Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề nêu trên ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài: “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa ở quận 2, thành phố Hồ Ch
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 12
6 Lý thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 16
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 17
9 Cấu trúc luận văn 18
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 20
1.1 Cơ sở lý luận 20
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa 20
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 21
1.1.3 Khái niệm đô thị và quá trình đô thị hóa 22
1.1.4 Khái niệm quản lý di sản và di tích lịch sử văn hóa 25
1.1.5 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội đối với việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích 28
1.2 Tổng quan về quận 2 30
1.2.1 Lịch sử hình thành quận 2 30
1.2.2 Quá trình đô thị hóa quận 2 34
1.2.3 Thành tựu sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển quận 2 37
1.2.4 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 38
1.3 Các di tích lịch sử tiêu biểu 41
1.4 Một số di tích nằm trong khu quy hoạch 45
Trang 2Tiểu kết chương 1 51
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52
2.1 Giá trị tiêu biểu của di tích trên địa bàn quận 2 52
2.2 Vai trò, chức năng của đình trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay 59
2.3 Hoạt động quản lý nhà nước trong việc bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích 60
2.3.1 Tổ chức bộ máy 62
2.4 Việc triển khai hoạt động quản lý nhà nước đối với di tích trên địa bàn quận 2 64
2.4.1 Ban hành văn bản pháp quy quản lý di tích 64
2.4.2 Cơ cấu nhân sự 65
2.4.3 Nguồn kinh phí 66
2.4.4 Công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích 66
2.4.5 Công tác xây dựng kế hoạch, dự án bảo tồn di tích 68
2.4.6 Công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích 69
2.4.7 Hoạt động quản lý của cộng đồng 70
2.5 Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý di tích ở quận 2 72
2.5.1 Những việc làm được 72
2.5.2 Những mặt tồn tại, hạn chế 76
Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA QUẬN 2 82 3.1 Các yếu tố tác động đối với việc quản lý di tích lịch sử - văn hóa quận 2 82
Trang 33.1.1 Những tác động của quá trình đô thị hóa đối với các công tác
quản lý di tích lịch sử văn hóa 82
3.1.3 Bối cảnh kinh tế và hội nhập 89
3.1.4 Bối cảnh văn hóa, xã hội 92
3.2.1 Gắn quy hoạch đô thị với bảo tồn DSVH 95
3.2.2 Bổ sung cơ sở pháp lý, quản lý đối với di sản chưa được xếp hạng 95
3.2.3 Tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước 96
3.2.4 Kiện toàn và nâng cao chất lượng bộ máy nhân sự 97
3.2.5 Đẩy mạnh công tác phân câp quản lý về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 99
3.2.6 Xây dựng chương trình, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa 100
3.2.7 Huy động nguồn lực, đẩy mạnh công tác xã hội hóa 101
3.2.8 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quảng bá giá trị di tích 102
3.2.9 Phát động các cuộc thi, tìm hiểu về Di sản văn hóa 102
3.2.10 Phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa trong phát triển kinh tế du lịch 103
3.2.11 Tăng cường công tác bảo vệ, thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về di tích lịch sử văn hóa 105
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 117
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để quản lý, bảo tồn giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, trong những năm qua, quận 2 đề ra nhiều giải pháp quản lý, gìn giữ, đầu tư phục hồi, phát huy các di tích lịch sử văn hóa, phục vụ nghiên cứu lịch sử, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và giáo dục thế hệ trẻ Tuy nhiên công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa hiện nay còn gặp không ít khó khăn
về tài chính, nhân sự, nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch,
Quá trình đô thị hóa trên địa bàn quận 2 đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng một huyện nông nghiệp ngoại thành trở thành một trung tâm đô thị mới văn minh, hiện đại của thành phố, nhưng đồng thời cũng làm biến mất một
số di tích, đặc biệt là các di tích chưa được xếp hạng Các di tích này thường có
vị trí đắc địa trong trung tâm đô thị, dễ dàng bị phá bỏ để thay thế cho các công trình nhà ở, công trình dân dụng mới Hơn nữa, trong quá trình phát triển đô thị,
do hạn chế về nhận thức trong quản lý và ứng xử với di sản, đặc biệt là các di tích chưa được xếp hạng có thể bị công tác cải tạo làm méo mó, biến dạng Bên cạnh đó, việc quy hoạch đô thị không khoa học, tùy tiện cũng làm ảnh hưởng, xuống cấp các di tích Đây là những vấn đề quan trọng, bức thiết đối với công tác quản lý di tích trên địa bàn quận 2 trong quá trình đô thị hóa Vì vậy, giải quyết những khó khăn trên để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý các di tích lịch sử - văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh là điều cần thiết Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề nêu trên ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài: “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý văn hóa với hy vọng đóng góp một phần nhỏ sức mình vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của các di tích trên địa bàn quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 52 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Những công trình nghiên cứu về văn hóa, DSVH và vấn đề giữ gìn, phát huy di sản văn hóa dân tộc
- Trong cuốn Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), các tác giả xuất phát từ sự tiếp cận văn
hóa, các yếu tố cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa hơn nửa thế kỷ qua do Đảng ta lãnh đạo, đã phản ánh rõ những nét chính yếu về tính tiên tiến của nền văn hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, về bản sắc văn hóa dân tộc Qua hoạt động thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm xử
lý vấn đề văn hóa ở một số nước trên thế giới, cuốn sách ghi nhận rõ nét về thực trạng văn hóa Việt Nam, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Từ đó, đưa ra những định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, để trở thành nền tảng tinh thần xã hội trên con đường thực hiện mục tiêu: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [19]
- Cuốn sách Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc của
Hoàng Vinh đề cập đến những vấn đề lý luận về DSVH dân tộc; về vai trò, chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc Căn cứ vào những đòi hỏi thực tiễn của cuộc sống để tiến hành phân loại và bước đầu
mô tả thực trạng vốn DSVH dân tộc Làm nổi rõ những mặt tồn tại, những nguyên nhân đã và đang gây nên sự xuống cấp vốn DSVH trong thời gian qua
Từ đó, đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể và giới thiệu kinh nghiệm của Nhật Bản về giữ gìn và phát huy DSVH [82]
- Cuốn sách Văn hóa - mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội của tác
giả Nguyễn Văn Huyên [36] đã nghiên cứu bản chất của văn hóa nhằm chứng minh văn hóa vừa là mục tiêu phấn đấu vươn lên của xã hội loài người vừa là động lực mạnh mẽ có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy quá trình phát triển
xã hội theo hướng nhân văn; từ đó vận dụng nguyên tắc về mối quan hệ thống
Trang 6nhất giữa mục tiêu và động lực của văn hóa (văn hóa - phát triển - tiến bộ) vào quá trình xây dựng và phát triển xã hội Việt Nam hiện nay
- Trong cuốn Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 những vấn
đề phương pháp luận, Phạm Duy Đức (chủ biên) [21] là kết quả nghiên cứu
bước đầu của đề tài khoa học cấp Nhà nước Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, mã số KX04 - 13/06 do tác giả làm chủ nhiệm Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, các bài viết trong cuốn sách đã phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng, Nhà nước ta; chỉ rõ mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực phát triển kinh tế -
xã hội; xây dựng văn hóa chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và các giải pháp có tính chất đột phá để phát triển văn hóa dân tộc trong thập kỷ tới
- Cuốn Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm
đổi mới (1986- 2010) Phạm Duy Đức (chủ biên) [20] là tập hợp các bài viết có
