Đứng trên góc độ quản lý văn hóa, việc bảo tồn các giá trị di sản khảo cổ học dưới nước không chỉ có vai trò lớn đối với cộng đồng địa phương mà còn có ý nghĩa trong công tác bảo vệ các
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lâm Nhân đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Các ý kiến đóng góp của Thầy đã giúp tôi hình thành ý tưởng, khai thác nội dung viết và định hướng ứng dụng đề tài này vào thực tiễn địa phương trong công tác quản lý di sản văn hóa
Tôi xin chân thành cảm ơn Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội; Viện khoa học xã hội vùng Nam bộ; Trung tâm Khảo cổ học, TP.HCM, Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học dưới nước, Hà Nội; Trung tâm nghiên cứu Kinh thành, Hà Nội
đã cung cấp cho tôi những thông tin, tài liệu quý giá của ngành trong việc thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Văn hóa TP.HCM; Khoa Sau đại học; các Phòng, Ban của Trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành được ước mơ thực hiện đề tài mà tôi ấp ủ trong mười năm qua
Chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, bằng tất cả sự chân tình, tôi xin ghi nhận và cảm ơn sự đóng góp của các học giả, đồng nghiệp và bạn bè để bản thân được hoàn thiện hơn trên bước đường học thuật của mình./
Trân trọng!
Kiên Giang, ngày 26 tháng 8 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Khánh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nêu ra trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những đóng góp khoa học
của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Kiên Giang, ngày 26 tháng 8 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Khánh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Mục tiêu 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Lý thuyết nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 11
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 11
6.2 Giả thiết nghiên cứu 11
7 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Bố cục luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Một số khái niệm 15
1.1.2 Các loại hình di sản khảo cổ học 20
1.1.3 Các văn bản về quản lý di sản khảo cổ học 21
1.2 Tổng quan về Kiên Giang và vùng biển Kiên Giang 30
1.2.1 Địa lý tự nhiên, kinh tế và xã hội tỉnh Kiên Giang 30
1.2.2 Vùng biển Kiên Giang 32
1.3 Các loại hình di sản văn hóa ở Kiên Giang 35
1.3.1 Đặc điểm phân bố di chỉ khảo cổ học 36
1.3.2 Đặc điểm di sản khảo cổ học vùng biển và hải đảo 39
Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI CHỈ TÀU ĐẮM VÙNG BIỂN PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG 45
Trang 42.1 Tình hình nghiên cứu, khai quật và phát huy di chỉ tàu đắm ở Phú Quốc45
2.2 Xuất xứ và đặc điểm các sưu tập hiện vật từ tàu đắm ở Phú Quốc 49
2.2.1 Về xuất xứ và niên đại 49
2.2.2 Về đặc điểm hiện vật 50
2.3 Hệ thống văn bản quản lý di sản dưới nước ở Việt Nam 51
2.4 Các thiết chế quản lý di sản văn hóa ở Kiên Giang 54
2.4.1 Ban văn hóa - xã hội UBND tỉnh Kiên Giang 55
2.4.2 Sở Văn hóa và Thể thao Kiên Giang 55
2.4.3 Bảo tàng tỉnh Kiên Giang 55
2.4.4 Ban quản lý di tích tỉnh Kiên Giang 57
2.4.5 Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phú Quốc 58
2.5 Kết quả thực hiện quản lý nhà nước đối với tàu đắm Phú Quốc 59
2.5.1 Công tác ban hành các chính sách quản lý di chỉ tàu đắm 59
2.5.2 Quản lý và phát huy các bộ sưu tập hiện vật sau khai quật 63
2.6 Đánh giá chung 70
2.6.1 Những thuận lợi trong quản lý tàu đắm ở Việt Nam 70
2.6.2 Khó khăn và nguyên nhân 71
2.6.3 Kết quả đạt được qua nghiên cứu tàu đắm Phú Quốc 73
2.6.4 Tồn tại và nguyên nhân 75
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ DI SẢN KHẢO CỔ HỌC DƯỚI NƯỚC 83
3.1 Bối cảnh di chỉ tàu đắm ở Việt Nam hiện nay 83
3.2 Giá trị của di chỉ khảo cổ học tàu đắm trong phát triển hiện nay 86
3.2.1 Đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội địa phương 86
3.2.2 Khẳng định chủ quyền vùng biển quốc gia 87
3.2.3 Khẳng định di sản văn hóa dưới nước phục vụ phát triển du lịch 88
3.3 Một số giải pháp quản lý di sản khảo cổ học dưới nước 89
3.3.1 Nâng cao vai trò của Nhà nước và nhận thức của người dân 89
3.3.2 Quy hoạch tổng thể về bảo vệ và phát huy giá trị di sản khảo cổ học dưới nước 90
Trang 53.3.3 Tăng cường xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy di sản khảo cổ
học dưới nước 91
3.3.4 Khai thác các giá trị di sản dưới nước phục vụ phát triển du lịch 92
3.3.5 Tổ chức công tác kiểm tra, bảo vệ và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật 94
3.3.6 Tăng cường hội nhập và quảng bá di sản văn hóa dưới nước ra thế giới 95
3.4 Một số khuyến nghị 96
3.4.1 Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự về khảo cổ học dưới nước 96
3.4.2 Thiết lập tuyến điểm tàu đắm vùng biển Việt Nam, tạo cơ sở dữ liệu 97
3.4.3 Hoàn thiện hệ thống pháp lý về quản lý di sản dưới nước 100
3.4.4 Xây dựng cơ sở lưu trữ, trưng bày và phát huy di sản văn hóa dưới nước 102
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 114
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di sản khảo cổ học dưới nước là một thành tố quan trọng của di sản khảo cổ học cấu thành di sản văn hóa Việt Nam Di sản khảo cổ học dưới nước bao hàm những giá trị phản ánh về đời sống, hành vi, văn hóa của con người trong quá khứ thông qua những tài liệu vật chất tìm thấy ở dưới nước (bao gồm cả nước ngọt và nước mặn) Thực tế cho đến nay, vì nhiều lý do mà việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản khảo cổ học, trong đó các di sản khảo cổ học dưới nước chưa được chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên ngành di sản cân nhắc và quan tâm đúng mức trên phương diện quản
lý nhà nước Nếu có, việc nghiên cứu còn nhỏ lẻ và chỉ mang tính chất tự phát của từng địa phương Có thể thấy, chưa có một cuộc điều tra, sưu tầm, thu thập tư liệu nào mang tính hệ thống quốc gia về di sản văn hóa dưới nước ở Việt Nam và hệ thống di sản khảo cổ học dưới nước ở các địa phương hiện nay
Đối với tỉnh Kiên Giang, Di sản khảo cổ học dưới nước trên địa bàn chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, có nhiều ảnh hưởng chi phối đến chính trị, kinh tế và đời sống của người dân Đứng trên góc độ quản lý văn hóa, việc bảo tồn các giá trị di sản khảo cổ học dưới nước không chỉ có vai trò lớn đối với cộng đồng địa phương mà còn có ý nghĩa trong công tác bảo vệ các giá trị
di sản dưới nước nói chung của Việt Nam
Trong 20 năm, tỉnh Kiên Giang đã phát hiện nhiều giá trị di sản khảo cổ học dưới nước, trong đó di chỉ tàu đắm được xem là một trong những loại hình di sản được phát hiện có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học và lịch sử,
nó đánh dấu một bước tiến, mở rộng trong lĩnh vực nghiên cứu về di sản văn hóa dưới nước và mở ra những định hướng mới cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản khảo cổ học dưới nước phục vụ cho kinh tế, xã hội và nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng hiện nay
Trang 7Hơn nữa, trong bối cảnh phát triển kinh tế du lịch, tỉnh Kiên Giang đã không ngừng đầu tư, đa dạng về loại hình du lịch, trong đó du lịch biển đảo được xem là thế mạnh của Kiên Giang Việc nghiên cứu di sản khảo cổ học dưới nước để đưa ra những giải pháp quản lý di sản dưới nước gắn với phát triển kinh tế du lịch của địa phương đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của khách tham quan trong và ngoài nước khi đến Kiên Giang là một vấn đề đang cần được xem xét
Nghiên cứu trường hợp các di chỉ tàu đắm ở Kiên Giang là một trong những nghiên cứu thuộc loại hình di sản khảo cổ học dưới nước có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở, hồ sơ cho việc xác lập các giá trị di sản văn hóa của biển đảo trong bối cảnh vùng biển Tây nam đang có nhiều chuyển biến phức tạp Trên cơ sở đó, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản khảo cổ học dưới nước ở tỉnh Kiên Giang Ngoài ra, việc nghiên cứu còn góp phần khẳng định giá trị chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và xa hơn là công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên quê hương Kiên Giang
Hơn nữa, trong các năm 2007, 2008, 2016, tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia công tác khai quật tàu đắm vùng biển Phú Quốc và lập danh mục sau khi hiện vật được trục vớt Tôi có cơ hội được trao đổi, làm việc với các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước về lĩnh vực di sản dưới nước, đặc biệt là loại hình di sản khảo cổ học này Từ thực tiễn địa phương, nhận thấy loại hình di sản khảo cổ học dưới nước còn nhiều bất cập trong công tác quản
