là „„lễ hội truyền thống/lễ hội cổ truyền hay lễ hội dân gian‟‟ [10, Điều 1] Trong lễ hội truyền thống thì mọi người cùng được tham gia bình đẳng, phần hội do

mọi người cùng thực hiện, cùng vui chơi, cùng hưởng thụ

Quản lý lễ hội truyền thống (quản lý lễ hội) là một bộ phận, một lĩnh vực cụ thể của Quản lý văn hóa Quản lý lễ hội là sự định hướng, tạo điều kiện để tổ chức, điều hành tốt hoạt động lễ hội nhằm phát huy những giá trị của lễ hội theo chiều hướng tích cực, phù hợp với sự vận động của xã hội

Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói riêng là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của

lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế,

xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [57, tr.163-164] Như vậy, quản lý lễ hội gồm quản lý nhà nước về lễ hội và các hình thức quản

lý khác đối với các hoạt động lễ hội

1.1.4.2 Nội dung cơ bản của quản lý lễ hội

Quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, mở rộng cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn

Trang 24

hóa dân tộc Tại Điều 25 Luật DSVH đã ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội Việc tổ chức

lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật” [42, tr 44]

Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng cấu thành DSVH, chính vì vậy việc quản lý lễ hội cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa được ghi rõ trong Luật DSVH Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;

3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ chuyên môn về di sản văn hóa;

5 Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

6 Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý

vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [42, tr 65-66]

Tuy nhiên, lễ hội là một loại hình DSVH phi vật thể tiêu biểu, do đó, việc quản lý lễ hội sẽ khác so với các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cũng như khác với việc quản lý các loại hình DSVH khác Để quản lý tốt lễ hội đòi hỏi phải có sự phối hợp các ngành chức năng và đi kèm với nó bao gồm những công cụ hữu hiệu có tác dụng trợ giúp khác để thực hiện các hoạt động quản lý như:

- Công tác tuyên truyền, giáo dục và quảng bá: Đó là Nhà nước mong muốn

tác động đến việc tổ chức lễ hội của quần chúng nhân dân thông qua công tác tuyên

Trang 25

truyền, vận động và quảng bá về lễ hội chứ không phải chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính, văn bản hành chính

- Quản lý đất đai nơi diễn ra lễ hội: Nhằm đo đạc, xác định địa giới hành

chính và lập bản đồ của Di tích LSVH nơi diễn ra lễ hội theo Luật đất đai năm

2003, qua đó, nắm được hiện trạng sử dụng đất mà quy hoạch sử dụng đất Di tích LSVH nơi có lễ hội một cách hiệu quả

- Quản lý Di tích LSVH nơi diễn ra lễ hội: Mỗi lễ hội luôn gắn liền với một di

tích, hay nói cách khác là được tổ chức tại một di tích cụ thể Di tích là do nhân dân sáng tạo ra, là tài sản của nhân dân đồng thời là tài sản quốc gia cần được giữ gìn,

bảo vệ Ngày 31/3/1984, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di

tích lịch sử, đây là cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể và

phi vật thể

- Quản lý tài chính trong tổ chức lễ hội: gồm quản lý thu, chi những gì bao

nhiêu như thế nào số còn dư ai quản lý và quản lý như thế nào trong việc tổ chức lễ hội

- Quản lý công tác vệ sinh môi trường nơi diễn ra lễ hội: bao gồm việc quản lý

nguồn nước, quản lý rác thải, cảnh quan tại địa điểm tổ chức lễ hội trước, trong và sau những ngày lễ hội Trong đó, tình trạng rác thải do người dân thiếu ý thức xả ra tại các điểm lễ hội là rất đáng lưu ý Vì vậy, phải có những biện pháp quản lý hiệu quả nhằm ngăn chặn tình trạng này như tuyên truyền dưới nhiều hình thức, nhắc nhở nhân dân và khách thập phương không vứt rác bừa bãi, đặt các thùng rác ở nhiều địa điểm trong khu vực tổ chức lễ hội; tổ chức việc thu gom rác, vệ sinh, trồng và chăm sóc bồn hoa, cây xanh xung quanh khu vực tổ chức lễ hội, nhằm đảm bảo môi trường xanh – sạch – đẹp

- Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: bao gồm công tác đảm bảo vệ sinh an

toàn thực phẩm tại các quầy bán hàng ăn, uống phục vụ nhân dân và việc nấu nướng, phục vụ ăn, uống do Ban tổ chức lễ hội

Trang 26

- Quản lý tốt an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ tại lễ hội: nhằm đảm bảo

an toàn của người dân và tài sản trong thời gian tổ chức lễ hội; tránh những hoạt động và biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội dưới nhiều hình thức trong lễ hội

Và một điều không thể thiếu trong quản lý lễ hội là phải có những chế tài cụ thể, có hình thức thi đua khen thưởng, xử phạt nghiêm minh

Tóm lại, quản lý lễ hội gồm quản lý Nhà nước và các hình thức quản lý ở nhiều lĩnh vực khác nhau đối với hoạt động lễ hội, thông qua các công cụ quản lý như: hệ thống các chính sách, các văn bản pháp luật, các nghị định, các chế tài và các văn bản có liên quan đến lễ hội của nhà nước đã ban hành để tổ chức, quản lý lễ hội được tốt hơn Đồng thời, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của

lễ hội, nhằm góp phần phát triển đất nước và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.1.5 Ý nghĩa và giá trị lễ hội truyền thống trong xã hội

Theo tác giả Nguyễn Xuân Hồng thì: Lễ hội truyền thống của người Việt ở ĐBSCL là hệ quả của quá trình giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc từ Trung

Bộ đến Đông Nam Bộ và ĐBSCL là điểm dừng chân cuối cùng Chính vì lẽ

đó lễ hội có sắc thái của cùng đất phương Nam Có thể nói lễ hội truyền thống hàm chứa đậm đặc nhất những đặc trưng của hệ giá trị văn hóa Việt trong quá trình bảo tồn và phát triển của truyền thống văn hóa, đó là: giá trị khoan dung và truyền thống trọng nhân nghĩa [30, tr.149-150]

