Sau gần 2 năm triển khai, đề tài do tác giả Trần Văn Ánh và Lâm Nhân, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, đã hệ thống khá chi tiết các hoạt động kinh tế cổ truyền
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận 8
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
8 Bố cục luận văn 12
Chương 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu 17
1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro 25
1.2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Mạ 25
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Xtieng 32
1.2.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Chơ-ro 36
1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu các dân tộc thiểu số Mạ, Xtiêng, Chơ-ro 42
1.3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai 42
1.3.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước 44
1.3.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Bình Phước 45
Tiểu kết chương 1 46
Trang 2Chương 2 48
GIÁ TRỊ NGHỀ DỆT THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG 48
CÁC DÂN TỘC MẠ - XTIÊNG – CHƠ-RO 48
TRONG PHÁT TRIỂN THIẾT KẾ MỸ THUẬT ỨNG DỤNG 48
2.1 Nguồn nguyên liệu và xử lý nguyên liệu 48
2.1.1 Kỹ thuật trồng bông, se sợi 48
2.1.2 Kỹ thuật nhuộm 50
2.2 Kỹ thuật dệt và tạo hoa văn 52
2.2.1 Kết cấu khung dệt 52
2.2.2 Kỹ thuật dệt và tạo hoa văn sản phẩm 54
2.3 Giá trị của nghề dệt thủ công truyền thống người Mạ 57
2.3.1 Giá trị văn hóa, nghệ thuật 57
2.3.2 Giá trị kinh tế 59
2.3.3 Giá trị của nguồn nguyên liệu tự nhiên đối với sự phát triển bền vững 62 2.4 Sản phẩm thử nghiệm thiết kế mỹ thuật ứng dụng - Những thuận lợi và khó khăn 65
2.4.1 Sản phẩm thử nghiệm 66
2.4.2 Thuận lợi 68
2.4.3 Khó khăn 70
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3 74
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGHỀ DỆT THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC MẠ, XTIÊNG, CHƠ-RO TRONG THIẾT KẾ MỸ THUẬT ỨNG DỤNG 74
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 74
3.1 Những yếu tố tác động đến nghề dệt (mô hình phân tích PEST) 74
3.1.1 Các chính sách của Đảng và Nhà nước (Politic) 74
3.1.2 Bối cảnh kinh tế (Economic) 77
3.1.3 Các vấn đề xã hội (Socio - Cultural) 79
Trang 33.1.4 Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Technological) 84
3.2 Các nhóm giải pháp phát triển bền vững nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng 86
3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 86
3.2.2 Nhóm giải pháp về tài chính 89
3.2.3 Nhóm giải pháp về đào tạo 90
3.2.4 Nhóm giải pháp nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ 91
3.2.5 Nhóm giải pháp về phối hợp trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng 92
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay vấn đề môi trường đang là vấn đề quan tâm toàn cầu Môi trường sống đang là vấn đề nhức nhối đối diện với nhiều nguy cơ ô nhiễm Con người cần phải quan tâm đến sinh thái Quy trình sản xuất cần chú trọng đến môi trường, sản xuất xanh Quá trình tiêu thụ sản phẩm không còn đặt nặng giá trị vật chất mà là trách nhiệm đối với xã hội, môi trường và cộng đồng Chính
vì vậy vai trò tiêu dùng văn hoá quan trọng đối với sự phát triển bền vững xã hội Cả sản phẩm hay quy trình sản xuất đều là câu chuyện văn hoá liên quan đến đời sống văn hoá tinh thần Và khi nói đến nghề dệt vải, là nói đến câu chuyện về di sản văn hoá Nghề dệt vải không chỉ là nghề thủ công đơn thuần phục vụ cho nhu cầu vật chất hàng ngày của người dân, mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng, mà đằng sau những hoạt động dệt, thêu, ghép vải, đó là hoạt động nghệ thuật thực thụ, phải ánh thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi tộc người Nghệ thuật đặc sắc không chỉ hiện diện trên những mảnh vải, những mẫu hoa văn màu đầy màu sắc mà còn là sự kết tinh của những đôi tay khéo léo Phác hoạ đời sống văn hoá tâm tư tình cảm Các hoạ tiết hoa văn trên vải
là một yếu tố vật chất cụ thể, nhưng khả năng truyền tải thông điệp quan điểm tín ngưỡng, triết lý vũ trụ, nhân sinh, con người, biểu đạt cảm xúc Và khi nói
về bản sắc văn hoá Việt Nam là nói đến giá trị căn bản, cốt lõi; những giá trị hạt nhân của dân tộc Vì vậy nghệ thuật thủ công truyền thống cũng chính là nền tảng để phát triển nghệ thuật, MTƯD Trong thời kỳ hội nhập đưa văn hoá Việt Nam giao lưu với các nền văn hoá khác, sự đa dạng sẽ làm cuộc sống phong phú hơn Cho nên nghệ thuật bản địa cần được tôn vinh và đề cao, sự giữ gìn bản sắc là điều cần thiết khi một xã hội mới đang chuyển mình Ngày nay thị trường Việt Nam đang mở rộng, các loại hình kinh doanh ra đời, các sản phẩm mỹ thuật đa dạng cạnh tranh, quyết liệt đáp ứng nhu cầu xã hội Sản phẩm MTƯD chính là cầu nối, chứa đựng thông điệp về bản sắc văn hoá dân
Trang 5tộc Và một thực tế thị trường du lịch các mẫu mã không đa dạng, sản phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt đối với hàng thổ cẩm xuất xứ từ Trung Quốc giá thành rẻ, chất liệu màu công nghiệp, thành phần sợi nhiều poly Thị trường đang thiếu những sản phẩm chất lượng phản ảnh đúng tính đặc thù nghệ thuật thổ cẩm Qua quá trình khảo sát ở Người Mạ, Chơ-ro, Xtiêng ở Đồng Nai nhận thấy rằng câu chuyện dệt là di sản văn hoá đang phải đối diện với nguy cơ mai một Là một hoạ sĩ thiết kế, trải qua nhiều năm làm nghề tác giả rất mong muốn phát huy nguồn tài sản vốn có của dân tộc, phát triển ý tưởng sáng tạo trong sự chấp thuận của cộng đồng, phát triển sản phẩm trên nền tảng bản sắc của cộng đồng, tìm về bản sắc văn hoá, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững cho cộng đồng, tạo thế mạnh cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập hiện nay Hiện nay, tác giả luận văn đang làm công tác giảng dạy tại khoa Design, Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn, giảng dạy và nghiên cứu về thiết kế mỹ
thuật ứng dụng Chính vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài “Phát huy giá trị
nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc thiểu số khu vực Đông Nam Bộ trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng hiện nay” làm luận văn thạc sỹ ngành Quản
lý văn hóa Điều này sẽ thiết thực, phù hợp cho hướng nghiên cứu của bản thân cũng như mã ngành Quản lý văn hóa mà tôi đang theo học
2 Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện giá trị và tính đặc thù từ nghệ thuật dệt vải của người Mạ, Xtiêng, Chơ-ro Tìm hiểu kỹ thuật dệt, cách thức tạo mô típ hoa văn sản phẩm Giá trị nguồn nguyên liệu truyền thống “sản xuất xanh” trong ứng dụng thiết
kế ngày nay
- Tìm hiểu giá trị và thực trạng nghệ dệt của các dân tộc Mạ, Xtiêng,
Chơ-ro hiện nay Phân tích đánh giá những ưu khuyết điểm của nghề dệt truyền thống này trong bối cảnh hiện nay
- Xây dựng chính sách và phương pháp phát triển nghề dệt hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho cộng đồng Dựa trên những đặc điểm văn hoá tín ngưỡng & tập quán thể hiện ở mô típ hoa văn sản phẩm, thiết kế trong mỹ
Trang 6thuật ứng dụng, kích thích sự hòa nhập của cộng đồng từ những sản phẩm truyền thống
- Đề xuất những giải pháp phù hợp, hài hòa lợi ích cho cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của cộng đồng trong thiết kế MTƯD hiện nay Đề xuất
mô hình xây dựng phương thức sản xuất cho phù hợp, giải quyết vấn đề đầu ra của sản phẩm tiếp cận thị trường cũng như kênh phân phối phù hợp
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu người Mạ
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Mạ, như là cuốn sách “Xứ
người Mạ lãnh thổ của thần linh” của tác giả J Boulbet, dịch giả Đỗ Vân Anh,
Phân Viện Văn hóa thông tin tại TP Hồ Chí Minh, NXB Đồng Nai 1999 Đây
là công trình nghiên cứu sâu về văn hóa người Mạ vùng Đồng Nai Thượng của tác giả người Pháp J Boulbet; người Mạ còn được các học giả người Mỹ nhắc
đến trong tập sách “Minority groups in the Republic of Vietnam”, được Bộ
Quốc phòng Hoa Kỳ xuất bản năm 1966, có dành một chương riêng để giới thiệu về người Mạ ở Việt Nam
Ngoài ra còn phải kể đến 2 tập sách: “Những vấn đề về dân tộc học Miền
Nam Việt Nam” do Ban Dân tộc học – Viện khoa học Xã hội Thành phố Hồ
Chí Minh, xuất bản năm 1978 và “Các dân tộc ít người Việt Nam” (các tỉnh
phía Nam), Viện Dân tộc học - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1984, dân tộc Mạ được đề cập trên nhiều lĩnh vực dưới góc nhìn dân tộc
học Năm 1984 tác giả Phan Lạc Tuyên với công trình “Từ Tây Nguyên đến
Đồng Nai” và “Tây Nguyên tiềm năng và Triển vọng” của tác giả Ngô Văn Lý
và Nguyễn Văn Diệu có đề cập đến người Mạ qua một số tư liệu điền dã Tiếp theo là công trình nghiên cứu tổng quan về người Mạ trong 54 dân tộc ở Việt
Nam như: “Việt Nam hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc” của Thông tấn xã Việt Nam, xuất bản năm 1996; “Bức tranh văn hóa dân tộc Việt Nam” do Nguyễn
Văn Huy chủ biên, xuất bản năm 1997…Các nghiên cứu của những tác giả này, tập trung viết về nguồn gốc, tên gọi của người Mạ, hay tập tục hôn nhân,
Trang 7tang ma…Bên cạnh đó còn có những quyển sách “Văn hóa các dân tộc ít
người ở Việt Nam” của Ngô Văn Lê, Nguyễn văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu
được NXB Giáo dục phát hiện đề cập tới một phần tộc người Mạ, hoặc Lã Văn
Lô “Bước đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước”, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội năm 1973
Nghiên cứu văn hóa của người Mạ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có công
