Từ đây, với nguồn vốn tài liệu của thư viện phong phú, đa ngôn ngữ bản phổ âm nhạc, sách khảo cứu…, từ nhiều nền âm nhạc khác nhau trên thế giới Anh, Pháp, Đức, Hungary, Nga, Tiệp Khắc…
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Lý thuyết nghiên cứu 11
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 12
7 Phương pháp nghiên cứu 13
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
9 Bố cục luận văn 15
Chương 1 16
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ 16
HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN 16
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.2 Khái quát chung về thư viện và thư viện chuyên ngành âm nhạc 20
1.2.1 Thư viện – thuật ngữ và hình thức quản lý 20
1.2.2 Giới thiệu chung về thư viện Đại học 24
1.2.3 Vai trò và chức năng – nhiệm vụ của Thư viện trong trường Đại học 28
1.3 Khái quát về Thư viện Nhạc viện TP Hồ Chí Minh 32
1.3.1 Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển Thư viện Nhạc viện TP Hồ Chí Minh (từ 1956 đến nay) 32
1.3.2 Đặc thù của hoạt động thư viện chuyên ngành âm nhạc (Thư viện Nhạc viện TP.HCM) 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 46
Chương 2 48
Trang 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG 48
THƯ VIỆN NHẠC VIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
2.1 Thực trạng công tác quản lý và tổ chức thư viện Nhạc viện TP.HCM 48
2.1.1 Cơ cấu tổ chức 48
2.1.2 Nhân lực 50
2.1.3 Cơ sở vật chất – trang thiết bị của thư viện Nhạc viện TP.HCM 53
2.1.4 Tài chính bổ sung cho nguồn vốn tài liệu thư viện 57
2.2 Thực trạng hoạt động và dịch vụ - phục vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện Nhạc viện TP.HCM 59
2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc – Đọc – Nghe tại chỗ 59
2.2.2 Dịch vụ tư vấn, phục vụ thông tin có chọn lọc 61
2.2.3 Hoạt động quản lý Website 62
2.3 Hiệu quả quản lý tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM thông qua kết quả khảo sát 62
2.3.1 Hiệu quả hoạt động thư viện qua số lượng bạn đọc truy cập 62
2.3.2 Dung lượng và chất lượng của nguồn tài liệu tại Thư viện trong đáp ứng nhu cầu bạn đọc 67
2.3.3 Mức độ đáp ứng về dịch vụ của thư viện đối với bạn đọc 75
2.4 Quản lý và tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM (giai đoạn 2011-2015) – Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân 81
2.4.1 Thuận lợi và thành quả đạt được trong quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện 81
2.4.2 Những tồn tại, khó khăn trong quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 85
Chương 3 86
Trang 3HƯỚNG PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG THƯ VIỆN NHẠC VIỆN TP.HCM 86
3.1 Định hướng phát triển thư viện 86
3.1.1 Vai trò của thư viện đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới giáo dục hiện nay 86
3.1.2 Phương hướng phát triển thư viện Nhạc viện 91
3.1.3 Kiến nghị và đề xuất 94
Kiến nghị 94
3.2 Một số đề xuất với lãnh đạo Nhạc viện 98
3.3 Một số giải pháp phát triển hoàn thiện chất lượng quản lý, tổ chức hoạt động Thư viện Nhạc viện TP.HCM 99
3.3.1 Giải pháp mở rộng hình thức hoạt động 100
3.3.2 Nâng cao trình độ nhân sự (quản lý, chuyên viên) thư viện 101
3.3.3 Tăng cường cơ sở vật chất - trang thiết bị 102
3.3.4 Tăng cường nguồn lực thông tin 105
3.3.5 Tạo và sử dụng nguồn kinh phí hiệu quả 107
3.3.6 Nâng cao quản lý hoạt động 107
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 120
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, thế giới hiện nay trở nên “phẳng”, là thế giới của công nghệ truyền thông, đã khiến con người phải học tập trước nhất là học sử dụng công nghệ Chỉ cần một cú nhấp chuột, con người đã có thể tiếp cận với các nguồn tri thức khác nhau của nhân loại Trong vài giây, ngồi tại nhà, ta đã có thể biết được thông tin mới nhất từ bên kia vòng trái đất hay có thể tìm thấy thông tin cần thiết ngay lập tức nhờ các trang thông tin mạng toàn cầu Thế thì Thư viện có còn vị trí độc quyền, là nơi duy nhất con người có thể tìm kiếm thông tin để nghiên cứu, học tập?
Thư viện chuyên ngành âm nhạc, cùng với hệ thống các thư viện khác nói chung vẫn đang trăn trở, băn khoăn tìm hướng giải quyết cho chức năng vốn dĩ tồn tại hàng ngàn năm đang bị lung lay Trong khi đó, Internet là phương tiện hỗ trợ tìm kiếm thông tin rất lớn đối với con người thế kỷ XXI Thông tin được chuyển tải với tốc độ và dung lượng rất lớn Chính vì chức năng truyền tải thông tin quá nhanh, và ngược lại, ai cũng có thể đăng tải tin tức nếu biết một số kiến thức về internet, nên thông tin trên internet có nhược điểm rất lớn là không chọn lọc, không kiểm chứng khoa học Người truy cập thông tin nếu không có kiến thức nhất định về lĩnh vực đang tìm kiếm thông tin sẽ khó có thể phán đoán được tính đúng sai của thông tin mình truy cập Bởi thế, tìm kiếm thông tin trên internet nhanh nhưng độ chính xác của thông tin cần kiểm tra, đặc biệt đối với các vấn đề đòi hỏi tính khoa học, chuẩn xác Như vậy, có thể nói thư viện vẫn có vị trí nhất định trong đời sống xã hội và nhất là trong hoạt động học tập giảng dạy, nghiên cứu khoa học…
Trang 5Đối với nguồn thông tin dùng trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập, tìm kiếm thông tin tại các thư viện là một lựa chọn hàng đầu Tùy theo chuyên ngành, có nhiều thư viện tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM): thư viện công cộng, thư viện tổng hợp, thư viện cá nhân, thư viện chuyên ngành… Thông tin muốn tìm kiếm đa dạng, không phân biệt người tìm thông tin: có thể tìm đến các thư viện công cộng, thư viện cộng đồng (kể cả tôn giáo)… Thông tin chọn lọc hơn nhưng đa dạng ở các chuyên ngành, chủ yếu là thông tin dùng trong các trường đại học Loại thông tin này cũng thuộc các thư viện
cá nhân, người ta lưu trữ băng đĩa, sách, tư liệu (về cá nhân)… chủ yếu được hình thành từ nhu cầu, sở thích của cá nhân, cũng là một kênh truy cập nhưng lại hạn chế đối với người cần thông tin Muốn tìm những thông tin nghiên cứu, giảng dạy học tập âm nhạc tại TP.HCM bạn đọc chỉ có thể tìm đến Thư viện Nhạc viện TP.HCM Không chỉ với những người ở TP.HCM, mà từ các tỉnh từ Quảng Nam đến Cà Mau, những thông tin âm nhạc chỉ có thể truy cập tại Thư viện Nhạc viện TP.HCM
Vừa là thư viện của một trường đào tạo chuyên ngành âm nhạc từ Trung cấp đến Nghiên Cứu Sinh (NCS), vừa là thư viện chuyên ngành duy nhất ở các tỉnh phía Nam, nên thư viện Nhạc viện có vai trò không chỉ đối với công tác đào tạo tại Nhạc viện, với TP.HCM mà cả các tỉnh phía Nam nói chung
Từ đây, với nguồn vốn tài liệu của thư viện phong phú, đa ngôn ngữ (bản phổ
âm nhạc, sách khảo cứu…), từ nhiều nền âm nhạc khác nhau trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Hungary, Nga, Tiệp Khắc… ) v.v… đòi hỏi công tác quản
lý, tổ chức hoạt động là phải chuyên nghiệp, khoa học nhất là trong điều kiện thông tin tràn ngập (nhưng lộn xộn) như hiện nay Nhiệm vụ của thư viện không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên (GV), nghiên cứu sinh (NCS), học viên cao học (HV) và học sinh sinh viên (HSSV) các khoa chuyên ngành sử dụng tốt vốn tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập
Trang 6mà còn phải trở thành nơi hỗ trợ, khuyến khích cho công tác nghiên cứu khoa học cũng như phục vụ đối tượng rộng lớn hơn là đọc giả TP.HCM và các tỉnh phía Nam
Một thử thách đối với thư viện Nhạc viện là xu hướng phát triển công nghệ hiện nay đòi hỏi cách thức hoạt động của thư viện, tổ chức, quản lý hoạt động thư viện phải điều chỉnh, cập nhật khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả phục vụ Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu về công tác quản lý thư viện Nhạc viện, khảo sát, phân tích, tìm ra những nguyên nhân của những bất cập, đóng góp, xây dựng cho thư viện hoạt động ngày càng tốt hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động của thư viện chuyên ngành âm nhạc tại Nhạc viện TP.HCM để có một cái nhìn tổng thể về hiệu quả phục vụ, công tác quản lý, những bất cập trong tổ chức hoạt động Thư viện Nhạc viện Từ đó, luận văn sẽ nghiên cứu, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện hơn công tác quản lý, tổ chức hoạt động, phục vụ tốt hơn bạn đọc… đồng thời, đưa ra những kiến nghị để thư viện Nhạc viện TP.HCM ngày càng cập nhật với xu hướng phát triển công nghệ thông tin thế kỷ XXI
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý văn hoá là một chuyên ngành đào tạo đến cấp Nghiên cứu sinh – Tiến sĩ, do đó, khối lượng những nghiên cứu về vấn đề này rất lớn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về quản lý tổ chức hoạt động các thiết chế văn hóa và đặc biệt về quản lý thư viện không nhiều, bao gồm các mảng:
3.1 Các công trình nghiên cứu, sách, tài liệu, luận văn về lý thuyết Quản lý văn hoá (QLVH) và quản lý Thiết chế văn hoá
- Huỳnh Văn Tới (2014), “Quản lý Văn hoá”, Giáo trình dành cho hệ
đào tạo đại học ngành Quản lý văn hóa Trường Đại học Văn hoá TP.HCM
Trang 7- Phan Quang Thịnh, Nguyễn Xuân Hồng (đồng chủ biên), “Pháp luật
về văn hóa”, Giáo trình dành cho hệ đào tạo đại học ngành Quản lý văn hóa
- Nguyễn Hồng Anh (2014), “Thông tin và Truyền thông”, TP.HCM
- Nhóm tác giả Phạm Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn, “Quản lý văn hoá
Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” Nội dung cuốn sách
giới thiệu những quan điểm chung về quản lý văn hóa trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hóa của một số quốc gia trên thế giới; đánh giá thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986); đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Sách gồm 4 chương:- Chương I: Một số vấn đề lý luận về quản lý văn hóa, Chương II: Một số kinh nghiệm quản lý văn hóa trên thế giới, Chương III: Thực trạng quản lý văn hóa
ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986), Chương IV: Quan điểm, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Đây là những giáo trình cơ bản cho chương trình học tập, nghiên cứu
về quản lý văn hoá, được sử dụng chính thức tại các trường Đại học có chuyên ngành QLVH Những công trình này cung cấp cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu cho hầu hết các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án có hướng đề tài về QLVH
- Vũ Kim Lộc (sưu tầm) (2004), “Chính sách - quản lý văn hóa và tài
trợ văn hóa của một số nước trên thế giới”, Viện Văn hóa: là tập hợp các văn
bản chính sách, cách thức, quy định về QLVH cũng như tài trợ văn hoá của một số nước trên thế giới Tài liệu này cũng là một trong những cơ sở không chỉ cho công tác quản lý các hoạt động văn hoá, thiết chế văn hoá mà còn
Trang 8giúp cho các cơ sở tổ chức hoạt động văn hoá cập nhật chính sách, quy định nhà nước về QLVH, công tác tiếp nhận tài trợ sản phẩm văn hoá…
- Nguyễn Thị Ngọc Diễm (2016), “Văn hóa quản lý các thiết chế
văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp Quận 8, TP Hồ Chí Minh)”, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý văn hóa Đại học
KHXH&NV TP.HCM
Là một số công trình nghiên cứu về QLVH đối với các thiết chế văn hoá tại TP.HCM, các công trình này nghiên cứu khảo sát và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLVH các thiết chế, tuy nhiên chỉ trên phạm vi cụ thể, có những đặc thù riêng và điều kiện xây dựng phát triển riêng
3.2 Về quản lý hoạt động tổ chức thư viện nói riêng, cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
- Nguyễn Văn Cư, “Quản lý hoạt động Thư viện Khoa học Tổng
hợp TP Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý Văn hóa
Đại học Văn hóa TP.HCM Luận văn này tìm hiểu về quản lý hoạt động của một thư viện thuộc hệ thống thư viện công cộng, có những đóng góp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động đối với thư viện có quy mô khá lớn, nội dung hoạt động – nguồn tài liệu đa ngành, không phải thư viện thuộc trường Đại học hoặc thư viện chuyên ngành
- Huỳnh Mẫn Đạt (2004), “Tổ chức hoạt động thông tin - thư viện
tại trường Cao Đẳng Văn hóa TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ Thông tin
- Thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Luận văn nghiên cứu về tổ chức
hoạt động của một thư viện thuộc trường Cao đẳng, Đại học tại TP.HCM tuy nhiên không phải là một thư viện chuyên ngành âm nhạc Tài liệu này có những nội dung giúp cho công tác quản lý thư viện trong các trường đạt kết quả tốt hơn Tuy nhiên, là khảo sát thư viện đại học đa ngành và không phải
Trang 9mang tính chuyên sâu về âm nhạc nên không giải quyết những vấn đề mang tính đặc thù của chuyên ngành âm nhạc
- Ninh Thị Kim Thoa (2003), “Sự phát triển của các thư viện Đại học
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2000”, Luận văn
Thạc sĩ Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu thuộc mã ngành Thư viện, do đó, tập trung khảo sát, nghiên cứu
về hoạt động và mức độ hiệu quả của hoạt động thư viện Đại học (Quốc gia trong đó chủ yếu là ĐH Bách khoa, KH tự nhiên, KHXH&NV…) ở TP.HCM Công trình cũng giới thiệu về sự phát triển của các thư viện Đại học ở TP.HCM trong khoảng thời gian nhất định Do đó, luận văn trên cũng có cái nhìn nhận chung, đánh giá được tình hình hoạt động của Thư viện một số trường Đại học lớn Tuy nhiên, nghiên cứu không đi sâu vào công tác quản lý, chưa tìm ra nguyên nhân từ khâu quản lý và chưa đưa ra được giải pháp nào
cụ thể đối với quản lý, tổ chức hoạt động tại thư viện chuyên ngành như thư viện Nhạc viện TP.HCM
- Nguyễn Thanh Hùng (2008), “Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động quản
lý nguồn nhân lực tại thư viện và mạng thông tin trường Đại học Bách khoa
Hà nội”, là một nghiên cứu tập trung hoạt động quản lý nguồn nhân lực phục
vụ cho thư viện và mạng trong giới hạn cụ thể (tại một trường đại học) Do vậy, đề tài giải quyết vấn đề mang tính cụ thể của một đơn vị, với những đặc thù về chuyên ngành, về yếu tố mô hình và nhất là trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh như hiện nay Từ đó, công trình có những đề xuất
về đào tạo người, nguồn nhân lực cho thư viện một trường đại học đa ngành (chủ yếu là Khoa học kỹ thuật) trong yêu cầu ứng dụng, liên tục cập nhật Khoa học công nghệ trong quản lý thư viện
- Nguyễn Thị Thu Hiền (2008), “Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức,
hoạt động thư viện trường Đại học Y Thái Bình”, Luận văn thạc sĩ, chuyên
Trang 10ngành Khoa học Thư viện Đại học Văn hóa Hà Nội và Vũ Thị Thúy Chinh
(2009), “Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức, hoạt động thư viện trường Đại học
Sư phạm Hà nội 2”, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Khoa học Thư viện Đại
học Văn hóa Hà Nội, là 2 luận văn được thực hiện trong chương trình học tập – đào tạo bậc Thạc sĩ nên những công trình nêu trên điểm chung là: được nghiên cứu theo quy chuẩn của nhà trường; những khảo sát, nghiên cứu không chỉ dựa trên điều kiện thực tế của đối tượng nghiên cứu mà còn được ghi chép theo yêu cầu của luận văn Tuy là các luận văn đều nghiên cứu công tác quản lý hoạt động thư viện của trường Đại học nhưng luận văn khảo sát đơn vị thư viện cụ thể, các trường đều là trường đơn ngành, có những đặc thù, yêu cầu riêng về thông tin, nguồn vốn tư liệu, yêu cầu phục vụ… chuyên ngành Từ đó, đòi hỏi công việc quản lý tổ chức hoạt động phải có những đặc thù của ngành
Có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu chuyên sâu
về quản lý tổ chức hoạt động của một thư viện chuyên ngành âm nhạc của trường đại học Trên cơ sở của hoạt động thực tế, đối với vị trí, vai trò và chức năng của thư viện chuyên ngành âm nhạc đòi hỏi có một nghiên cứu riêng Chưa kể, thư viện Nhạc viện là thư viện của một trường có đào tạo từ bậc trung cấp đến tiến sĩ, do đó, cần có một khảo sát nhằm đưa đến một cái nhìn toàn diện, khách quan hầu mong nâng cao hoạt động quản lý cũng như tổ chức hoạt động phục vụ của thư viện ngày càng tốt hơn Từ vị trí việc làm của
người quản lý thư viện âm nhạc của Nhạc viện, chúng tôi chọn đề tài: “Quản
lý hoạt động thư viện âm nhạc tại Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh”
vừa là một nghiên cứu khoa học vừa để nâng cao hoạt động quản lý, tổ chức hoạt động thư viện âm nhạc tại TP.HCM và phù hợp với xu thế phát triển mới của thế kỷ XXI
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý và tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM
5 Lý thuyết nghiên cứu
- Đề tài dựa trên Lý thuyết chức năng (hay còn gọi là Chức năng luận – Functionism) gắn với chức năng cấu trúc trong nghiên cứu khoa học
+ Tất cả các thực hành và thể chế đều có một chức năng nào đó trong tổng thể của nền văn hóa mà nó được sinh ra và tồn tại
+ Nhấn mạnh vai trò chủ động của cá nhân trong quan hệ với cấu trúc
xã hội và các thể chế văn hóa – đơn cử vai trò của người quản lý trong tổ chức hoạt động thư viện
+ Khẳng định mỗi thành tố của một nền văn hóa đều có một giá trị, chức năng riêng trong tổng thể song chúng có sự kết nối chặt chẽ mang tính hữu cơ với nhau Vì vậy chỉ có thể hiểu đầy đủ giá trị và chức năng của chúng khi đặt các thành tố đó trong tổng thể
Trang 12+ Vai trò của quản lý trong tổ chức hoạt động và các mối quan hệ với tổng thể
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Việc quản lý và tổ chức hoạt động thư viện âm nhạc tại TP.HCM hiện nay như thế nào?