Trước hết, lễ hội đã tạo sự cấu kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng, thể

hiện mối quan hệ giao tiếp ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng Nó hàm chứa một tâm tưởng vừa kín đáo, vừa sâu xa, vừa lan tỏa bao trùm là

sự thờ cúng các vị thánh thần Hình ảnh thánh thần được xem là nơi hội tụ của những chuẩn mực, phẩm chất cao đẹp và thiêng liêng mà cả cộng đồng làng hướng tới Lễ hội tập hợp mọi thành viên có chung một khát vọng sống, một niềm tin gắn

bó thành một khối để biểu dương, minh chứng cho uy quyền của mình và cộng đồng, mỗi thành viên bằng thái độ hưởng ứng và tinh thần tham dự đã bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của mình với cộng đồng Lễ hội cũng là nơi thu hút toàn bộ các

Trang 27

hoạt động văn hóa – nghệ thuật – thể thao và các trò vui chơi của cộng đồng lãng

xã Do đó, vào những ngày lễ hội cũng là dịp để cả cộng đồng làng ấy từ già trẻ, trai gái, lớn bé, ai nấy cùng chung tay chia sẽ công việc với nhau làm những việc để tổ chức lễ hội, cùng nhau hưởng thụ và vui chơi Chính vì thế, lễ hội là dịp biểu dương

sức mạnh của cả cộng đồng và là “chất keo kết dính” tạo nên sự gắn kết cộng đồng

Sự gắn kết cộng đồng này cũng chính là nhu cầu của cộng đồng trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá mà lễ hội là môi trường quan trọng tạo nên và nuôi dưỡng sức mạnh cộng đồng

Thứ hai, lễ hội truyền thống đều hướng về cội nguồn Từ cội rễ ban đầu là lễ hội

nông nghiệp, lễ hội tưởng nhớ công ơn người có công dần dần lễ hội mang trong mình dòng chảy của các sự kiện lịch sử Lễ hội ra đời và tồn tại liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của người Việt, là hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến của cộng đồng Lễ hội truyền thống vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng các vị thần thánh, các vị anh hùng dân tộc vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần lại cùng gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất Trong lễ hội, những hình ảnh về con người, lịch sử, văn hoá truyền thống được trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá riêng của mỗi cộng đồng làng, đã giúp cho mỗi người dân hiểu rõ hơn, khắc đậm hơn vào tâm thức về cội nguồn gốc tích và truyền thống của quê hương, đất nước Đây cũng là dịp gặp gỡ giao lưu văn hoá với nhau, là dịp để đánh giá những kết quả đã làm được của một hay nhiều năm trước để càng vui mừng và tự hào thêm về quê hương, đất nước, để càng thấy trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước, với nguồn cội của dân tộc mình

Thứ ba, giá trị mà lễ hội mang lại giúp cân bằng đời sống tâm linh Trong lễ

hội truyền thống, không thể không có nghi lễ thờ các vị cúng thần linh Đây là yếu

tố hàng đầu, là linh hồn, là nguồn cảm hứng xuyên suốt lễ hội Lễ hội nào cũng gắn với việc thờ cúng một vị thần, một danh nhân văn hóa hay một anh hùng có đánh đuổi giặc ngoại xâm, hi sinh bảo vệ cộng đồng hoặc khai hoang lập ấp Nghi lễ thờ cúng thần linh là bày tỏ lòng tôn kính đối với những công lao to lớn của họ, đồng thời cũng làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của người dân thông qua việc

Trang 28

cầu học hành đỗ đạt, cầu tài cầu lộc, cầu bình an giúp họ an tâm hơn trong cuộc sống hiện tại

Thứ tư, lễ hội truyền thống thể hiện sự sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của mỗi người dân, đồng thời thông qua lễ hội, những sáng tạo văn hoá ấy được bảo tồn và trao truyền cho thế hệ sau Những ngày hội, mọi người dân được hóa thân, nhập

cuộc, vừa tham gia sáng tạo, lại vừa hưởng thụ những phong tục, nghi lễ, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, nghệ thuật dân gian Và mỗi lần, mỗi người dân, khi tham gia vào các nghi lễ, các trò chơi ngày hội, đã bảo lưu, làm giàu và phát huy những giá trị văn hoá đó trong môi trường lễ hội Chính vì vậy, trải qua bao thế hệ nhưng những giá trị văn hoá tiêu biểu như các chương trình nghi thức trong cúng tế (nghinh sắc, tỉnh sanh, túc yết, đoàn cả ), các vật phẩm (xôi nếp, thịt heo, trà, rượu ) cách thức hành lễ (của chánh tế, bồi tế, chấp sự và học trò lễ ) và các trò chơi dân gian cho đến nay vẫn được bảo tồn trong các lễ hội truyền thống ở vùng đất Nam bộ

1.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

1.2.1 Khái quát về thành phố Cao Lãnh

Trong suốt mấy trăm năm qua kể từ ngày khai hoang lập ấp đến nay, trãi qua nhiều thăng trầm lịch sử, khu vực thị tứ Cao Lãnh từng bước hình thành và vươn lên; nhất là từ khi trở thành thị xã và là Thành phố loại ba (2007) thuộc tỉnh Đồng Tháp, Cao Lãnh hứa hẹn trở thành 1 trong 4 trung tâm đô thị phát triển của vùng ĐBSCL

1.2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lí

Thành phố Cao Lãnh có vị trí ở tả ngạn sông Tiền, cách thành phố Cần Thơ 80km, cách thành phố Hồ Chí Minh 154km và cách biên giới Việt Nam – Campuchia 54km về hướng Bắc Tổng diện tích tự nhiên địa bàn là 107,19 km2chiếm 3,18 % diện tích tự nhiên toàn Tỉnh