trình “Địa chí Đồng Nai” ở tập V, Văn hóa- Xã hội (NXB Đồng Nai năm
2011) có dành một phần chương mục đề cập văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và
sản xuất nông nghiệp của người Mạ ở Đồng Nai “Công trình văn hóa Đồng
Nai” (sơ thảo) và “Truyện kể Mạ ở Đồng Nai” của tác giả Huỳnh Văn Tới,
Phan Đình Dũng đã dành một dung lượng đề cập có tính khái quát về người
Mạ Đặc biệt, tác phẩm Văn hóa người Mạ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
năm 2013 của tập thể tác giả Huỳnh Văn Tới – Phan Đình Dũng – Lâm Nhân
là tác phẩm chuyên sâu về văn hóa người Mạ ở tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu khái quát văn hóa của người Mạ ở các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể, bằng các phương pháp tiếp cận, mục đích khác nhau Các công trình nghiên cứu trên
chưa đề cập đến lĩnh vực “Phát huy giá trị nghề dệt thủ công truyền thống
người Mạ trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng hiện nay” Tất cả những công trình
kể trên có giá trị rất lớn mà tác giả kế thừa tham khảo để thực hiện luận văn
3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu người Xtiêng
Tộc người Xtiêng đã được biết đến qua một số ghi chép ít ỏi trong các
tập lịch sử, địa lý của triều Nguyễn, như “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất
kỷ”, “Đại Nam nhất thống chí” (phần tỉnh Biên Hòa), Hồng Phong “xã thôn Việt Nam”, Nhà xuất bản Sử Địa, Hà Nội, 1957 Các nhà địa lý, lịch sử của
quốc sử quán triều Nguyễn đã thường gọi người Xtiêng dưới cái tên “man”, nó cũng không chỉ riêng người Xtiêng, mà còn bao gồm một số dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi Đông Nam Bộ - Tây Nguyên [23, tr 7]
Trang 8Tác giả người phương Tây đầu tiên nhắc đến vùng Xtiêng là Taber, một người giúp việc thông ngôn cho triều đình Huế dưới thời Minh Mạng Trong bản đồ “An Nam Đại quốc họa đồ” ấn hành năm 1838, Taber có ghi một địa danh là “Tinh Xương Thành” và ghi chú trong ngoặc là “Nước Xtiêng” [12, tr 140,147]
So với một số các dân tộc ít người ở Tây Nguyên thì số lượng các công trình nghiên cứu và khảo sát của các tác giả người Pháp về dân tộc Xtiêng không nhiều lắm Những bài viết đó nghiêng về việc miêu tả các phong tục tập quán, một số khía cạnh kinh tế, văn hóa, kỹ thuật và cảnh quan địa lý… về vùng Xtiêng và con người Xtiêng, đó là tài liệu có giá trị để tìm hiểu nhiều mặt
về người Xtiêng trong thời điểm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
Những công trình của các tác giả người Mỹ nghiên cứu về người Xtiêng không có nhiều cái mới hơn so với các tác giả người Pháp trước đó ngoại trừ thêm lĩnh vực ngôn ngữ, các tác giả người Mỹ chủ yếu là giới thiệu một cách khái quát về người Xtiêng ở Việt Nam Mục đích và yêu cầu các công trình của các tác giả người Mỹ nặng về việc phục vụ cho các hoạt động chiến tranh của quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam
Từ năm 1975, miền Nam Việt Nam được giải phóng và thống nhất đất nước, việc nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở phía nam và người Xtiêng đã có bước phát triển mới Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là nơi thu hút nhiều nhà dân tộc học trong và ngoài nước tìm về nghiên cứu các dân tộc thiểu số Một số nghiên cứu về người Xtiêng được lần lượt công bố trên các tạp chí khoa học, các sách của các nhà xuất bản ở trung ương và địa phương, các tác giả Hữu Ứng, Nguyễn Duy Thiệu, Trần Tất Chủng… đã công bố nhiều tư liệu mới về người Xtiêng qua các đợt khảo sát điều tra điền dã dân tộc học ở vùng Xtiêng tỉnh Sông Bé
Đặc biệt, ông Phan An đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử với đề tài “Hệ thống xã hội tộc người của người Xtiêng ở Việt Nam” (Từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975), luận án Phó tiến sĩ khoa học lịch sử,
Trang 9thành phố Hồ Chí Minh, 1992 Trong luận án này ông Phan An đã đi sâu nghiên cứu về những đặc điểm hệ thống xã hội tộc người của người Xtiêng, tập trung miêu tả khá tỉ mỉ các phương thức làm rẫy, phân chia từng loại đất và săn bắt, hái lượm…
Gần đây nhất năm 2011, báo cáo khoa học về “Đời sống văn hóa người Xtiêng tỉnh Bình Phước”, đề tài cấp Bộ Sau gần 2 năm triển khai, đề tài do tác giả Trần Văn Ánh và Lâm Nhân, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, đã hệ thống khá chi tiết các hoạt động kinh tế cổ truyền của người Xtiêng về: trồng trọt, chăn nuôi, hái lượm và săn bắt, cách thức làm rẫy, nghề thủ công truyền thống,…
So với một số dân tộc thiểu số ở Miền Nam, từ trước đến nay việc nghiên cứu về người Xtiêng có thể nói chưa được nhiều lắm, về nội dung các công trình đã nghiên cứu còn bó hẹp, nội dung nghiên cứu chủ yếu là khảo sát và mô
tả, ghi chép bước đầu các phong tục tập quán, văn hóa tinh thần, sinh hoạt vật
chất… chưa có một công trình tìm hiểu về “Phát huy giá trị nghề dệt thủ công
truyền thống người Mạ trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng hiện nay” Những
công trình của các tác giả người Pháp viết về người Xtiêng có một giá trị tư liệu quan trọng nhưng cũng còn hạn chế trong cách nhìn, cách tiếp cận Những công trình nghiên cứu tác giả là người Việt Nam cũng đi sâu vào một số mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, hoạt động kinh tế những đề cập đó còn mang tính sơ
bộ, tổng quan chứ chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện vấn đề
Ngoài ra, những công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu chung trong
cộng đồng người Xtiêng trên địa bàn tỉnh, chưa đi sâu tìm hiểu về “Phát huy
giá trị nghề dệt thủ công truyền thống người Xtiêng trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng hiện nay” Đây là khoảng trống mà tác giả luận văn mong muốn tiếp tục
bổ sung và hoàn thiện Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi có tham khảo và
kế thừa tư liệu của một số công trình nghiên cứu đi trước Tất cả những công trình nghiên cứu kể trên có giá trị hết sức quý giá đối với luận văn, là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng Nhưng kết quả trong đề tài chủ yếu là khảo sát,
Trang 10phân tích sao cho có thể ứng dụng được giá trị của nghề dệt của người Xtiêng trong thiết kế hiện nay
3.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu người Chơ-ro
Trong lịch sử, các công trình nghiên cứu và khảo sát về người Chơ-ro của các học giả nước ngoài không nhiều, tiêu biểu có một số tác giả P De Barthélémy, P Raulin, J Dournes, Bernard Bourotte, J Boulbet, Joachim Schliesinger các tác giả đã phác họa về một số khía cạnh kinh tế, văn hóa, kỹ thuật, và cảnh quan địa lý về vùng Chơ-ro và con người Chơ-ro Tác phẩm
Minority groups in the Republic of Viet Nam (Các tộc người thiểu số ở Việt Nam Cộng Hòa), của L.Joan Schrock, William Stockton, J.Elaine, được biên
soạn theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, xuất bản năm 1966, có dành một chương riêng để giới thiệu tổng quan về người Chơ-ro ở Việt Nam Nhìn chung, trong lịch sử, người Chơ-ro chưa được các học giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu nhiều Đôi khi, chỉ là đối tượng so sánh với các dân tộc khác cùng địa bàn như người Xtiêng, Mạ…[10, tr 5]
Ở miền Nam, trước năm 1975, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu bằng Việt ngữ nào về người Chơ-ro Từ sau năm 1975, một số các công trình nghiên cứu về các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội của người Chơ-ro đã được công bố trên các tạp chí, các hội nghị khoa học của các Viện nghiên cứu thuộc
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) Các học giả trong nước đã bước đầu nghiên cứu về người Chơ-ro trên các lĩnh vực như: kỹ thuật trồng trọt, tín ngưỡng dân gian, văn nghệ dân gian, cưới xin,
ma chay, kiến trúc, ngành nghề thủ công như tác phẩm: Những vấn đề về dân
tộc học Miền Nam Việt Nam, Ban Dân tộc học - Viện Khoa học Xã hội Thành
phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1978 và Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các
tỉnh phía Nam) của Viện Dân tộc học - Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam
xuất bản năm 1984; tác phẩm Người Châu Ro ở Đồng Nai của tác giả Huỳnh
Văn Tới, do Chi hội Văn nghệ Dân gian Đồng Nai xuất bản năm 1998 và tác phẩm Văn hóa người Chơ-ro của tác giả Lâm Nhân – Huỳnh Văn Tới – Phan
Trang 11Đình Dũng (2013) là hai tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về người Chơ-ro trên địa bàn của tỉnh
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước Kết quả chính trong đề tài chủ yếu là các phân tích, so sánh, hệ thống, đánh giá và khả năng ứng dụng nghề dệt của người Chơ-ro trong mỹ thuật ứng dụng hiện nay thông qua tư liệu nghiên cứu, khảo sát điền
dã
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giá trị nghệ thuật của nghề dệt các dân tộc Mạ - Xtiêng – Chơ-ro khu vực Đông Nam Bộ với mục đích phát triển trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng ngày nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian:
+ Xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
+ Xã Túc Trưng, huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai
+ Xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Phạm vi thời gian: 5 năm, từ năm 2011 đến nay
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Quá trình dệt thổ cẩm dân tộc Mạ, Xiêng, Chơ-ro trong quá khứ và hiện tại có những thay đổi ra sao với sự phát triển cộng đồng?