- Tổ chức hoạt động thư viện (âm nhạc) Nhạc viện hiện nay có hiệu quả không?
- Tìm hiểu, xác định những thuận lợi, khó khăn, những việc đã làm được, ưu điểm, tồn tại… của công tác quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM và tìm hiểu những nguyên nhân của tồn tại – khuyết điểm trong công tác quản lý thư viện Nhạc viện
- Hướng phát triển của Thư viện Nhạc viện? Tìm ra hướng phát triển phù hợp với xu thế phát triển công nghệ thông tin ở thế kỷ XXI?
- Những giải pháp nào để nâng cao quản lý và tổ chức hoạt động Thư viện Nhạc viện TP.HCM
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Quản lý tổ chức hoạt động thư viện âm nhạc hiện nay có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập âm nhạc tại Nhạc viện TP.HCM nói riêng, của TP.HCM cùng khu vực miền Nam nói chung nhưng chưa phải
đã phục vụ tốt nhất cho hoạt động của thư viện và bạn đọc
- Hoạt động quản lý là nguyên nhân, tác động đến chất lượng phục vụ,
sự phát triển của thư viện nói chung và thư viện âm nhạc của Nhạc viện nói riêng
- Đối với thư viện chuyên ngành với những đặc thù như ngành âm nhạc, đồng thời có đặc điểm riêng của thư viện đại học cần có chủ trương,
Trang 13phương cách quản lý riêng Đồng thời có những giải pháp để nâng cao công tác quản lý, tổ chức hoạt động
- Định hướng phát triển thư viện nói chung và cụ thể cho công tác quản
lý và tổ chức hoạt động thư viện âm nhạc của Nhạc viện hiện nay theo hướng
Khoa học công nghệ để đạt hiệu quả trong phục vụ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Quản lý, trong đó, quan tâm và chú trọng sử dụng những phương pháp quản lý nhà nước về văn hoá
Ngoài ra, Luận vận dụng các quan điểm đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH, TT và DL), Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) và Vụ thư viện về công tác quản lý Thư viện nói chung và thư viện chuyên ngành – thư viện Đại học nói riêng trong nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: luận văn phân tích và tổng hợp các văn bản pháp quy, tài liệu, sách, các bài viết từ tạp chí, hội thảo chuyên ngành (âm nhạc và thư viện) và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hóa những nội dung lý luận phù hợp, làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu về quản lý, tổ chức hoạt động Trung tâm Thông tin - Thư viện âm nhạc ở Nhạc viện TP.HCM
- Phương pháp quan sát tham dự: với lợi thế của người viết luận văn cũng là người công tác (từ 2005) và quản lý trực tiếp công tác thư viện tại trung tâm Thông tin – Thư viện Nhạc viện TP.HCM (từ 2013 đến nay), luận văn được nghiên cứu với phương pháp quan sát tham dự, tất cả các số liệu
Trang 14cũng như những vấn đề thực tiễn về quản lý tổ chức hoạt động của thư viện tại đây đều được thu thập và nắm bắt một cách trực tiếp và chính xác
- Điều tra xã hội học: ngoài những thống kê, tư liệu thực tế, những đánh giá định tính dựa trên tài liệu, văn bản quy định nhà nước, kinh nghiệm hoạt động của các chuyên gia (trực tiếp của người đang công tác tại thư viện)… được sử dụng trong nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng phương pháp điều tra định lượng qua các phiếu phiếu khảo sát Luận văn sẽ thực hiện phiếu khảo sát số lượng lớn (1.680 người, bao gồm học sinh, sinh viên, giảng viên, cán
bộ công nhân viên Nhạc viện cùng các đối tượng là khách vãng lai của thư viện – so với số lượng trên dưới 2000 người học tại Nhạc viện)
- Phương pháp phỏng vấn sâu – phương pháp chuyên gia: là phương pháp thu thập thông tin, trao đổi xin ý kiến của một số cán bộ từng quản lý thư viện trước đây cũng như các đồng nghiệp trong thư viện, các phòng chức năng và các giảng viên Nhạc viện Từ đó phân tích, nhận xét để có cái nhìn tổng quan về quản lý hoạt động thư viện qua các thời kỳ cũng như ý nghĩa vai trò của thư viện đối với công tác đào tạo, biểu diễn của Nhạc viện TP.HCM
- Luận văn sử dụng kỹ thuật xử lý số liệu thu thập được trên phần mềm Excell nhằm minh họa, phục vụ cho việc trình bày kết quả nghiên cứu của người viết được cụ thể và rõ ràng hơn
Tóm lại, các phương pháp nêu trên giúp người viết thu thập và phân tích thông tin được hiệu quả và khoa học nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu
đề tài này
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
8.1 Ý nghĩa khoa học
- Khẳng định vị trí, vai trò của quản lý đối với tổ chức hoạt động thư
viện; vị trí vai trò của thư viện âm nhạc đối với xã hội nói chung và văn hóa nghệ thuật nói riêng
Trang 15- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho các nhà QLVH (Vụ thư viện; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ) tham khảo để định hướng, xây dựng
và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật dành cho thư viện, giúp cho
Vụ thư viện có những đánh giá và chính sách về thư viện trường đại học (cụ thể là thư viện chuyên ngành âm nhạc - khối Văn hoá, nghệ thuật)
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo đối với các nhà quản lý văn hóa trong lĩnh vực thư viện âm nhạc thuộc trường đại học
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra các giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, tổ chức hoạt động tại thư viện Nhạc viện TP.HCM
- Là cơ sở để lãnh đạo Nhạc viện có quan tâm, có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, kế hoạch phát triển hoạt động cũng như bồi dưỡng, tập huấn… cho các cán bộ quản lý thư viện âm nhạc trong thời gian tới
- Thay đổi ý thức của những làm công tác quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện, phát triển và nâng cao vai trò của Thư viện trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tại Nhạc viện nói riêng và mở rộng phục vụ công chúng TP.HCM – các tỉnh phía Nam nói chung
9 Bố cục luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động thư viện Chương 2: Thực trạng quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM
Chương 3: Hướng phát triển, hoàn thiện quản lý, tổ chức hoạt động thư viện Nhạc viện TP.HCM
Trang 17Dưới góc độ giá trị, ông Fédérico Mayor Zaragoza, nguyên tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [2, tr12] Là cơ quan của Liên Hiệp Quốc, với tôn chỉ văn hóa – vì sự phát triển nhân loại, UNESCO đặt văn hóa
ở chiều hướng văn hóa là động lực phát triển và là mục tiêu của con người
Và, từ góc độ giá trị truyền thống, bản sắc – tinh hoa dân tộc của văn hóa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nêu: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [33, tr.16]
Với rất nhiều các khái niệm, định nghĩa về văn hóa, qua những ý kiến
đã nêu trên, để có thể hiểu, xác định một cách cụ thể và đơn giản nhất, về thuật ngữ “Văn hóa”, chúng ta có:
Từ góc độ phân loại, chúng ta có “Văn hóa hữu thể” (vật chất) như đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ… và “Văn hóa vô hình” (phi vật thể, tinh thần) như âm nhạc, múa, truyền thống, ngôn ngữ, huyền thoại, lễ hội…
Từ góc độ định nghĩa, khái niệm, chúng ta có cách giải thích về Văn hóa hết sức giản dị nhưng đầy đủ và súc tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
Trang 18nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.[12, tr.431]