chọn lọc của các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa Xuất phát từ sự tiếp cận văn hóa, những yếu tố cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa do Đảng ta lãnh đạo, nội dung cuốn sách phản ánh thực trạng văn hóa Việt Nam qua 25 năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời vạch ra những mặt yếu kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp theo vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc tinh thần của xã hội ta trên con đường: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
- Cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt
Nam, Nguyễn Thị Hương (chủ biên), Trần Kim Cúc (2011) [37], là kết quả
nghiên cứu của hai tác giả tổng hợp qua các bài viết được đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dưới sự chỉ đạo của Đảng: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất
Trang 7trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm nhuần vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”
- Chu Thái Thành trong bài Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
[69] khẳng định từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc [35] khẳng định quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại Trong đó, bản sắc văn hoá là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển ổn định và trường tồn của văn hoá đất nước Theo phương châm đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc làm đậm đà bản sắc văn hóa làm mục tiêu…
2.2 Những công trình nghiên cứu về quản lý DSVH vật thể
Ở trong nước, những năm gần đây có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
đề cập đến lĩnh vực quản lý DSVH nói chung, quản lý DSVH vật thể (trong đó, nhiều phần đề cập đến quản lý di tích lịch sử văn hóa) nói riêng Trong bối cảnh của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm tới các DSVH với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá trị của chúng Theo
xu hướng đó, các nghiên cứu của các tác giả trong nước tập trung xoay quanh các vấn đề lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát
Trang 8huy giá trị của DSVH trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị cho từng trường hợp cụ thể Xin
đề cập đến một số công trình tiêu biểu:
- Trong bài Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa [72] đề cập đến vấn đề
quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích, tác giả Lưu Trần Tiêu cho rằng, hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt cụ thể là: Bảo vệ di tích về mặt pháp
lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất kỹ thuật, cuối dùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu của xã hội Cụ thể trong công tác quản lý tập trung vào 3 vấn đề là: Công nhận di tích, quản lý cổ vật và phân cấp quản lý di tích Tác giả nhấn mạnh, các di tích lịch sử văn hóa chỉ có thể được bảo vệ và phát huy cao nhất giá trị văn hóa khi thực hiện một cách đồng bộ ba mặt hoạt động này Do đó cần thiết phải thực hiện: Thứ nhất, thiết lập cơ chế, chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong cả nước; Thứ hai, cần có một hệ thống tổ chức thích hợp đủ khả năng biến các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước thành hiện thực; Thứ ba, cần tổ chức để đưa các hoạt động bảo tồn thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân Từ đó, tác giả đề ra 6 biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cường việc thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích: 1/ Thể chế hóa bằng pháp luật các chính sách, cơ chế của nhà nước; 2/ Quy hoạch toàn bộ các di tích được công nhận; 3/ Phân cấp quản lý; 4/
Xã hội hóa công tác bảo tồn; 5/ Ưu tiên đầu tư ngân sách; 6/ Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ
- Trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH, tác giả
Đặng Văn Bài đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung bao gồm: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy
về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý…); Việc phân cấp quản lý di tích;
Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn – bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan
Trang 9quản lý di tích, là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản
- Năm 2012, trong bối cảnh toàn cầu hóa tác động tới lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc, nhất là với văn hóa – lĩnh vực mà ở đó đặt các yếu
tố thuộc bản sắc văn hóa dân tộc trước những thách thức có tính chất sống còn,
cuốn sách Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc
tế do hai nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang – Bùi Hoài Sơn đồng chủ biên đã
được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật phát hành, là tài liệu nghiên cứu khoa học có giá trị về thực trạng quản lý DSVH, những cơ hội và thách thức trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Nội dung quản lý được các tác giả đề cập trên hai khía cạnh: Một là công tác quản lý nhà nước: Bao gồm việc ban hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương đường lối của Đảng, nhà nước về bảo tồn DSVH dân tộc; Hai là công tác phát triển sự nghiệp: Tập trung phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích như Nhà nước đã đầu tư toàn bộ kinh phí cho các di tích cách mạng, các di tích được đầu tư, tu bổ, chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn Đồng thời nêu ra những hạn chế như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị, các dự án chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn… Từ thực trạng này, các tác giả đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai
Trang 10việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa, bền vững… [22, tr.486]
- Tác giả Trần Ngọc Khánh trong các báo cáo khoa học Đình thần – Một
thiết chế văn hóa cổ truyền [41] và Đình làng với giải pháp tồn sinh trong quá trình đô thị hóa Sài Gòn – TP.HCM [42] khẳng định rằng, ở Nam bộ, đình thần
(hay đình làng) là một “thiết chế văn hóa” điển hình giàu sức sống, có tính bao trùm trong sinh hoạt văn hóa của làng xã Riêng ở TP.HCM hiện nay còn khoảng
270 đình thần, nằm rải rác khắp các địa bàn dân cư Có thời kỳ đình thần từng bị coi là “phế tích” cần phải dẹp bỏ, vì đó là biểu tượng của chế độ phong kiến, của tập quán thờ cúng lạc hậu, mê tín dị đoan, không phù hợp ở thời công nghiệp, đô thị hóa Bài viết đã xác định các giá trị truyền thống, cốt lõi của đình thần Theo
đó, ngoài căn nguyên tín ngưỡng, đình thần còn là sự kết tinh của “hồn thiêng sông núi”, được xây đắp qua nhiều thế hệ, bằng máu và mồ hôi khai phá, bảo vệ đất đai, làng xóm Vì vậy, bảo tồn, gìn giữ sự hiện diện của đình làng là một cách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong quá khứ, cũng như hiện tại và tương lai
2.3 Những công trình nghiên cứu về vấn đề tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với DSVH
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, cũng có nhiều bài nghiên cứu, các hội thảo và các chuyên luận của các nhà nghiên cứu tìm hiểu và phân tích về vấn đề tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với DSVH Có thể kể:
- Năm 2000, cuốn sách Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước của tác giả Lê Như Hoa đã đề cập đến những vấn đề
quản lý văn hóa đô thị ở nước ta trong bối cảnh chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đô thị hóa Điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động quản lý văn hóa ở các khu đô thị hóa Đối với các di tích ở đô thị, cuốn sách đề cập tới một số hoạt động bảo tồn
di tích, thực trạng ảnh hưởng của đô thị hóa đối với di tích ở một số địa phương như Hà Nội, Huế… và đưa ra nhận xét rằng: Tuy Đảng, Nhà nước ta có chủ
Trang 11trương, chính sách đúng đắn và quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa nhưng trong quá trình đô thị hóa hiện nay do yếu tố tự phát, tính tổ chức và tính pháp luật trong hoạt động đô thị yếu nên hệ thống di sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng [26, tr.71]
- Hà Văn Tấn trong bài viết Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhận xét rằng: “Các di tích lịch sử
văn hóa đang trong tình trạng SOS khẩn cấp… Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả những di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, mà một dân tộc đánh mất đi di tích lịch sử văn hóa là một dân tộc đánh mất trí nhớ…” [64, tr.44 - 54] Ông phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng di tích
bị hủy hoại, trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình đô thị hóa dồn dập với yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di tích Điều này do chúng ta bị động trước quá trình đô thị hóa, không nắm được các quy hoạch đô thị