lý cũng như đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới, cần có những chính sách quan tâm trong hoạt động bảo vệ và phát huy trong bối cảnh hội
nhập hiện nay Vì lẽ đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý di sản khảo cổ
học dưới nước qua nghiên cứu di chỉ tàu đắm vùng biển Phú Quốc tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý văn hóa của
mình
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu công tác quản lý các di chỉ tàu đắm vùng biển Kiên Giang,
từ đó đưa ra các giải pháp chung trong công tác bảo tồn và phát huy các di chỉ khảo cổ học dưới nước và di sản văn hóa dưới nước trong bối cảnh phát triển hiện
nay của địa phương và quốc gia
2.2 Mục tiêu
Tìm hiểu hệ thống chính sách, quy định của nhà nước về quản lý di sản văn hóa khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam và tỉnh Kiên Giang hiện nay Nhận diện công tác quản lý di sản văn hóa dưới nước và các loại hình di sản khảo cổ học dưới nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Phân tích thực trạng các di chỉ tàu đắm qua đó đánh giá hiện trạng di chỉ khảo cổ học và những thách thức của di sản văn hóa dưới nước trong bối cảnh phát triển của địa phương
Đề xuất các phương án quản lý và phương thức phát huy di sản khảo cổ học dưới nước, mở rộng cho ngành di sản văn hóa trong việc quản lý các giá trị di sản văn hóa dưới nước của quốc gia qua việc nghiên cứu trường hợp tàu đắm thuộc vùng biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang,
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khảo cổ học dưới nước được xem là ngành khoa học mới, được hình thành trong hơn 20 năm trở lại đây nhưng ngành này đã đóng góp vai trò quan trọng trong sự nghiệp di sản văn hóa của Việt Nam Từ kết quả của các cuộc khai quật, nhiều hiện vật dưới nước đã làm sáng tỏ về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của từng giai đoạn phát triển trong quá khứ Ngoài những giá trị đã được khai quật từ di chỉ gắn liền với phạm vi đất liền như lòng sông, hồ, ao, kênh, rạch… khảo cổ học dưới nước còn có sứ mệnh cao cả qua những di chỉ tàu đắm được phát hiện dưới đáy đại dương Điều đó minh chứng, khẳng định chủ quyền vùng nước của Việt Nam trong bối cảnh các quốc gia có sự cạnh tranh về chủ quyền hải phận hiện nay
Trang 9Đề tài tiếp cận trên phương diện các di sản dưới nước thuộc hải phận, tức vùng biển của Việt Nam Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.000 km và hoạt động trên biển diễn ra trên 2.000 năm về trước Do nằm trên trục hải thương giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á nên Việt Nam là mắc xích quan trọng trong tuyến hải thương ven biển và là một trong những khu vực buôn bán sầm uất Từ những thương cảng sầm uất đó, có nhiều tàu đắm dọc biển Việt Nam có niên đại từ thế kỷ 8 đến 18 trong đó vùng biển Tây nam Vịnh Thái Lan là khu vực có sự giao thương kết nối với các
vùng khác trên hải trình “con đường tơ lụa” đi qua vùng biển Phú Quốc
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thuộc vùng biển Tây nam của Việt Nam, nơi được nhìn nhận có tiềm năng khảo cổ học dưới nước rất lớn, gồm những loại hình di tích chìm ngập có niên đại hàng trăm năm trước, các cảng và thương cảng, di tích tàu đắm có nguồn gốc từ nhiều quốc gia trên thế giới…
Trên thế giới, xét khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia đã có chính sách quan tâm đến di sản khảo cổ học cũng như thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn các giá trị di sản dưới nước Điển hình như Thái Lan, ngành khảo cổ học dưới nước được khởi xướng năm 1976, Thái Lan có Trung tâm Khảo cổ học dưới nước với hệ thống các cơ quan liên quan như UNESCO Thái Lan, Bảo tàng Hàng hải Thái Lan, Hải quân Thái Lan, các trường Đại học Thái Lan, góp phần quản lý, bảo tồn và phát huy tốt các giá trị di sản
Ở Indonesia, nhà nước thành lập cơ quan khảo cổ học dưới nước và hàng chục chi nhánh với hơn 100 cán bộ ở các vùng ven biển toàn quốc Các chính sách về tàu đắm ở Indonesia luôn có sự biến chuyển, chuyển đổi Tuy nhiên,
có một khía cạnh không thay đổi đó là có sự tham gia của các tổ chức khảo cổ học
Ở Philippines, những chính sách về tàu đắm đã được đề ra đầu những năm
1980, từ đó có những sự thay đổi nhất định Chính phủ Philippines giao cho Bảo tàng quốc gia là tổ chức hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc tìm kiếm tàu đắm và các chương trình khai quật
Trang 10Các chính sách về phát huy di sản khảo cổ học dưới nước có thể nói đến quốc gia Singapore, chính quyền đã có giải pháp rất tốt như xây dựng Bảo tàng trải nghiệm Hàng hải (The Maritime Experiential Museum), đây được xem là một góc nhìn sáng tạo về lịch sử con đường tơ lụa trong ngành Hàng hải
Một quốc gia nhỏ bé như Brunei cũng có chính sách tốt về phát huy giá trị
di sản khảo cổ học dưới nước, một dự án xây dựng bảo tàng khảo cổ học hàng hải đã được khởi xướng và xây dựng năm 2006 Các phòng triển lãm của Bảo tàng Khảo cổ học Hàng hải miêu tả mối liên hệ giữa nhân loại với sông và biển từ thời cổ đại, góp phần quảng bá các giá trị về đất nước Brunei như một trung tâm thương mại hàng hải trong thời cổ đại, nâng cao nhận thức của cộng đồng về di sản văn hóa đất nước đồng thời là điểm đến du lịch di sản
Đối với Việt Nam, khảo cổ học dưới nước được tính từ năm 1990 với việc khai quật tàu cổ Hòn Cau vùng biển Long Hải, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Năm
2005, lần đầu tiên Chính phủ nước CHXHCNVN ban hành Nghị định 86/2005/NĐ-CP về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước Đến tháng 9 năm 2013, Trung tâm khảo cổ học dưới nước thuộc Viện hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam được thành lập và xây dựng đề án từng bước hình thành ngành khảo cổ học dưới nước, nhưng nguồn nhân lực của ngành vẫn còn yếu,
cơ sở vật chất và trang thiết bị còn thiếu, kinh phí để chủ động khai quật, khảo sát chưa được đầu tư cùng nhiều khó khăn và thách thức khác
Như vậy, so với các nước, Việt Nam là nước có ngành khảo cổ học dưới nước còn khá mới mẻ và phát triển chậm, các nghiên cứu về di sản khảo cổ học dưới nước còn dậm chân tại chỗ, hầu hết các tỉnh chưa có đơn vị, bộ phận nào nghiên cứu về di sản khảo cổ học dưới nước Khi phát hiện di chỉ khảo cổ học dưới nước, chủ yếu công việc khai quật là do các thợ lặn nước ngoài hoặc trong nước tiến hành mà chưa thực sự có các nhà khảo cổ học dưới nước với các trang thiết bị chuyên dụng và kỹ năng khai quật khảo cổ học dưới nước tiến hành Mặt khác, hiện nay việc vận dụng các điều khoản trong Nghị định
Trang 1186/2005/NĐ-CP vẫn còn nhiều bất cập như sau khi phát hiện ra di tích dưới nước, để làm đúng quy trình khai quật là một vấn đề bất khả thi vì mất rất nhiều thời gian, thường dẫn đến việc người dân phá hoại di tích trước khi cơ quan chức năng bắt tay vào thực hiện
Về những phát hiện di sản quan trọng dưới nước, tính đến nay, Việt Nam
đã phối hợp với quốc tế tiến hành khai quật được 6 tàu đắm: Hòn Cau tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (1990 – 1991); Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam (1997-1999);
Cà Mau tỉnh Cà Mau (1998-1999); Bình Thuận tỉnh Bình Thuận (2001-2002); Bình Châu tỉnh Quảng Ngãi (2013) và tàu đắm Hòn Dầm tỉnh Kiên Giang (1991) Cùng với việc khai quật, nhiều vấn đề lịch sử, văn hóa, khoa học về vùng biển Việt Nam đã được làm sáng tỏ thông qua các tài liệu hiện vật được tìm thấy
Tài liệu nước ngoài đầu tiên liên quan đến tàu đắm Phú Quốc có thể thấy
tác giả Waren Blaker and Michael Flecker trong quyển “A preliminary survey
of a South-East Asian Wreck, Phu Quoc Island, Vietnam”, 1994, The
International Journal Archaeology, tr.73 – 91 Hai tác giả thuật lại quá trình khai quật tàu đắm thuộc vùng biển Tây nam – Đông Nam Á, cụ thể là tàu đắm Phú Quốc, Việt Nam Nội dung trình bày khá rõ chi tiết về quá trình thực hiện các ca lặn, cũng như các loại hình hiện vật được trục vớt Tuy nhiên, hai tác giả chưa đưa ra được các giải pháp cho công tác quản lý các sưu tập sau khi khai quật
Một số công trình có tính tổng hợp như tác giả Phạm Quốc Quân và
Nguyễn Đình Chiến (2008), với “Gốm sứ trong năm con tàu cổ ở vùng biển
Việt Nam”, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã đề cập đến những con tàu đắm