Như vậy, văn hóa được sinh ra để phục vụ con người và là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc; Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của loài người, biểu hiện trong hình thức tổ chức cuộc sống, tạo ra những giá trị vật chất lẫn tinh thần; văn hóa qui định hành vi con người đồng thời thúc đẩy cho sự phát triển con người Đây chính bản chất của văn hóa và con người có văn hóa sẽ làm cho văn hóa biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp
Quản lý văn hóa
Liên kết hai khái niệm trên, khái niệm “Quản lý văn hóa” có thể được hiểu như sau:
Quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân… )
Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung chính sau đây:
Trang 19Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức…), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa – là cơ
sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa… (trong các văn kiện chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ)
Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng quản lý văn hóa từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực Cơ chế phối hợp liên ngành (bộ, ban, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự…) Hệ thống pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, chỉ thị, văn bản hướng dẫn, quy chế, quy tắc, quy định,…) Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học – nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc…) và theo địa bàn lãnh thổ (Trung ương – địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng – miền núi, trong nước – ngoài nước…) Cần lưu ý đến tầm quan trọng của cách chính sách đầu
tư phát triển các nguồn lực (đặt biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lý
vi phạm.[11, tr.22-26]
Thiết chế văn hóa
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thiết chế văn hóa là “chỉnh thể văn
hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa
đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [31, tr.230] Cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy
nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể Hệ thống thiết chế văn hóa bao gồm: Nhà văn hóa, Thư viện, Bảo tàng, Công viên văn hóa
Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành Văn hóa từ các năm thuộc thập niên 70 thế kỷ XX Như vậy, là một thiết chế văn hóa, thư viện cần được quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động, định hướng
Trang 20phát triển… dưới góc độ của công tác quản lý văn hóa Ngoài chuyên môn thư viện, người làm công tác thư viện cần có những kỹ năng, hiểu biết về quản lý văn hóa để có quan điểm, những hoạt động, hành vi, ứng xử như một hoạt động phổ biến, giới thiệu văn hóa cho xã hội Cũng như vậy, công tác thư viện phải được định hướng phát triển với tầm nhìn của người quản lý văn hóa, với những hiểu biết về tác động, vai trò của thư viện trong đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Tóm lại, ở góc độ khảo sát quản lý hoạt động thư viện chuyên ngành
âm nhạc, những khái niệm nêu trên sẽ làm rõ hơn những khảo sát Tuy nhiên, dưới góc độ xem thư viện như một thiết chế văn hóa, góp phần phát huy và phát triển những tri thức – văn hóa của nhân loại cho cộng đồng, luận văn hướng đến tính giá trị, tính thẩm mỹ và mục đích phục vụ cuộc sống con người của thiết chế văn hóa – thư viện
1.2 Khái quát chung về thư viện và thư viện chuyên ngành âm nhạc
1.2.1 Thư viện – thuật ngữ và hình thức quản lý
Theo Tự điển tiếng Việt Phổ thông, thư viện là: “nơi giữ sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng” [32, tr.896] Như vậy, có thể thấy thư viện được xem như nơi lưu trữ và phục vụ cho mọi người… Cũng như vậy,
“thư viện” (tiếng Anh: Library, tiếng Pháp: Bibliothèque) hiểu theo nghĩa từ nguyên của từ “Bibliotheka” - tiếng Hy Lạp (Biblio: sách, theka: nơi cất giữ)
là nơi cất giữ, bảo quản sách Năm 1970, theo định nghĩa của UNESCO, “thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ hoạ, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí” [21, tr.7] Theo đó, chúng ta có thể thấy thư viện không chỉ là nơi “bảo quản sách” như
Trang 21từ nguyên của nó, mà về nội dung – đối tượng tổ chức – quản lý của thư viện ngày nay đã mở rộng, không chỉ là sách mà còn có những thể loại khác như các ấn phẩm, tài liệu hình ảnh, nghe nhìn… Đồng thời, mục đích thư viện ngày nay cũng rộng mở hơn mà còn là thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí
Theo Điều 1 Pháp lệnh Thư viện năm 2000, có đưa ra định nghĩa: “Thư viện là nơi giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Ngoài ra, còn có rất nhiều khái niệm khác về thư viện cụ thể hơn:
“Thư viện là một thiết chế văn hóa và được xem như là cơ quan văn hóa giáo dục sau nhà trường Nó đã trở thành nhân tố nội sinh của sự phát triển trước mắt và lâu dài, góp phần xây dựng con người có tri thức, có tâm hồn và có nhân cách cao đẹp”
“Các thư viện là những trung tâm văn hóa giàu sức sống, là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền phổ biến các kiến thức về các loại hình nghệ thuật…”[22, tr.8-9] v.v…
Như vậy, thoát khỏi quan niệm khởi nguyên, cũng như định nghĩa của Pháp Lệnh Thư viện Việt Nam nêu trên, ngày nay, còn có những chi tiết nêu
rõ hơn trong cách hiểu về khái niệm thư viện Các khái niệm trên cho thấy tính chất đa dạng, rộng mở hơn, có nhiều loại thư viện hơn Đồng thời, cũng như vậy, các khái niệm thể hiện nhiều nhiệm vụ mới mẽ hơn đối với tổ chức
“thư viện”, ngoài ý chỉ là nơi “lưu trữ” sách vở, tài liệu như trước
Trang 22Mặt khác, nhiều tài liệu đều đưa ra như tiêu chí - yếu tố để hình thành cũng như đặc điểm để phân loại thư viện Có thể tóm gọn như sau:
- Vốn tài liệu: Đây là “yếu tố đầu tiên để hình thành thư viện, vốn tài liệu là tài sản quý giá, là tiềm lực, là sức mạnh và là niềm tự hào của thư viện.” Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, thư viện sẽ có đặc điểm, tính chất, thể loại liên quan – phụ thuộc vào vốn tài liệu Nói cách khác, vốn tài liệu thuộc loại gì, tập trung nội dung của vốn tài liệu theo chủ đề gì thì thư viện sẽ được phân loại theo và cách quản lý, tổ chức hoạt động sẽ theo đó mà triển khai, thực hiện Vốn tài liệu còn là di sản văn hóa, kho tàng tri thức của dân tộc (kể cả của nhân loại), là thước đo trình độ phát triển về mọi mặt
- Cán bộ thư viện: là người tổ chức, điều hành hoạt động của thư viện Một số người còn ví von: “Cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện” [21, tr.7] Theo tài liệu “Cẩm nang hướng dẫn công tác thư viện”, cán bộ thư viện
là người có nhiệm vụ rất phức tạp trong quan hệ với tài liệu: chọn lựa, bảo quản, sắp xếp, tổ chức phục vụ bạn đọc một cách tốt nhất Cán bộ thư viện còn cần phải biết tổ chức sử dụng phương tiện vật chất kỹ thuật, sắp xếp tài liệu sao cho khoa học nhất, thuận lợi nhất và bảo quản tốt nhất để có thể lưu trữ lâu dài, sử dụng lâu dài
Ngoài ra, cán bộ thư viện cũng cần có hiểu biết chuyên môn về các chuyên ngành của thư viện – đối với thư viện chuyên ngành, để có những cách quản lý đúng với các tài liệu chuyên ngành Trong quản lý thư viện thông qua
cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện nay chủ yếu là công nghệ thông tin, người cán bộ thư viện còn cần có kiến thức, kỹ năng công nghệ thông tin mới
có thể đảm đương nổi công tác thư viện trong điều kiện hiện nay