- Trong bài Tầm nhìn tương lai đối với DSVH và hệ thống bảo vệ di tích ở
nước ta của tác giả Nguyễn Quốc Hùng cũng đề cập tới những tác động của công
nghiệp hóa, đô thị hóa làm tổn hại tới hệ thống DSVH nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự thiếu đồng bộ, thiếu
ý thức và thiếu quan tâm đến việc bảo tồn di sản của một số ngành, địa phương trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở vật chất… Tác giả bài viết đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong điều kiện công nghiệp hóa,
đô thị hóa hiện nay [30, tr.3 - 10]
- Đề tài nghiên cứu Bảo vệ di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội và hội nhập quốc tế của Cục Di sản văn hóa do Nguyễn Thế Hùng làm
chủ nhiệm cũng đã đề cập tới những ảnh hưởng của sự đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc bảo vệ DSVH Đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực DSVH vật thể và phi vật thể trên phạm
vi cả nước với những thành tựu đạt được cũng như hạn chế trong hoạt động này
Trang 12Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH như: Tăng cường công tác quản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xã hội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng cường hợp tác quốc tế [32]
- Công trình khoa học của Phạm Thị Thu Hương, Nghiên cứu thực trạng
và giải pháp bảo tồn DSVH tại các vùng đang trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng [38], tác giả cho rằng quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa có tác động theo hai xu hướng tích cực và tiêu cực đến DSVH: Ở chiều tích cực, quá trình này đã tạo ra những nguồn lực kinh phí của nhà nước và
xã hội để đầu tư cho việc tu bổ, tôn tạo DSVH, nhiều thành tựu của khoa học công nghệ được áp dụng vào lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị di sản… Theo chiều ngược lại thì các khu công nghiệp, các đô thị phát triển nhanh không lưu ý đúng mức đến sự tồn tại bền vững của di sản dẫn đến tình trạng DSVH hư hỏng, biến dạng hoặc bị hủy hoại Cùng với sự hư hỏng hoặc hủy hoại của DSVH vật thể, các DSVH phi vật thể tồn tại song song cũng không thể không ảnh hưởng tương tự
- Công trình nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng
Long - Hà Nội [4], do tác giả Nguyễn Chí Bền chủ biên thuộc nhánh của Chương
trình khoa học cấp nhà nước, đã trình bày, phân tích khá rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản lý di sản của nhiều nước trên thế giới để có thể áp dụng vào thực tiễn nước ta Công trình đã
đề xuất các nhóm khuyến nghị để bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH vật thể của thủ đô Dưới góc độ quản lý thì đây là những đề xuất cho công tác quản
lý di tích lịch sử văn hóa của thủ đô Hà Nội hiện nay, đồng thời là một nguồn thông tin quan trọng cho các địa phương khác nhau trong cả nước tham khảo
- Giáo trình Quản lý DSVH với phát triển du lịch do tác giả Lê Hồng Lý [48], chủ biên, là cuốn giáo trình dành cho sinh viên các trường đại học, cao
Trang 13đẳng văn hóa nghệ thuật Cuốn giáo trình đã đưa ra một số khái niệm về DSVH, quản lý DSVH, các nguyên tắc và nội dung của công tác quản lý DSVH, vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch hiện nay Giáo trình thực chất nghiêng nhiều về vấn đề khai thác DSVH phục vụ phát triển du lịch, những vấn đề lý luận, thực tiễn của quản lý nhà nước về DSVH
- Luận án Tiến sĩ Quản lý di tích lịch sử văn hóa hóa ở tỉnh Bắc Ninh trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyên ngành Quản lý văn hóa [55],
của tác giả Trần Đức Nguyên Luận văn đã làm rõ bức tranh tổng thể về diện mạo DSVH, thực trạng tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động quản lý di tích lịch
sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, bên cạnh đó nghiên cứu những tác động của sự phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với các di tích cũng như công tác quản lý di tích
Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật di sản văn hóa được ban hành (2001), công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2, Tp Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến tích cực Các di tích trọng điểm của quận đã được quản lý, đầu tư trùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng trong và ngoài quận Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích, nhiều di tích còn bị mất cắp cổ vật, di vật; việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý di tích đến cộng đồng còn chưa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch… Hiện nay, quận 2 là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Công nghiệp hóa,
đô thị hóa đã có những tác động tích cực đến bảo tồn, phát huy giá trị di tích như tăng cường nguồn ngân sách để trùng tu, tôn tạo cho các di tích, làm cho nhiều di tích tránh được sự xuống cấp, hủy hoại Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng có những tác động tiêu cực đến bản thân các di tích như các khu đô thị, khu công nghiệp phát triển nhanh không được lưu ý đúng mức đến sự tồn tại
Trang 14bền vững của các di tích dẫn đến tình trạng di tích bị lấn át, hư hỏng, biến dạng hoặc bị hủy hoại…
Từ tình hình nghiên cứu trên, cho thấy đây không phải là vấn đề mới, tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt một cách có
hệ thống về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù vậy, những bài viết, công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý giá cho học viên làm tư liệu nghiên cứu, tham khảo, vận dụng trong điều kiện phù hợp khi thực hiện đề tài cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa; nghiên cứu đặc điểm, các giá trị tiêu biểu của các di tích lịch sử văn hóa; nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2; nghiên cứu sự tác động của quá trình đô thị hóa tới các di tích; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo tồn các giá trị di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa di tích lịch sử văn hóa và quá trình đô thị hóa
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước tại các di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Để có cái nhìn toàn diện về công tác quản lý, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các cơ quan quản lý và người dân tham gia thực hiện công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh; bộ máy tổ chức cán bộ cùng
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản
lý các di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tại các di tích lịch sử văn hóa ở quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng đến 2 di tích được công nhận Di tích lịch sử cấp thành phố là Đình An Phú và Căn cứ Vùng bưng 6 xã
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1997 khi thành lập quận 2 đến nay, trong đó, chủ yếu tập trung vào hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa theo tinh thần nội dung của Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 hiện nay ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2?
- Những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 là gì?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận 2 có vai trò quan trọng đối với cộng đồng tại quận 2 nói riêng cũng như người dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung Trong thời gian qua các cơ quan quản lý đã
có những nỗ lực nhất định trong bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống di tích Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong tình hình thực tế hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa với nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến giá trị di tích
Trang 16- Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ hai, theo học viên, nếu đề xuất và thử nghiệm được các giải pháp quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 theo hướng tiếp cận văn hóa tổ chức và chức năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử ở quận 2 Bên cạnh đó cần chú trọng giải pháp về nguồn nhân lực, bởi con người là nhân tố quan trọng nhất để quyết định thành công hay thất bại trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích
6 Lý thuyết nghiên cứu
Luận văn được tiến hành trên cơ sở vận dụng các lý thuyết nghiên cứu sau:
*Thuyết quản lý tổ chức
Thuyết quản lý tổ chức được khởi xướng bởi nhà xã hội học và luật học Max Weber (người Đức, 1864-1920), sau đó được Chester Irving Barnard
(người Mỹ, 1886-1961) phát triển hoàn chỉnh [86] M.Weber đưa ra phương