- Giá trị văn hóa, nghệ thuật của nghề dệt và mô típ trang trí, màu sắc, ý nghĩa hoa văn của các sản phẩm nghề thủ công truyền thống hiện nay là gì; làm thế nào để có thể ứng dụng nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc thiểu số Mạ, Xtiêng, Chơ ro vào thiết kế mỹ thuật ứng dụng?
- Đặc điểm văn hoá tín ngưỡng, tập quán xưa và nay có giá trị như thế nào đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 12- Nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc thiểu số Mạ, Xtiêng, Chơ-ro đang trên đà suy giảm (số lượng sản phẩm, chất liệu, kỹ thuật, ) do phải đối mặt với những thách thức của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc thiểu số Mạ, Xtiêng, Chơ-ro vẫn được duy trì ít nhiều trong cộng đồng
- Mặc dù các sản phẩm nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro vẫn còn giữ được bản sắc về mô típ, màu sắc nhưng chất liệu của sản phẩm đã biến đổi nhiều Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau như vùng nguyên liệu bị hạn hẹp, nguyên liệu công nghiệp tiện lợi về giá thành, độ bền, màu sắc,…
- Để thực hiện phát triển mỹ thuật ứng dụng dựa trên nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro, cần phải có sự đồng thuật từ phía nhà nước (cơ quan quản lý), người dân (người sở hữu những giá trị văn hóa) và kênh trung gian (thiết kế, quảng bá sản phẩm, đầu ra sản phẩm) Trong đó, quan trọng nhất là đầu ra của sản phẩm Việc tiêu thụ được sản phẩm sẽ mang yếu tố quyết định cho việc duy trì và phát triển nghề dệt truyền thống các dân tộc thiểu số khu vực Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung
5.3 Cách tiếp cận
- Trong văn hoá, không có “đúng” hay “sai”, “cao” hay “thấp” mà văn hóa là sự đa dạng và sự khác biệt Các truyền thống văn hoá đều có giá trị như nhau do mỗi nền văn hoá đều được sáng tạo và thích ứng với mỗi môi trường
tự nhiên và xã hội mà chúng được sinh ra và tồn tại Tiếp cận tương đối văn hoá để tìm hiểu sự hài hoà, mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa tự nhiên và con người, tập quán, tín ngưỡng từ đó khẳng định giá trị lao động và sự sáng tạo cộng đồng thông qua hình thức hoạt động nghề, từ đó làm sáng tỏ những vấn
đề giá trị nghệ thuật thủ công truyền thống
- Tôn trọng quan điểm người trong cuộc, những suy nghĩ, diễn giải về ý nghĩa của một thực hành văn hoá nào đó từ chính chủ nhân của các thực hành
Trang 13văn hoá Cách tiếp cận bằng sự trao đổi với người thực hành văn hoá (cộng đồng) tôn trọng quan điểm và nhận định của họ tiếp cận và so sánh người thực hành sáng tạo trong lĩnh vực MTƯD nhằm tìm kiếm những điểm tương đồng
và sự khác biệt trong quá trình tìm kiếm nhận diện bản sắc văn hoá trong thiết
kế MTƯD Từ đó tìm ra những biện pháp tư duy để thực hành sáng tạo, thiết
kế mẫu mã, thi công, sản xuất những sản phẩm MTƯD có giá trị thẩm mỹ, giá trị kinh tế, giá trị sử dụng cũng như những lợi ích thật sự mang lại cho cộng đồng… nhằm tạo ra sự kết nối giữa cộng đồng và những lợi ích giá trị thiết kế mang lại cho sự phát triển bền vững chung
- Văn hoá không tĩnh tại mà văn hóa là một thực thể sống, luôn vận động
và biến đổi không ngừng Quá trình biến đổi đó tạo ra sự phát triển, song cũng tạo ra những sự đào thải, tàn lụi Trong bối cảnh hiện nay, nghề dệt thủ công truyền thống phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập
- Tính hai mặt của vấn đề phát triển: Vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, hàng hóa phong phú, phục vụ tốt cho nhu cầu của con người Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển này, các yếu tố văn hóa truyền thống bị mất đi đặc biệt là nguồn nguyên liệu dệt Ngày nay, người Mạ không còn trồng bông để dệt vải nữa, họ cũng không còn vào rừng tìm thực vật để nhuộm màu Thật dễ dàng khi ra chợ mua các loại chỉ của Trung Quốc sản xuất, vừa dai (nylon) phù hợp với việc lên khuôn vì không bị đứt dây, vừa có các loại màu sắc phong phú, không phai màu, giá thành lại rẻ hơn nhiều so với việc thực hiện đúng quy trình sản xuất truyền thống Họ chỉ còn giữ lại được kỹ thuật dệt thủ công, cách tạo hoa văn, các ý tưởng sáng tạo trong quan điểm thẩm mỹ của họ Tuy nhiên, các sản phẩm này khó tạo được đầu ra ổn định Người tiêu dùng, đặc biệt là người nước ngoài rất khó tính trong việc lựa chọn sản phẩm Đối với họ, handmade phải hoàn hảo, không thể nửa mùa được Vì vậy, việc duy trì phát triển nghề dệt của các tộc Mạ, Xtiêng, Cho-ro cũng đang nguy cơ thất truyền trong quá trình phát triển hiện nay
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dự kiến thực hiện một số phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: luận văn sử dụng các phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia, quan sát tham dự…nhằm xác định các thuộc tính trong sản xuất của làng nghề thủ công truyền thống các dân tộc vùng Đông Nam Bộ, ý nghĩa của các hoa văn, màu sắc, chất liệu, kỹ thuật; phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản lý nhằm nắm được thực trạng vấn đề bảo tồn, phát triển nghề dệt ở nơi đây, những thuận lợi và khó khăn của vùng trồng nguồn nguyên liệu, nhân công, đầu ra của sản phẩm…
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và phương pháp nghiên cứu
mỹ thuật: luận văn tìm hiểu đặc điểm chung các làng nghề ở vùng lân cận; đánh giá so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa nghề dệt các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro; so sánh vấn đề bảo tồn và phát triển nghệ dệt trong từng cộng đồng Đặc biệt là so sánh, đánh giá khả năng phát triển, ứng dụng kỹ thuật, hoa văn, màu sắc của nghề dệt các dân tộc ở nơi đây trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và các nhà khoa học, nhà thiết kế có quan tâm đến những phong cách riêng biệt, độc đáo của giá trị nghệ thuật nghề dệt trong đời sống, trong quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Mạ- Xiêng- Chơ ro
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, những cơ hội, thách thức của nghề dệt các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ trong quá trình phát triển Luận văn đề xuất chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc riêng của nghề của các dân tộc trong cộng đồng Đông Nam Bộ Những giải pháp này sẽ làm cơ sở cho khai thác các sản phẩm làng nghề trong các kênh sản phẩm tiêu dùng, sản phẩm phục vụ du lịch, góp phần phát triển bền vững cộng đồng
Trang 158 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Giá trị văn hóa, nghệ thuật của nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng
Chương 3: Những yếu tố tác động đến việc phát triển nghề dệt thủ công truyền thống các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro trong thiết kế mỹ thuật ứng dụng – một số đánh giá và đề xuất giải pháp
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm
Văn hóa là một khái niệm thể hiện hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có, con người là chủ thể sáng tạo văn hóa gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rất rộng, bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau Khái niệm văn hóa có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau, căn cứ vào góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu, phản ánh những hướng quan tâm khác nhau đến
sự phong phú, đa dạng của văn hóa Ở phương Tây, theo tiếng Anh và tiếng Pháp "Culture" đều xuất xứ từ chữ La tinh "Cultura" có nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt, sự vun trồng, sau đó từ cultura được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục về mặt tinh thần của con người Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “văn hóa", bao gồm "văn" là vẻ đẹp nhân tính, trí tuệ con người, "hóa" là dạy dỗ, cảm hóa, từ đó hình thành quan niệm "văn trị giáo hóa" của người Trung Quốc Như vậy trong từ của phương Đông và phương Tây, “văn hoá” đều có chung một nghĩa căn bản là là
sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người
+ Theo Fiderico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”
+ Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
Trang 17hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
+ Tác giả Trần Ngọc Thêm quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình”
Như vậy, có thể xem văn hóa là toàn bộ những sản phẩm do con người sáng tạo ra, có giá trị, phù hợp với cộng đồng Được cộng đồng chấp nhận, lưu truyền và sử dụng cho đến ngày hôm nay
- Di sản văn hóa quy định tại luật di sản văn hóa năm 2001 (được bổ sung 2009) bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác [25, tr.32-33]
- Di sản văn hóa phi vật thể
Công ước quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO được đưa ra tại cuộc họp đại hội đồng, phiên họp thứ 32 tại Pari từ ngày 29/9 đến 17/10 năm 2003 đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Cụ thể như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác
và không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của
họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của
họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tinh thần sáng tạo của con người.”