ở Việt Nam, nội dung sách có đề cập đến tàu cổ Hòn Dầm, tỉnh Kiên Giang, tác giả thông tin về Hòn Dầm, các loại hình gốm đã khai quật được, song chưa khai thác hết các khía cạnh bảo quản và phát huy các giá trị của các sưu tập gốm cũng như giới thiệu thêm các di chỉ để làm phong phú về số lượng tàu đắm của vùng biển thuộc tỉnh Kiên Giang
Trang 12Tác giả Nguyễn Quốc Hữu, Nguyễn Hữu Phương, Nguyễn Đình Chiến
(2009), “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008”, Nxb Hà Nội, tr.574
– 576 đề cập về nội dung những di chỉ khảo cổ học đã phát hiện gồm di chỉ khảo cổ học tiền sơ sử ở đất liền và di chỉ khảo cổ học dưới nước thuộc vùng Tây nam của Việt Nam, trong đó có đề cập đến di chỉ tàu đắm Rạch Tràm ở vùng biển Phú Quốc Những đề xuất của các tác giả này mở ra những giải pháp quản lý mới cho ngành khảo cổ học nhưng mang tính khái quát và trong tổng thể quyển sách này, vấn đề bảo vệ và phát huy di tích khảo cổ học thiên
về các di chỉ khảo cổ học ở đất liền nhiều hơn
Tác giả Bùi Minh Trí (2007), trong “Việt Nam hệ thống thương mại châu
Á thế kỷ XVI-XVII”, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.662 – 678 giới thiệu các đặc
điểm của gốm Việt Nam trong bối cảnh thương mại Châu Á, trong đó có các kiểu dáng của gốm thuộc vùng biển Kiên Giang, chủ yếu nhấn mạnh bối cảnh thương mại hơn là các chính sách quản lý và bảo quản các sưu tập gốm khai quật từ vùng biển
Tài liệu hướng dẫn lớp bồi dưỡng kiến trức quản lý di sản văn hóa vật thể
dưới nước của Nguyễn Đình Chiến (2013) về “Tổng quát về 6 con tàu cổ đã
khai quật ở vùng biển Việt Nam” và “Đồ gốm sứ trong các con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam”, là những tài liệu hệ thống lại một cách chi tiết rõ ràng
nhất về các di chỉ tàu đắm ở Việt Nam Liên quan đến tàu đắm ở Kiên Giang trong những tài liệu này, tác giả miêu tả khá rõ các loại hình gốm khai quật của tàu Hòn Dầm, nhưng chưa đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy mang tính chất đặc thù cho các di vật khảo cổ học dưới nước
Bài viết của Nguyễn Quốc Hùng“Gốm Shawankhalok ở Việt Nam” đăng trong tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 3/1991, tr.58-60, có đề cập tới các
loại gốm khai quật tại vùng biển Phú Quốc – Kiên Giang là cơ sở cho việc nhận diện đặc trưng gốm vùng biển Kiên Giang; Tham luận của Ngô Văn
Doanh, (2018)“Vịnh Thái Lan trong mạng lưới giao thương khu vực và quốc
tế”, trình bày lược sử giao thương vùng Vịnh Thái Lan qua các thời kỳ, giúp
Trang 13người đọc hình dung được bối cảnh xuất hiện các tàu đắm ngày nay tại vùng biển Phú Quốc, nhưng chưa đi sâu về phân tích vấn đề các tàu đắm ở tỉnh Kiên Giang cũng như viễn cảnh về công tác bảo tồn và phát huy các di chỉ này
Tài liệu báo cáo khai quật tàu đắm liên quan đến vùng biển Phú Quốc Kiên Giang năm 1991, năm 2004, 2008 của Bảo tàng lịch sử Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Kiên Giang trình bày quá trình phát hiện tàu đắm, tọa độ vị trí tàu đắm, quá trình khai quật, các hiện vật trục vớt được và kiến nghị các giải pháp
xử lý nhằm bảo quản hiện vật tạm thời và đề xuất việc giao nhận hiện vật để nghiên cứu đối với các cơ quan có liên quan, mà chưa cập tới việc xây dựng các giải pháp mang tính lâu dài
Đề án nghiên cứu thực trạng các di chỉ tàu đắm vùng biển Phú Quốc phục
vụ phát triển du lịch (2017 -2019) đang thực hiện có nội dung báo cáo việc khảo sát lại các di chỉ đã khai quật, khoanh vùng các di chỉ tàu đắm có độ sâu phù hợp để quy hoạch tổ chức lặn ngắm phục vụ kinh tế du lịch Đề án đang trong quá trình thực hiện, có định hướng bằng các giải pháp, nhưng chủ yếu tập trung vào việc khai thác du lịch mà chưa đi sâu vào công tác quản lý cũng như các giải pháp bảo tồn và phát huy các di sản dưới nước của vùng biển Phú Quốc
Các công trình nghiên cứu về tàu đắm vùng biển Phú Quốc tỉnh Kiên Giang cho đến nay có thể thấy chỉ dừng ở báo cáo khai quật, một phần trong cấu trúc của các sách chuyên ngành có liên quan, hoặc các tham luận khoa học
mà chưa có một công trình cụ thể mang tính hệ thống và chi tiết về việc nghiên cứu toàn bộ các di chỉ tàu đắm ở Kiên Giang, cũng như việc xây dựng các giải pháp phù hợp với các tỉnh có đặc thù giáp biển ở Việt Nam Những kết quả về công tác bảo vệ và phát huy di sản khảo cổ học dưới nước từ thực tiễn đang tồn tại ở địa phương chính là lý do thoi thúc tác giả thực hiện đề tài
Trang 144 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý các di sản văn hóa dưới nước; Hoạt động quản lý các di chỉ khảo cổ học dưới nước ở Kiên Giang
Địa điểm các di chỉ tàu đắm ở Kiên Giang, thông tin về các cổ vật dưới nước được trục vớt và hiện trạng quản lý và phát huy các sưu tập hiện vật sau khi khai quật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những di chỉ khảo cổ học dưới nước đã phát hiện trong vùng biển huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
5 Lý thuyết nghiên cứu
Đề tài vận dụng lý thuyết khảo cổ học gồm ba lĩnh vực, mỗi lĩnh vực sẽ áp dụng một hoặc vài phạm vi liên quan Ba lĩnh vực của lý thuyết khảo cổ học được sử dụng để nghiên cứu đề tài gồm:
Lý thuyết xã hội: Lý thuyết xã hội chỉ có một phạm vi (cho tới nay), bao gồm những nguyên lý giải thích những dạng ứng xử và thay đổi Trong đó kiểm chứng sự thay đổi của môi trường, xã hội, phạm vi phân bố lãnh thổ, phạm vi ảnh hưởng của nguồn gốc di vật với mối liên hệ xung quanh khu vực phát hiện di sản
Lý thuyết tái thiết: Lý thuyết tái thiết cho phép những điều kiện ứng xử của con người đối với môi trường quá khứ được tìm hiểu một cách chắc chắn Phạm vi của lý thuyết này được ứng dụng trong xử lý các yếu tố: Động cơ văn hóa vật chất; Quá trình hình thành văn hóa của tư liệu khảo cổ tức các hiện vật khai thác từ tàu đắm; Những quá trình phi văn hóa đóng góp cho sự hình thành những tư liệu khảo cổ và môi trường Tất cả đặt trong bối cảnh so sánh lịch đại và đồng đại với sự ảnh hưởng của sự biến đổi thời gian từ giai đoạn tàu bị đắm đến khi phát hiện và tìm thấy các di sản
Lý thuyết phương pháp luận: bao hàm những nguyên lý dùng để thu thập
và đánh giá các bằng chứng khảo cổ học và những nguyên lý phương pháp
Trang 15luận chuyển sự lựa chọn những kỹ thuật và phương pháp cũng như chỉ dẫn mà
lý thuyết tái thiết sử dụng Lĩnh vực phương pháp luận gồm ba khía cạnh: phát thảo khôi phục, phân tích và suy luận từ các bằng chứng di sản dưới nước được tìm thấy
Ngoài ra, cơ sở để thực hiện đề tài là các vấn đề về biển đảo hiện nay đang
được quốc gia quan tâm, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược
Biển Việt Nam đến năm 2020” xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh Xây dựng
và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học-công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
đặt ra nhiệm vụ cấp bách không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển
Để phát huy các giá trị văn hóa biển đảo, tỉnh Kiên Giang đã ban hành Hướng dẫn 18/HD-BTG của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ngày 22/8/2015 về việc sưu tầm, trưng bày giới thiệu các tư liệu di sản biển đảo trong lãnh thổ Việt Nam trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhằm nâng cao vai trò nhận thức trong bảo
vệ chủ quyền biên giới biển đảo Tây nam của tổ quốc; Nghị quyết 100/2017/HĐND – HĐND của tỉnh Kiên Giang ngày 20 tháng 7 năm 2017 đã xác định kinh tế biển đảo là một trong những khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, hướng đến mục tiêu xây dựng Kiên Giang
là tỉnh khá về phát triển kinh tế biển của cả nước, thành tố du lịch di sản biển đảo là một bộ phận được nhắc đến trong phát triển kinh tế của tỉnh Đây là những định hướng cho việc lựa chọn nghiên cứu trong việc thực hiện các nội dung nghiên cứu đối với di sản dưới nước trong đề tài
Trang 166 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có tài liệu nghiên cứu khoa học nào nói về di chỉ tàu đắm trên địa bàn Kiên Giang dưới góc độ quản lý văn hóa Nhiều câu hỏi và giả thiết được đặt ra để tìm hiểu một số vấn đề sau:
Di sản văn hóa dưới nước ở tỉnh Kiên Giang gồm những gì? Thực trạng công tác tổ chức và quản lý các di chỉ khảo cổ học dưới nước hiện nay ra sao?
Cơ quan quản lý cần có những định hướng và giải pháp gì để bảo vệ và phát huy giá trị di sản khảo cổ học dưới nước gắn với phát triển du lịch, góp phần bảo tồn giá trị di sản văn hóa dưới nước của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay?