pháp nghiên cứu quản lý, theo đó coi toàn bộ tổ chức như một trung tâm để phân tích, đề ra mô hình quản lý những doanh nghiệp quy mô lớn dựa trên các nguyên tắc sau:
- Phân công lao động rõ ràng theo hướng chuyên môn hóa cao, tinh thông nghề nghiệp
- Bố trí các vị trí trong tổ chức theo một hệ thống quyền lực, có tuyến điều khiển rõ ràng
- Có một hệ thống nội quy, thủ tục chính thức chi phối quyết định và hành động, đảm bảo sự phối hợp tốt và định hướng phát triển cho mọi người với sự đề bạt theo thành tích và thâm niên
C.I.Barnard nghiên cứu quá trình ra quyết định, các mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức chính thức và cơ cấu tổ chức không chính thức cùng với vai trò, chức năng của những người quản lý
Ông đưa ra định nghĩa về tổ chức được coi là nổi tiếng nhất: “Tổ chức là một hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người’’, trong đó tổ chức chính thức là kiểu hợp tác giữa những người có ý thức, có mục
Trang 17đích và có sự cân nhắc Tổ chức phải được xem xét như một tổng thể và tính trội của hệ thống tổ chức là ở chỗ nó tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn hơn tổng số sức mạnh của các bộ phận hợp thành Quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định với các mối quan hệ hữu cơ, và đó là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức [86]
*Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Trong đó nổi lên
là L.V Bertalanffy, Kenneth E Boulding, Stefferd Beer
Lý thuyết hệ thống được sáng lập bởi L.V Bertalanffy (1901-1972) người
Áo, thuộc trường Đại học Tổng hợp Chicago, tiếp cận vấn đề hệ thống từ góc độ sinh học bởi theo ông: “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên
từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn” V Bertalanffy đã khẳng định “Chỉnh thể bao giờ cũng lớn hơn phép cộng cơ học của các yếu tố cấu thành” Trong học thuyết của ông, tổ chức quản lý được xem xét, phân tích thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống thay vì nghiên cứu riêng
lẻ từng bộ phận cấu thành; sự vật được xem xét trong mối liên hệ bên trong giữa các bộ phận với cả chỉnh thể hệ thống
Công trình “Lý thuyết hệ thống tổng quát”, xuất bản năm 1956 của ông đã được nhân loại đánh giá là công trình có tính chất nền tảng cho sự hình thành và phát triển của lý thuyết hệ thống [86]
Chúng tôi áp dụng các lý thuyết này vào thực hành quản lý các DSVH trên địa bàn quận 2 Theo đó, công tác quản lý nhà nước về di sản cần được tổ chức một cách có hệ thống, có phân rõ trách nhiệm của từng cơ quan chuyên môn cụ thể và cả đối với từng thành viên của Ban quản lý trực tiếp quản lý tại di tích Nó giúp cho việc quản lý được đồng bộ, tránh chồng chéo Thông qua đó, nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác quản lý cũng như việc xây dựng bộ máy nhân sự góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng quản lý đối với các di tích lịch sử tại địa phương
Trang 18*Thuyết sinh thái văn hóa của Julian Haynes Steward (1902 – 1972)
Julian Haynes Steward, sinh ngày 31 tháng 01 năm 1902 tại Washington,
Mỹ, là Nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ, nổi tiếng với thuyết Tiến hóa đa hệ
(Multilinear evolutionism) và là người đặt nền móng cho Sinh thái học Văn hóa
(Cultutal ecology) cũng như cho lý thuyết về sự biến đổi văn hóa (culture change)
J Steward quan tâm đến những đặc tính chung của các nền văn hóa cách
xa nhau về địa lý Theo ông, mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện đặc thù của nền văn hóa đó Để chứng minh điều này, ông tiến hành nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa của nhiều nền văn hóa qua phân tích quá trình phát triển lịch sử của mỗi nền văn hóa Ông đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn hóa Ông gọi nghiên cứu của mình là sinh thái học văn hóa (cultural ecology) và nghiên cứu văn hóa theo lập trường của tiến hóa đa hệ Năm 1955, J Steward xuất bản công trình Lý thuyết về biến đổi văn hóa – Phương pháp luận
về tiến hóa đa hệ (Theory of Cuture Change – The Methodology of Multilinear Evolution)
Phương pháp của sinh thái học văn hóa hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm coi con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa chịu ảnh tác động lớn của các loại tài nguyên môi trường do con người sử dụng Trong công trình của mình, J Steward nêu ra ba bước đối với nghiên cứu sinh thái học văn hóa:
1 Chứng minh được các kỹ thuật và phương pháp được dùng để khai thác môi trường và sống trong môi trường đó
2 Xem xét những mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường
3 Đánh giá sức tác động của những mô thức kể trên đối với các bình diện khác của văn hóa [81]
Trang 19Luận văn áp dụng lý thuyết sinh thái văn hóa để lý giải về những thay đổi của các di tích trong môi trường tự nhiên và xã hội, trong sự giao lưu tiếp biến văn hóa, trong bối cảnh kinh tế thị trường, trong quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa để hội nhập và phát triển
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, luận văn sẽ
sử dụng phối hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa
Nhằm tập hợp những thông tin bước đầu về thực trạng quản lý các di tích lịch sử văn hóa, tác giả luận văn đã thực hiện khảo sát thực địa tại tất cả 11 phường trên địa bàn quận nơi có các di tích tọa lạc Để công tác khảo sát, điền dã thực địa thu được kết quả cao nhất, tác giả luận văn đã có những chuẩn bị cụ thể như:
+ Nhờ sự hỗ trợ (trong suốt đợt điền dã) của một số cán bộ đang công tác ở Trung tâm Văn hóa quận 2 phụ trách Di sản Văn hóa quận 2
+ Nhờ sự hỗ trợ của những cán bộ tại Ban Quản lý TP Hồ Chí Minh, Phòng Văn hóa Thông tin quận 2 về việc bố trí người làm việc trực tiếp tại các di tích cần khảo sát, cung cấp các dữ liệu cần thiết cho luận văn
+ Thu thập số liệu thống kê
Để có các số liệu thống kê, tác giả luận văn đã nhờ các mối quan hệ cá nhân tại các cơ quan: Sở Văn hóa và Thể thao Tp Hồ Chí Minh, Trung tâm Bảo tồn
và Phát huy giá trị di tích Tp Hồ Chí Minh, Phòng Văn hóa - Thông tin quận 2, Trung tâm Văn hóa quận 2 Các số liệu này đã được các cơ quan này thu thập, lữu trữ trong nhiều năm để phục vụ cho công tác quản lý di tích
-Phương pháp nghiên cứu của xã hội học văn hóa
Với mục đích thu được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng cách tiếp cận của xã hội học văn hóa với các phương pháp cụ thể của ngành khoa học này Trong đó, các phương
Trang 20pháp nghiên cứu định tính như quan sát, phỏng vấn cá nhân…, nghiên cứu định lượng thu thập các số liệu thống kê chính thức liên quan đến vấn đề nghiên cứu làm cơ sở để đánh giá các vấn đề trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
-Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại
Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, đặc điểm di tích cũng như thực trạng của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa hiện nay, các nguồn lực cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích, định hướng phát triển của địa phương… luận văn sẽ tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại những điều đó để thấy được những điểm mạnh, những hạn chế, chỉ ra được những thuận lợi và tồn tại trong hoạt động quản lý di tích Đó chính là cơ sở để tác giả luận văn có thể bước đầu đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận 2 trong điều kiện phát triển hiện nay
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh giữa các mô hình quản
lý nhằm tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu để khắc phục trong việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý một cách hợp lý và có hiệu quả cao
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về DSVH, quản lý DSVH; các quan điểm
và cơ sở lý thuyết về quản lý di tích lịch sử văn hóa
- Vận dụng cơ sở lý luận về quản lý DSVH để tìm hiểu về thực trạng quản
lý di tích lịch sử ở quận 2 trong bối cảnh đô thị hóa
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp thông tin, tư liệu và hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 về các mặt: Số lượng, phân loại, hiện trạng… của các di tích
- Đưa ra cái nhìn toàn diện, tổng thể về thực trạng công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2 Bên cạnh đó, nghiên cứu những tác
Trang 21động của quá trình đô thị hóa đối với các di tích cũng như công tác quản lý di tích