- Về tọa độ địa lý:

Trang 29

+ Kinh độ Đông: 105055‟73‟‟ - 105069‟09‟‟

+ Vĩ độ Bắc: 10040‟‟63‟‟ - 10051‟32‟‟

- Về ranh giới địa lý hành chính:

+ Phía Đông giáp huyện Cao Lãnh

+ Phía Tây giáp huyện Chợ Mới (An Giang) qua sông Tiền

+ Phía Nam giáp huyện Lấp Vò qua sông Tiền

+ Phía Bắc giáp huyện Cao Lãnh

Toàn thành phố Cao Lãnh được chia thành 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 6, phường 11, phường Hòa Thuận, phường Mỹ Phú và các xã Mỹ Trà, Mỹ Tân, Mỹ Ngãi, Hòa An, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây và Tịnh Thới

Thành phố Cao Lãnh giữ chức năng trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng của tỉnh Đồng Tháp, là đô thị trung tâm của vùng Cao Lãnh

* Điều kiện tự nhiên

- Khí hậu, thời tiết: Điều kiện khí hậu của thành phố Cao Lãnh nằm trong vùng khí hậu chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các đặc điểm chung như: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu như quang năng, vũ lượng, gió mùa, lượng nước bốc hơi, ẩm độ không khí… phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với gió mùa Đông Bắc

- Thủy văn: Thành phố Cao Lãnh chịu ảnh hưởng của các dòng chảy chính là sông Tiền, sông Cao Lãnh và các kênh gạch chảy trong nội ô Thành phố Về chế độ ngập lũ, địa bàn chịu ảnh hưởng của dòng lũ đầu nguồn từ sông Tiền thông qua hệ thống các sông, rạch tự nhiên Thời gian ngập lũ chịu sự tác động của tổng lượng lũ thượng nguồn, mưa khu vực và chế độ thủy triều Thời gian ngập lũ thường bắt đầu

từ tháng 8, thời kì cao điểm ngập vào tháng 9 và tháng 10 với độ ngập tăng dần

- Địa hình: Thành phố Cao Lãnh mang đặc điểm của khu vực Đồng Tháp Mười (vùng phía Bắc sông Tiền) có địa hình tương đối bằng phẳng; khu vực ven sông Tiền

Trang 30

do quá trình bồi đắp phù sa đã hình thành những dãy đê sông có độ cao tự nhiên từ 1,5-2,0m và thấp dần từ hướng nội đồng Do đặc trưng của vùng Đồng Tháp với nhiều sông rạch nên độ chia cắt địa hình là khá lớn Mặt khác, do tác động của quá trình phát triển đô thị, công tác san lắp mặt bằng phục vụ các công trình xây dựng tạo sự thay đổi địa hình của thành phố Cao Lãnh theo từng khu vực gồm ba địa hình chính là: địa hình cao, địa hình trung bình, địa hình thấp

1.2.1.2 Đặc điểm dân cư

Dân cư ở thành phố Cao Lãnh đa phần là người Việt Dân số năm 2009 là 161.950 người và 162.220 người năm 2010, tốc độ tăng bình quân 1,2% năm, mật độ dân số 1.517 người/km2, thuộc vào loại cao so với bình quân toàn tỉnh Đồng Tháp Mặc dù trình độ dân trí ngày càng cao nhưng mật độ dân cư phân bố không đồng điều giữa các xã, phường, nội thành và ngoại thành Đồng thời dân số đang có dấu hiệu bước vào cơ cấu già (thiếu nguồn lao động) sẽ ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc xây dựng các thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa ở thành phố Cao Lãnh

1.2.1.3 Đặc điểm tình hình kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố năm 2015 ước đạt 9,26% (chỉ tiêu kế hoạch là 10%); trong đó, khu vực thương mại - dịch vụ đạt 9,79%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 9,41%; khu vực nông - lâm - thủy sản đạt 3,63%

Ước tổng chi ngân sách Thành phố năm 2015 là 497,19 tỷ đồng, đạt 130,84% dự toán Trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản 135,2 tỷ đồng, chi thường xuyên 362,19 tỷ đồng Thu tiền sử dụng đất đạt thấp ảnh hưởng đến kế hoạch chi đầu tư và trả nợ đọng xây dựng cơ bản, phải chuyển nợ đọng sang kế hoạch năm 2016 xử lý tiếp

1.2.1.4 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Sinh hoạt tôn giáo: Thành phố Cao Lãnh có khá nhiều tôn giáo, trong đó có đủ

5 tôn giáo lớn là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài và Phật giáo Hoà Hảo Nhìn chung, phần lớn tín đồ các tôn giáo ở thành phố Cao lãnh là nhân dân lao động, có thái độ lao động cần cù và tinh thần yêu nước nồng nàn, đồng thời họ có

Trang 31

niềm tin tôn giáo sâu sắc và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường Cho nên tín đồ các tôn giáo luôn gắn bó chặt chẽ với cộng đồng dân cư, vừa chăm lo xây dựng tình làng, nghĩa xóm, đi theo sự lãnh đạo của Đảng và đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng an sinh xã hội cho toàn dân, vừa duy trì các sinh hoạt tôn giáo gắn bó với giáo hội theo phương châm “tốt đời đẹp đạo”

Hoạt động tín ngưỡng: Hầu hết các hộ dân ở thành phố Cao Lãnh điều có thực hiện các nghi thức tín ngưỡng trong gia đình hay cộng đồng, ngoài thờ cúng tổ tiên ông bà trong gia đình mà vợ chồng cao tuổi thường có thờ ông độ mạng (còn gọi là

bà mẹ sanh), bà tổ cô và có bàn thiên trước sân Nghề nghiệp cũng là một yếu tố làm tăng số lượng gia thần được thờ trong nhà Ví dụ các hộ kinh doanh, mua bán đều có thờ ông Địa và Thần tài, các hộ tiểu thủ công phần lớn đều có thờ tổ nghề (tiên sư) Ngoài ra, địa bàn cư trú cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến số lượng gia thần thờ trong gia đình Ở vùng sâu, vùng xa, nơi đồng bào định cư không lâu thì số lượng gia thần được thờ nhiều hơn nơi khác Mặt khác, cũng có một số gia đình thờ các nhân vật lịch sử, những người có công mở cỏi, chống xâm lăng và đặc biệt hiện nay là chủ tịch Hồ Chí Minh