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của thư viện sẽ đóng một vai trò quan trọng đối với công tác – hoạt động thư viện Cơ sở vật chất là điều kiện để bảo quản, lưu trữ, điều hành hoạt động của thư viện – phục vụ bạn đọc
Trang 23- Bạn đọc, phục vụ bạn đọc là mục tiêu cuối cùng của thư viện Tùy đối tượng phục vụ - bạn đọc - mà thư viện sẽ có một hoạt động khác nhau và ngược lại, thư viện được hình thành vì mục đích phục vụ bạn đọc, do vậy, bạn đọc thuộc đối tượng nào – thư viện sẽ được hình thành, tổ chức hoạt động như vậy và thư viện theo đó sẽ được hình thành nhằm mục đích phục vụ cho đối tượng bạn đọc đó
Ngược lại, thư viện được hình thành sẽ thu hút đối tượng bạn đọc của chính nó theo như nội dung, thể tài, nguồn tài liệu thu thập mà ngay từ đầu thư viện định hướng Như vậy – mối tương quan giữa thư viện và bạn đọc là mối quan hệ tương hỗ - qua lại
Từ những điều đã nêu trên, khái niệm mới về Quản lý thư viện ra đời, đó
là khái niệm Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management – TQM) Khái niệm này sẽ mang đến cho chúng ta những quy định, yêu cầu, nội dung công việc quản lý thư viện cũng như yêu cầu về chất lượng hoạt động thư viện:
+ TQM chi tiết hóa các quá trình và các chức năng của một tổ chức thư viện trên quan điểm, mục tiêu của tổ chức đó
+ Phương pháp lấy chất làm trọng tâm bao gồm tổng thể kế hoạch thực thi hoạt động và đánh giá rất được đề cao
+ TQM tập trung chú ý vào người dùng tin
Có ba biện pháp đánh giá người dùng tin, đó là “Mức độ thỏa mãn dịch
vụ tra cứu”; “Khả năng tìm kiếm trực tuyến” và “Sự thỏa mãn yêu cầu nói chung” [4, tr.82]
Với những tiêu chí nêu trên, người ta hướng hoạt động thư viện đến việc thoả mãn đối tượng mà thư viện phục vụ và quản lý hoạt động thư viện không chỉ thuần tuý như một người “giữ của”, hết giờ - hết việc, mà phải quan tâm đến việc làm thoả mãn người đến truy cập, sử dụng thông tin Quản
lý thư viện, với mối quan tâm đến con người – người đến sử dụng thông tin,
Trang 24đã có mối liên quan – tương đồng của hoạt động quản lý văn hóa Đó là “sự
tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (như quản lý viện) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa – ví dụ như thư viện) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân… )” – sự hiểu biết – tri thức cho người
dân… Có thể nói, Quản lý thư viện – với quan điểm quản lý chất lượng mà mục tiêu là làm thoả mãn người sử dụng thư viện – làm cho chất lượng sống của người dân ngày càng được nâng lên, đó chính là quản lý văn hóa
1.2.2 Giới thiệu chung về thư viện Đại học
1.2.2.1 Thư viện chuyên ngành – đa ngành
Tuỳ theo vốn tài liệu, nội dung của vốn tài liệu, mô hình tổ chức hoạt động, cơ cấu tổ chức, quản lý… thư viện có các dạng:
+ Thư viện của viện, trung tâm nghiên cứu khoa học: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức trong phạm vi của viện, trung tâm và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
+ Thư viện của nhà trường và cơ sở giáo dục: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, nhà giáo, người học trong phạm vi của nhà trường, cơ sở giáo dục khác và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
+ Thư viện của cơ quan Nhà nước: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức trong phạm vi cơ quan và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
+ Thư viện của đơn vị vũ trang: được thành lập nhằm phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
+ Thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp: được thành lập chủ yếu
Trang 25nhằm phục vụ các thành viên trong phạm vi tổ chức, đơn vị và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện.[40]
1.2.2.2 Vài mô hình tiêu biểu về thư viện chuyên ngành - thư viện Đại học
Thứ nhất, mô hình Thông tin Đại học
Mô hình này được hình thành trên cơ sở hợp tác chặt chẽ giữa các thư viện trung tâm và các chi nhánh thư viện, tư liệu với nhau cũng như với các đơn vị khác trong trường như Văn thư lưu trữ; Trung tâm tin học; Các khoa
Thư viện và các đơn vị nói trên sẽ hỗ trợ và thay thế nhau lưu trữ, cung cấp mọi thông tin thiết yếu cho cán bộ và SV Đặc biệt khi công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh các mối liên hệ thông tin sẽ toàn diện và phong phú hơn gồm Cung cấp dịch vụ truy cập thông tin điện tử rộng rãi tới từng lớp học; Thiết lập mạng lưới thông tin đại học và quản lý hành chính; Giới thiệu tài nguyên thông tin – thư viện cả trong và bên ngoài trường
Thứ hai, mô hình Không biên giới
Ý nghĩa ẩn dụ đó là “thư viện không có bức tường ngăn cách” Cho đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, biên giới địa lý của thông tin đã không còn Bất kỳ ở đâu, bất kỳ thời điểm nào, bạn đọc đều có thề truy cập, sử dụng thông tin của tất cả các thư viện được nối mạng trên thế giới Thông tin đã được truyền đi vượt mọi giới hạn của không gian, thời gian và không phụ thuộc vào bất kỳ một cung cách, phương thức chuyển giao nào
Với các hoạt động cung cấp thông tin truyền thống, mô hình Không biên giới chính là mô hình hợp tác, liên thông thư viện Dịch vụ cho mượn giữa các thư viện (Inter Library Online) bạn đọc có thể mượn tài liệu in từ bất
cứ thành viên nào trong liên hiệp thư viện (Consortium) Đối với nguồn tin
Trang 26điện tử, vấn đề trở nên cực kỳ đơn giản, bạn đọc có thể truy cập tìm tin ở trang web của những thư viện lớn nhất hay ở một trang web cá nhân nào đó
Thứ ba, mô hình Cố vấn giáo dục/ nghiên cứu
Hai mô hình trên đưa ra phương thức nghiên cứu dịch vụ thư viện, nhấn mạnh cấu trúc thông tin cụ thể, trong khi đó, mô hình cố vấn giáo dục/ nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những đóng góp của cán bộ thư viện mục đích cơ bản là thúc đẩy học tập, giảng dạy đạt kết quả cao hơn nữa Cán bộ thư viện và cán bộ giảng dạy có thể là đối tác của nhau trong quá trình làm việc Để mô hình này phát huy hiệu quả cao nhất, ngoài tài liệu in ấn, rất cần tài liệu số hóa bởi nhiều người có thể sử dụng chung trong cùng một thời điểm; không bị khu biệt; dễ sao chép, rất linh hoạt, dễ chỉnh sửa, sắp xếp; không quá đồ sộ như kho sách báo in
Thư viện phải xây dựng được một cấu trúc hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo gắng kết chặt chẽ giữa thông tin và người dùng tin Thư viện phải là một
tổ chức linh hoạt, có khả năng đáp ứng cả nhu cầu đơn lẻ, cá biệt và nhu cầu cộng đồng rộng rãi
Đặc điểm cơ bản của mô hình này là sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ thư viện và người dùng tin Cán bộ thư viện cần biết rõ nhu cầu cụ thể của người dùng tin để thỏa mãn nhu cầu của họ như nhu cầu về tài liệu in, được gửi qua đường Fax, đường bưu điện…; nhu cầu về tài liệu số hóa (kể cả âm thanh hình ảnh), tài liệu sẽ được gửi qua Email họăc qua địa chỉ trực tuyến
Vai trò của cán bộ thư viện sẽ chuyển từ việc chọn lựa tư liệu cho bạn đọc sang việc hướng dẫn kiến thức về cấu trúc thông tin và cơ chế truy cập cho họ Đối tượng được chú ý đầu tiên là sinh viên năm thứ nhất bởi sinh viên mới thường choáng ngợp trước kho tài liệu thông tin rộng lớn và thường thấy
lạ lẫm khi tiếp cận phương pháp học ở bậc Đại học