- Từ thực trạng đưa ra các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý di tích lịch sử văn hóa, góp phần bảo tồn, phát huy tác dụng của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trong công tác giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa; tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế từ hoạt động du lịch thông qua hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở quận 2
- Kết quả của luận văn có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy quản lý văn hóa của giảng viên, sinh viên các chuyên ngành quản lý văn hóa, văn hóa học,…
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được phân thành 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Một số khái niệm cơ bản về: Di sản văn hóa, di tích, di tích lịch sử - văn hóa; khái niệm về đô thị hóa và quá trình đô thị hóa quận 2; khái niệm về quản
lý, quản lý nhà nước về di sản văn hóa; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích; tổng quan về quận 2 và
hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận 2
Nêu thực trạng hoạt động quản lý di tích ở Quận 2 từ bộ máy đến cơ cấu nhân sự, công tác triển khai quản lý nhà nước đối với di tích; đến hoạt động quản
lý di tích của cộng đồng và hoạt động “xã hội hóa” công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích; từ đó nêu nhận xét, đánh giá các hoạt động quản lý di tích trên địa bàn quận 2
Trang 22Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở quận 2
Từ thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận 2 với những tác động của quá trình đô thị hóa cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực; trên cơ sở định hướng quản lý di sản văn hóa gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của Trung ương và địa phương, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận 2 trong thời gian tới
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Di sản văn hóa (trong đó có các di tích lịch sử văn hóa) được Đảng xác định là “tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc,
cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” [13] Vì vậy, việc giữ gìn, tôn tạo các DSVH là trách nhiệm của cộng đồng, thể hiện lòng tri ân tiền nhân, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Đây cũng là nguồn lực vô cùng quý báu, góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, cùng với việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa lịch sử cũng được đặt
ra ngay từ những năm đầu thành lập quận Nghiên cứu việc quản lý di tích lịch
sử văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa quận 2, do đó, cần tìm hiểu các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về quản lý văn hóa, về di tích lịch sử văn hóa, về bối cảnh lịch sử ra đời của quận 2, về đô thị hóa và quá trình đô thị hóa quận 2, cũng như tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2… Từ đó có những nhận xét đánh giá đúng đắn nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn
và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về di sản văn hóa
*Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris, ngày 16/11/1972 thì di sản văn hóa bao gồm:
- Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
Trang 24- Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần
tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan
- Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm
mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học” [78, Điều1]
*Theo quy định của Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 thì: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [51, tr.1]
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc
cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn
và các hình thức khác [51, tr.1]
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học; bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [51, tr.1]
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Theo Tự điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, di tích là dấu
vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử [80, tr 222]
Thuật ngữ di tích lịch sử văn hoá được dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hoá của con người
Trang 25Di tích lịch sử – văn hóa không phải là toàn bộ hệ thống di sản văn hóa dân tộc, nhưng là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống di sản đó Theo số liệu thống kê năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các di tích này không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch Còn lại là các di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm hơn 40%, di tích khảo cổ và danh thắng chưa đến 5% Loại hình di sản vật thể này trong một thời gian dài được coi là loại hình di sản quan trọng nhất vì chúng dễ dàng nhận biết nhất so với các di sản phi vật thể khác
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009), một công trình được coi là di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [51]
Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước
Trong đó, di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học” Cổ vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên” Bảo vật quốc gia được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm
về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học”
1.1.3 Khái niệm đô thị và quá trình đô thị hóa
Đô thị
Trang 26Theo Luật Qui hoạch đô thị (2009), đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp,
là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Đô thị hóa
Theo Guoming Wen (Trung Quốc), đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư cùa nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị
Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng, đô thị hoá trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông Ở Nhật Bản do yêu cầu của việc tái thiết và tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hoá diễn
ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, do sự
di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, với mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn
Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng, đô thị hoá là sự gia tăng dân số chủ yếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm kiếm việc làm, cơ hội giáo dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị, trong giai đoạn ban đầu công nghiệp hoá (1967-1975) [11]
Ở Việt Nam, đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ cao, đặc biệt ở thành phố
Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội Quá trình này vốn đã có từ lâu trong lịch sử nhưng thật sự tăng tốc từ những năm đổi mới, 1986 đến nay Tốc độ đô thị hoá càng về sau càng lớn
Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, khái niệm đô thị hoá được
đề cập có thể chưa giống nhau, nhưng thống nhất ở chỗ có hai thành tố luôn được nhắc tới:
Trang 27Một là, đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị Sự tăng lên này theo ba dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn
ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Sự tăng lên của cư dân đô thị có thể thấy rõ đối với trường hợp đô thị hóa quận 2 Những ngày đầu thành lập quận, dân số chỉ có 86.000 người, đến năm 2012 đã là 133.025 người Chỉ tính riêng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, sau khi hoàn chỉnh quy hoạch, tổng dân số cư trú thường xuyên tại đây đã là 145.369 người, số người làm việc thường xuyên là 217.470 người, trong đó khách vãng lai là 1 triệu người (tối đa trong dịp lễ hội), Văn phòng cho thuê dạng căn hộ là 1.719 người [2]
Hai là, đô thị hoá mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc Trong quá trình đô thị hoá, mở rộng không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới Đó cũng có thể là đô thị sáp nhập vào đô thị hoặc đô thị hoá mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính lịch sử, tuỳ từng quan niệm của mỗi quốc gia Trong trường hợp quận 2, khi mới thành lập có đến 50% diện tích đất nông nghiệp Nền kinh tế của quận chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trồng lúa, sen lấy ngó, hoa cảnh và chăn nuôi heo,
gà, vịt, cá… năng suất không cao, hiệu quả thấp Đến năm 2005, sản xuất nông nghiệp đã được thu hẹp (diện tích trồng lúa giảm 932ha, còn 165ha) Và đến tháng 5/2012 không gian đô thị, không gian kiến trúc mở rộng đã phủ kín khắp quận 2, trên địa bàn quận không còn đất sản xuất nông nghiệp.[44]
“Cơn lốc đô thị hóa” với việc quy hoạch, xây dựng, mở rộng không gian đô thị đã biến vùng đất nông nghiệp ngoại thành của Thủ Đức xưa thành một quận được xem là trung tâm mới của thành phố có hoạt động kinh tế phát triển mạnh