Trang 18Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở những loại hình sau [44, tr3]:
- Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể;
- Nghệ thuật trình diễn;
- Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;
- Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;
- Nghề thủ công truyền thống
Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể được quy định tại điều 4 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản
văn hóa như sau:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [25, tr.40-41]
Như vậy, cả Công ước quốc tế về Di sản văn hóa phi vật thể và Luật di sản văn hóa, nghề thủ công truyền thống là một trong những loại hình của di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng Nghề thủ công và các chủ thể sáng tạo, lưu truyền là đối tượng cần được bảo tồn và phát huy
- Nghề thủ công truyền thống: Theo Đại từ điển tiếng Việt, nghề là công
làm để sinh sống Có rất nhiều tên gọi về nghề thủ công truyền thống ở nước ta như: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề tiểu thủ công nghiệp,…
1
Nguyễn Như Ý (1999, chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr 1192
Trang 19Tác giả Bùi Văn Vượng - một trong những chuyên gia nghiên cứu về làng nghề truyền thống Việt Nam Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay
và các công cụ giản đơn, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nói chung Tác giả cũng đề xuất tên gọi chung là “nghề thủ công truyền thống Việt Nam” dùng để chỉ chung cho nghề truyền thống ở nước Việt, trong đó bao gồm các nghề như: gốm, đúc đồng, chạm khắc đá, chạm khắc gỗ, kim hoàn, rèn, mây tre đan, sơn, khảm trai, dệt vải, tơ lụa, dệt chiếu, làm nón, làm quạt giấy, giấy dó, tranh dân gian,… đó là những nhóm nghề lớn có giá trị kinh tế,
Đối với các loại nghề thủ công truyền thống, cần phải đáp ứng được các yếu tố:
+ Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta
+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
+ Có nhiều thế hệ, nghệ nhân, đội ngũ thợ lành nghề
+ Kỹ thuật và công nghệ ổn định
+ Sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ (nội địa hoàn toàn hoặc chủ yếu) + Sản phẩm tiêu biểu, độc đáo, mang bản sắc và giá trị văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam
+ Nghề nghiệp nuôi sống được bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng
Trong các loại nghề thủ công truyền thống của Việt Nam, nghề dệt thổ cẩm của các dân tộc thiểu số đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, trong hội nhập và giao lưu quốc tế Các họa tiết, hoa văn trang trí, màu sắc trong các sản phẩm dệt thể hiện những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của mỗi cộng đồng Đó cũng là cơ sở thôi thúc tôi trong việc ứng dụng những giá trị đó
Trang 20trong các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng, góp phần phát huy, quảng bá các giá trị văn hóa của cộng đồng trong đời sống xã hội hiện nay
1.1.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số lý thuyết và quan điểm về bảo tồn phát huy các loại hình di sản văn hóa
Thuyết sinh thái học, chúng tôi sử dụng trong đề tài này theo quan điểm của Julian Haynes Steward ông cho rằng:
Sinh thái học văn hóa làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, còn văn hóa thì chịu ảnh hưởng của các loại tài nguyên môi trường mà
Quan điểm này đề cập đến tương tác giữa tự nhiên và văn hóa – phân tích mối quan hệ giữa nền văn hóa với môi trường của nó Môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển các đặc điểm văn hóa
Vận dụng quan điểm lý thuyết này, chúng tôi sẽ giải thích sự thay đổi và biến mất của một số loại hình văn hóa truyền thống của người Mạ - Xtiêng - Chơ-ro, trong đó là nghề thủ công truyền thống Ngay cả trong một nghề, các công đoạn của nghề đó cũng thay đổi và mất đi Ví dụ: như vùng trồng nguyên liệu dệt, các công đoạn của xử lý nguyên liệu, kỹ thuật và nguyên liệu để nhuộm vải…từ đó tôi đặt giả thuyết rằng: Phải chăng môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của người các tộc người thiểu số khu vực Đông Nam Bộ thay đổi, dẫn đến sự mai một và biến mất về văn hóa truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công
Tri thức bản địa là tổng hợp những kiến thức được thử thách và đúc rút qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cư dân qua thực tiễn sản xuất và đời sống Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng dân cư đã tích cóp các thông tin, các kỹ
4
Robert LayTon, 2008, Nhập môn lý thuyết nhân học, Nxb đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trang 21năng, tay nghề và công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến lương thực, quản lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức cộng đồng làng bản,… Trong quá trình khảo sát, để ứng dụng vào tìm hiểu, nghiên cứu tri thức về nghề dệt truyền thống các dân tộc Mạ - Xtiêng – Chơ-ro, chúng tôi tán đồng
với quan điểm của Roy Ellen và Holly Harris trong tác phẩm Tri thức bản địa
về môi trường và những biến đổi Các quan điểm nhân học phê phán.[37] Mặc
dù, quan điểm của hai học giả này cũng như lý thuyết về tri thức bản địa còn nhiều tranh luận
Nhà nhân học Roy Ellen cho rằng trong khi có nhiều dạng IK mang tính địa
phương, “m i dạng K này tiếp cận thế giới thực ở các mức độ không hoàn chỉnh
và mang tính chủ quan khác nhau” ông tiếp đó đưa ra một số đặc tính chung về
các dạng IK này:
Tri thức bản địa có nguồn gốc từ các địa phương và các tập hợp trải nghiệm nhất định; chúng được sinh ra bởi con người sống tại các địa phương đó K hầu hết là truyền miệng hoặc được chuyển giao thông qua b t chước và hướng dẫn;
là kết quả của mối quan hệ thực ti n trong cuộc sống hàng ngày và được củng cố bởi trải nghiệm và sai lầm; là sản phẩm của việc suy luận một cách thông minh qua nhiều thế hệ Tri thức bản địa mang tính kinh nghiệm Tính truyền khẩu ở một chừng mực nào đó cản trở sự phát triển tri thức lý thuyết trừu tượng Tính lặp đi lặp lại trong tri thức bản địa giúp cho việc duy trì tri thức và củng cố các quan niệm; tri thức bản địa d thay đổi và là kết quả của quá trình tương tác liên tục, thay đổi liên tục, được tạo ra c ng như được tái sản sinh, được khám phá c ng như bị mất đi; mặc d chúng thường được trình bày như không thay đổi Chúng được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với ngành sinh học toàn cầu, nhưng chúng vẫn được tập trung về mặt xã hội trong một quần thể dân cư Những tri thức này thường nằm trong các truyền thống văn hóa rộng lớn hơn, vì vậy việc tách rời giữa các yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật, các yếu tố lý trí và phi lý
trí, là một vấn đề khó khăn [37, tr 412]
Các quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa
Trang 22Bảo tồn di sản văn hóa là một trong những hoạt động được Đảng và Nhà nước quan tâm trong thời gian qua Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn như thế nào để vừa đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển đang là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau
Bàn về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa, ông Đặng Văn Bài trong báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học “Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại” diễn ra tại Hà
Nội ngày 16/1/2007 về phương pháp tiếp cận Đó là Giải quyết thật thoả đáng
mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập như Việt Nam
Các lý thuyết nghiên cứu mà tác giả tiếp cận trên có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của luận văn, đó là: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, có mối liên hệ biện chứng và rất cần thiết để tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách hợp lý, khoa học
Trong tình hình thế giới đang phát triển nhanh như hiện nay đã tác động nhiều mặt đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong đó có vấn đề bảo tồn
di sản văn hóa phi vật thể Các nước trên thế giới và Việt Nam đã có những nghiên cứu để đưa ra các chính sách bảo tồn và phát huy phù hợp với thời đại
Có các quan niệm khác nhau về bảo tồn di sản văn hóa được các nhà nghiên cứu đưa ra, trong đó, nội dung quan trọng là để giải quyết tốt vấn đề cơ bản là
sự phù hợp giữa bảo tồn và phát triển Làm thế nào để việc bảo tồn di sản văn hóa không làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung và ngược lại là vấn đề phát triển nhưng không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của di sản văn hóa
+ Lý luận về bảo tồn kế thừa được đề cập trong bài nghiên cứu giáo sư danh dự Roger L Janelli Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á Đại học Indiana, Bloomington “Các nhà văn hóa dân gian và nhiều người khác đã từ lâu đều thừa nhận rằng thay đổi là tất yếu Và cũng cần phải thừa nhận rằng các tập tục văn hóa bị biến mất cũng là đương nhiên, một khi chúng không còn thích hợp