Do hệ thống giao thông đường bộ ở thành phố Cao Lãnh ngày càng phát triển nên người dân chủ yếu đi lại bằng xe máy, ô tô… một số ít người dân ở nông thôn hay ở khu vực Cồn Tân Thuận Đông vẫn còn dùng xuồng, ghe để duy chuyển, chuyên chở Trong ẩm thực, người dân thành phố Cao Lãnh vẫn ưa chuộng các món truyền thống mang phong cách ẩm thực “khẩn hoang”, bên cạnh đó cũng không ngừng tiếp thu nhiều phong cách ẩm thực hiện đại khác Sinh hoạt của người dân thành phố Cao Lãnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội luôn gìn giữ những giá trị bản sắc dân tộc nhưng loại bỏ bớt các hủ tục lạc hậu rắc rối tốn kém, từ đó một số tệ nạn

xã hội cũng được đầy lùi Trong sinh hoạt tinh thần đa phần người dân thành phố Cao Lãnh nói riêng và Đồng Tháp nói chung vẫn mang cá tính của người dân Nam

bộ hào sản, nghĩa khí, thích lãng mạn văn chương, thích giao du kết bạn, thường tổ chức các sinh hoạt các câu lạc bộ đờn ca tài tử, hò, vè… Công tác bảo tồn và phát huy các loại hình di sản văn hóa được các cấp chính quyền và người dân quan tâm

Trang 32

hơn Triển khai kế hoạch thực hiện có hiệu quả phong trào an sinh xã hội và toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

1.2.2 Lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

1.2.2.1 Thống kê lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

Thành phố Cao Lãnh là vùng đất hình thành trong quá trình Nam tiến của Chúa Nguyễn, trong công cuộc khai phá hình thành xóm làng, thích nghi với thiên nhiên

vừa hào sản “trên cơm dưới cá”; vừa khắc nghiệt “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tựa

bánh canh; cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy” và chống giặc ngoại xâm đã sản

sinh và gìn giữ nhiều Di tích LSVH mà gắn liền là các lễ hội truyền thống

Như phần đối tượng nghiên cứu đã nói trong chuyên luận này chỉ tập trung thống kê nghiên cứu các lễ hội truyền thống của người Việt (Kinh) ở thành phố Cao Lãnh (vì thành phần người Hoa ở thành phố Cao Lãnh rất ít và cũng không có cơ sở thờ tự nào tổ chức lễ hội) Theo số liệu thống kê từ công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống người Việt của tác giả Nguyễn Xuân Hồng ở ĐBSCL thì Đồng Tháp có

72 lễ hội truyền thống [30, tr.65], còn theo danh mục thống kê của Phòng Quản lý DSVH văn hóa năm 2014 thì toàn tỉnh Đồng Tháp có 117 lễ hội (2 cấp Tỉnh, 7 cấp huyện, thị xã, thành phố và 108 cấp xã/phường) diễn ra tại đình, đền, miếu, gò… Trong đó ở thành phố Cao Lãnh có 11 lễ hội (2 lễ hội truyền thống lịch sử cách mạng, 9 lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống), một con số khá khiêm tốn so với tổng số

lễ hội ở toàn Tỉnh Tuy nhiên đó là một phần tài sản vô giá gắn với những trang sử oai hùng, cũng như những sắc thái văn hoá độc đáo của vùng đất và con người Cao Lãnh, Đồng Tháp nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Trải qua biết bao thăng

trầm của lịch sử, những giá trị cao quý, tinh hoa văn hoá của “đất sen hồng” đã trao

truyền và tồn tại cho đến ngày nay

Để có được những số liệu thống kê về lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống được đầy đủ, tác giả đã dựa vào nhiều nguồn tài liệu như: công trình nghiên cứu của

tác giả Nguyễn Xuân Hồng “Lễ hội truyền thống của người Việt ở Đồng bằng sông

Cửu Long vấn đề bảo tồn và phát huy”; thống kê lễ hội của Phòng Quản lý DSVH

Trang 33

(Sở VHTTDL Đồng Tháp), Phòng VHTT thành phố Cao Lãnh và các số liệu thống

kê qua quá trình khảo sát, điền dã của tác giả

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài cho thấy việc thống kê lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống cũng hết sức phức tạp bởi số lần tổ chức định kỳ tùy theo kinh phí của địa phương; cách gọi đối tượng thờ tự trong đình, đền, miếu… là không nhất quán; quy mô của các cơ sở thờ tự cũng khác nhau có cái thuộc về cộng đồng cũng có cái thuộc cá nhân, gia đình, dòng họ hay cách gọi tên lễ hội khác nhau của người dân và người quản lý… Vì vậy tôi chọn thống kê lễ hội dân gian/lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh theo các tiêu chí cơ sở thờ tự (cái bất

biến), theo tên gọi của đối tượng thờ tự, đặc biệt theo cơ sở thờ tự có diễn ra lễ hội

tức là có những nghi thức cúng, tế, hát bội… và các hoạt động trò chơi dân gian trong

lễ hội, các cơ sở thờ tự khác không hội đủ hai yếu tố trên thì không nằm trong phạm

vi nghiên cứu của luận văn này Bên cạnh đó, theo tinh thần Luật di sản văn hóa và Quy chế tổ chức lễ hội thì lễ hội truyền thống phải do cộng đồng làm chủ thể vận hành, trao truyền qua các thế hệ tồn tại đến ngày nay, cho nên có khi lễ hội ngày trước bản chất là lễ hội truyền thống nhưng sau thời gian vận động phát triển theo ý muốn của các nhà quản lý Nhà nước về văn hóa trở thành loại hình lễ hội khác (lễ hội truyền thống lịch sử cách mạng) như: lễ giỗ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, lễ giỗ Cụ Nguyễn Quang Diêu ở thành phố Cao Lãnh những lễ hội này cũng không nằm trong sự thống kê và phạm vi nghiên cứu của tác giả