mẽ, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt; đồng thời cũng tác động rất lớn đến công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Nhiều di tích mới được xây dựng như Đền tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ
Trang 28phường Bình Trưng Tây, Công viên - Bia tưởng niệm các chiến sỹ chiến đấu bảo
vệ cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh; công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích được quan tâm chăm chút hơn Bên cạnh đó, nhiều di tích bị di dời hoặc giải tỏa trắng như trường hợp đình An Khánh, chùa Liên Trì,…Tính đến tháng 6/2016, quận 2 đã có 22 cơ sở thờ tự, tín ngưỡng tôn giáo đã phải di dời, chưa kể nhiều cơ sở tín ngưỡng là những di tích lịch sử có quá trình xây dựng lâu đời bị giải tỏa trắng để lấy đất làm dự án
1.1.4 Khái niệm quản lý di sản và di tích lịch sử văn hóa
Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điều
khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [12, tr 1288] Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm
cụ thể hơn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”[83, tr 11 - 12] Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách về pháp luật, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học… nhằm đạt được các mục đích đề ra
Tại quận 2, Ủy ban nhân dân quận là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa nói chung, quản lý di tích nói riêng; Trung tâm Văn hóa là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân trong lĩnh vực quản lý các nhà truyền thống trên địa bàn quận và cùng phối kết hợp trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Ở mỗi di tích lịch sử văn hóa lại có một Ban quản lý di tích trông coi, chăm sóc, quản lý các hoạt động cụ thể Tất cả đều được sự hướng dẫn giúp đỡ của Phòng Di sản văn hóa và Trung tâm Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích thành phố Hồ Chí Minh
1.1.4.1 Quản lý di sản văn hóa
Quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng
Trang 29quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Văn hóa là lĩnh vực rộng, trong đó DSVH là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Nội dung quản lý văn hóa và quản lý DSVH có những điểm chung nhưng cũng có những đặc trưng riêng Quản lý, trong đó quản lý DSVH là một ngành khoa học Thực
tế ở nước ta cho thấy, quản lý DSVH là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất cả các cấp độ, các địa phương DSVH là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời gian, nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá, cho nên chúng ta cần có những biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài Đồng thời phải làm cho các di sản đến từ quá khứ phải trở thành một phần quan trọng của đời sống xã hội hiện đại Tất cả những hoạt động đó được coi là những công việc thuộc về quản lý DSVH Tuy nhiên công tác quản lý DSVH không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giá trị đó phù hợp với những yêu cầu của xã hội đương đại
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định tại Điều 54 Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch,
kế hoạch chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn
về di sản văn hóa; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và
Trang 30phát huy giá trị di sản văn hóa; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa
1.1.4.2 Quản lý di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung của quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH Quản lý di tích lịch sử văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa, làm cho các giá trị của
di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và thực sự trở thành mục tiêu và động lực của phát triển Việc bảo tồn di tích cần phải gắn với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu của di sản, người hưởng thụ giá trị của di sản đó nhưng đồng thời lại đóng vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Do vậy, cần phải tạo động lực để thu hút sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động bảo tồn DSVH Các di tích lịch sử văn hóa cần được tôn trọng, bảo vệ trong mỗi quốc gia vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế
du lịch; không chỉ vậy, các di tích lịch sử văn hóa còn tạo ra môi trường giáo dục cho các thế hệ đời sau bài học về tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của cộng đồng Như vậy về thực chất, việc quản lý di tích nhằm hướng tới hai mục đích chính: Một là, bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người; hai là, khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội
Việc bảo tồn di sản/di tích thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau, nhưng tựu lại có 3 quan điểm chính: 1/Quan điểm bảo tồn nguyên gốc; 2/Quan điểm bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa; 3/Quan điểm bảo tồn – phát triển
Trang 31Theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, việc giữ gìn các di sản là đảm bảo
giữ nguyên trạng như sự vốn có của nó về kích thước, vị trí, đường nét, màu sắc, kiểu dáng… tránh tình trạng làm méo mó, biến dạng di sản Quan điểm này được các nhà bảo tàng học ủng hộ
Trong khi đó, những người theo quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa
lại cho rằng di sản cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi DSVH ấy tổn tại trong một không gian và thời gian hiện tại, di sản cần phát huy giá trị văn hóa xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy Quan điểm này gặp khó khăn
ở chỗ cái nào là cần kế thừa, cần phát huy, yếu tố nào cần loại bỏ
Ngày nay, công chúng có thể tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa của
nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau, vì vậy mà quan điểm bảo tồn – phát triển được nhiều học giả tán đồng Các nhà nghiên cứu nhìn nhận DSVH theo
những cách tiếp cận mới mẻ, phong phú nhất là về vai trò, giá trị của DSVH Theo đó, DSVH không còn được coi là sự vật của quá khứ với những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn Thay vào đó, DSVH được nhìn nhận lại như một quá trình sáng tạo văn hóa trong những vận động thực tại Và như vậy DSVH là sản phẩm thực tại được tạo ra bởi sự cảm nhận về các giá trị của quá khứ, dẫn đường bởi những mối quan tâm đến vai trò của quá khứ trong các mối lo toan về thực tại và tương lai
1.1.5 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội đối với việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế cũng như quá trình đô thị hóa chưa bao giờ là một câu chuyện đơn giản của các đô thị, nhưng đó cũng là con đường gần như duy nhất có thể để xây dựng các đô thị thông minh theo hướng bền vững Điểm qua các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy văn hóa đóng vai trò lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trang 32Ở một phạm vi nhất định, chúng ta thấy rằng bảo tồn và phát huy giá trị di tích cũng có tác dụng sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại Hay nói cách khác, mỗi một hoạt động bảo tồn, khai thác giá trị di tích lịch sử - văn hóa của từng chủ thể quản lý nhà nước hay mỗi cơ quan, địa phương sử dụng di tích không chỉ góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Những nhu cầu khai thác
và sử dụng di tích cùng với những giá trị của nó cũng sẽ là tác nhân tác động lại chủ thể quản lý, đòi hỏi chủ thể quản lý cần phải có những chính sách để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đối với từng di tích cụ thể
Việc phát huy các mặt giá trị của di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn di tích một cách hữu hiệu nhất Hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích phải được thực hiện đồng thời với việc phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại Như đã nói ở trên, tựu trung những giá trị thực tiễn cho thấy trong định hướng phát triển bền vững của một quốc gia luôn có sự kết hợp hài hòa ý nghĩa giữa văn hóa và phát triển kinh tế xã hội Sự phát triển của một quốc gia không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng kinh tế với các chỉ tiêu định lượng GNP, GDP theo bình quân đầu người, mà còn phụ thuộc vào chất lượng cuộc sống, vào sự giàu có cả về vật chất và tinh thần Người ta đã thấy rõ rằng, tiêu chí để đánh giá tiến bộ xã hội không thể chỉ căn cứ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tăng trưởng kinh tế, mà “các giá trị nhân văn, sự tự do của con người phải được coi là một trong những tiêu chí quan trọng khi bàn đến tiến bộ xã hội trong điều kiện ngày nay” [9, tr 135]