Trang 23Nền văn hóa cổ truyền được thay thế bằng nền văn hóa mới Chính vì vậy, rất nhiều người đã tỏ ra quan ngại về sự cần thiết phải bảo vệ những nền văn hóa
Trên cơ sở quan điểm của nhà nghiên cứu Roger L Janelli, tác giả nhận thấy rằng quan điểm bảo tồn kế thừa là quan điểm phù hợp trong giai đoạn hiện nay Bởi vì mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận động và phát triển không ngừng Di sản văn hóa cũng như vậy, quá trình tồn tại
và phát triển, con người luôn luôn sáng tạo ra các loại hình di sản văn hóa (trong đó có cả vật thể và phi vật thể) để phục vụ các nhu cầu của con người Quá trình đó, di sản văn hóa phi vật thể sẽ có sự thay đổi, vận động và phát triển nhất định Những loại hình không còn phù hợp với con người, với nhu cầu của họ thì tất yếu sẽ bị đào thải và thay vào đó những loại hình phù hợp hơn Khi điều kiện xã hội đã có những bước phát triển như hiện nay, việc bảo tồn di sản văn hóa cần có sự chọn lọc, kế thừa Những yếu tố được xem là yếu
tố gốc nhưng không còn phù hợp cần loại bỏ, đồng thời phát huy những yếu tố
có giá trị tích cực Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Như vậy, để ứng dụng lý thuyết bảo tồn phát huy vào trong luận văn, chúng tôi đề cao quan điểm về bảo tồn kế thừa Nghề dệt truyền thống các tộc người Mạ - Xtiêng – Chơ-ro là một trong những loại hình di sản văn hóa phi vật thể, luôn vận động và biến đổi theo thời gian Để bảo tồn loại hình văn hóa này, cần phải phát triển, ứng dụng vào các loại hình mỹ thuật ứng dụng
Quan điểm về giá trị
Trong bài nghiên cứu này, tác giả luận văn dựa trên quan điểm giá trị của
5 Roger L Janelli, Các thách thức lý thuyết đối với công tác bảo tồn Di sản Văn hóa Phi vật thể, Nguyendu.vn
6 Báo cáo tại Hội thảo khoa học BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP do Đề tài KX 03.14/06-10 (CHƯƠNG TRÌNH KX.03/06-10) và Khoa Văn hóa học (Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM) tổ chức ngày 17- 17/9/2009 tại Biên Hòa (Đồng wNai)
Trang 24khoa học ở tỉnh Đồng Nai năm 2009 Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng Giá
trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quá trình tư
duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Giá trị,
trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là
hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hoá
nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con
người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội Tác giả khẳng định: Điều quan
trọng mang tính phương pháp luận là, chúng ta nghiên cứu giá trị và hệ giá trị văn hoá của một dân tộc nào, cộng đồng nào thì luôn luôn đặt nó trong sự đối sánh với cộng đồng khác, trong sự liên hệ với các cộng đồng khu vực và rộng hơn là nhân loại Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể tìm ra, nhận diện được những nét tương đồng, đặc biệt là tính đặc thù của hệ giá trị văn hoá của cộng đồng mà chúng ta đang nghiên cứu Áp dụng quan điểm này, luận văn nghiên
cứu, tìm hiểu nghề dệt truyền thống của người Mạ, Xtiêng, Chơ-ro như là một giá trị văn hóa được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Luận văn tìm hiểu giá trị của nghề dệt các dân tộc này từ nguồn nguyên liệu, cách thức xử lý nguyên liệu, tạo màu sản phẩm, kỹ thuật dệt, kỹ thuật tạo mô típ hoa văn cho sản phẩm… từ đó nhận diện tính tương đồng và khác biệt của giá trị nghề dệt các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro
Năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai"7
Trang 25Ðể xây dựng một xã hội phát triển bền vững, chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của trái đất
6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
7 Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Vận dụng nguyên tắc Luận văn so sánh và đối chiếu quy trình sản xuất, hệ sinh thái và chu kỳ sống của sản phẩm Để làm sáng tỏ giá trị nguồn nguyên liệu cũng như quy trình sản xuất thủ công đối với vấn đề phát triển bền vững trong bối cảnh ngày nay Từ đó đề xuất các giải pháp ứng dụng trong thiết kế cân bằng các yếu tố môi trường, xã hội, kinh tế
trong cộng đồng
Có thể nói, sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và đặc điểm dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những đặc trưng riêng Con người sinh sống, lao động, sáng tạo ra của cải vật chất và văn hóa đều dựa vào điều kiện của tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên của vùng đất đó Trong tư duy, các tộc
người thiểu số ở Việt Nam nói chung đều thiên về sự nhận thức cái toàn thể hơn là cái bộ phận, cái chung hơn cái riêng, cộng đồng quan trọng hơn cá thể
Trong tư duy, thiên về tổng hợp hơn là phân tích Về lĩnh vực trang phục và tính biểu tượng (mô típ, hoa văn trang trí ) của các dân tộc mang tính đa dạng, độc đáo, biểu đạt đặc trưng của tộc người, đạt tới tỷ lệ hài hoà Các mô típ, hoa văn trang trí này thể hiện thẩm mỹ của cộng đồng cao hơn thẩm mỹ cá nhân
Trang 26Tính chất này mang tính bền vững, được duy trì từ thế hệ này đến thế hệ khác
và hiểu biết hơn về quan điểm thẩm mỹ nghệ thuật ứng dụng và thẩm mỹ cộng đồng
Bàn về vấn đề mỹ thuật ứng dụng (MTƯD) liên quan đến thể loại mỹ thuật (Fine Arts) nghệ thuật tạo hình (Plastic Art), MTƯD (Applied Art) bao gồm nhiều nhóm thể loại khác nhau và được chia ra làm 3 ngành
- Nghệ thuật trang trí (Decorative Art)
- Nghệ thuật thủ công (Craft, Handicraft Art, Hand-make Art)
- Nghệ thuật thiết kế (Design Art)
Trong đó nghệ thuật thủ công (TCMN), một bộ phận quan trọng trong vốn
di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc Nghệ thuật dệt thổ cẩm là một phần không thể thiếu đối với di sản văn hoá
Cụm từ MTƯD dược xuất phát từ thuật ngữ Design Cụm từ design có nghĩa là MTCN, MTTD hay MTƯD Thuật ngữ này mới nhập vào Việt Nam trong thập niên 1960, bắt nguồn từ Industrielle Formgestaltung trong tiếng Đức, khi các giáo sư trường Đại học MTCN Halle (Die Hochschule fur Industrielle Formgestaltung- Halle) sang trường Trung cấp Mỹ nghệ Hà Nội trao đổi học thuật Và các loại hình Design thường được hiểu như sau:
- Thiết kế Công nghiệp (Industrial Design)
- Thiết kế Đồ hoạ (Graphic Design)
- Thiết kế Thời trang (Fashion Design)
- Thiết kế Nội thất (Interior Design)
- Nghệ thuật Trang trí (Decorative Arts)
MTƯD là loại hình mỹ thuật mà các tác phẩm nó là sự giao thoa, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu thẩm mỹ (cái Đẹp) và giá trị thực dụng (sự hữu ích) Nó
có mặt kể từ khi con người xuất hiện với nghệ thuật thủ công sơ khai Xã hội công nghiệp phát triển giữa thế kỷ XVIII và nền văn minh tin học, kỹ thuật số
7 https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki
Trang 27ngày nay đã làm xuất hiện nghệ thuật thiết kế MTƯD trở thành một lĩnh vực nghệ thuật – khoa học, mang tính tổng hợp.[47.tr21-24]
Trong MTƯD, nghệ thuật thủ công (Handicraft Art) luôn gắn liền với nghệ thuật truyền thống (Traditional Art), Nghệ thuật dân gian (Folklore Art) Cho nên ở đó luôn thể hiện rõ bản sắc văn hoá dân tộc, từng dân tộc, từng khu vực, từng địa phương Ở Việt Nam, các loại hình MTƯD mang tính dân gian như: nghệ thuật diêu khắc đình làng, nghề chạm trổ, nghề kim hoàn, nghề thêu đan, nghề làm nón lá, nghệ thuật sơn mài, nghệ thuật đúc đồng, nghệ thuật gốm
sứ, nghệ thuật dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc Phật Giáo,
Ngày nay MTƯD được sáng tạo, sản xuất hàng loạt bằng phương tiện từ thủ công cho đến hiện đại Vì vậy, nó dễ dàng thâm nhập vào mọi lĩnh vực xã hội và gắn liền với kinh tế thương mại Nó góp phần giáo dục thẩm mỹ, giáo dục ý thức gìn giữ truyền thống văn hoá dân tộc, thẩm mỹ hoá xã hội cũng như thay đổi những thói quen, tập quán lỗi thời
Trong luận văn này, tác giả nhìn nhận sự phát triển của MTƯD ngày nay
ở bất cứ quốc gia dân tộc này đều phải trên nền tảng văn hóa truyền thống Cái hiện đại mà không có gốc, không bắt nguồn từ truyền thống thì sẽ là cái lai căng, mau bị lỗi thời Nếu biết khai thác tốt những giá trị mô típ hoa văn truyền thống các dân tộc thiểu số ứng dụng vào sản xuất các sản phẩm mỹ thuật là việc làm cần thiết Bên cạnh đó, để duy trì và phát triển bền vững cho cộng đồng, cần phải định hướng phát triển sản phẩm dựa vào nguồn nguyên liệu truyền thống, các công đoạn kỹ thuật truyền thống, thì mới có một sản phẩm thủ công “handmade” hoàn hảo, thu hút được đầu ra của sản phẩm để, tạo nguồn lực tái sản xuất cho cộng đồng Thực hiện nghiên cứu này, luận văn sẽ hướng tới hai vấn đề: khai thác các mô típ hoa văn truyền thống của người Mạ, Xtiêng, Chơ-ro vào thiết kế các sản phẩm MTƯD và vấn đề phát triển bền vững nghề dệt của các dân tộc ở khu vực