Qua các nguồn tài liệu và kết quả khảo sát hiện nay, ở thành phố Cao Lãnh còn lưu giữ được 9 lễ hội truyền thống được duy trì tổ chức hàng năm tại các cơ sở đình, đền như sau:

- Lễ hội tại Đình: Do điều kiện lịch sử hình thành, đình làng ở thành phố Cao

Lãnh cũng giống như hầu hết đình làng ở Nam bộ có nội dung thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh, thường không có tên thần cụ thể mà chỉ thờ với chữ Thần (Hán tự)

ở chính điện và chủ yếu là nam thần, ngoài đối tượng thờ chính Thần Hoàng các ngôi đình có thờ nhiều thần phối tự và thần trong tín ngưỡng dân gian Lễ hội đình

là văn hóa dân gian thuộc nét đẹp văn hóa dân tộc là di sản quý của dân tộc cần

Trang 34

được giữ gìn và phát huy Phần lớn các lễ hội ở thành phố Cao Lãnh được tổ chức tại

Đình như (7 lễ hội): lễ hội đình Tân An (phường 11), lễ hội đình Tân Tịch (phường

6), lễ hội đình Mỹ Ngãi (xã Mỹ Tân), lễ hội đình Bằng Lăng (xã Tân Thuận Tây), lễ hội đình Tịnh Mỹ (xã Tịnh Thới), Lễ hội đình An Nhơn (phường 6), lễ hội đình Mỹ Thạnh (xã Mỹ Trà)

- Lễ hội tại Đền: Tưởng nhớ các nhân vật lịch sử có công giúp dân khai hoang

lập làng, cứu giúp dân làng thoát nạn tai, cùng dân làng chống giặc ngoại xâm, tất

cả các vị thần được tôn thờ trong đền ở đây điều là nhân thần Đại bộ phận các cơ

sở thờ tự này thường tổ chức lễ hội vào ngày giỗ của các vị ấy, nghi thức cúng tế cũng tương tự như ở đình làng Ở thành phố Cao Lãnh có 2 lễ hội, đó là lễ hội đền thờ Ông Bà Đỗ Công Tường (phường 2) lễ hội đền thờ Tam vị đại thần hay còn gọi là đền thờ Thống Linh (xã Mỹ Tân)

- Lễ hội tại miếu: Ở thành phố Cao Lãnh cũng có khá nhiều miếu ven sông,

ven đường thờ Ngũ Hành nương nương, Cửu Thiên huyền nữ, bà Thủy Long…; ở vùng chuyên làm ruộng, vườn có miếu thờ thần Nông, Ngũ Hổ, Bà Chúa Xứ…; ở

gần chợ, ven đường thì có miếu cô hồn… nhưng chủ yếu là các ngôi miếu nhỏ và

không tổ chức lễ hội

- Lễ hội tại lăng, dinh, miếu, đình…thờ cá voi/cá ông: do loại hình lễ hội này tập trung ở các vùng ven biển cho nên thành phố Cao Lãnh nói riêng và toàn tỉnh

Đồng Tháp không có loại hình lễ hội này

- Lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò: loại hình lễ hội này ở các huyện thị khác có như

dinh Đốc Binh Vàng – Trần Văn Năng (huyện Thanh Bình – Đồng Tháp), lễ hội Gò

Tháp (huyện Tháp Mười – Đồng Tháp) nhưng ở thành phố Cao Lãnh cũng không

có loại hình này

Theo Nguyễn Xuân Hồng thì tín ngưỡng và lễ hội của người Việt ở ĐBSCL rất

đa dạng và có thể chia làm ba nhóm: Tín ngưỡng thành hoàng, phú thần, nhân vật

lịch sử/ lễ hội đình; Tín ngưỡng thờ Mẫu – nữ thần/Lễ hội tại miếu; Tín ngưỡng thờ thần biển/ Lễ hội tại lăng thờ cá voi/ cá Ông dinh, miếu,…[30, tr.71] Như vậy, ở

Trang 35

thành phố Cao Lãnh hiện nay chỉ có loại hình lễ hội truyền thống ở nhóm thứ nhất đó

là tín ngưỡng thành hoàng, phúc thần và các nhân vật lịch sử diễn ra tại đình, đền

1.2.2.2 Phân loại lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh

Qua một số công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống đã được công bố, có thể thấy cách thức và quan điểm phân loại lễ hội các nhà nghiên cứu khác nhau, do mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận khác nhau, có tác giả tiếp cận góc độ dân tộc học (Lê Thị Nhâm Tuyết); có tác giả tiếp cận góc độ đồng đại và nhóm đối tượng tham dự (Huỳnh Quốc Thắng) Còn tác giả Nguyễn Xuân Hồng dựa vào đối tượng thờ tự, cơ sở thờ tự và các nghi lễ được cử hành thì phân lễ hội truyền thống

thành hai loại: một là, lễ hội thờ cúng các vị nhân thần; hai là, lễ hội thờ cúng các

vị nhiên thần [30, tr.75] Đây là cách phân loại rất phù hợp với tính chất các loại

hình lễ hội truyền thống của người Việt ở ĐBSCL và cũng rất gần gũi với đề tài của tác giả, tài liệu cung cấp cơ sở quan trọng cho việc phân loại lễ hội ở thành phố Cao Lãnh để tiện cho việc phân tích, đánh giá việc quản lý lễ hội Tuy nhiên ở thành phố Cao Lãnh chỉ có loại lễ hội nhóm thứ nhất, vậy tác giả tiếp tục phân loại hình thứ

nhất này thành hai loại nhỏ nữa đó là lễ hội cúng thần thành hoàng tương ứng với

cơ sở thờ tự là đình; lễ hội cúng những nhân vật lịch sử có công với dân, với địa phương tương ứng cơ sở thờ tự là đền để tiện cho việc nghiên cứu

Lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh nhìn chung có những đặc trưng cơ bản như lễ hội truyền thống của đình, đền làng Nam bộ Lễ hội thường gồm các nghi thức chính như: Lễ thượng kỳ, Lễ mộc dục, Lễ thỉnh sắc (Nghinh sắc), Lễ tỉnh sanh, Lễ túc yết, Lễ đoàn cả, Lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, Lễ hồi sắc… Trong các

lễ hội thì mỗi lễ hội ở thành phố Cao Lãnh có nội dung, đặc điểm và thời gian tổ chức khác nhau do có sự khác nhau về lịch sử hình thành di tích, phong tục, tập quán của mỗi địa phương, quy mô di tích và lễ hội, song các lễ hội truyền thống của đình, đền ở thành phố Cao lãnh đều có chung một diễn trình cơ bản như trên

Tùy theo tập tục từng địa phương, trong lễ hội cúng đình, đền còn có một số lễ sau đây cũng được thực hiện: lễ tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ - Chiến sĩ trận vong, lễ

Xã tắc, lễ Tiên sư, lễ Xây chầu (hay khai tràng có ý nghĩa khai thông thái cực;

Trang 36

thường có xây chầu văn, xây chầu võ, hoặc bán văn - bán võ), lễ Đại bội (mang ý nghĩa sự biến hóa từ thái cực, đến lưỡng nghi, rồi tam tài, tứ tượng, bát quái, được thể hiện qua số lượng diễn viên trong tiết mục này), cúng thần nông, thổ địa, bạch

hổ, ngũ hành, bà chúa xứ, tụng kinh cầu an và nhiều lễ khác nữa…

Ngoài ra, trong lễ hội truyền thống ở Cao Lãnh, còn có các hoạt động văn hoá văn nghệ như: hát bội, diễn kịch sân khấu hóa, đờn ca tài tử, trò chơi dân gian… 1.2.2.3 Vai trò lễ hội truyền thống đối với thành phố Cao Lãnh

Cũng như các vùng miền của Nam bộ hay cả nước, lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh là một kho tàng phản ánh đầy đủ các mặt về đời sống sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của người Việt nói chung và của người dân Cao Lãnh, Đồng Tháp nói riêng một cách chân thực và rõ nét, bởi chính những giá trị mà lễ hội truyền thống mang lại

Lễ hội là dịp để người dân vui chơi, giải trí sau những ngày lao động vất vả

Nó không bị ràng buộc bởi nghi lễ tôn giáo, đẳng cấp, lứa tuổi, giới tính Nếu phần

lễ là những nghi thức thờ cúng thiêng liêng có tính quy phạm trật tự giúp người dân

an tâm hơn trong lao động sản xuất, thì hội là những sinh hoạt dân dã, phóng khoáng trên không gian sân đình để dân làng dự hội cùng tự do bình đẳng vui chơi tham gia và hưởng ứng vào các trò chơi dân gian và đương đại: trò chơi kéo co, đờn

ca tài tử, cờ tướng, bắt vịt trên sông, bắt chạch trong chum, Các nghi thức tế lễ mang tính “cộng mệnh” kết hợp chặt chẽ với các trò chơi của phần hội thể hiện đậm nét “cộng cảm” đã làm nên ý nghĩa văn hóa thiêng liêng của lễ hội truyền thống Các lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh còn gắn với những ngôi đình, đền mang tín ngưỡng của người Việt ở Nam bộ (tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ người có công với dân…), hầu hết các lễ hội truyền thống điều hướng về cội nguồn sâu đậm Lễ hội ở Thành phố không những có nhiều hoạt động vui chơi giải trí dân dã và hiện đại mà còn đặc biệt gắn với nghi thức tín ngưỡng dân gian đặc sắc, với các tiền nhân có công với quê hương trong công cuộc khai hoang hình thành

Trang 37

vùng đất và chống giặc ngoại xâm Do vậy, có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc

Thành phố Cao Lãnh, qua hàng trăm năm lịch sử khẩn hoang, chống chội với thiên tai và ngoại xâm đã để lại nhiều Di tích LSVH tín ngưỡng và tôn giáo, gắn

liền với đó là các lễ hội truyền thống đã minh chứng vùng đất “Thủ phủ đất sen

hồng” giàu truyền thống lịch sử văn hóa, cách mạng Chính nhờ lễ hội truyền thống

đã gắn kết mỗi người dân chung một lý tưởng, một khát vọng sống vươn lên, anh dũng ngoan cường trong đấu tranh chống lại thiên tai, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ

và xây dựng Tổ quốc Từ đó có thể thấy những giá trị còn đọng lại trong lễ hội truyền thống ở Cao Lãnh, Đồng Tháp cho đến hôm nay đã là một mảng đời sống tinh thần của mỗi người dân, tạo thành lối sống và ứng xử văn hóa, được mọi người cảm nhận trong gắn kết cái đẹp và cái thiêng liêng

Hiện nay, ở thành phố Cao Lãnh, lễ hội truyền thống đang trở thành động lực thúc đẩy, khích lệ chính quyền và nhân dân quyết tâm phấn đấu phát triển kinh tế - văn hóa xã hội theo hướng thương mại – dịch vụ - du lịch, bằng sự quan tâm của chính quyền địa phương và chung tay của người dân luôn tìm cách nghiên cứu khai thác các giá trị văn hóa lễ hội truyền thống như chất xúc tác phát triển du lịch lễ hội tâm linh mà tiêu biểu là lễ hội đền thờ ông bà Đỗ Công Tường Điều này đã tạo nên đòn bẩy thúc đẩy phát triển văn hóa làm nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội tạo nguồn thu và nâng rộng hình ảnh của địa phương