Như vậy, muốn đạt đến tiến bộ xã hội thì phải có sự phát triển bền vững
Do đó, vấn đề phát triển bền vững hay phát triển lâu bền đang là sự quan tâm sâu sắc của loài người
Năm 1988, UNESCO đã phát động thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá Trong bài phát biểu nhân lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá, ông
Trang 33Federico Mayor - Tổng giám đốc UNESCO đã nhấn mạnh: “Khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hoá thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn mặt văn hoá, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ suy yếu đi rất nhiều” [53, tr.34] Kinh nghiệm tại các nước phát triển và ngay tại Việt Nam cho thấy, nếu biết kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác các di tích thì luôn tạo ra được lợi thế cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, và ngược lại, chính
sự phát triển kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc quảng bá và bảo tồn các di tích
1.2 Tổng quan về quận 2
1.2.1 Lịch sử hình thành quận 2
Địa danh hành chính quận 2, thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới xuất hiện cách đây hơn 20 năm, thế nhưng vùng đất này đã được xác định cùng với quá trình hình thành và phát triển của vùng Đồng Nai – Gia Định cách đây hơn 300 năm
Theo Gia Định Thành thông chí thì vào mùa Xuân năm Mậu Dần 1698,
chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu chính thức xác lập về mặt nhà nước chủ quyền của người Việt tại Nam bộ bằng việc cử Thống xuất Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược “lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, xây dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn…” [44]
Theo quy chế hành chính của chúa Nguyễn, đất Đàng Trong được chia thành các dinh, dưới dinh là các phủ Phủ chia thành nhiều huyện, dưới huyện là tổng Tổng chia thành nhiều xã hoặc thôn là đơn vị hành chính nhỏ nhất Địa bàn quận 2 ngày nay thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long thời đó với một số địa danh như thôn An Lợi, thôn Phước Đông, thôn Bình Hạnh
Năm Gia Long thứ 7 (1808) huyện Phước Long được nâng lên thành phủ
Phước Long, tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An Hai tổng mới
Trang 34thuộc huyện Bình An được thành lập là tổng Bình Chánh và tổng An Thủy Địa bàn quận 2 ngày nay thuộc tổng An Thủy, huyện Bình An ngày đó [44]
Trong giai đoạn này khoảng 1819 có một ngôi đình đã được khai lập đó là đình Bình Khánh Ngôi đình này nằm cận rạch Cá Trê lớn, Cá Trê bé thuộc phường Bình Khánh quận 2 Tại đình còn lưu giữ các hương án cúng đình năm
Nhâm Dần (1842) Làng Bình Khánh (nay là phường Bình Khánh và phường
Bình An) thuộc tổng An Bình huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định
Thời Minh Mạng do dân số tăng và diện tích khai phá ngày càng nhiều, một
số tổng mới được thành lập Huyện Bình An lúc này bao gồm 8 tổng, hai tổng cũ
An Thủy và Bình Chánh mỗi tổng lại chia làm 4 tổng Trong đó tổng An Thủy
(có địa bàn quận 2 ngày nay) được chia làm 4 tổng: An Thủy Trung, An Thủy
Hạ, An Thủy Đông, An Thủy Thượng
Tháng 7/1832 (năm Minh Mạng thứ 13), Gia Định đổi thành Phiên An Sau
sự kiện Lê Văn Duyệt chết, vua Minh Mạng tổ chức lại cơ cấu hành chính mới ở phía Nam, nhằm tập trung quyền lực về Phú Xuân Cấp thành Gia Định bị phế
bỏ cùng với 5 trấn cũ để chia thành 6 tỉnh Trấn Phiên An được đổi thành tỉnh Phiên An Triều đình Huế trực tiếp nắm các tỉnh mà không thông qua Gia Định thành như trước nữa Tháng 8/1833 lại đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định
(đây là thời kỳ Nam bộ được mệnh danh là Nam kỳ lục tỉnh: Biên Hòa, Gia
Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) [43]
Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), lập huyện mới Nghĩa An trên cơ sở lấy
dân thiểu số ở An Thủy Lợi và dân của tổng An Thủy Thượng, An Thủy Hạ, An Thủy Trung (thuộc tổng An Thủy) hợp lại chia thành 5 tổng mới thuộc huyện Nghĩa An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa Địa bàn quận 2 ngày nay thuộc huyện Nghĩa An, tỉnh Biên Hòa thời đó [79]
Giai đoạn này ở địa bàn quận 2 ngày nay xuất hiện khu di tích Gò Quéo, gồm quần thể mộ táng cổ đầu triều Nguyễn, đặc biệt nhất là 2 ngôi mộ của 2 đại thần họ Phạm là: Phạm Quang Triệt triều vua Gia Long và Phạm Duy Trinh triều
Trang 35Minh Mạng, Tự Đức Đây còn là khu vực mỏ cát trắng có chất lượng tốt mà người Pháp đầu thế kỷ 19 đã khai thác, đưa về Long Bửu làm ngói phục vụ xây dựng Thành Cát Lái Một ngôi đình cổ của quận 2 cũng được xây dựng trong giai đoạn này là đình Mỹ Thủy, thuộc ấp Mỹ Thủy, thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi, quận 2 Thôn Mỹ Thủy là một trong 8 thôn của tổng An Bình bao gồm An Phú, Bình Lợi, Bình Thạnh, Bình Trưng, Đông Phú, Tân Lập, Mỹ Thủy thuộc huyện Nghĩa An (Ngãi An) lập năm 1937 (nay là địa bàn 3 quận: quận 2, quận 9
và Thủ Đức) nằm trong tỉnh Gia Định lập năm 1832 Trong đình Mỹ Thủy ngày nay còn các bức hoành, bài vị, hương án, liễn đối, bảng ghi danh quan chức, dân chúng cúng ngân, có giá trị lịch sử do các hương quan, hương chủ, hương giáo, các hội cúng đình có niên đại từ 1830 đến 1865 [79]
Năm 1862, hòa ước Nhâm Tuất ký kết giữa triều nhà Nguyễn và Pháp đã nhường 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (Định Tường, Gia Định và Biên Hòa có huyện Nghĩa An mà địa bàn quận 2 ngày nay trực thuộc) cho Pháp Sau đó, người Pháp đã bỏ hết cấp tỉnh và phủ huyện để chia 3 tỉnh miền Đông thành 13 địa hạt Địa hạt Thủ Dầu Một bao gồm huyện Bình An và huyện Nghĩa An cũ quận 2 ngày nay thuộc địa hạt Thủ Dầu Một thời đó Năm 1867, thực dân Pháp chiếm trọn lục tỉnh Nam kỳ, chia thành 24 hạt Trong đó, hạt Nghĩa An với 4 tổng 35 thôn quận 2 ngày nay thuộc hạt Nghĩa An thời đó [43]
Năm 1868, hạt Nghĩa An đổi thành hạt Thủ Đức, sau đó bị xóa bỏ để nhập vào hạt Sài Gòn Từ đó, địa bàn Thủ Đức vĩnh viễn tách khỏi tỉnh Biên Hòa [43] Năm 1888, hạt Sài Gòn đổi thành hạt Gia Định Năm 1889 đổi là tỉnh Gia Định quận 2 ngày nay thời đó thuộc tỉnh Gia Định [44]
Từ năm 1910, sau thời gian thực hiện chính sách trực trị không kết quả, người Pháp lập lại cấp hành chính phủ huyện, nhưng gọi chung là quận Tỉnh Gia Định được chia thành 4 quận: Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn và Nhà Bè Các thôn làng nhỏ nhập thành xã Quận Thủ Đức lúc đó gồm 5 tổng, 19 xã, trong đó tổng An Bình có 5 xã là: An Phú, An Khánh, Bình Trưng, Phú Hữu, Thạnh Mỹ
Trang 36Lợi Thời kỳ này quận 2 ngày nay thuộc tổng An Bình, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định [79]
Năm 1944, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập tỉnh Tân Bình trên cơ sở một số xã của tỉnh Gia Định (trong đó có một phần xã An Khánh của tổng An Bình) [43]
Tỉnh Tân Bình thành lập không bao lâu thì Cách mạng Tháng 8 bùng nổ Các đơn vị hành chính Thủ Đức trở lại tình trạng cũ và kéo dài cho đến hiệp định Giơnevơ (1954) Giai đoạn này, quận 2 xuất hiện địa danh thành Cát Lái Ngày nay, thành Cát Lái chỉ còn lại một số ngôi nhà nằm trong Trường Trung cấp kỹ thuật Hải Quân, và cảng Cát Lái thuộc phường Cát Lái quận 2 [44]
Năm 1956, một số xã của Thủ Đức được cắt cho tỉnh Biên Hòa để thành lập quận Dĩ An Năm 1967, xã An Khánh và khu vực Thủ Thiêm được cắt về quận
1, thành phố Sài Gòn, rồi trở thành quận 9 với 2 phường An Khánh, Thủ Thiêm Trong giai đoạn này, 2 xã An Phú, Bình Trưng thuộc “Vùng bưng 6 xã anh hùng” của quận Dĩ An; còn xã An Khánh, Thủ Thiêm là 2 phường của quận 9 thuộc đô thành Sài Gòn Địa bàn quận 2 ngày nay trong thời kỳ này trở thành bàn đạp và là nơi ém quân để quân ta tấn công vào nội đô Sài Gòn [44]
Sau ngày giải phóng, 30/4/1975, Quốc hội khóa VI của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định chính thức đặt tên đặt tên cho thành phố Sài Gòn – Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 11 quận của đô thành Sài Gòn và toàn tỉnh Gia Định Địa bàn quận 2 lúc đó thuộc địa bàn 5 xã của huyện Thủ Đức là xã Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng, An Phú, An Khánh và Thủ Thiêm [43]
Theo Nghị định 03/CP ngày 6/1/1997 của Thủ Tướng Chính phủ, quận 2 được chính thức thành lập với diện tích tự nhiên 5.020ha gồm 11 phường: Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, An Phú, Thảo Điền, Bình Khánh, Bình An, An Khánh, Thủ Thiêm và An Lợi Đông [44]
Trang 371.2.2 Quá trình đô thị hóa quận 2