Từ những vấn đề trên, việc chọn luận văn nhằm làm sáng tỏ các vấn đề đặt
ra, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị khảo cổ học dưới nước là một nhiệm
vụ mà bản thân hướng đến trong quá tình thực hiện
6.2 Giả thiết nghiên cứu
Tuy các công trình có viết về di sản văn hóa dưới nước nhưng vẫn chưa đề cập và làm sáng tỏ đặc trưng của từng địa phương Đặc biệt, các di sản khảo
cổ học dưới nước ở tỉnh Kiên Giang vẫn chưa được khai thác, tìm hiểu về đặc điểm và kiểm kê khoa học để bảo tồn và phát huy Thực trạng của công tác quản lý các di chỉ tàu đắm trong bối cảnh hiện nay đã dẫn đến sự hủy hoại của các di chỉ này, trong đó công tác quản lý nhà nước chưa được thực thi, khi vùng nước xung quanh khu vực di sản chưa được bảo vệ, thì nạn khai quật trộm, trái phép hoành hành đã và đang làm cho những di sản này hủy hoại nghiệm trọng Hầu hết các công trình chỉ có cái nhìn dưới góc độ nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học,… tập trung vào các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và giá trị kinh tế qua việc đánh giá các sưu tập hiện vật, chưa có công trình nào bàn luận về góc độ quản lý nhà nước và đề ra các giải pháp bảo
vệ và phát huy di sản dưới nước trong bối cảnh hiện nay
Trang 17Việc phát huy các loại hình “du lịch di sản dưới nước” vẫn chưa được đề cập từ các công trình nghiên cứu trên, những giá trị “di sản vật thể từ lòng
nước” và “di sản dưới đại dương” là thuật ngữ thoi thúc người viết tìm hiểu
và nghiên cứu trên phương diện lý thuyết của chuyên ngành quản lý văn hóa
Do đó, với sự tham khảo các tài liệu cùng quá trình tham gia trực tiếp các cuộc khai quật tàu đắm tại Kiên Giang, người viết xác định, việc nghiên cứu
đề tài có ý nghĩa trong công tác quản lý di sản ở địa phương, góp phần quan trọng đối với truyền thống văn hóa chung của dân tộc trong chiều dài lịch sử, không những trên lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh mà còn khẳng định các giá trị chủ quyền và phát triển loại hình du lịch di sản dưới nước Trên đây là những giả thuyết được trình bày, từ thực tiễn hi vọng đề tài sẽ làm sáng tỏ những giá trị cần tìm hiểu và biến viễn cảnh giả thuyết thành những ghi nhận có giá trị thực tiễn trong tương lai
7 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu, đề tài tiếp cận lý thuyết nghiên cứu định tính bằng việc sử
dụng các phương pháp cụ thể:
Nghiên cứu thư tịch, sưu tầm tài liệu: Thu thập báo cáo khai quật, các thông tin có liên quan về di sản văn hóa dưới nước, tàu đắm cổ vùng biển Phú Quốc, các tư liệu lịch sử về các tàu đắm đi qua vùng biển Việt Nam, hải trình
“con đường tơ lụa” trên biển
Phương pháp điền dã: Tác giả đến địa bàn huyện Phú Quốc khảo sát, thu thập thông tin về các địa điểm khai quật tàu đắm, các sưu tập hiện vật, tìm hiểu các hoạt động trao đổi cổ vật của người dân, các hoạt động quản lý của địa phương đối với loại hình di sản này
Phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá: Tác giả đến tìm hiểu các sưu tập hiện vật đang trưng bày ở Bảo tàng tỉnh, Bảo tàng huyện Phú Quốc, các tuyển điểm du lịch có triển lãm các loại hình hiện vật, các cơ sở du lịch, bến tàu trên các đảo, tham dự các hoạt động cùng du khách để lấy thông tin, tài
Trang 18liệu cho đề tài Qua phân tích, người viết tổng hợp các cứ liệu để đưa ra đánh giá thực trạng và những tồn tại cần giải quyết qua việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Vận dụng phương pháp này bằng việc sử dụng các kỹ thuật máy đo, khảo sát bằng mắt, giám định niên đại các di vật từ tàu đắm Tác giả so sánh với các hiện vật có cùng niên đại đối chiếu với biên bản giám định của Hội đồng khoa học Trung ương để đối chiếu các giá trị tương ứng
Ngoài ra, trong đề tài còn sử dụng các phương thức liên ngành như: Bảo tàng học, lịch sử, khảo cổ học, địa lý, quản lý văn hóa… để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu của đề tài dưới góc độ quản lý văn hóa nhằm hình thành các giải pháp chung cho công tác quản lý di sản dưới nước
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hiện tại công tác quản lý, lập hồ sơ các giá trị di sản văn khảo cổ học dưới nước trên địa bàn Kiên Giang chưa được thực hiện Quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản dưới nước còn nhiều bất cập Đặc biệt, các hiện vật từ các cuộc khai quật vẫn chưa được khai thác, tìm hiểu
và kiểm kê khoa học, trưng bày giới thiệu để phục vụ nghiên cứu, phát triển kinh tế, xã hội và tham quan tìm hiểu Do đó, nếu thực hiện tốt công tác quản
lý này sẽ góp phần phát huy và khẳng định các giá trị lịch sử, văn hóa trên hải phận của Việt Nam trong tình hình hiện nay Việc nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn, tạo cơ sở cho việc ghi nhận và kiểm kê, lập hồ sơ di sản và đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy di sản dưới nước trên phương diện quản
lý
Ý nghĩa khoa học: Góp phần làm rõ tầm quan trọng của di sản dưới nước
đối với địa phương; hiểu được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với di sản khảo cổ học dưới nước; Làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu về di sản dưới nước trong bối cảnh phát triển du lịch biển đảo từ góc nhìn quản lý nhà nước
Trang 19Ý nghĩa thực tiễn: Làm tư liệu nghiên cứu cho ngành quản lý di sản đang
rất cần tìm hiểu; Làm tài liệu lưu trữ cho cơ quan chuyên môn, tạo hồ sơ di sản văn hóa vật thể về công tác quản lý di sản văn hóa dưới nước phục vụ cho các cơ quan chức năng
Phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các trường học trên địa bàn - nơi có nhu cầu tìm hiểu về di sản khảo cổ học dưới nước trong bối cảnh phát triển di sản văn hóa dưới nước gắn với phát triển kinh tế, xã hội quốc gia
9 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia
làm 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Nội dung chương này gồm có 2 phần chính: Thứ nhất, trình bày những vấn đề lý luận về di sản văn hóa, di sản khảo cổ học, khảo cổ học dưới nước
và các loại hình của di sản khảo cổ học Thứ hai, giới thiệu các thông tin cơ bản về địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý di chỉ tàu đắm vùng biển Phú Quốc tỉnh Kiên Giang
Giới thiệu về lịch sử phát hiện các điểm di chỉ tàu cổ, đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý các di chỉ, trong đó, nêu bật những kết quả đạt được trong quản lý các di chỉ tàu đắm cũng như các sưu tập hiện vật
đã khai quật trong thời gian qua Bên cạnh, làm rõ những bất cập đã và đang tồn tại trong công tác quản lý loại hình di sản này
Chương 3 Giải pháp quản lý di sản khảo cổ học dưới nước
Từ thực trạng công tác quản lý các di chỉ tàu đắm huyện Phú Quốc, tác giả nhận định vai trò quan trọng của di chỉ khảo cổ học đối với địa phương, đồng thời, xây dựng các giải pháp chung đối với lĩnh vực khảo cổ học dưới nước Các khuyến nghị cũng mở rộng cho lĩnh vực quản lý di sản dưới nước ứng với công ước quốc tế, các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý di sản văn hóa phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Trang 20đồng có tính đặc trưng mà cộng đồng khác không thể nào có được
Trong Luật di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 ghi
rõ: "Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là bộ phận của cộng đồng văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”; “Di sản có thể thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức, nhà nước"
Tại Điều 1, Luật Di sản văn hóa định nghĩa:“Di sản văn hoá bao gồm di
sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Di sản văn hoá vật thể là dạng di sản văn hoá được bảo tồn và lưu giữ dưới dạng vật thể hữu hình mà ta có thể nhận biết được bằng xúc giác như các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử
- văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền
Trang 21miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [1]
Di sản văn hóa phi vật thể khác với di sản văn hóa vật thể ở chỗ, phương thức lưu truyền và truyền dạy các di sản này đều thông qua ký ức, truyền miệng, truyền nghề, thực hành qua ngôn ngữ và hành vi của con người cụ thể Những con người đó trước hết và quan trọng nhất là các nghệ nhân dân gian
Mở rộng phạm vi khái niệm, theo UNESCO di sản văn hóa “cultural heritage” là những tài sản mang tính thừa kế của người đời trước để lại có giá trị văn hóa bao hàm những văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Những sản phẩm được để lại trong quá khứ là di sản, nhưng không phải bất cứ cái gì để lại trong quá khứ cũng là di sản mà phải có sự chọn lọc từ quá khứ Điều 1, Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm
1972 định nghĩa di sản văn hóa như sau: “các di tích: các công trình kiến
trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.[2]
Theo hướng phân loại của UNESCO thì di sản có ba loại chính: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp, trong đó di sản văn hóa được hiểu như sau: là các di tích (các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội
Trang 22họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học); các quần thể các công trình xây dựng (các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.); các di chỉ (các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong
đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.[2]
Như vậy, qua tìm hiểu các khái niệm giúp cho việc định hình các nội dung, đối tượng thuộc lĩnh vực di sản có các giá trị về khoa học, lịch sử, văn hóa Trên cơ sở đó xác định các nhiệm vụ cần thiết trong quy hoạch, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa nhất là đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học và quản
lý nhà nước
* Di sản văn hóa dưới nước
Điều 1, Công ước bảo vệ di sản văn hóa dưới nước của UNESCO năm
2001, định nghĩa: “Di sản văn hóa dưới nước có nghĩa là tất cả các dấu vết
của sự tồn tại của nhân loại mang tính văn hoá, lịch sử hoặc khảo cổ nằm một phần hoặc hoàn toàn dưới nước, theo chu kỳ hoặc liên tục, trong ít nhất 100 năm” Theo đó, di sản dưới nước gồm các địa điểm, cấu trúc, nhà cửa, đồ tạo
tác và hài cốt con người, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng; tàu thuyền, máy bay, các phương tiện vận tải hoặc bộ phận đi kèm, hàng hóa và các đồ đạc khác, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng và các hiện
vật mang các đặc tính thời tiền sử [3]
Trong sự phát triển của xã hội ngày nay, nhiều người cho rằng di sản văn hóa là những sản phẩm do con người sáng tạo ra, có vai trò đóng góp cho xã hội được con người ghi nhận và xác định chúng tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội, những sản phẩm này phải được hiện hữu và phải được xếp
Trang 23hạng thành các loại hình di sản theo quy định Tuy nhiên, ít ai nghĩ rằng trong các sản phẩm của con người và thiên nhiên để lại, ngoài việc xuất lộ, vẫn còn nhiều di tích, hiện vật còn chìm sâu trong lòng đất, dưới nước chưa được khám phá Trong mối tương quan giữa đối tượng khảo cổ này và những di tích gọi là di sản văn hóa, chúng vẫn là một phần của nhau vì xét cho cùng bản chất vẫn là những tài sản được truyền từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và lưu giữ lại những ký ức của một cộng đồng, dân tộc hay một quá trình biến đổi của tự nhiên, được góp vào hành trình di sản với tên gọi di sản khảo cổ học
Như vậy, di sản văn hóa dưới nước là một phạm vi của di sản văn hóa, được tồn tại bên dưới lòng nước có giá trị về văn hóa, khoa học, lịch sử được con người phát hiện Những giá trị từ di chỉ tàu đắm Phú Quốc được xem là di sản văn hóa dưới nước góp phần vào di sản khảo cổ học của Việt Nam cần được làm sáng tỏ
Đối chiếu với đề tài nghiên cứu, có thể thấy di sản văn hóa dưới nước là một bộ phận của di sản văn hóa mang yếu tố, loại hình văn hóa vật thể Việc xác định các khái niệm loại hình giúp người viết định hình được nội dung, phạm vi đối tượng nghiên cứu Xét thấy cần tìm hiểu các khái niệm của di sản văn hóa dưới nước và di sản khảo cổ học dưới nước để đặt trong mối liên hệ tương tác mà thấy rõ định hướng khai thác nội dung cho các phần nghiên cứu trong đề tài này
* Di sản khảo cổ học và khảo cổ học dưới nước
Khái niệm di sản khảo cổ học (archaeological heritage) bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, “di sản khảo cổ học” chính thức có tên trong Hiến chương Lausanne về Bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học do Uỷ ban Quốc tế về Quản lý Di sản Khảo cổ học (ICAHM) đề xuất, được Đại Hội đồng ICOMOS thông qua trong cuộc họp ở Lausanne, Thụy Sĩ, vào tháng 10 năm 1990
Trang 24Trước đó, nền móng của khái niệm này đã được đề cập từ những năm
1931 trong Hiến chương Athens về Trùng tu di tích lịch sử và trong Khuyến nghị New Delhi của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ năm 1956 Tên gọi “di sản khảo cổ học” được nhắc đến thường xuyên hơn trong Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ tại Đại hội Quốc tế lần thứ hai, Venice, năm 1964, Hiến chương này đã được ICOMOS chấp nhận năm 1965 Đến năm 1972, khái niệm “di sản khảo
cổ học” được đề cập như là một bộ phận của di sản văn hóa tại Công ước Bảo
vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO cụ thể: 1
“Các di tích: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa, các yếu tố hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học;” “Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, và các khu vực gồm có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hay nhân học.”[2]
Năm 1990, Hiến chương Lausanne ra đời, trong đó nêu rõ “Di sản khảo
cổ học là bộ phận di sản vật chất mà các phương pháp khảo cổ học cung cấp cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về nó Di sản này bao gồm mọi vết tích sinh tồn của con người được lưu lại trong những địa điểm liên quan đến mọi hoạt động của con người, trong những cấu trúc đã bị hoang phế, trong những vết tích đủ các loại (cả những di chỉ dưới đất và dưới nước) cũng như các vật liệu văn hóa gắn với các di tích đó”
Mặt khác của khái niệm này là thành tố di sản khảo cổ học dưới nước, một
bộ phận cấu thành của di sản khảo cổ học Những sản phẩm di sản văn hoá ở đây cũng chứa đựng giá trị của thiên nhiên và con người lập thành trong quá khứ nhưng có phạm vi trong lòng nước Nó là những sản phẩm còn để lại sau những biến cố gây ra bởi thiên nhiên như bão, gió, sóng thần, hay chiến tranh,
Trang 25cướp biển hoặc vì một nguyên nhân nào đó tác động dẫn tới việc những di sản nằm sâu trong lòng nước từ đời này sang đời khác
Để phân biệt với khái niệm chung của di sản khảo cổ học, di sản khảo cổ học dưới nước là di sản mang tính đặc thù ở việc nhận diện vì sự nghiên cứu, phát hiện ra một di sản khảo cổ dưới nước là một việc làm khó khăn và có thể tốn thời gian dài để xác định các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học với những đặc trưng quan trọng tiêu biểu cho một lĩnh vực, một thời kỳ trong quá khứ Hơn nữa, những di sản văn hóa đương đại có thể xem là hoạt động sáng tạo của con người nhưng nó chưa phải là đại diện vì chưa trải qua thời gian để thẩm định nó có phải là đặc trưng, tiêu biểu hay không Nhưng di sản khảo cổ học dưới nước khi được tìm thấy thường là di sản đại diện vì chúng tồn tại trong một thời gian dài ở lòng nước đã được thẩm định bởi thời gian và những phát hiện về nó chứa đựng nhiều giá trị về vật chất lẫn tinh thần, góp phần làm sáng tỏ các giai đoạn của quá trình tiến hóa của sự vật, cung cấp những tri thức mới cho con người khám phá về xã hội trong quá khứ thông qua những bằng chứng về di vật, di tích được phát hiện, hoặc hiểu biết thêm các biến cố trong quá khứ bằng việc đọc các dữ liệu thông tin từ cứ liệu, hiện vật
Qua phân tích các khái niệm có thể thấy, di chỉ tàu đắm vùng biển Phú Quốc là một loại hình di sản khảo cổ học dưới Các khái niệm làm cơ sở lý luận cho việc xác định tàu đắm và các sưu tập tàu đắm là một trong những di sản trong lòng di sản văn hóa Việt Nam, làm căn cứ cho việc xác định và khai thác các nội dung nghiên cứu trên cơ sở sử dụng cứ liệu khoa học như các chính sách, văn bản luật, nghị định, thông tư và các văn bản của chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý đối với loại hình di sản này
Trang 26học có sự đa dạng về loại hình như di tích cư trú, kiến trúc, mộ táng, đền, tháp, đình, chùa, lăng tẩm… Các loại hình này phân bố ở phạm vi trong lòng đất và dưới nước
Đối với phạm vi trong lòng đất, ở Việt Nam có thể thấy các loại hình di chỉ khảo cổ học cư trú, di tích lịch sử văn hóa chứa đựng các dấu ấn của thời
kỳ tiền sơ sử với các nền văn hóa tiêu biểu như văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo, trong đó, các di chỉ được phát hiện mang vết tích cư trú, kiến trúc, mộ táng, thành quách.v.v với những đặc trưng ở mỗi di chỉ được phát hiện
Đối với phạm vi dưới nước bao gồm các di chỉ ở dưới lòng kênh, sông, rạch và hải phận của Việt Nam, những vết tích được phát hiện tính đến hiện nay là các di chỉ tàu đắm thuộc vùng nước nội địa và hải phận thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Các di vật được trục vớt chính yếu là các đồ gốm
sứ, mảnh ván tàu, vàng và các đồ dùng sinh hoạt mang theo trên tàu Di sản này bao gồm cả những sản phẩm của Việt Nam trong lịch sử và của ngoại quốc mang giá trị thương buôn trên các con tàu đi ngang vùng nước Việt Nam
bị đắm, chìm để lại Tất cả tạo nên một sự đa dạng trong tuyến trình hàng hải, mua bán giữa Việt Nam và các nước, phản ánh sự giao thương trong lịch sử khi các phương tiện đường bộ và đường hàng không chưa phát triển
Đối chiếu với đề tài nghiên cứu, các di chỉ tàu đắm Phú Quốc được xem là loại hình di sản khảo cổ học dưới nước Việc xác định loại hình di sản khảo cổ này giúp định hướng cho việc xây dựng nội dung khai thác thông tin của di sản văn hóa dưới nước cũng như các khía cạnh mang tính đặc trưng mà chỉ có
di sản khảo cổ học dưới nước mang lại
1.1.3 Các văn bản về quản lý di sản khảo cổ học
* Các văn bản của quốc tế về quản lý di sản khảo cổ học
Sau khi Hiến chương Athens năm 1931 về trùng tu di tích lịch sử ra đời, các tổ chức đã lần lượt được thành lập mang tính hệ thống và bắt đầu triển khai các chương trình, chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu về di tích khảo cổ,
Trang 27kiến trúc, di sản thiên nhiên, di sản biển, di tích lịch sử, văn hóa, Từ đó, đúc kết thành các công ước, hiến chương, nguyên tắc, văn kiện quốc tế về bảo tồn