Trang 27Cán bộ giảng dạy cùng với cán bộ thư viện có thể cùng nhau hướng sinh viên đến tiếp cận những thành tựu tri thức đã được tích lũy cũng như bổ sung thêm độ sâu kiến thức và phương pháp học tập, nghiên cứu cho sinh viên Cán bộ thư viện có thể thực hiện sự hợp tác này thông qua vai trò cố vấn bởi thông tin được phân tán trên diện rộng và cán bộ thư viện là người đã quen với các môn học Hơn nữa, cán bộ giảng dạy có thể là chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó, tuy nhiên, họ không hiểu nhiều các lĩnh vực khác Bên cạnh đó, cán bộ giảng dạy có thể tìm một cán bộ thư viện am hiểu về lĩnh vực mình quan tâm để có thể nắm rõ hơn về nguồn tài liệu mình cần
Mô hình cố vấn có nghĩa là cán bộ thư viện phải ở vị trí trung gian giữa nguồn tin và cán bộ giảng dạy, do đó họ phải tăng cường nhận thức giáo dục đại học và cần thuyết phục cán bộ giảng dạy về những lợi ích hợp tác và đề xuất các giải pháp hợp tác giữa hai bên.[4, tr.82-84]
Theo cách xếp loại đẳng cấp hình tháp (từ cao xuống thấp) về các loại hình thư viện của Lê Ngọc Oánh (Khoa Thư viện - Thông tin, Trường Đại học Sài Gòn) thì vị trí thư viện của các trường đại học, cao đẳng và thư viện của các viện nghiên cứu được đánh giá ở hệ cấp thứ nhì của ngành thư viện [23, tr.7] Điều đó cho ta thấy được vai trò và tầm quan trọng của thư viện đại học trong việc ảnh hưởng cũng như góp phần không nhỏ đến sự phát triển tài năng
của xã hội.[23, tr.6]
Qua sơ đồ bên, có thể, nhiều người cho rằng quy mô của thư viện chuyên ngành, thư viện của trường đại học… có mức độ khác nhau Tuy nhiên, mức độ - quy mô của loại hình thư viện còn được định lượng theo số lượng vốn tài liệu,
Hình 1.1
Trang 28nguồn tài liệu mà nó sở hữu Đồng thời, chất lượng của nguồn thông tin, của vốn tài liệu, mức độ thẩm định tính khoa học của vốn tài liệu cũng là một yếu
tố để đánh giá thư viện Đó cũng thể hiện khả năng phục vụ, khả năng cung cấp thông tin cho bạn đọc và chất lượng của thông tin Cuối cùng, dù ở mức
độ là “bộ sưu tập” hay cả khối lượng sách – tri thức của con người, giá trị của thư viện không ở đẳng cấp, loại hình… mà ở năng lực phục vụ và cung cấp thông tin, chất lượng (độ khoa học, độ tin cậy) của thông tin, mật độ tiếp xúc nguồn tri thức của người dân đối với thư viện mới là điều quan trọng
1.2.3 Vai trò và chức năng – nhiệm vụ của Thư viện trong trường Đại học
1.2.3.1 Vai trò của thư viện viện, trường với việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Vai trò của thư viện với việc nâng cao chất lượng dạy, học và nghiên cứu khoa học được thể hiện trên các bình diện sau:
- Thư viện là nơi cung cấp tài liệu và thông tin phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Trên thực tế, đã từ lâu phương thức giảng dạy, trò nghe, ghi chép đã trở nên bất cập Với xu hướng chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, phương thức này
sẽ không thể được chấp nhận Trong đào tạo tín chỉ, người thầy trên giảng đường chỉ nêu vấn đề mà học trò cần tìm hiểu và chỉ ra những nguồn tài liệu
mà sinh viên có thể dùng để nghiên cứu tham khảo Để thực hiện đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi phải có 2 điều kiện:
Một là phải đảm bảo có đủ tài liệu tham khảo, giáo trình và các phương tiện phục vụ cho thực hành, thí nghiệm
Hai là người học phải phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu Sinh viên phải tự đến thư viện và sử dụng các nguồn khác nhau tìm tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu thảo luận
Trang 29Trên thực tế, người học khó có thể tự mình trang bị đủ các tài liệu để học tập và tham khảo Với nguồn học liệu phong phú, bao gồm: Sách giáo khoa, giáo trình, các tài liệu tham khảo, các luận án, luận văn, công trình nghiên cứu… về các lĩnh vực tri thức và các ngành trong chương trình đào tạo của nhà trường, thư viện đại học đã cung cấp cho sinh viên, người học và nghiên cứu sinh những phương tiện để thực hiện việc học và nghiên cứu Bằng họat động thực tế, thư viện sẽ tham góp vào làm thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập ở trường đại học
Thư viện phát triển kiến thức thông tin, giúp cho người dạy, người học, cán bộ nghiên cứu nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu Bằng hoạt động đào tạo người dùng tin, các hình thức marketing, cung cấp các bản thư mục,
ấn phẩm thông tin, thư viện chủ động giới thiệu cho người dạy và người học các nguồn lực tài liệu hỗ trợ học tập Nhờ đó, thư viện giúp cho các giảng viên có thể thiết kế bài giảng đảm bảo chất lượng và linh hoạt
Với các lớp tập huấn cho những sinh viên mới đến thư viện, các buổi tuyên truyền giới thiệu sách, giới thiệu về sản phẩm và dịch vụ thông tin cho các đối tượng người sử dụng của thư viện, hướng dẫn tra cứu mục lục, cơ sở
dữ liệu, tìm tin trên internet… thư viện đã tích cực giúp cho người học nhận dạng được nhu cầu thông tin của mình, xác định được nguồn tìm và lựa chọn các tài liệu, thông tin phù hợp, qua đó giúp cho người học phát triển và hình thành năng lực học tập suốt đời của họ
Thư viện góp phần thay đổi phương pháp dạy và học trong các trường đại học: với người thầy, thư viện đại học đã hỗ trợ cho việc thay đổi phương pháp giảng dạy ở bậc Đại học Thay vì lên lớp thuyết trình, áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, người thầy sẽ cung cấp kiến thức cơ bản, nêu vấn đề, đưa ra các yêu cầu phải thảo luận, hướng dẫn và yêu cầu sinh viên tham khảo, nghiên cứu tài liệu để có đủ dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc học tập, thảo
Trang 30luận Thay vì trao truyền kiến thức đơn thuần, người dạy đã hướng dẫn sinh viên tự tìm ra lời giải đáp cho vấn đề được đặt ra
Với người học, thư viện đại học cũng hỗ trợ cho việc thay đổi phương pháp học tập ở bậc Đại học Thay vì học theo bài giảng hay giáo trình của thầy, cô giáo, các sinh viên phải đến thư viện tìm kiếm các tài liệu liên quan đến đề tài, nội dung môn học, những vấn đề cần thảo luận
Thư viện đại học sẽ đóng góp một phần không nhỏ trong việc làm thay đổi phong cách tìm kiếm, lựa chọn, khai thác, sử dụng thông tin và tri thức của người học Điều đó giúp cho người học có thể phát huy tính sáng tạo và thực hiện được phương châm: Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
“Chúng ta không thể nói loại hình thư viện nào có vai trò quan trọng hơn nhưng chỉ biết rằng vai trò của Thư viện Đại học (Academic library) là rất lớn Thư viện trong trường đại học, nói gọn là “thư viện đại học”, là một
bộ phận không thể thiếu của trường đại học, nơi đào tạo những trí thức, những nhà khoa học tương lai cho xã hội Thư viện là nơi nắm giữ và cung cấp nguồn tài nguyên trí tuệ phục vụ các nhà nghiên cứu, các học giả, các cán bộ giảng dạy và sinh viên của trường đại học”[27] Mặt khác, thư viện đại học là nơi cung cấp nguồn thông tin quan trọng nhất trong nhà trường, là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên, là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập trong việc khám phá và tư duy sáng tạo của sinh viên Thư viện Đại học góp phần cải tiến nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp dạy và học…
1.2.3.2 Chức năng – nhiệm vụ của thư viện Đại học
Nhiệm vụ và chức năng của thư viện đại học cũng như các loại hình thư viện khác đều phải tuân theo quy định chung của Pháp lệnh thư viện, đó là:
Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong
Trang 31xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp của nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [40, Điều 1]
Thư viện Đại học là một bộ phận trực thuộc lãnh đạo trường, viện… đóng một vai trò quyết định trong quá trình hình thành tri thức, cơ sở để phân biệt đào tạo đại học và đào tạo phổ thông Để đạt được các yêu cầu trên, công tác quản lý thư viện phải được thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của Nhà nước và đơn vị đào tạo
Chức năng: Quản lý về công tác thư viện, tổ chức thực hiện công tác lưu trữ và khai thác tư liệu thông tin, sách báo, tạp chí, giáo trình, tài liệu điện
tử phục vụ công tác giảng dạy, học tập nghiên cứu khoa học – thực tiễn
Nhiệm vụ: Xây dựng, phát triển thư viện theo hướng hiện đại; Tổ chức các loại hình hoạt động, giới thiệu các loại tài liệu; Lập kế hoạch mua, tiếp nhận, trao đổi, bổ sung các lọai tài liệu; Tổ chức quản lý các thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ phục vụ; Khai thác và cập nhật thông tin thường xuyên; Tổ chức quản lý, lưu trữ và bảo quản tài liệu theo đúng quy định; Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan thư viện trong và ngoài nước, từng bước hiện đại hóa công tác thông tin tư liệu; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên thư viện; Tổng hợp các hoạt động thư viện, thống kê, báo cáo theo quy định và theo yêu cầu của lãnh đạo cấp trên; Phối hợp với các đơn vị thực hiện các công tác phát sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đơn vị; Quản lý
và sử dụng hiệu quả lao động, cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị được lãnh đạo cấp trên giao [30, tr.83-84]
Trang 321.3 Khái quát về Thư viện Nhạc viện TP Hồ Chí Minh
1.3.1 Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển Thư viện Nhạc viện
TP Hồ Chí Minh (từ 1956 đến nay)
“Thư viện, Âm-thanh-viện” – tiền thân của Trung tâm thông tin – Thư viện Nhạc viện TP.HCM ngày nay, được thành lập từ 1956 thuộc trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn Đây là nơi lưu trữ các tài liệu, sách, tạp chí, bản phổ, băng – đĩa âm nhạc… và phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, biểu diễn, sáng tác âm nhạc của nhà trường Năm 1976, kế thừa từ cơ sở vật chất của
“Thư viện, Âm-thanh-viện”, Phòng “Tư liệu và Thư viện” ra đời với nhiều chức năng: lưu giữ các tư liệu truyền thống, băng đĩa âm nhạc cùng những hình ảnh ghi lại các hoạt động nổi bật của nhà trường (có nhiệm vụ thu thập, lưu trữ tư liệu về các hoạt động của Nhạc viện); lưu giữ sách báo, tạp chí chuyên ngành âm nhạc, và đặc biệt là có nhiệm vụ phụ trách - điều chỉnh âm thanh trong hoạt động biểu diễn, hội họp Như vậy, thư viện âm nhạc của Nhạc viện (lúc đó là trường Quốc gia Âm nhạc TP.HCM – đến năm 1977 đổi tên là Nhạc viện TP HCM như ngày nay) chỉ là một bộ phận của Phòng “Tư liệu và Thư viện”
Năm 1999, lãnh đạo Nhạc viện mở rộng chức năng quản lý của phòng
“Tư liệu và Thư viện”, đổi tên thành Phòng Quản lý khoa học Phòng được giao nhiệm vụ quản lý và tổ chức thực hiện nhiều mảng công tác khác nhau, bao gồm các bộ phận: thư viện, tư liệu, quản lý tài liệu nghe nhìn, quản lý công tác đào tạo Sau Đại học (Cao học), quản lý các hoạt động khoa học và phục vụ công tác nghiên cứu khoa học trong nhà trường… Ngoài ra, Phòng còn tổ chức nghiệm thu các công trình khoa học, các tác phẩm âm nhạc, các chương trình, giáo trình và quản lý các tài liệu đang được giảng dạy tại Nhạc viện (sách, bản phổ, Chương trình đào tạo, đề cương môn học, giáo trình…) Điều này cho thấy, quy mô hoạt động của nhà trường đã phát triển – có đào
Trang 33tạo Sau đại học (từ 1992), và thư viện cũng chỉ là một bộ phận trực thuộc sự quản lý của Phòng Quản lý Khoa học
Năm 2004, Phòng được đổi tên là Phòng Quản lý Khoa học – Thông tin Thư viện, trong đó, Thư viện cũng vẫn chỉ là một bộ phận của Phòng Năm
2008, phòng được đổi tên là Phòng Quản lý Khoa học và Sau Đại học, có nhiều bộ phận: Sau đại học, Thư viện, tư liệu, phòng máy tính, Quản lý khoa học v.v… Phòng được lãnh đạo nhà trường giao cho chức năng, nhiệm vụ mới, tựu trung, gồm 5 mảng công tác: quản lý đào tạo Sau Đại học, quản lý công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, Thư viện, phòng máy tính
và Tư liệu Ngoài công tác quản lý đào tạo Sau đại học với nội dung công việc như một phòng đào tạo (cho trình độ Sau đại học), hoạt động của phòng còn kiêm nhiệm rất nhiều chức năng: quản lý và tổ chức phục vụ thông tin (website, cập nhật phát hành – phổ biến tin tức về hoạt động của Nhạc viện…); xây dựng phương hướng, kế hoạch nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực âm nhạc; quản lý và tổ chức nghiệm thu các công trình khoa học, các chương trình, giáo trình; quản lý, tổ chức thu thập, lưu trữ tư liệu; phục vụ cho nghiên cứu khoa học, sáng tác, giảng dạy ở các hình thức nghe – nhìn – đọc (thư viện, phòng máy )
Phòng cũng từng bước hiện đại hóa công tác quản lý tư liệu, thư viện, phòng máy… nhằm phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học tốt hơn như: mua và đưa vào sử dụng 15 máy tính, 15 tai nghe cùng hệ thống máy chủ với cấu hình mạnh tương thích với phần mềm hỗ trợ nghe - nhìn bản phổ và âm thanh cùng lúc Xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử (kho lưu trữ âm thanh và sách điện tử có nội dung là các tác phẩm nổi tiếng của các GV, GS đang giảng dạy tại Nhạc viện… Đây là công trình được nhà được đầu tư và do các chuyên gia âm thanh tại Mỹ và chuyên viên thư viện xây dựng - thực hiện) Công trình bước đầu cập nhật phương pháp xây dựng hệ thống thư viện
Trang 34theo chuẩn quốc tế - Multibibliothèque, Thư viện đa phương tiện1 Tuy nhiên chỉ ở mức độ kết hợp giữa nghe và nhìn bản phổ - chưa có thể kết hợp với nhìn ảnh động biểu diễn trực tiếp – tức là nghe – nhìn biểu diễn và đối chiếu với xem bản nhạc được ghi chép trên bản phổ Tuy nhiên, công trình này chỉ thực hiện đối với một số tác phẩm âm nhạc kinh viện nhưng khá phổ biến, tác phẩm mang tính học thuật trong nhà trường
Đến năm 2014 Trung tâm Thông tin - Thư viện được thành lập từ việc chia tách khỏi Phòng Quản lý Khoa học & Sau Đại học và chính thức đi vào hoạt động độc lập Trung tâm Thông tin - Thư viện hiện là nơi lưu trữ lớn tài liệu chuyên ngành âm nhạc của miền Nam; là nơi tra cứu, học tập, làm việc của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên học sinh… các chuyên ngành âm nhạc, văn hóa âm nhạc, giáo dục âm nhạc…; phân phối và phát hành sách, giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành âm nhạc của Nhạc viện TP.HCM Trung tâm Thông tin - Thư viện bao gồm các bộ phận: thư viện sách, thư viện âm thanh và thư viện hình ảnh, phòng máy và bộ phận quản lý website Bộ phận thư viện sách với hơn 7.225 đầu sách, bản phổ âm nhạc, tự điển, tạp chí, tài liệu khoa học chuyên ngành
âm nhạc trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu của giảng viên, học viên Sau Đại học (Thạc sĩ và Nghiên cứu sinh)
Bộ phận thư viện âm thanh tư liệu, hình ảnh hiện có hơn 1.540 hộp băng CD âm nhạc, đồng thời lưu giữ hơn 150 băng video nhạc cổ điển và nhạc kịch Ngoài ra, trung tâm còn lưu trữ một số băng, CD, VCD, DVD với hơn 40 đĩa nhạc thuộc thể loại âm nhạc dân gian Hệ thống tư liệu trên được bảo quản và đưa vào sử dụng thường xuyên bởi hệ thống phòng đọc, mượn (gồm kho sách mở và kho sách tư liệu quý), phòng nghe nhìn (lưu trữ và thu