Quận 2 là một quận mới của thành phố Hồ Chí Minh được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 1/4/1997 trên cơ sở tách ra từ huyện Thủ Đức (cũ) Theo quy hoạch, quận 2 trong đó có Khu đô thị mới Thủ Thiêm được xem
là sự mở rộng của trung tâm thành phố ra phía Đông Đây không phải là khu đô thị đơn thuần mà là trung tâm mới hiện đại của thành phố Hồ Chí Minh trong thế
kỷ 21 với chức năng là trung tâm tâm tài chính, thương mại và các dịch vụ cao cấp mang đẳng cấp khu vực và quốc tế (như các trung tâm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ đầu tư, vận tải, khoa học công nghệ…), là trung tâm văn hoá, nghỉ ngơi giải trí; đảm nhiệm một số chức năng mà trung tâm thành phố hiện hữu còn thiếu và hạn chế phát triển Như phố Đông của Thượng Hải, Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm là một công trình chiến lược, mở ra cơ hội tăng tốc phát triển mọi mặt và nâng cấp thành phố Hồ Chí Minh ngang tầm các
đô thị hiện đại của khu vực và quốc tế [PL1, hình 1, 2, 3, 25 - 28]
Toàn bộ KĐTMTT được xây dựng trên diện tích 737 ha, có vị trí đắc địa là được dòng sông Sài Gòn ôm gọn trong lòng, được quy hoạch phục vụ cho tổng
số dân là 130.000 người tại chỗ, 350.000 người làm việc/ngày và khách vãng lai trên 1.000.000 người/ngày Trong toàn bộ diện tích mặt bằng, sẽ có 657 ha được quy hoạch mới hoàn toàn, 80ha là khu đô thị hiện hữu được chỉnh trang lại Diện tích tự nhiên của KĐTMTT gồm các phường An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông, Bình An và phường Bình Khánh thuộc quận 2 Toàn bộ khu đô thị được chia thành 5 khu chức năng: khu lõi trung tâm với chức năng chủ yếu là khu tài chính, thương mại, dịch vụ; khu đa chức năng dọc theo Đại lộ Đông Tây; khu dân cư phía Bắc; khu dân cư phía Đông; khu ngập nước phía Nam phục vụ nhu cầu du lịch, giải trí và bảo vệ môi trường
Theo quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ, các phân khu chức năng của KĐTMTT sẽ chiếm tỉ lệ như sau: Khu công viên trung tâm
95 ha, bao quanh sẽ là khu trung tâm thương mại, tài chính ngân hành, dịch vụ
Trang 38chiếm 92 ha Trung tâm dành cho hội chợ, triển lãm quốc tế chiếm 100 ha, khu nhà cao cấp chiếm 55 ha, trung tâm văn hóa, du lịch và giải trí chiếm 100 ha và trung tâm hành chính là 18 ha, đất giao thông 177 ha Như vậy, bao quát toàn bộ khu đô thị là diện mạo hoàn toàn mới, hiện đại và đặc biệt là hài hòa về kiến trúc, đảm bảo sử dụng tối ưu điều kiện tự nhiên hiện tại của bán đảo này Chỉ có lõi trung tâm được xây dựng cao ốc đến 40 tầng, còn lại được khống chế dưới 32 tầng
Điểm nhấn của khu đô thị là quảng trường thành phố lần đầu tiên sẽ được xây dựng tại đây, là trái tim của khu đô thị và các công trình xung quanh, là
“cổng chào” của trung tâm Quảng trường được thiết kế với kiến trúc không gian
mở, sống động, đa năng, hài hòa với các công trình xung quanh, có độ cao phù hợp với khí hậu nhiệt đới, thuận tiện cho du khách đến với quảng trường, có mối liên hệ hữu cơ với tổ hợp trung tâm hội nghị và triển lãm quốc tế Quảng trường được xây dựng với không gian từ bờ sông Sài Gòn đến hồ trung tâm, sử dụng tối
đa lợi thế mặt nước tại khu vực để tạo nên sự độc đáo của quảng trường Trong khi đó, khu thương mại và tài chính là hạt nhân của trung tâm, có không gian sống động, kết hợp kiến trúc đa dạng và sẽ tận dụng cảnh quan khu vực quảng trường trung tâm để phát triển
Khu trung tâm hội nghị, triển lãm quốc tế được thiết kế với những công trình kiến trúc độc đáo, có giá trị nghệ thuật và lịch sử, mang dấu ấn công trình thế kỷ của thành phố, đáp ứng được nhu cầu về chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế xã hội, phục vụ quá trình hội nhập của thành phố và đất nước, xứng tầm với khu vực và thế giới
Khi đưa ra yêu cầu quy hoạch KĐTMTT, các nhà quản lý, chuyên gia đã quan tâm đặc biệt đến địa thế của bán đảo Thủ Thiêm, vốn được bao quanh bởi dòng sông Sài Gòn uốn lượn rất đẹp mà lâu nay gần như bị bỏ quên (hoặc chưa
đủ khả năng để khai thác) Trong khi nhiều thành phố trên thế giới khi quy hoạch phát triển đều sử dụng tối đa lợi thế của những con sông chảy qua thành phố, thì
Trang 39sông Sài Gòn lâu nay chỉ mới được tận dụng có một bên Nay, bản đồ án quy hoạch KĐTMTT của Công ty Sasaki Associates, Ins (của Mỹ) đã thật sự đánh thức nét kiêu sa của đoạn sông Sài Gòn chảy qua đây, dòng sông được mô tả là trái tim của trung tâm thành phố, nối liền trung tâm hiện hữu với khu đô thị mới Toàn bộ địa hình tự nhiên do sông Sài Gòn tạo ra đối với bán đảo này đều gần như được giữ nguyên hiện trạng và chỉnh trang thêm phần sang trọng thoáng mát cho toàn bộ khu đô thị Như các con rạch, ao hồ, vùng trũng hiện tại đều không bị san lấp để lấy mặt bằng như nhiều khu đô thị mới trước đây gặp phải
mà được dùng làm không gian “trang trí” cho toàn khu đô thị hiện đại Ở đó sẽ là
hồ, là những công viên thoáng, đẹp, xanh, tô điểm cho những cao ốc, công trình xây dựng hiện đại Toàn bộ bờ sông Sài Gòn đều được xây dựng công viên, khu
du lịch, vui chơi giải trí để tạo độ thoáng tối đa cho bờ sông và toàn bán đảo Thủ Thiêm, không để khu đô thị bị “ngợp”, tù túng
Đồ án quy hoạch của Sasaki là sự hoàn hảo trong việc tận dụng địa thế tự nhiên của KĐTMTT, giải được bài toán lo ngại của nhiều nhà khoa học lâu nay
Lo ngại đó là KĐTMTT sẽ bị “xé nát” quy hoạch, nhất là đối với sông Sài Gòn Đây chính là ưu thế vượt trội dẫn đến bản đồ án thiết kế KĐTMTT của Sasaki vuợt qua được một loạt các đồ án khác trong cuộc thi do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trước để được chọn Dòng sông Sài Gòn sẽ thực sự được đánh thức, là trái tim của trung tâm thành phố hiện hữu và trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm, giống như con sông Hoàng Phố, nối đôi bờ phố Tây và phố Đông của thành phố Thượng Hải (Trung Quốc)
KĐTMTT có hệ thống giao thông kết nối hoàn hảo từ trung tâm quận 1, Bình Thạnh, quận 2, quận 4, quận 9, và cả với hướng Nhơn Trạch (Đồng Nai) Bài toán giao thông hoàn toàn được tính toán kỹ, không để tình trạng “mịt mù”
về giao thông như trong nội thành hiện tại Theo thiết kế, sẽ có bốn cầu và một đường hầm nối từ quận 1, quận 4, Bình Thạnh qua Thủ Thiêm Hiện, cầu Thủ Thiêm nối từ quận Bình Thạnh và hầm chui Thủ Thiêm nối từ quận 1 (trên trục
Trang 40đại lộ Đông Tây) đang được thi công Bán đảo Thủ Thiêm sẽ được kết nối với đô thị trung tâm hiện tại bằng những chiếc cầu như bàn tay xòe ra, tạo sự thông thoáng về giao thông Phía quận 2, đại lộ Đông Tây đang trong giai đoạn hoàn thành Đại lộ này sẽ kết nối với đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây, tạo sự kết nối với bên kia bờ sông Đồng Nai KĐTMTT sẽ gần với Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu hơn với con đường này Hiện cầu Cát Lái cũng bắt đầu được xây dựng Không những thế, khi đô thị này được xây dựng, cũng là lúc Sân bay quốc
tế Long Thành (cách Thủ Thiêm khoảng 35km, xấp xỉ khoảng cách từ Hà Nội ra sân bay Nội Bài) được đưa vào sử dụng, tạo nên sự thuận tiện cho việc đi lại Đường bộ, đường thủy, đường hàng không đều bên cạnh Thủ Thiêm, chỉ cần thêm tuyến đường sắt nữa, giao thông của Thủ Thiêm sẽ trở nên hoàn hảo Theo quy hoạch, dự án nâng cấp mở rộng tuyến đường sắt Bắc - Nam vừa được Bộ Giao thông - Vận tải trình Chính phủ xem xét trị giá hơn 30 tỷ USD, thì nhà ga
sẽ nằm ở khu vực giáp phía Bắc của KĐTMTT Việc đi lại bằng đường sắt (theo quy hoạch thì thời gian tàu chạy từ thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội chỉ còn khoảng 10 tiếng đồng hồ) cao tốc sẽ mở thêm một hướng giao thông vô cùng thuận tiên để cùng với các loại hình giao thông khác thu hẹp khoảng cách Thủ Thiêm với cả nước và thế giới để phát triển [2]
1.2.3 Thành tựu sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển quận 2
Qua 22 năm hình thành và phát triển, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận 2 đã đoàn kết, nỗ lực, phát huy truyền thống cách mạng, kế thừa thành tựu đạt được, khai thác thuận lợi về vị trí địa lý, đất đai, các công trình trọng điểm của Nhà nước đầu tư trên địa bàn; huy động mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển quận 2 Đảng bộ và chính quyền quận 2 đã có nhiều chủ trương giải pháp phù hợp để khắc phục khó khăn, đạt được những kết quả quan trọng về kinh tế
xã hội, quốc phòng an ninh, trong đó cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng, doanh thu thương mại dịch vụ năm 2016 đạt 50.874,03 tỷ đồng, đạt 105,85% so với kế hoạch đề ra, tăng 30,45% (so với năm 2015) Giá trị sản xuất