61 2.3 Ý kiến của các đối tượng liên quan đến hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu Trường ĐHCT với các thư viện liên kết.. Ngoài nước như mạng lưới thư viện các t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 9
8 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VỚI CÁC THƯ VIỆN LIÊN KẾT 11
1.1 Cơ sở lý luận về hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện 11
1.1.1 Một số khái niệm 11
1.1.2 Nguồn lực thông tin và các nguồn lực khác 13
1.1.3 Vai trò của các nguồn lực trong hoạt động thông tin, thư viện 20
1.1.4 Tầm quan trọng của hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện 24
1.1.5 Nội dung hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện 27
1.2 Khái quát về TTHL trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết 32
1.2.1 Khái quát về các nguồn lực của Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ 32
1.2.2 Khái quát về các nguồn lực của Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 37
1.2.3 Khái quát về các nguồn lực của Thư viện trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 39
1.2.4 Khái quát về các nguồn lực của Trung tâm Thư viện Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 41
Tiểu kết chương 1 43
Trang 2Chương 2 THỰC TRẠNG HỢP TÁC CHIA SẺ NGUỒN LỰC GIỮA TRUNG
TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VỚI CÁC 44
THƯ VIỆN LIÊN KẾT 44
2.1 Chính sách về hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết 44
2.1.1 Cơ sở pháp lý về hợp tác thư viện đại học 44
2.1.2 Văn bản về hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết 47
2.2 Nội dung hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các Thư viện liên kết 49
2.2.1 Hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các Thư viện liên kết 49
2.2.2 Hợp tác chia sẻ các nguồn lực khác giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các Thư viện liên kết 61
2.3 Ý kiến của các đối tượng liên quan đến hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu Trường ĐHCT với các thư viện liên kết 65
2.3.1 Ý kiến của người sử dụng thư viện 65
2.3.2 Ý kiến của cán bộ thư viện 73
2.4 Nhận xét hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các Thư viện liên kết 81
2.4.1 Thành tựu 81
2.4.2 Hạn chế 83
2.4.3 Nguyên nhân 84
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3 NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC CHIA SẺ NGUỒN LỰC GIỮA TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VỚI CÁC THƯ VIỆN LIÊN KẾT 86
3.1 Mục tiêu nâng cao hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết 86
Trang 33.1.1 Phát triển hoạt động của các thư viện tham gia hợp tác chia sẻ nguồn lực
86
3.1.2 Đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin của người sử dụng thư viện 88
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ và các thư viện liên kết 91
3.2.1 Hoàn thiện chính sách hợp tác chia sẻ nguồn lực 91
3.2.2 Tổ chức khoa học hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực 94
3.2.3 Triển khai đầy đủ các nội dung hợp tác chia sẻ nguồn lực 97
3.2.4 Đào tạo người sử dụng thư viện 107
3.2.5 Thường xuyên đánh giá hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực 108
3.2.6 Tuyên truyền, quảng bá về hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa TTHL và các thư viện liên kết 110
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 121
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc phối hợp và hợp tác giữa các thư viện là ý tưởng đã được hình thành từ rất sớm trong hoạt động thư viện thế giới Từ năm 1886 Melvil Dewey đã phân tích rằng một trong những điều cần thiết nhất của hoạt động thư viện là thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa các thư viện Hoạt động phối hợp và hợp tác được đặc biệt quan tâm và phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX Tại Mỹ, hợp tác liên kết giữa các thư viện đã có lịch sử hình thành và phát triển từ những năm 1900s [19]
Trong quyết định 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường Đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-
2020 đã nêu ra nhiều giải pháp xây dựng một số trường Đại học, cao đẳng mạnh trong đó có giải pháp “Tăng cường năng lực và chất lượng hoạt động của thư viện ở các trường, hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối các thư viện điện tử các trường trên cùng địa bàn, cùng một vùng trên phạm vi toàn quốc; thiết lập mạng lưới thông tin toàn cầu và mở rộng giao lưu quốc tế cho tất cả các trường Đại học, cao đẳng trong cả nước” Trong thực tế, nhiều thư viện trường Đại học, Cao đẳng trong nước đã có sự phối hợp, chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin ở các mức độ khác nhau
Ngày nay, trước hiện tượng bùng nổ thông tin, sự phát triển nhu cầu tin trong xã hội, không một thư viện nào một mình có thể sở hữu được khối lượng thông tin khổng lồ trên thế giới và đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin đa dạng ngày càng tăng của các nhóm người sử dụng trong điều kiện hạn hẹp về kinh phí và nhân lực Liên kết thư viện luôn đi kèm với thuật ngữ chia sẻ nguồn lực bao gồm truy cập dữ liệu thư mục chung, mượn liên thư viện, phát