Trang 281.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc Mạ, Xtiêng, Chơ-ro
1.2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Mạ
Đời sống kinh tế
Người Mạ sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa rẫy và các cây hoa màu khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông, Việc sản xuất dựa trên các tài nguyên đất đai, núi rừng với phương pháp: phát, đốt, chọc, trỉa dựa trên những công cụ thô sơ Trước kia, do đời sống kinh tế còn khó khăn người Mạ sống chủ yếu dựa vào hình thức tự cung tự cấp, nhưng ngày nay do khoa học kỹ thuật phát triển người Mạ đã biết áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm nâng cao đời sống cộng đồng
Ngoài trồng trọt, người Mạ còn biết săn bắt hái lượm, họ biết chế tạo các công cụ để săn bắt, mặc khác họ biết chăn nuôi giúp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày và bảo vệ mùa màng Các loài thú săn được thường là nai, khỉ, chim…khi săn được các loài thú bò rừng hay heo rừng và các loài thú lớn khác, họ thường xẻ những con thú ra thành những miếng nhỏ rùi gùi về nhà, chia cho các gia đình trong họ hàng dòng tộc Tuy nhiên, các hoạt động này còn chưa có tính chủ động, chăn nuôi còn thả tự do, gia súc còn thả từng đàn
và tự đi kiếm ăn
Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc Nghề rèn sắt nổi tiếng ở nhiều làng Người Mạ biết tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt, lưỡi cong, lao, Ở vùng ven các con sông của Đồng Nai, người
Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông
Đặc điểm văn hóa
+ Ẩm thực: Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền Đông
Nam Bộ, thức ăn của người Mạ có gạo, bắp, khoai mì, rau, thịt rừng,… Ngoài
ra, họ còn có rau nhíp, nấm, đọt mây, người Mạ có món truyền thống như canh bồi (bùi), canh lá nhíp, đọt mây nướng, bánh nếp,… và đặc biệt là loại rượu
Trang 29cần là đặc trưng chung cho nghệ thuật ẩm thực của các cư dân bản địa vùng miền Đông Nam Bộ như Mạ, Xtiêng, Chơ Ro, Mơ Nông Thức ăn thường xới
ra bát, những nhà nghèo thì dùng lá hoặc ăn bốc Ngày nay, người Mạ biết dùng đũa, thìa Trong các lễ hôi, đám cưới cộng đồng Mạ thường ăn bánh ích, thịt trâu, và uống rượu cần Ẩm thực của người Mạ vừa có giá trị dinh dưỡng đối với nhu cầu cung cấp năng lượng cho cơ thể, đồng thời phản ánh giá trị nghệ thuật trong cách chế biến Ngày nay, trong bữa ăn hàng ngày với thức ăn chính vẫn là thịt, gạo, rau, cá,… ngoài luộc ra họ còn biết chiên, kho, xào, để làm cho bữa ăn ngon hơn và phong phú hơn
+ Nhà ở: Do địa hình cư trú chủ yếu là đồi núi, nên người Mạ thường
sống trong những ngôi nhà sàn dài Nhưng trải qua những năm tháng chiến tranh, họ phải chạy loạn hết nơi này đến nơi khác, với chính sách dồn dân lập
ấp của đế quốc Mỹ, giao thoa văn hóa với người Kinh và một số dân tộc khác Hiện nay, nhà dài đã không còn nữa, thay vào đó là những ngôi nhà được xây bằng xi măng Chỉ còn lại một ngôi nhà dài chung của cộng đồng Mạ được xây dựng ở Ấp 4 xã Tà Lài huyện Tân Phú
+ Trang phục, trang sức: Ngày xưa, đàn ông thường đóng khổ ở trần,
chỉ có những người giàu mới mặc áo Áo thường rộng xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước và dài che kín mông Khi nào có đám cưới, đám tang hay lễ hội thì họ mặc áo và chịt khăn ở trên đầu, dễ dàng gắn lông chim bồ câu hoặc chim phượng hoàng để làm duyên Nữ người Mạ thì khác, trang phục của họ thường là những xà rông hoặc váy cuốn dài quá bắp chân Phụ nữ thường mặc áo chui đầu, áo dài tới thắt lưng và mặc sát vào thân, kín tà, mặt sau, trước bằng nhau, cổ thấp bằng vài Trong các lễ hôi, đám cưới ngoài việc mặc các bộ đồ đẹp nhất thì người phụ nữ thường quấn thêm chiếc khăn trên đầu để làm tôn vinh thêm vẻ đẹp người phụ nữ Mạ
Ở người Mạ còn có tục cà răng, căng tai và đeo những bông tai cỡ lớn bằng đồng, kền, ngà voi hoặc bằng gỗ hay những khoanh nứa vàng Nam, nữ
Mạ còn thích mang vòng đồng ở cổ tay có những ngấn khắc chim, đó là dấu
Trang 30hiệu nghi nhận các lễ hiến sinh tế thần linh cầu mong cho chính mình Ngày nay, do điều kiện kinh tế phát triển họ ăn mặc và sử dụng trang sức giống người Kinh Trong lễ hôi họ chỉ sử dụng các loại trang phục truyền thống nhưng cũng được cách tân hóa Các tục cà răng, căng tai hầu như không còn sử dụng nữa
+ Tín ngưỡng, tôn giáo: Xuất phát từ tín ngưỡng nguyên thủy, người Mạ quan
niệm thế giới xung quanh của họ đều là thần, họ tin vào các vị thần tin vào thế giới siêu hình ấy Song song thế giới siêu hình xuất hiện các vị thần như; thần Yang, Kol (thần lúa), Yang Bri (Thần rừng), Yang Dah (Thần nước), Yang Bơnom (Thần núi), Yang Hiu (Thần nhà), Yang Luh (Thần đá) Khi có ốm đau bệnh tật hay làm bất cứ nghi lễ nào, người Mạ đều tin và cúng các vị thần này Người Mạ tin vào các vị thần,
vì thế, họ có cách bảo vệ các vị thần không ai dám xâm phạm
Từ những năm 1960 trở lại đây, đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành truyền vào cộng đồng Mạ Ngày nay, hầu hết người Mạ đều theo đạo Thiên Chúa và Tin Lành Ở đạo Thiên Chúa và Tin Lành đã có hệ thống chữ viết được phiên
âm từ tiếng Mạ sang tiếng La Tinh
+ Sinh đẻ: Phụ nữ Mạ khi sinh đẻ có lắm điều kiêng cữ Trong thời gian
mang thai, người phụ nữ không được ăn thịt trăn, thịt voi, thịt rùa, thịt kỳ đà, tránh đến các nhà có tang chế Người phụ nữ trong thời gian ở cử thì sử dụng những vật dụng riêng trong căn chòi, không được lên căn nhà chính Thời gian
ở cữ thường kéo dài 7 ngày Trong thời gian này, cha mẹ của đứa bé vừa mới sinh không đi đến nhà người khác hay đi rừng, đi rẫy Mọi thành viên trong gia đình đều có nghĩa vụ chăm sóc cho người phụ nữ và đứa bé được sinh ra đời Khi trong nhà có phụ nữ sinh đẻ, người Mạ để những dấu hiệu cho nhiều người biết như cành cây tươi cắm, treo trước cửa để không có ai quấy rầy cũng như
Trang 31đến trong thời gian ở cữ Họ rất kiêng kỵ người lạ vào nhà trong thời gian này vì sợ
ma quỷ theo khách vào nhà quấy nhiễu đứa trẻ vốn còn non nớt Sau 7 ngày, họ làm
lễ đặt tên cho đứa trẻ, người nhà sẽ tổ chức lễ cúng thần linh để xin tên đứa trẻ, lễ vật cúng thường là và ché rượu cần Hai bên gia đình (nội, ngoại) cùng có mặt trong buổi
lễ
+ Hôn nhân: Thanh niên Mạ lớn lên được tự do tìm hiểu, bày tỏ tình
cảm qua những lần gặp gỡ, tiếp xúc Trước đây, khi chọn dâu, rể, các bậc cha
mẹ thường đánh giá vào năng lực làm việc, sức khỏe, và đức hạnh Muốn chọn
rể, họ xem công cụ của người con trai như chà gạc, gùi, dao có bền, chặt bén hay không Chọn dâu, họ xem nhà bếp có ngăn nắp hay cẩu thả, bề bộn và chú
ý xem cô gái có bị cộng đồng “lời ra tiếng vào”, dèm pha về đạo đức hay không
Trong lễ cưới cổ truyền của người Mạ, con cái đến tuổi trưởng thành Nhà trai nhờ mai mối đến nhà gái để hỏi vợ Trong đó, ông mai, bà mối là những người có phẩm hạnh tốt, gia đình êm ấm, con cái đông vui Họ sẽ tiến hành trình tự các bước theo đúng nghi lễ và chứng kiến sự việc trọng đại đối với cuộc hôn nhân của các thanh niên người Mạ
Đám cưới của người Mạ theo truyền thống thường kéo dài nhiều ngày và được tổ chức tại nhà trai Theo thỏa thuận trong đám hỏi, khi ngày cưới đến, nhà gái sang nhà trai Trong đoàn đại diện nhà gái đều có những người biết đánh cồng cùng đi theo để tấu lên những bản nhạc có âm điệu rộn rã, báo tin mừng vui đón khách Trong đoàn rước, cô dâu vận bộ trang phục truyền thống với nhiều màu sắc, chân, tay và cổ được đeo nhiều đồ trang sức Đặc biệt, cô dâu mang một chiếc gùi đựng một ít củi đem qua nhà chồng Nhà trai mổ trâu làm lễ hiến sinh, tổ chức mời cả làng dự lễ cưới của con trai mình Thầy cúng hoặc già làng trong làng được mời tới tổ chức cúng lễ cho tổ tiên, thần linh và cầu cho đôi vợ chồng trẻ Huyết của con gà làm vật cúng được thầy cúng hay già làng bôi lên bàn thờ, lên trán cô dâu, chú rể để làm dấu cầu khấn, chúc phúc Sau đó, nhà trai làm thịt trâu, làm heo và bày các món ăn, thức uống đãi
Trang 32khách của hai bên nhà trai, nhà gái, cùng nhau ca hát nhảy múa, vui chơi Thường lễ cưới diễn ra vui vẻ, kéo dài tùy theo kinh tế hai bên gia đình Đôi vợ chồng trẻ trao vòng tay, cổ, chân cho nhau và cùng ăn gan heo thể hiện lời thề sống với nhau hạnh phúc Cưới xong chàng trai phải ở rể bên nhà vợ, một thời gian sau khi trả hết của chàng trai rước vợ về nhà mình Tuy nhiên, nếu chàng trại chưa trả hết của thì việc cư trú hôn nhân tùy thuộc vào nhà gái
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác định bền vững trong tộc người Mạ Người Mạ được phép lấy vợ trong dòng tộc Ngoại tình là một hình thức vi phạm nghiêm trọng trong các luật tục và bị xử phạt nặng do dòng họ, gia đình hay làng phân xử