di tích có giá trị áp dụng trên toàn thế giới Hiện nay, có nhiều tổ chức hoạt động về quản lý di sản văn hóa và bộ phận di sản khảo cổ học được xem là một phần thiết yếu trong các tổ chức này, tiêu biểu có thể thấy Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Trùng tu Di sản văn hóa (ICCROM), Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICOMOS), Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN).2
Với sự ra đời của các tổ chức, nhiều quy định đã được soạn thảo mang tính quốc tế ra đời kêu gọi sự chung tay bảo vệ di sản trên toàn thế giới như: Khuyến nghị New Delhi về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ (1956); Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964); Hiến chương Florence về hoa viên lịch sử (1981); Hiến chương về bảo
vệ thành phố và khu vực đô thị lịch sử (Hiến chương Washington 1987); Hiến chương Burra về bảo vệ các địa điểm di sản có giá trị văn hóa (1979, sửa đổi
1981, 1988, 1999); Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990); Văn kiện Nara về tính xác thực tổ chức tại Nhật Bản (1994); Nguyên tắc lập hồ sơ di tích, cụm kiến trúc và di chỉ (1996); Hiến chương quốc tế của ICOMOS về du lịch văn hóa (1999); Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước (2001).[4]
Trong những văn bản trên thì Khuyến nghị New Delhi của UNESCO (1956); Hiến chương của ICOMOS về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990); Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản văn hoá dưới nước (1996) là một văn kiện bổ sung cho Hiến chương năm 1990; Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước (2001) là những văn bản chứa đựng nội dung chi tiết về quản lý di sản khảo cổ học và khảo cổ học dưới nước mang tính quốc tế, cụ thể:
Trang 28Khuyến nghị New Delhi của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng
cho khai quật khảo cổ ra đời năm 1956 với “Mong muốn các cơ quan quốc
gia chịu trách nhiệm bảo vệ di sản khảo cổ cần tuân theo các nguyên tắc chung vốn đã được kiểm nghiệm và được các cơ quan khảo cổ quốc gia thực thi”
Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990) hay còn gọi
là Hiến chương Lausanne được Ủy ban Quốc tế Quản lý Di sản khảo cổ học (ICAHM) soạn thảo và đã được Đại Hội đồng ICOMOS thông qua vào tháng 10/1990 tại cuộc họp ở Lausanne, Thụy Sĩ Hiến chương bao gồm 9 điều, trình bày những nội dung mang tính chất quốc tế về di sản khảo cổ học, trong
đó nêu rõ các khái niệm, định nghĩa về di sản khảo cổ học, các chính sách về
sự phối hợp bảo vệ di sản giữa các quốc gia, tính pháp chế, các giải pháp nghiên cứu, khảo sát, bảo quản, trùng tu, chính sách bảo tồn và phát triển, đào tạo nghiệp vụ chuyên môn và hợp tác quốc tế.v.v… [4]
Hạn chế của Hiến chương New Delhi, và Hiến chương về bảo vệ và quản
lý di sản khảo cổ học (1990) là chỉ đề cập đến di sản khảo cổ ở phạm vi dưới lòng đất mà không đề cập đến di sản ở phạm vi dưới nước Đến năm 1996, Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa dưới nước được ra đời, mở rộng phạm vi đối với di sản khảo cổ học từ đất liền đến vùng nước Hiến chương này được Đại hội đồng ICOMOS lần thứ 11 ở Sofia phê chuẩn, đề cập đến các nguyên tắc và nhiệm vụ liên quan đến di sản khảo cổ học nằm trong, hoặc đã được chuyển ra khỏi môi trường dưới nước Năm 2001, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước được ban hành, nội dung Công ước nhận thức rõ tầm quan trọng của di sản văn hóa dưới nước là một bộ phận mật thiết của di sản văn hóa của nhân loại, đồng thời là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với lịch sử các dân tộc, quốc gia và các mối quan hệ liên quan tới kho tàng
di sản chung của nhân loại
Các văn bản của quốc tế góp phần định hướng, làm rõ nội dung, phạm vi lãnh thổ của di sản ở dưới nước, mối quan hệ hợp tác song phương, đa
Trang 29phương giữa những quốc gia phát hiện di sản dưới nước, các hình thức xử phạt và tịch thu di sản dưới nước mang tầm quốc tế, các định hướng về đào tạo nhân sự khảo cổ học dưới nước giữa các quốc gia Các văn bản này định hướng cho việc ứng dụng, so sánh việc vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam
mà tác giả đề cập cụ thể trong việc nghiên cứu các di chỉ tàu đắm ở vùng biển Phú Quốc, trước thực tế di sản văn hóa dưới nước đang bị đe dọa bởi các hoạt động trái phép có tác động trực tiếp và sự cần thiết phải có các biện pháp mạnh mẽ hơn nhằm ngăn chặn các hoạt động phá hoại di sản này
* Chính sách của quốc gia về quản lý di sản khảo cổ học
Năm 1987, Việt Nam chính thức tham gia Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên của UNESCO, bằng việc kế thừa những thành quả trong các quy định của thế giới, Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể trong công cuộc quản lý các giá trị di sản và có những thay đổi từ những năm
1992 khi Hiến pháp ra đời, trong đó xác định “Nhà nước và xã hội bảo tồn,
phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu
bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh”
Tiếp sau, trong quá trình đổi mới Đảng và Nhà nước đã xác định “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa” là nhiệm vụ trọng tâm của nước nhà cụ thể bằng
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, năm 1998 về “Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam nên các chính sách, quy định của Việt Nam về quản lý di sản khảo cổ học gắn liền với quá trình ra đời các
cơ quan chuyên ngành di sản, nghiên cứu về khảo cổ học, di tích lịch sử, có thể thấy Việt Nam có ngành khảo cổ học xuất hiện sau các nước, mãi đến thế
kỷ 19 mới bước vào nghiên cứu lĩnh vực này Song đầu tiên chỉ là những người Pháp nghiên cứu về khảo cổ học Việt Nam và đưa ra các quy định về quản lý loại hình này, mục đích không gì ngoài phục vụ cho công cuộc khai thác bóc lột thuộc địa của người Pháp
Trang 30Người Pháp nắm độc quyền tất cả từ khâu tổ chức, nghiên cứu đến công
bố các giá trị di sản khảo cổ học, họ không đào tạo người Việt Nam làm nghiên cứu khảo cổ và hạn chế người Việt Nam tham gia nghiên cứu, ban hành các quy đinh về quản lý di sản khảo cổ học
Thông tin đầu tiên về cơ quan quản lý di sản khảo cổ học là sự ra đời của
Uỷ ban Khảo cổ học Đông Dương vào năm 1898 Đến năm 1900, Uỷ ban này đổi tên thành trường Viễn Đông bác cổ (Ecoe Francaise d’Extrême orient, EFEO) Song song với việc nghiên cứu và ban hành các chính sách về quản lý
di sản khảo cổ học trên toàn cõi Việt Nam mà người Pháp bảo hộ lúc bấy giờ, trường còn xuất bản tập san (BEFEO) thường xuyên công bố những phát hiện mới trong khảo cổ học ở Việt Nam và Đông Dương [4]
Quyền quản lý chỉ thuộc về các nhà khoa học Việt Nam sau khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện Đây là văn bản đầu tiên của Nhà nước ta
về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc sau khi khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sắc lệnh số 65/SL có các nội dung cơ bản như sau [5]:
Thứ nhất, khẳng định việc bảo tồn cổ tích là công việc rất quan trọng và
rất cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam Khái niệm “cổ tích” trong Sắc lệnh ngày nay được gọi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể
Thứ hai, Đông Phương Bác cổ Học Viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích
trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp Quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện
bị bãi bỏ
Thứ ba, giữ nguyên các luật lệ về bảo tồn cổ tích đã có trước đây
Thứ tư, “cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự
khác, những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”
Trang 31Thứ năm, “Chính phủ công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng
năm của toàn quốc, của mỗi kỳ hay mỗi tỉnh cho Đông Phương Bác cổ Học viện Khi dự thảo ngân sách cho toàn quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh; ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Ủy viên tài chính mỗi kỳ, mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ Học viện”.[5]
Có thể thấy sứ mệnh của Sắc lệnh 65/SL là ban hành các quy định về nhiệm vụ bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, trong đó giao cho Đông phương Bác cổ học viện tiếp nhận Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện để thực hiện các nhiệm vụ bảo tồn cổ tích
Năm 1946, người Pháp lại quyết tâm tái chiếm Việt Nam lần hai, nên việc quản lý và điều hành công tác khai quật khảo cổ thời gian này gặp nhiều khó khăn và dường như dậm chân tại chỗ
Sau khi miền Bắc giành được độc lập, đến năm 1957, theo đề nghị của Bộ Văn hóa, Chính phủ Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng
đã ban hành Nghị định 519/TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 về thể lệ bảo tồn
cổ tích quy định hoạt động khảo cổ học trên phạm vi cả nước, chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thành lập Bộ Văn hóa và cơ quan chuyên môn, trong đó cơ quan bảo tàng quốc gia đảm nhiệm công tác nghiên cứu, sưu tầm và khai quật các di tích, cổ vật, thực hiện nhiệm vụ bảo quản và trùng tu sửa chữa, việc khen thưởng và kỷ luật cũng được nhắc đến trong Nghị định này Giai đoạn này, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam tiếp tục công cuộc đấu tranh giành độc lập hướng đến giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước
Năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, Hội đồng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến chiến lược phát triển đất nước Đối với di sản văn hóa, Pháp lệnh số 14/SL năm 1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cùng các văn bản liên quan đến các quy định về việc chính sách, thủ tục cấp giấy phép thăm dò, khai quật khảo cổ
Trang 32Văn bản này lần đầu tiên quy định điều kiện chuyên môn của người làm việc trong thực hiện thăm dò, khai quật và quản lý các hiện vật từ các cuộc khai quật khảo cổ học
Đỉnh cao của văn bản về quản lý di sản khảo cổ học quốc gia là sự ra đời của Luật di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, Luật di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật là một bước tiến trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa, trong đó đề cập chi tiết các khái niệm liên quan đến khảo cổ học, các tiêu chí phân loại di tích khảo cổ, xếp hạng di tích từ cấp tỉnh, cấp quốc gia, đến cấp quốc gia đặc biệt; quy định điều kiện được cấp phép đối với người thực hiện thăm dò, khai quật; quy định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong phối hợp thực hiện công tác thăm dò, khai quật; tiêu chí hợp tác quốc tế về thăm dò, khai quật khảo cổ; chế độ khen thưởng, xử phạt đối với các cá nhân,
tổ chức đóng góp vào sự phát triển hoặc có những hành động gây tổn hại đến giá trị di tích, di vật, địa điểm khảo cổ học.v.v đều được thể hiện trong văn bản Luật này
Việc đề cập các chính sách quản lý khảo cổ học của quốc gia nhằm tìm hiểu và khẳng định sự quan tâm của nhà nước đối với loại hình di sản khảo cổ học, từ đó liên kết với đề tài, để thấy được việc vận dụng các chính sách này trong thực tiễn thời gian qua Trên cơ sở đó, có thể đánh giá thực trạng, mức
độ áp dụng và khả năng thực hành chính sách quản lý nhà nước ở từng địa phương trong đó có địa bàn, nơi đề tài đang nghiên cứu
* Các văn bản về quản lý di sản khảo cổ học dưới nước
Với sự ra đời của Luật di sản văn hóa cùng các văn bản hướng dẫn kèm theo, trong những năm trở lại đây, trước sự phát hiện các di chỉ khảo cổ học dưới nước như tàu đắm Cù Lao Chàm ở Quảng Nam, tàu Bình Châu ở Quảng Ngãi, tàu Hòn Cau ở Vũng Tàu; Tàu đắm Cà Mau ở Cà Mau, tàu đắm Hòn Dầm ở Kiên Giang…hàng ngàn cổ vật được trục vớt sau những phát hiện này,
Trang 33nhiều vấn đề đã được đặt ra trong công tác quản lý và phát huy các địa điểm khai quật cũng như những bộ sưu tập từ các đợt khai quật
Để quản lý loại hình di sản này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08/07/2005 về Quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước Nghị định giải thích, quy định các điều kiện về quản lý bảo vệ di sản văn hóa dưới nước trong tình hình hiện nay
Năm 2008, trên cơ sở Nghị định 86/2005/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng
12 năm 2008 về việc ban hành Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ học
Tháng 9 năm 2013, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đối với công tác quản lý
di sản khảo cổ học dưới nước, Trung tâm khảo cổ học dưới nước thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập có nhiệm vụ xây dựng đề
án từng bước hình thành ngành khảo cổ học dưới nước, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực song song với nghiên cứu ban hành các chính sách chiến lược về nghiên cứu, khai quật và phát huy các giá trị di sản khảo cổ học dưới nước Hiện nay, khảo cổ học dưới nước ở các địa phương vận dụng Nghị định số
86/2005/NĐ này Tại Điều 1, Nghị định nêu rõ “các hoạt động quản lý và bảo
vệ di sản văn hóa dưới nước, bao gồm di sản văn hóa ở vùng nước nội địa, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, công dân gọi chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước” [7]
Nghị định quy định rõ nội dung quản lý di sản văn hóa dưới nước, các yêu cầu của điều kiện tham gia thăm dò, khai quật di sản dưới nước Phương thức phối hợp để bảo vệ di sản văn hóa dưới nước giữa các cơ quan, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong phát hiện bảo vệ di sản Các chính sách về hợp tác quốc tế trong quản lý, bảo vệ di sản văn hóa dưới nước và các hình thức
Trang 34khen thưởng và xử phạt, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước
Theo quy định hiện hành, mọi hoạt động khảo cổ trên đất nước Việt Nam đều thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông qua việc cấp giấy phép thăm dò và khai quật khảo cổ học [6]
Đối với trường hợp khảo cổ học dưới nước cũng vậy, các địa điểm khi phát hiện thường được báo cho Bảo tàng tỉnh hoặc Ban Quản lý di tích cấp tỉnh, tham mưu cho Sở và UBND tỉnh làm tờ trình Cục Di sản Văn hóa, Cục
di sản trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét cấp giấy phép thăm do, khai quật
Một số trường hợp khẩn cấp, UBND tỉnh có quyền ký quyết định cho phép thăm dò, khai quật nhanh nhằm hạn chế tình trạng mất cấp, khai quật trái phép, đảm bảo kịp thời các giá trị của địa điểm phát hiện Song song với việc khai quật, UBND tỉnh vẫn gửi trình các văn bản và báo cáo chính thức công tác khai quật của mình Về phía địa phương, sau khi có quyết định thăm dò, khai quật, sẽ tiến hành thành lập đội khai quật gồm các ban ngành của tỉnh và
cơ sở như Bảo tàng tỉnh, Ban quản lý di tích tỉnh, Công an tỉnh, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện…
Ở Việt Nam hiện nay, việc đầu tư cho thăm dò, khai quật được thực hiện chủ yếu bởi các nhà đầu tư ngoài lĩnh vực nhà nước, việc sử dụng nguồn vốn nhà nước cho đầu tư, thăm dò khai thác ở các địa phương còn rất hạn chế Việc triển khai hoạt động thăm dò thường xuất phát từ sự chủ động ở phía các nhà đầu tư, các tập đoàn ngoài nhà nước
Khi thực hiện, thủ tục xin phép đều phải thông qua Sở Văn hóa và Thể thao hay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương Các thủ tục sẽ do Sở đảm nhiệm đệ trình về Bộ, các quyết định do Bộ ban hành về thăm dò, khai quật quy định rõ sự phối hợp, trách nhiệm, chức năng của mỗi bên Riêng đối với địa phương các cơ quan chức năng ban hành các thủ tục, hợp đồng về quản lý các di vật khai quật được, tỷ lệ phân chia được thỏa thuận bằng văn
Trang 35bản Một quyền tối hạn trong quy định đối với lĩnh vực khảo cổ học là những hiện vật mang tính độc bản, quý hiếm phải thuộc quyền quản lý của nhà nước, không một đơn vị, cá nhân đầu tư nào được quyền sở hữu hoặc phân chia khi phát hiện những hiện vật mang tính chất này [7]
Tóm lại, trên cơ sở các văn bản quản lý của nhà nước về di sản khảo cổ học dưới nước, có thể thấy Việt Nam đã cơ bản hình thành được các văn bản quản lý di sản khảo cổ học dưới nước phù hợp với quốc tế Tuy nhiên, so sánh với quá trình hoạt động của công tác bảo vệ di sản văn hóa ở nước ta hiện nay,
có thể nhận thấy hành lang pháp lý về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa khảo cổ học trên bờ hay trong lòng đất là đầy đủ hơn so với di sản văn hóa khảo cổ dưới nước từ việc ban hành Luật, Nghị định hướng dẫn, Thông tư của các bộ ngành từ trung ương đến địa phương Thực tế, việc ban hành và vận dụng các văn bản về di sản khảo cổ học dưới nước vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập, các chính sách quản lý chưa có hệ thống cụ thể mà thường mang tính đột xuất Một số văn bản từ trung ương gửi về địa phương chỉ mang tính cấp bách, sự vụ và đặc thù của địa phương hơn là những chiến lược mang tính hệ thống ổn định lâu dài
1.2 Tổng quan về Kiên Giang và vùng biển Kiên Giang
1.2.1 Địa lý tự nhiên, kinh tế và xã hội tỉnh Kiên Giang
* Vị trí địa lý:
Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm
ở tận cùng phía Tây Nam của Tổ Quốc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 245km
và cách TP Cần Thơ 120km, phần đất liền nằm trong tọa độ địa lý: 9°23'50 - 10°32'30 vĩ độ Bắc và từ 104°26'40 - 105°32'40 kinh độ Đông Phía Đông giáp các tỉnh Hậu Giang, Cần Thơ; Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan; Phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau; Phía Bắc giáp tỉnh An Giang và vương quốc Campuchia có đường biên giới đường bộ dài 56km với hai cửa khẩu quốc tế
Hà Tiên và cửa khẩu quốc gia Tân Khánh Hòa, huyện Giang Thành; đường
ranh giới bờ biển dài 200km giáp Vịnh Thái Lan
Trang 36Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên (DTTN) năm 2015 là 634.878,3 km2
(chiếm 15,6% DTTN ĐBSCL, 1,9% DTTN cả nước), dân số năm 2015 là 1.762.281 người, chiếm khoảng 10% dân số vùng ĐBSCL, 1,9% dân số cả nước, có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị trấn, thành phố gồm: Thành phố Rạch Giá, Thành phố Hà Tiên, huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, An Minh, An Biên, huyện đảo Kiên Hải và Phú Quốc [8]
* Kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế của Kiên Giang đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10% Trong cơ cấu các ngành kinh tế, nông nghiệp đứng đầu với ngành trồng trọt cây lương thực là chủ yếu, kế đến là nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, là tỉnh có sản lượng hải sản đứng đầu tại đồng bằng sông Cửu Long Công nghiệp chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng (xi măng, đá, vôi), công nghiệp chế biến thủy hải sản và nông sản Trong 10 năm trở lại đây, ngành dịch vụ phát triển mạnh trong đó nổi bậc nhất là ngành du lịch, tỷ lệ khách du lịch đến Kiên Giang tăng mạnh sau năm du lịch quốc gia 2016 lên đến 5 triệu lượt trên năm, nhu cầu du lịch tăng theo hướng tìm hiểu di sản văn hóa và du lịch biển đảo
Dân cư: Theo số liệu thống kê đến năm 2019, dân số tỉnh Kiên Giang là 1.762.281 người, đứng thứ 12 so với cả nước và đứng thứ 2 ở khu vực ĐBSCL (chỉ sau tỉnh An Giang) Mật độ 267 người/km², khu vực nông thôn 73,1%, thành thị 26,9%; có 3 nhóm dân tộc chính là Kinh, Hoa, Khmer Trong
đó dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,2 %; Hoa: 2,97%; các dân tộc khác như: Tày 0,01%, Chăm 0,02%; các dân tộc khác: Nùng, Ngái, Mông, Giarai, Eđê, Mnông…chiếm 0,05%.3
Kết cấu dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào và gia tăng hàng năm với tốc
độ khá nhanh Trong quá trình sinh sống, các cộng đồng cư dân có sự giao
Trang 37thoa văn hóa tạo cho Kiên Giang có những đặc trưng trong văn hóa cộng đồng, đa dạng về nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, nhiều tôn giáo cùng tồn tại và phát triển như: Phật giáo Nam tông, Công giáo, Cao đài và Hoà hảo
1.2.2 Vùng biển Kiên Giang
Do đặc điểm tự nhiên và sự đa dạng về sinh thái trên các hòn đảo lớn, nhỏ nên có thể phân vùng biển Kiên Giang thành các cụm quần đảo với những thế mạnh khác nhau: Quần đảo (QĐ) Hà Tiên, Kiên Lương và Nam Du có giá trị
về phát triển du lịch; quần đảo An Thới – Phú Quốc có giá trị du lịch, phát triển kinh tế khai thác hải đánh bắt, là ngư trường lớn và an ninh quốc phòng cực Tây Nam; quần đảo thổ Châu có giá trị về kinh tế khai thác hải sản và điểm quan trọng về an ninh quốc phòng nằm gần đường hàng hải quốc tế cách đất liền 220 km Toàn vùng biển có 151 hòn đảo lớn nhỏ trong đó có 143 đảo nổi, 08 đảo chìm phân bố ở các huyện, thành phố: Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc và Kiên Hải.4
Kiên Giang có hơn 200km đường bờ biển, do đặc điểm địa hình chủ yếu là biển bồi, tụ nên có độ sâu trung bình thấp hơn so với các khu vực của miền đông và trung bộ Việt Nam, nơi sâu nhất chỉ khoảng 80m Bờ biển nhiều bùn, khá nông lại chịu sự bồi lắng thường xuyên nên rất dễ bị bồi lấp, nhiều hòn đảo gắn liền với địa phận có thể đi ra vào khi thủy triều xuống như: hòn Me, hòn Chông, hòn Trẹm huyện Kiên Lương Vùng nước biển ấm, sinh vật biển
đa dạng và phong phú như: sinh vật phù du, cá cơm, cá trích, san hô, rong biển, các loài cá, một số loài đặc chủng như bò biển (dugon), vích, đồi mồi… Đặc điểm thuận lợi của vùng biển tạo điều kiện cho con người cư trú và sinh sống, khai thác các sản vật, là điểm giao thương trong hải trình đi từ Việt Nam đến Campuchia, Thái Lan, Philippines dọc theo bờ biển, và là điểm trung chuyển với các nước bán đảo Indonesia, Malaysia Kiên Giang có khoảng 42 bãi biển tự nhiên, bến cập thuyền ở các đảo, nơi thuyền bè có thể neo đậu để trao đổi hàng hóa, đi lại của người dân Tập trung tại các địa bàn:
Trang 38đảo Phú Quốc, ven biển Hà Tiên, Kiên Lương, các QĐ (Bà Lụa, Hải Tặc, An Thới, Thổ Châu, Nam Du) và các đảo nhỏ (hòn Tre, hòn Nghệ, hòn Rái) Xét tuyến điểm lưu trú, dừng chân cư trú có thể chia thành hai khu vực:
- Khu vực xa bờ: phân bố chủ yếu ở Phú Quốc và các QĐ xa bờ (QĐ An
Thới, QĐ Hải Tặc, QĐ Nam Du, QĐ Thổ Châu), là khu vực có các tàu bè lớn các nước đi qua, các tàu đánh cá lớn của ngư dân neo đậu, tiếp lương thực trong chuyến hải trình khai thác đánh bắt trên biển, hoặc tránh bão Nước biển vùng này trong hơn so với khu vực gần bờ, các bãi cư trú trên các đảo tương đối tốt, điều kiện sinh sống tốt như có nước ngọt trên đảo, cây cối, thực vật đa dạng có thể gieo trồng và khai thác
- Khu vực gần bờ: gồm các bãi biển nằm gần đất liền (Mũi Nai– Hà Tiên,
bãi Dương – Kiên Lương, bãi Chén – hòn Tre) Do ảnh hưởng của phù sa sông, nằm gần bờ, nước biển có chứa nhiều phù sa đổ ra từ các cửa sông nên
độ trong của nước biển bị hạn chế thường có màu nâu đục, bãi biển có nhiều
đá ngầm và nhiều loài giáp xác, rong rêu Vùng biển nông này là điều kiện sống cho các ngư dân đánh bắt nhỏ, các sản vật như cá cơm, nghêu sò, cua, ghẹ, nuôi trồng và khai thác khoáng sản than bùn, rừng ngập mặn
* Đặc điểm hải văn và khí hậu vùng biển, đảo Kiên Giang
- Hải văn: Biển Kiên Giang mang những đặc điểm chung của chế độ hải
văn biển Tây đó là chế độ nhật triều không đều Biên độ hải triều cực đại đạt 1,8m (trạm Phú Quốc), triều sóc vọng (triều cường) thường có biên độ từ 1,4 đến 1,6 m, trong lúc đó triều trực thế (triều kiệt) hàng tháng có biên độ từ 0,4 đến 0,6 m Do đặc tính sông, suối trên các đảo thường ngắn và dốc, lưu vực
nhỏ nên khả năng tác động của triều vào sông suối không xa
Độ mặn trung bình không quá 350/00, do ảnh hưởng của nước sông nên một
số vùng gần cửa sông có độ mặn nhỏ hơn, đặc biệt là vào mùa mưa Nhiệt độ trung bình nước biển khoảng 250C - 270C và ít biến động Chế độ sóng vùng
biển Kiên Giang phụ thuộc vào chế độ gió mùa, gồm có 2 mùa rõ rệt [9]:
Trang 39- Gió mùa Đông Bắc: Sóng biển có hướng Đông Bắc, Bắc Đông Bắc và
Đông Vùng biển Tây Nam các đảo như Phú Quốc, Thổ Chu có sóng hướng
Đông Bắc với độ cao trung bình 1,1 – 3,0m, tần suất 10% vào tháng 7
- Gió mùa Tây Nam: Tạo hướng sóng Tây Nam và Tây Tây Nam, sóng có
độ cao 1,1 -3,0m tần suất 16% vào tháng 8, độ cao lớn nhất có thể đạt 5m Vào các tháng chuyển gió (tháng 3,4,10,11), hướng sóng thay đổi và có độ cao khoảng 0,5 – 1,0m, tần suất không quá 13% Vào tháng 5 sóng có hướng
Đông-Đông Nam, độ cao sóng nhỏ nhất (0,1 -0,4m) với tầng suất 24%
Vùng ven bờ các đảo thường chịu ảnh hưởng của hiệu ứng động lực-hiệu ứng ven đảo Hiệu ứng này tạo quá trình vận động nước gây hiện tượng nước
“trồi” và nước “chìm” và các dòng xoáy quanh các đảo, tuy nhiên mức độ tác
động đáng kể
- Tình trạng xâm nhập mặn: Tình trạng xâm nhập mặn vào các sông suối
trên đảo thường xảy ra từ tháng 12 – 4 trùng với thời kỳ mực nước sông suối xuống thấp, cũng là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc với thời kỳ triều cường mạnh nhất trong năm, xâm nhập sâu nhất là khoảng tháng 2, 3 tại các
sông Cửa Cạn, Cửa Dương của Phú Quốc
- Vào mùa mưa số giờ nắng trung bình 4-6 giờ/ngày Lượng mưa trung
bình ở đất liền từ 1.600 - 2.000 mm/năm, ở hải đảo từ 2.400 - 2.900 mm/năm
Có đến 60% lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 7 - 10 Đỉnh của mùa
mưa là vào tháng 8 (từ 300 - 500mm)
-Vào mùa khô số giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7-8 giờ/ngày Tháng có
lượng mưa thấp nhất là tháng 2 Mùa khô tuy có nhiệt độ khá cao, có ngày nhiệt độ lên đến 330C, nhưng do sự điều hòa của biển nên tính chất khắc
nghiệt của khí hậu cũng vì thế mà giảm đi [9]
* Đặc điểm các loại gió biển
- Gió Tây-Nam hoạt động trùng với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
Hướng gió thịnh hành là hướng Tây-Nam, mang theo nhiều hơi nước và gây
mưa, tốc độ gió trung bình 3-4,8m/s
Trang 40- Gió Đông-Bắc có nguồn gốc lục địa phía Bắc, hoạt động từ tháng 12 đến
tháng 4 Tốc độ gió trung bình 3m/s Đặc tính lạnh và khô do chứa ít hơi
nước
Ngoài chế độ gió theo mùa, Kiên Giang còn có gió đất và gió biển thổi theo ngày và đêm hoạt động liên tục và rất ổn định, tốc độ trung bình 2,5-3m/s Kiên Giang có chế độ ẩm sương mù không đáng kể, trong năm chỉ có 7-
10 ngày có sương mù, chỉ vào các tháng mùa khô vì mặt đất bị khô, trời ít mây về đêm bị mất nhiệt nhanh gây nên các sương mù vào sáng sớm ít và tan
nhanh [9]
1.3 Các loại hình di sản văn hóa ở Kiên Giang
Với điều kiện thuận lợi, Kiên Giang có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế trong đất liền và biển đảo Nằm trong vịnh Thái Lan, Kiên Giang
có đường bờ biển dài trên 200 km tính từ trục Bắc xuống trục Nam với các huyện thị thành phố giáp biển: Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, TP Rạch Giá, Châu Thành, An Biên, An Minh, chiếm gần nửa trong 15 đơn vị hành chính của tỉnh Kiên Giang có sự đa dạng trong loại hình di sản từ văn hóa vật thể đến phi vật thể, mang đậm yếu tố văn hóa biển đảo của địa phương Di sản văn hóa ở Kiên Giang có sự phong phú về loại hình như di tích khảo cổ học,
di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hóa, và danh lam thắng cảnh Đến năm
2018, toàn tỉnh đã kiểm kê được 160 di tích, trong đó có 54 di tích được xếp hạng với 21 di tích cấp quốc gia, 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 32 di tích cấp tỉnh Các di sản văn hóa được tìm thấy và công nhận gồm cả lĩnh vực di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Đối với di sản văn hóa vật thể có thể kể đến các di tích khảo cổ học đã được khai quật từ thập niên 80 của thế kỷ 20, những di tích này được phân bố trên các đảo và ven biển thuộc địa phận Kiên Giang như: Đảo Phú Quốc, Thổ Châu, quần đảo Nam Du huyện Kiên Hải, huyện Hòn Đất có niên đại 2,500 –
3000 năm cách ngày nay cùng đó, là những di tích về các thương cảng cổ, những con tàu bị đắm đã được tìm thấy và khai quật với nhiều loại hình hiện