1.2.2.4 Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở thành phố Cao Lãnh

Do điều kiện nghiên cứu cũng như năng lực của bản thân, tác giả không có tham vọng tìm hiểu hết các lễ hội ở thành phố Cao Lãnh cho nên chỉ chọn nghiên cứu trường hợp điển hình Một số lễ hội truyền thống được xem là tiêu biểu ở thành phố Cao Lãnh đó là lễ hội tại đền thờ ông bà Đỗ Công Tường hay còn gọi là lễ hội “Ông

Bà Chủ Chợ”, lễ hội đền thờ Tam vị đại thần (hay còn gọi là lễ giỗ Thống Linh) và lễ hội đình Mỹ Ngãi, đình Tân Tịch Lý do tại sao tác giả chọn các lễ hội này vì hội tụ các yêu cầu như:

Trang 38

- Đây là những lễ hội truyền thống hình thành khá sớm của vùng đất Cao Lãnh Qua thời gian lễ hội vẫn bị tác động bởi những điều kiện kinh tế, lịch sử - xã hội, dù vậy nó vẫn giữ gìn khá nguyên vẹn về kiến trúc, nội dung và hình thức biểu hiện Nghi thức cúng tế và trò diễn dân gian không thay đổi nhiều so với lúc xưa

- Lễ hội tuy diễn ra ở địa phương nhưng sức ảnh hưởng của nó khá rộng ở các vùng lân cận Qua tham dự thực tế và các tài liệu thì mỗi lần lễ hội diễn ra thu hút hàng ngàn lượt người tham dự, số tiền thu được từ xã hội hóa và công đức của mỗi lần tổ chức lễ hội lên tới hàng chục triệu đồng (trong đó lễ hội đền thờ ông bà Đỗ Công Tường khoảng 40 - 50 ngàn lượt người, số tiền thu được gần 500 triệu đồng)

- Lễ hội này có sự phối hợp vận hành tốt mô hình giữa Nhà nước và cộng đồng trong quản lý và tổ chức lễ hội Nhà nước chỉ định hướng, phối hợp hỗ trợ và làm các công tác quảng bá…; phần nghi thức, tổ chức các vấn đề phục vụ người dân cúng viếng để cộng đồng tự vận hành…

Như vậy, những lễ hội truyền thống trên đã hội tụ tương đối đầy đủ các yêu cầu của nghiên cứu Do trong thời lượng luận văn có hạn tác giả xin trình bài tóm lượt về các lễ hội này như sau:

* Lễ hội đình Mỹ Ngãi

Đình Mỹ Ngãi tọa lạc trên đường Mai Văn Khải, tổ 09, ấp 3, xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [PL1-H27, tr.14], được xây dựng vào khoảng thập niên 20-30 của thế kỷ XIX Ban đầu đình được nhân dân dựng lên bằng tranh,

lá sau đó được xây cất kiên cố năm 1963 và lần trùng tu gần đây nhất vào năm 2008 làm cho đình có diện mạo vừa cổ kính vừa khang trang như ngày nay Điều đặc biệt

là đình Mỹ Ngãi có hệ thống di sản Hán Nôm đồ sộ và có tới 6 sắc thần (3 sắc phong của vua Thiệu Trị và 3 sắc phong của vua Tự Đức) Đình được UBND Tỉnh công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Tỉnh vào năm 2009

Trong năm ngoài các lễ cúng vào cuối năm, tết nguyên đán, lễ khai sơn, lễ tam ngươn,…thì đình Mỹ Ngãi hàng năm tổ chức hai lần lễ hội lớn đó là lễ cúng Hạ Điền (Kỳ Yên) ngày 18-19 tháng 3 âm lịch và Thượng Điền ngày 16-17 tháng 12

Trang 39

âm lịch, đối tượng chính được thờ là thần Hoàng bổn cảnh, cùng với các thần phối

tự và các thần trong tín ngưỡng dân gian

Cùng với các nghi lễ thì đình Mỹ Ngãi còn tổ chức các hoạt động của phần hội vừa mang tính truyền thống vừa theo hơi hướng hiện đại như: hát bội, đờn ca tài tử, các trò chơi gian dân… mỗi kỳ lễ hội thu hút hàng ngàn người đến cúng viếng và tham gia các hoạt động do đình và địa phương tổ chức

* Lễ hội đình Tân Tịch

Đình Tân Tịch được dựng khoảng đầu thế kỉ XIX xưa thuộc huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, nay thuộc khóm 1, phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [PL1-H11, tr.6] Sau hơn 150 năm tồn tại, ngày 19 tháng 12 năm 2014, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đã ra Quyết định xếp hạng đình Tân Tịch là Di tích LSVH

cấp Tỉnh

Từ ngày lập đình cho đến nay, theo lệ hàng năm, đình có nhiều lệ cúng như: cúng Khai Sơn (mùng 7 tháng Giêng), cúng Rằm (tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười) Cúng Chánh lãnh binh Nguyễn Hương (18 tháng 6) Trong đó có hai lệ cúng lớn là cúng Thượng Điền (15-16 tháng 10 âm lịch), cúng Hạ điền (15-16 tháng 4 âm lịch) Về trình tự và nghi thức cúng tế cũng tượng tự như các đình khác, mỗi kỳ cúng thu hút hàng ngàn người dân từ trong và ngoài làng đến cúng viếng Lễ hội góp phần thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của người dân địa phương giúp họ thư thái

và an tâm hơn trong quá trình lao động sản xuất Bên cạnh đó, hàng năm vào các ngày lễ cúng Ban tế tự tùy theo tình hình tài chính còn mời các đoàn hát bội, đờn ca tài tử, các trò chơi dân gian tạo không khí vui chơi giải trí cho cộng đồng