Hiện nay, do nhiều yếu tố tác động, đám cưới của người Mạ không còn được diễn ra như trước nữa Đám cưới được diễn ra trong thời gian nhất định với những nghi thức đơn giản, nhà trai rước dâu và đãi khách Đối với những gia đình theo đạo Công giáo hoặc Tin Lành, lễ cưới tổ chức theo nghi thức theo giáo lễ tôn giáo với sự hướng dẫn của nhà thờ Ngày nay, tùy mỗi gia đình
mà sau khi tổ chức lễ cưới xong, họ có thể tách ra ở riêng
+ Tang ma: Người Mạ quan niệm cái chết chỉ là sự chấm dứt của đời
người ở trần gian, người chết sẽ đến ở một thế giới khác Mỗi buôn người Mạ chọn một phần đất làm nghĩa địa chôn người chết Khi nhà có người thân chết thì gia quyến đánh chiêng với âm điệu dành cho ma chay để dân trong buôn làng biết Người thân, họ hàng và nhiều người trong buôn làng cùng nhau lo những việc liên quan giúp gia chủ lo công việc cho người chết Người chết được gia đình mặc cho bộ đồ quí nhất Thi hài được nằm ngửa, đầu gối trên một cái bát để úp, hai tay để chắp trên ngực, chân duỗi thẳng Hai bàn tay, hai bàn chân được buộc một đoạn dây rừng Thi hài được để trong nhà một khoảng thời gian từ ba đến năm ngày để người thân tỏ lòng tiếc thương
Người Mạ quan niệm người chết là từ giã cuộc sống trần gian để qua một thế giới mới Vì vậy, để họ yên ổn sống ở nơi mới, người còn sống không quên sắm những đồ vật để gửi, chôn theo Tang chủ thường chia cho người
Trang 33chết một số tài sản trong nhà: Công cụ lao động như chà gạc, rìu, gùi; đồ dùng như nồi gốm, bát sành, vỏ trái bầu khô, ché; vũ khí như dao, nỏ, cung, tên, ná cùng một số đồ trang sức, vật dụng khác Ngày nay, tập tục trong tang ma của người Mạ có nhiều biến đổi Những gia đình có tín ngưỡng, tôn giáo thì tổ chức theo nghi lễ của tôn giáo đó, còn gia đình nào không theo thì tổ chức tang thức đơn giản hơn
- Văn học nghệ thuật
Dân tộc Mạ vẫn còn bảo lưu được kho tàng văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú Có thể kể đến một số loại nhạc cụ của người Mạ như sau: Kèn, sáo, cồng chiêng, đàn tre… Cồng chiêng vừa là tài sản quý nhưng cũng đồng thời là vật thiêng Chiếc đàn đá tìm thấy ở vùng người Mạ nay vẫn còn đang
được làng trữ ở Hoa Kỳ, (Bà Clair Omar Musser ở Los Angeles còn cất giữ một bộ
đàn đá được lấy từ Bảo Lộc, Việt Nam trước năm 1975, trong thời gian quân đội Mỹ trấn đóng ở Miền Nam Việt Nam) Đó là một loại nhạc cụ tối cổ của nhân loại
Ngoài ra, còn có một số loại nhạc cụ khác như khèn bầu, đàn tre, sáo…thể hiện tính năng độc đáo của chúng và sự sáng tạo của người Mạ khi chế tác để phục vụ cho đời sống tinh thần cộng đồng
Mặt khác, trong cộng đồng Mạ còn lưu trữ trong dân gian nhiều truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, luật tục ca (Tam pớt), trường ca Nó cần được sưu tầm, nghiên cứu kịp thời nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc
Mạ và làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc Việt nam xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh đó, phải nói đến nghệ thuật múa Mạ không chỉ phản ánh đời sống sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần người Mạ
Đời sống xã hội
Trước kia, người Mạ cư trú thành từng làng (bòn) với một khu vực đất
đai riêng biệt Làng là một công xã thị tộc, mọi người trong làng đều có quan
hệ huyết thống Thậm chí làng còn là một công xã gia đình (cả làng là một nhà)
Trang 34hoặc một làng đại tông tộc (một làng có nhiều nhóm tông tộc) Mỗi làng thường có
từ một hay nhiều nhà sàn dài mà trong đó cư trú nhiều thành viên, nhiều thế hệ Trong cấu trúc cư trú cộng đồng cổ truyền của người Mạ, già làng/chủ
làng (Kwang Bòn) có vị trí quan trọng Già làng là người lớn tuổi, có uy tín,
hiểu biết, nhiều kinh nghiệm và được cộng đồng kính trọng Điều quan trọng hơn hết của vị già làng/chủ làng: Phải hiểu biết phong tục tập quán của làng và của cả dân tộc mình Là một người có tài ăn nói, có kinh nghiệm sản xuất, chiến đấu và được mọi người trong làng kính nể Chủ làng hoặc chủ đất có một nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là việc quản lý toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối thuộc phạm vi làng mình Những việc xảy ra trong cộng đồng trên nhiều mặt như phân giải, xử phạt, tổ chức lễ hội…thì cộng đồng thường tham vấn ý kiến già làng
Ngay từ thời pháp thuộc hội đồng già làng của buôn làng người Mạ không còn duy trì, mà thay vào đó là hệ thống chính quyền nhà nước thực dân lập ra Những làng người Mạ thường được ghép vào đơn vị tổng, ở đó thực dân Pháp chọn
ra một người trong cộng đồng người Mạ làm Cai tổng Đến thời kỳ của chính quyền Sài Gòn, buôn làng người Mạ bị dồn ép vào lập ấp chiến lược, sống tập trung Một
số người Mạ khác thì sống rải rác trong vùng rừng, núi, vùng căn cứ kháng chiến cách mạng Sau ngày đất nước thống nhất, người Mạ được nhà nước khuyến khích tập trung sống trong các khu định canh, định cư Từng hộ gia đình nhỏ được xác lập, vai trò của người đàn ông trong gia đình được coi trọng Về mặt xã hội, sống theo khuôn khổ và tuân thủ hệ thống chính quyền, nhà nước ta quy định
Cấu trúc xã hội và gia đình người Mạ cũng có nhiều thay đổi Trong sinh hoạt gia đình vẫn tàn dư chế độ mẫu hệ, cư trú bên vợ còn khá phổ biến Thời
kỳ nửa sau thế kỷ XX với sự ảnh hưởng nhiều yếu tố, chế độ gia đình tan rã, hình thành những tiểu gia đình vốn xuất thân từ những gia đình hạt nhân, gia đình tế bào trong cấu trúc gia đình trước đây Hiện nay, gia đình người Mạ là tế bào độc lập được cấu kết bởi những thành viên vợ chồng, con cái Con cái khi lập gia đình thường tách ra lập hộ gia đình mới Vì vậy, khác với trước đây gia
Trang 35đình người Mạ không tập trung thành nhiều thế hệ Đời sống xã hội của người
Mạ bị tiếp xúc và tiếp biến văn hóa
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Xtiêng
Đặc điểm kinh tế
Người Xtiêng (Bù lơ) lấy đời sống kinh tế nương rẫy làm nguồn sống chính và là nền kinh tế chủ đạo, trong nông nghiệp cây lương thực chính là lúa, bắp, khoai, sắn… chủ yếu dựa vào tài nguyên đất của núi rừng Kỹ thuật canh tác khá đơn giản, nông cụ khá thô sơ chỉ có “chà gạc” là loại dao rựa để chặt phát, rìu để hạ những cây lớn và “rmun” gậy nhọn để chọc lỗ, đó là những dụng cụ họ tự làm để phục vụ nhu cầu cuộc sống
Đời sống kinh tế của người Xtiêng còn mang tính tự cung tự cấp, hoạt động kinh tế của người Xtiêng còn phụ thuộc rất nhiều vào hiện tượng tự nhiên như nguồn nước hoặc thời tiết, vì thế khi khởi đầu các công đoạn canh tác người Xtiêng luôn có các lễ cúng bái thần linh và các kiêng kỵ khá phức tạp, nhất là khi chọn đất rừng phát rẫy, người chủ làng phải cầu xin các thần linh báo mộng, dựa vào các giấc mơ và coi là điều linh thiêng [23, tr 30]
Ngày nay, với sự tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, bà con đã biết tận dụng đất đai để phát triển các loại cây công nghiệp như tiêu, điều, cà phê và sử dụng phân bón để phát triển, nâng cao chất lượng sản xuất Bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng lúa là chính người Xtiêng còn có nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp khác như chăn nuôi, săn bắn, hái lượm… để cải thiện bữa ăn hằng ngày, bảo vệ mùa màng Những hoạt động kinh tế này còn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, mang tính tự cung tự cấp, ít trao đổi buôn bán
Các nghề thủ công như: nghề rèn, nghề dệt thổ cẩm, đan mây tre, nấu rượu cần… là những nghề truyền thống, vốn đã có từ rất xa xưa cho tới ngày nay vẫn được tiếp tục duy trì nhưng rất ít, chỉ mang tính tự cung tự cấp, nhỏ lẻ trong gia đình
Trang 36Đời sống văn hóa
Là một dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, là chủ nhân lâu đời của miền đất Nam Trường Sơn, dân tộc Xtiêng có một nền văn hóa mang nhiều sắc thái chung với những người anh em Tây Nguyên nhưng cũng không thiếu những nét độc đáo, phong phú mang tính chất đặc thù bản sắc của dân tộc mình Các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Xtiêng huyện Bù Đăng còn tương đối đậm nét, được tiếp nối và duy trì ngay trong sinh hoạt cộng đồng Hoạt động sản xuất gắn liền với sự hình thành và phát triển của cộng đồng làng, tạo nên các yếu tố cơ bản của bản sắc văn hóa như: ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội…
Nét văn hóa của dân tộc Xtiêng được thể hiện rõ nét qua những giá trị văn hóa của nhà dài, đồ trang sức, công cụ sản xuất, nhạc cụ truyền thống, khèn, sáo, trống, nghệ thuật cồng chiêng… và những hoạt động tín ngưỡng trong lễ hội Nghệ thuật cồng chiêng gắn liền với đời sống tinh thần của người Xtiêng như máu thịt, nó đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh vật chất, tinh thần cho đồng bào Âm nhạc là những bài hát, múa, với nghệ thuật cồng chiêng và những sinh hoạt văn hóa thể hiện rõ nét văn hóa cổ truyền độc đáo, mang tính đặc thù của dân tộc mình