1
Dạng thư viện đa phương tiện Médiathèque (Bibliothèque – Phonothèque – Vidéothèque) mà chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp ở mục 1.3.2 “Đặc thù của thư viện chuyên ngành âm nhạc”
Trang 35sang băng đĩa) và phòng máy (phục vụ giảng dạy ngoại ngữ và vi tính chuyên ngành âm nhạc)
Bộ phận phụ trách trang thông tin điện tử (website) của Nhạc viện TP.HCM cập nhật, viết bài thông tin liên tục về các chương trình diễn, chương trình tuyển sinh, đào tạo, thông tin về kết quả học tập của HS-SV và công bố các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học diễn ra tại Nhạc viện TP.HCM
Trung tâm hiện có một số các dịch vụ (miễn phí và có thu phí) phục vụ bạn đọc như sau: nghe & xem tại chỗ, đọc tại chỗ, mượn - trả tài liệu, giới thiệu - trưng bày tài liệu, hỏi - đáp, dịch tài liệu, chép nhạc, sao chép tài liệu, phát hành sách, giáo trình, cung cấp thông tin theo yêu cầu (các thể loại sách, ghi đĩa, nối file, chuyển file ), quay phim, chụp ảnh các chương trình tốt nghiệp, biểu diễn âm nhạc
60 năm qua, Phòng Thư viện – Âm thanh viện ngày trước và Trung tâm Thông tin-Thư viện ngày nay đã tích cực hoạt động, phối hợp với các bộ phận trong Nhạc viện hoàn thành nhiệm vụ được giao và nhận được nhiều Bằng khen của Bộ, Giấy khen của Nhạc viện, được công nhận là “Tổ lao động xã hội chủ nghĩa” và liên tục nhiều năm liền là “Tập thể lao động xuất sắc”
1.3.2 Đặc thù của hoạt động thư viện chuyên ngành âm nhạc (Thư viện Nhạc viện TP.HCM)
Thư viện chuyên ngành âm nhạc nói chung và thư viện chuyên ngành âm nhạc tại TP.HCM nói riêng, có hoạt động chủ yếu là thu thập, lưu trữ tất cả các tài liệu chuyên ngành âm nhạc: sách, bản phổ, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành âm nhạc và các thông tin bằng âm thanh – hình ảnh v.v… Tuy nhiên, đối với công việc phục vụ chuyên ngành âm nhạc, thư viện chuyên ngành này có một số đặc điểm riêng (đặc thù chuyên ngành sâu – liên quan đến đặc thù của các loại hình âm nhạc) sẽ có nhiều tác động
Trang 36đối với công việc quản lý, hình thức tổ chức, hoạt động phục vụ cũng như những nội dung, cách thức thu thập – lưu trữ của thư viện Mặt khác, đối với chuyên ngành âm nhạc, thư viện trong một nhà trường đào tạo âm nhạc cần hướng đến việc xây dựng “thư viện đa phương tiện” (Médiathèque (Bibliothèque – Phonothèque – Vidéothèque) Đây là loại hình thư viện đã được tổ chức hoạt động ở rất nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, dưới đây là những đặc điểm “riêng” tạo nên đặc thù của thư viện chuyên ngành âm nhạc tại Nhạc viện TP.HCM Đây cũng là những yêu cầu mang tính chuyên ngành đối với thư viện mà qua thực tế tổ chức, quản lý hoạt động, điều hành và nghiên cứu, chúng tôi có thể nêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, đặc thù trong công tác thu thập – quản lý bản phổ âm nhạc của thư viện chuyên ngành âm nhạc
Âm nhạc là một loại ngôn ngữ Tuy nhiên, đối với mỗi thể loại sách, tài liệu ký âm, mỗi nội dung đối với loại nhạc cụ khác nhau trong chuyên ngành
âm nhạc có những yêu cầu, tiêu chí sử dụng khác nhau Do âm nhạc sử dụng
âm thanh, ngôn ngữ của âm nhạc được ghi lại bằng những ký hiệu riêng Mà,
“ký âm như là một cách “chuyển dịch” từ âm thanh sang hình ảnh với mục
đích cuối cùng là đưa ra được một chuỗi những hướng dẫn chi tiết cho người biểu diễn với nội dung: diễn tấu cái gì, khi nào và như thế nào nhằm đạt được hiệu quả âm thanh nhất định”[8, tr.1] Nên, mỗi một loại nhạc cụ cũng có
những quy định ghi chú khác nhau, nhất là các bản ký âm cho các loại nhạc
cụ dân tộc Việt Nam Mỗi một nhạc cụ dân tộc có những cách ghi chú – ký hiệu khác nhau
Đối với mỗi thời kỳ âm nhạc có cách ghi – hoặc có một số ký hiệu âm nhạc mới Do đó, ngày nay, chúng ta có những bản phổ khác nhau từ những nhà xuất bản khác nhau: có bản được Nhà xuất bản ghi chú cẩn thận, giúp
Trang 37người tra cứu – sử dụng, diễn tấu dễ dàng; Nhưng cũng có nhà xuất bản chỉ ghi lại phần chung nhất từ bản thủ bút của tác giả…
Ví dụ: 4 nhịp đầu trong Fugue số 2 của J.S Bach do nhà xuất bản Alfred
ấn hành có ghi chú về motif (dấu legato, non-legato, staccato) Ấn bản trên do
Williard A Palmer hiệu đính số ngón tay
Ba nhịp đầu trong Fugue số 2 của J.S Bach do nhà xuất bản G Henle ấn
hành, không có những ghi chú về motif (dấu legato, non-legato, staccato) Ấn
bản này do Andras Schiff hiệu đính số ngón tay
Chưa kể, đối với bản phổ, có thể nói rằng từ giai đoạn tác phẩm được tác giả thể hiện tư tưởng âm nhạc trên giấy đến giai đoạn người đọc cầm bản phổ trên tay là cả một quá trình
Hình 1.2
Hình 1.3
Trang 38Từ bản viết tay, trải qua hàng trăm năm lưu trữ, các bản phổ lại được các nhà xuất bản đưa lên thành bản in với sự hiệu đính (tuỳ theo cách hiểu của các chuyên gia) và tái bản nhiều lần Tùy theo yêu cầu và mức độ hiệu đính của từng nhà xuất bản, tuỳ theo sự thay đổi của các ký hiệu âm nhạc trong tác phẩm theo thời gian mà chúng ta thấy có nhiều phiên bản khác nhau của cùng một tác phẩm
Ví dụ 3: Bản thảo (viết tay) Prelude số 8 của J.S Bach:
Bản in Prelude số 8 của J.S Bach:
Hình 1.4
Trang 39Như vậy, một bản nhạc có nhiều chi tiết được hiệu đính khác nhau, việc phân định và chọn lựa phiên bản chính xác (của các nhà xuất bản khác nhau hoặc của những chuyên viên chép nhạc có tay nghề khác nhau) còn tuỳ vào trình độ thẩm định của người quản lý thư viện và kể cả người sử dụng tư liệu Trong trường hợp đó, trực tiếp tra cứu trên tài liệu lưu trữ tại thư viện là phương tiện được xem là hữu dụng hơn cả Người tra cứu có thể cùng lúc cầm trên tay nhiều phiên bản hiệu đính khác nhau, đối chiếu cùng lúc hiệu đính của nhiều nhà xuất bản khác nhau để có thể nghiên cứu, so sánh, chọn lựa Hơn nữa, trong một số trường hợp, các ký hiệu âm nhạc ít phổ biến sẽ cần phải tìm kiếm sự giải thích từ các từ điển chuyên ngành… Khi đó, thư viện, nơi lưu trữ rất nhiều bản phổ qua các thời kỳ âm nhạc, tư liệu của nhiều nhà xuất bản trên thế giới, với kiến thức của thủ thư trong việc thu thập và kể cả
tư vấn cho người sử dụng… sẽ là nơi hỗ trợ hữu hiệu và tích cực nhất cho
Hình 1.5
Trang 40người sử dụng dù ở bất cứ mức độ nào: nghiên cứu, biểu diễn, giảng dạy, học tập
Thêm vào đó, với sự phát triển không ngừng của nền âm nhạc hiện đại thế kỷ XXI, nền âm nhạc mà các nhà sáng tác không chỉ là các nhà hoạt động
âm nhạc mà còn là các nhà toán học, âm thanh học, tâm lý học… thì việc kết hợp giữa ký hiệu âm nhạc và ký hiệu toán học, âm thanh học, hình ảnh… tạo nên rất nhiều dạng ký hiệu mới thì việc tra cứu là việc làm bắt buộc, ngay cả đối với những nghệ sỹ biểu diễn âm nhạc, mặc dù trước đây chúng ta vẫn cho rằng lĩnh vực biểu diễn và nghiên cứu là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau
Ví dụ: trích bản phổ viết cho tác phẩm Piano của nhà soạn nhạc F Chopin, trường phái Lãng mạn, thế kỷ XIX
Đến những giai đoạn sau, ký hiệu âm nhạc trở nên phức tạp, tuỳ theo quan niệm của mỗi nhạc sĩ, sáng tạo trong mỗi tác phẩm âm nhạc
Ví dụ: trích tác phẩm của nhà soạn nhạc Ý Salvatore Sciarrino nay), trường phái âm nhạc Ấn tượng (Impressionism), thế kỷ XX
(1947-Hình 1.6