Nhìn chung về cấu trúc nghi thức và chương trình lễ hội đình của thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp hay cả vùng Nam bộ điều cơ bản giống nhau, hàng năm tổ chức hai lần lễ hội lớn đó là lễ cúng Hạ Điền (Kỳ Yên) thường vào tháng 3, 4 âm lịch và Thượng Điền thường vào tháng 11, 12 âm lịch, đối tượng chính được thờ là thần Hoàng bổn cảnh, cùng với các thần phối tự và các thần trong tín ngưỡng dân gian Nếu lễ cúng Hạ Điền mục đích chính tín của ngưỡng nông nghiệp này là cầu

mong thần linh phù hộ“phong điều vũ thuận, người yên vật ôn, tống ôn tống gió”

Trang 40

thì lễ cúng Thượng Điền cũng có các nghị thức tương tự cúng Hạ Điền nhưng có ý nghĩa là mùa màng đã xong, tạ ơn Thần hoàng đã bảo hộ làng, Thần nông, Trời Đất

đã mưa thuận gió hòa, tạo điều kiện cho mùa màng tươi tốt, bội thu chỉ có khác là

ở từng địa phương ngày nay người ta bớt, thay đổi đi một số tiết mục, trình tự và đặc biệt là các phần hội cũng không giống nhau, do phong tuc tập quán, lịch sử hình thành và quy mô di tích, niềm tin tâm linh, tài chính, thời gian tổ chức…

* Lễ hội đền thờ ông bà Đỗ Công Tường

Ông bà Đỗ Công Tường xuất hiện ở vùng đất Cao Lãnh ngày nay vào đầu thế

kỷ XIX, ông bà có công khai hoang lập chợ cho người dân buôn bán và được nhân dân xem là người chết thay cho dân trong nạn “dịch trời” năm 1820, từ đó nhân dân tôn sùng công đức ông bà nên lập đền thờ, đặt tên chợ và vùng đất này thành Câu Lãnh (Câu là Câu Đương chỉ chức vụ của ông, Lãnh là tên tục) lâu ngày đọc trại thành Cao Lãnh ngày nay

Đền thờ ông bà Đỗ Công Tường hiện nay nằm bên cạnh trung tâm chợ Cao Lãnh, trên đường Lê Lợi thuộc phường 2, thành phố Cao Lãnh [PL1-H1, tr.1] Được xây cất năm 1820, trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo và lần đại trùng tu gần đây nhất

là năm 2012 mất hai năm công trình mới hoàn thành đúng vào lần giỗ 194 của ông bà (2014) nhưng vẫn giữ phần cổng và rào ngoài, ngôi đền là một công trình cổ kính, trang nghiêm và lộng lẩy nhưng vẫn giữ lối kiến trúc của đình, miếu Nam bộ Ngày

20 tháng 4 năm 2001, theo Quyết định số 539/QĐ-UBHC, Đền thờ Ông Bà Đỗ Công Tường được công nhận là một di tích nghệ thuật kiến trúc cấp tỉnh

Đền thờ được nâng cấp lên từ miếu nhưng đối với người dân Cao Lãnh,

Đồng Tháp thì quen gọi là “Miếu Ông Bà Chủ Chợ”, một cách gọi dân gian quen

thuộc với người dân nơi đây gắn với lịch sử hình thành đền ông bà Đỗ Công Tường Về cấu trúc bên trong đền thờ theo ông Phạm Văn Thuận (82 tuổi) – Trưởng ban quản lý đền thờ thì: “Cấu trúc bên trong vẫn giữ nguyên không thay đổi về cách bố trí truyền thống khi nâng cấp lên thành Đền, chỉ mở rộng ra để phục vụ cho khách thăm viếng hiện nay Ngoài ra còn bổ sung thêm phần trang trí cho các bàn thờ thêm phần trang trọng hơn, nơi chính điện có bổ sung thêm hai

Ngày đăng: 16/11/2023, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
3. Nguyễn Chí Bền (2003), Văn hóa dân gian Việt Nam những phác thảo, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam những phác thảo
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2003
4. Nguyễn Chí Bền (2002), Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, NXB VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2002
5. Nguyễn Chí Bền (2004), “Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể”, Tạp chí Di sản Văn hoá, (7), tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể”, "Tạp chí Di sản Văn hoá
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2004
6. Trần Lâm Biền (1993), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1993
7. Phan Kế Bính (2012), Phong tục Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
8. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/1/1998 về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/1/1998 về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1998
9. Bộ Chính trị (2009), Kết luận số 51-KL/TW ngày 22/7/2009 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/1/1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 51-KL/TW ngày 22/7/2009 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/1/1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2009
10. Bộ Văn hoá - Thông tin (2001), Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/3/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức lễ hội
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 2001
12. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2010), Chỉ thị 16/CT-BVHTTDL ngày 03/2/2010 về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hoá, tín ngưỡng tại di tích, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 16/CT-BVHTTDL ngày 03/2/2010 về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hoá, tín ngưỡng tại di tích
Tác giả: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Năm: 2010
13. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2011), Thông tư 04/2011/TT- BVHTT ngày 21/1/2011 ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 04/2011/TT-BVHTT ngày 21/1/2011 ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Tác giả: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Năm: 2011
14. Chính phủ (2005), Quyết định số 308/2005/QĐ-TTG ngày 25/11/2005 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 308/2005/QĐ-TTG ngày 25/11/2005 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
15. Chính phủ (2013), Nghị định 158/2013/ NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và qảng cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 158/2013/ NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và qảng cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
16. Chính phủ (2009), Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
17. Chính phủ (2010), Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 ban hành Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 ban hành Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
18. Chính phủ (2010), Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 ban hành Quy định về tổ chức hoạt động và quản lý lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 ban hành Quy định về tổ chức hoạt động và quản lý lễ hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
19. Chính phủ (2010), Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hoá
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trương ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trương ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
21. Vương Đằng (2013), Phong tục miền Nam, NXB Văn hóa Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục miền Nam
Tác giả: Vương Đằng
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
22. Cao Đức Hải (chủ biên) (2001), Quản lý lễ hội và sự kiện, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội và sự kiện
Tác giả: Cao Đức Hải (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w