Bên cạnh cồng chiêng, âm nhạc cổ truyền người Xtiêng còn có các làn điệu dân ca phong phú và đa dạng, có lối hát sử thi (Tâm - pơt), tình ca (Nao - lan), trường ca (O-Kroong), có hát ru, có đồng dao và nhiều bài sinh hoạt khác Người Xtiêng biết chế tác và sử dụng nhiều nhạc cụ như kèn M'buốt, Sáo Tơ lết, Sáo U-Kooc-le, Sáo Pia, Sáo N'hôm, kèn Nung biên, đàn Đình - put và một
số loại trống Chính từ các nhạc cụ truyền thống đã tạo nên những nét văn hóa
cơ bản trong đời sống tâm linh, thể hiện trong các ngày lễ hội, đám cưới, tang ma… âm thang vang lên hòa quyện vào với núi rừng, sông suối, hòa quyện vào với nhịp sống của cộng đồng tạo nên những giá trị văn hóa phong phú, đặc trưng riêng chỉ có ở trong tâm hồn mỗi con người Xtiêng
Trang 37 Tổ chức xã hội
Xã hội Xtiêng được tổ chức theo từng đơn vị làng độc lập với nhau Làng
là cách gọi theo người Việt, có nơi gọi là Sóc theo người Khơ-me (sóc Bom
Bo, sóc ông Nắng…) có nơi gọi là bon theo người M’nông Người Xtiêng gọi
là poh hoặc wang, gắn với mỗi poh là tên gọi theo địa danh, sông, suối, cây cổ thụ, các đặc điểm tự nhiên hay tên một số nhân vật có công với làng, trong một poh có từ 4 - 10 ngôi nhà dài, quy mô của các poh không lớn ở mỗi nhóm, do điều kiện địa lý, môi trường cư trú khác nhau mà ngôi nhà dài - nơi đại gia đình cư trú mang những đặc trưng riêng của nhóm [4, tr 51]
Người Xtiêng sinh sống với hình thức đại gia đình gồm nhiều thế hệ chung sống trong một nhà dài, mỗi cặp vợ chồng sau khi lấy nhau họ lại nối phía sau căn nhà dài thêm một, hai gian cho gia đình mới Mỗi gia đình lớn thường có một ông chủ nhà (tom yau), là người đàn ông lớn tuổi và có vai vế lớn nhất trong ngôi nhà dài đó, tom yau thường là cha của những người con trai trong các hộ gia đình, hoặc theo phong tục là người anh lớn nhất trong số các anh em trong nhà Tom yau là người có uy tín, am hiểu phong tục, tập quán, các nghi lễ truyền thống và cũng giỏi canh tác nông nghiệp, săn bắn… khi tom yau mất hoặc già yếu thì người em trai hoặc người con trai trưởng sẽ thay thế [4, tr 52]
Người đứng đầu trong poh gọi là tom poh (chủ làng) hay còn gọi là già làng, là người được cộng đồng bầu ra từ những tom yau Tiêu chuẩn của tom poh là người am hiểu phong tục tập quán, biết ăn nói, có đức độ, có uy tín… được người dân và các tom yau tín nhiệm Khi tom poh già yếu, sẽ đề cử người
kế vị và được cộng đồng kiểm chứng thông qua những dịp sinh hoạt cộng đồng, Tom poh không có tính chất cha truyền con nối, việc công nhận chức vị tom poh sẽ diễn ra nhân dịp lễ mừng lúa mới, lễ hiến sinh [2, tr 120]
Đời sống tinh thần của người Xtiêng vừa là điểm xuất phát, vừa chi phối toàn bộ nếp sống, thói quen của người Xtiêng, đó là tín ngưỡng (niềm tin) của
Trang 38người Xtiêng Trong niềm tin, họ cho rằng có nhiều thế giới cùng tồn tại, thế giới thần linh của người Xtiêng như sau:
+ Trên cao nhất là Brah trôk, nghĩa là Chúa trời, về Chúa trời thì có nhắc đến trong lúc cúng bái các thần linh trong dịp lễ hội, nhưng không biết rõ ràng
về thần này, chỉ biết là ở trên trời
+ Tầng không trung gồm:
- Yang Krong là một trong các thần linh ở trên không trung, Yang Krong
có tổ chức xã hội gần giống như loài người, họ có cưới gả, có con cái, có chăn nuôi súc vật, có sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà cửa thôn xã Yang krong
là thần linh không hại con người
- Briêng Buh, Briêng có nghĩa là con Phụng, Buh có nghĩa là trắng, con Phụng màu trắng, là loài thần linh có cánh, tổ chức xã hội cũng giống thần linh Yang Krong, nhưng có khác một chút là không làm nông nghiệp và chăn nuôi,
nó đi kiếm và ăn các loại thú hoang
- Briêng ngăn, có nghĩa là loài Phụng thật, loài này lông và cánh nó có bảy sắc màu, màu của nó tương đương với màu của cầu vồng, loài này nó ăn thịt người
+ Ở mặt đất gồm:
- Thế giới hữu hình gồm có: con người và muôn loài vật
- Thế giới vô hình gồm có: linh hồn của con người - sinh linh của muôn loài vạn vật – các vị thần trong rừng, núi, cây to, đá lớn…
+ Ở dưới nước có Brah đak nghĩa là thần nước, thần nước ở chỗ vũng sâu,
ở những dòng sông, hồ lớn
Hôn nhân, gia đình của người Xtiêng đều có một nguyên tắc giống nhau là cấm kết hôn giữa những người cùng dòng họ, gia đình người Xtiêng mang hình thái chế độ phụ hệ, tồn tại tình trạng đa thê, nhưng vì khoản bồi thường cho vợ
cả và sính lễ cho vợ lẽ quá nặng nên tình trạng này hạn chế
8
Theo lời ông Điểu Đức, thôn Đak U, xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập
Trang 39Người Xtiêng Bình Phước có khoảng hơn 20 dòng họ như: Bù Tiêng, Bù Rây, Mria, BùDuk, Nanglay, Đlung, Xagarai, Bút Nănglay, Tầm nu, Bratít, Vơ-klây, Vơ-khul, B’Noong, Chang - xarai, Tamun,… tên gọi của các dòng họ này chưa giải thích được về mặt ngữ nghĩa, chỉ có thể phân biệt các dòng họ theo tập tục kiêng kỵ các con vật hoặc đồ vật nào đó của các dòng họ như: họ Chang - xarai kiêng không ăn lươn, chim cu, cá sấu hoặc trăn, họ Tamun kiêng đọt mây và lá Lalamắc, họ Vơ - khul kiêng ăn con trút, họ B’Noong kiêng ăn nhím… [4, tr 54]
Trang phục của người Xtiêng tương đối giản dị, đàn ông Xtiêng đóng khố, mặc quần cụt và ở trần còn đàn bà thì mặc váy ngắn, ở trần Vào dịp lễ hội hay
đi xa thì đàn ông, đàn bà khoác thêm một chiếc áo chui đầu ngắn và quàng một tấm chăn bên ngoài Đàn ông để tóc dài, bới thành búi, trang điểm bằng những búp màu và cài lông chim có màu sắc rực rỡ Phụ nữ thì tay, chân đeo những cồng bằng đồng, chuỗi hạt cườm, tóc cài lược bằng sừng hay kim loại [23, tr 38]
Ngày nay trang phục của người Xtiêng không được sử dụng thường xuyên, chỉ còn số ít những người lớn tuổi hoặc già làng mặc đồ truyền thống, nhất là các lớp trẻ không còn đóng khố và mặc váy truyền thống kể cả các ngày lễ hội, đa số
họ ăn mặc theo người Việt, kể cả những đồ trang sức truyền thống như vòng
đồng, chuỗi hạt cườm cũng không còn được sử dụng phổ biến
1.2.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội người Chơ-ro
Hoạt động kinh tế
Kinh tế truyền thống của người Chơ-ro là kinh tế nương rẫy, đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Họ du canh, du cư, canh tác nương rẫy theo lối phát đốt, dùng cây chọc lỗ bỏ hạt giống Ngày xưa họ trồng lúa cạn trên đồi nên sau tháng 3 âm lịch (ăn tết xong) họ tỉa lúa, trời bắt đầu có mưa thì lúa lên Rẫy của người Chơ-ro là rẫy đa canh Ngoài trồng lúa họ còn trồng nhiều loại cây khác như bầu, bắp, bí mướp, khoai mì, mè…thời gian thu hoạch lúa và hoa màu thường là tháng 9, tháng 10 âm lịch Năng suất của rẫy tùy
Trang 40thuộc vào loại đất và thời tiết hơn là loại giống Sau khi thu hoạch được vài vụ, đất khô cằn, họ lại tìm đất khác để canh tác, vì du canh nên họ phải du cư Do kinh nghiệm còn thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu nên thu hoạch mùa màng của
họ không cao
Ngoài việc làm nương rẫy, trồng lúa nước, người Chơ-ro còn khai thác tài nguyên rừng như săn bắt, hái lượm để cải thiện thêm mức sống cho gia đình Khi nhà nào bắn hạ được con thú lớn thì sẽ được chia đều cho bà con Khi săn bắt, hái lượm họ thường dùng ná, nỏ và những mũi tên có tẩm thuốc độc Ngoài ra họ còn dùng các dụng cụ như rìu (xuông) dùng để chặt cây to, rựa quéo (bra), chà gạc (yih) dùng để chặt cành, cây nhỏ, tre nứa, phát các bụi dây leo, gậy chọc lỗ bỏ hạt (la moi), cào (xơ băm) để gom cỏ, cuốc nhỏ để làm cỏ rẫy, cái nạo cỏ (nil) để làm cỏ mọc sau mưa Công cụ thu hoạch lúa trước đây
sử dụng phổ biến là kéo nhắt lúa (knhel) Ngoài việc săn thú và trồng các loại thực phẩm thì họ còn bắt cá dưới suối để cải thiện bữa ăn Họ đan các loại gùi, các loại rọ để bắt cá và đựng sản phẩm thu hoạch, gùi có nhiều loại: gùi đan kín (prông) để đựng thóc, ngô, đậu và các nông sản khác, gùi đan thưa (jal) đựng trái cây, gùi đi săn (xaat so)
Trước đây các hộ gia đình sống rải rác nên không có chợ, họ chỉ trao đổi thực phẩm với nhau, không dùng tiền tệ để mua bán Sau này họ mới biết đổi các vật phẩm để lấy muối ăn
Đặc điểm văn hóa
- Trang phục: Trang phục cổ truyền của người Chơ-ro hiện nay chỉ có thể nghiên cứu qua một hình ảnh đầu và giữa thế kỉ XX Theo truyền thống, người đàn ông Chơ-ro đóng khố, người phụ nữ mặc váy, phần bụng trở lên để trần
Để giữ thân vào mùa lạnh, người Chơ-ro thường khoác lên một tấm vải có lỗ chui đầu, tấm vải này được xếp đôi, ở giữa khoét cổ rộng Những hoa văn trên tấm vải của họ sẽ được chia theo chiều ngang, những hoa văn này sẽ được lập lại và nối nhau liên tiếp Mỗi mảng sẽ là sự kết hợp giữa các màu xanh, đỏ, đen, trắng Họ chủ yếu thích các gam màu nóng, ngoài hoa văn ngang còn có