Trang 5triển các bộ sưu tập chung, trao đổi cán bộ thư viện, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn Hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện đại học đem lại nhiều lợi ích Trước hết, việc hợp tác này tiết kiệm rất lớn kinh phí bổ sung nguồn lực thông tin, trang thiết bị cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin; từ đó tiết kiệm thời gian, công sức trong xử
lý, bảo quản thông tin Nhưng lợi ích lớn nhất vẫn là việc hợp tác này sẽ giúp người sử dụng (NSD) thỏa mãn nhu cầu thông tin phong phú, đa dạng; từ đó nâng cao chất lượng phục vụ NSD
Trường ĐHCT cũng đã thực hiện hoạt động hợp tác chia sẻ này từ năm
2015 tại hội nghị liên kết đào tạo được tổ chức tại Trường Đại học Cần Thơ Năm 2010 TTHL-ĐHCT tổ chức chia sẻ nguồn tài liệu điện tử nội sinh bằng cách cấp tài khoản truy cập cho NSDcủa một số trường cao đẳng và đại học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Năm 2013, TTHL liên kết với Thư viện trường Đại học Alberta-Canada để khai thác tạp chí khoa học do trường này mua quyền truy cập và tập huấn chia sẻ kiến thức chuyên môn cho người làm thư viện giữa hai bên Bên cạnh đó, thời gian gần đây TTHL-ĐHCT đã hợp tác chia sẻ NLTT, trao đổi cán bộ, học tập kinh nghiệm với các thư viện ở trong và ngoài nước Ngoài nước như mạng lưới thư viện các trường Đại học Đông Nam Á (AUNILO), Thư viện Trường Đại học Alberta Canada, Thư viện Trường Đại học Nagasaki Nhật Bản; trong nước như một
số thư viện trường đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số thư viện trường đại học ở Miền Trung, Tây nguyên và các thư viện trường đại học
ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện có liên kết còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của người sử dụng; trao đổi học tập kinh nghiệm của cán bộ thư viện chưa được thực hiện mạnh, hoạt động dùng chung
Trang 6cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong liên kết và chia sẻ cũng chưa được triển khai Các hoạt động này cần phải được nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân
để có những giải pháp thích hợp, nâng cao chất lượng hiệu quả của việc liên kết và chia sẻ nguồn lực thư viện, đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng ngày một tốt hơn
Chính vì lý do trên tôi đã chọn đề tài “Hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết” cho
luận văn thạc sĩ chuyên ngành thông tin-thư viện của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khảo sát và đánh giá thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hợp tác chia sẻ nguồn lực, phục vụ hiệu quả cho người sử dụng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nhằm giải quyết các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng
- Khảo sát thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực ở các nước tiên tiến trên thế giới
đã có từ lâu, làm cơ sở để thiết lập mối quan hệ trong các tổ chức thông tin,
Trang 7các thư viện với nhau và phát triển rất mạnh mẽ Cụ thể qua các công trình đã được nghiên cứu:
Nghiên cứu của tác giả M.Muthu (2013) “Resource Sharing in Libraries: A vital role of Consortia” nghiên cứu về chia sẻ tài nguyên thông tin của một số thư viện tham gia nhất định với nhau trên cơ sở nguyên tắc hợp tác Bài viết này nội dung cốt yếu là chia sẻ nguồn tài nguyên hiện có của các thư viện ở Ấn Độ, đánh giá ưu nhược điểm khi đã hợp tác và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin
Công trình nghiên cứu của tác giả Ejedafiru, Efe Francis (2011)
“Resource sharing activities in academic libraries services; result of a survey”, nghiên cứu các thư viện có truyền thống chia sẻ tài nguyên thông tin,
phân tích thực trạng chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin giữa các thư viện học thuật Đề tài chỉ nghiên cứu khía cạnh chia sẻ nguồn tài nguyên Thông tin
Bài viết của tác giả Horton Valarie and Pronevitz Greg (2015) “Library consortia: models for collaboration and sustainability”, bài viết khái quát lịch
sử liên kết thư viện ở Mỹ, thực trạng liên kết thư viện hiện đại, khía cạnh quản lý, xu hướng phát triển của liên kết thư viện và những dịch vụ chủ yếu của các liên hiệp thư viện, ngoài ra bài viết cũng nêu lên những ví dụ thực tế
về sự đa dạng các loại liên hiệp và quy mô của các liên minh thư viện ở Mỹ
Tác giả James Burgett, John Haar, Linda L Phillips (2004) đã xuất bản
cuốn sách với nhan đề: “Collaborative collection development: a practical guide for your library” Trình bày những kinh nghiệm thành công của dự án
phối hợp phát triển nguồn tài nguyên thông tin giữa các thư viện đại học Tennessee, Kentucky và Vanderbilt và tổng hợp tất cả các vấn đề liên quan đến phối hợp bổ sung nguồn tài nguyên thông tin đối với các loại hình thư viện khác nhau
Trang 8Nhìn chung, nghiên cứu Liên kết thư viện trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ ở khắp các quốc gia, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Nghiên cứu
đa dạng với nhiều khía cạnh khác nhau từ việc hình thành các mạng liên kết thư viện, các hoạt động liên kết đầu tiên là chia sẻ dữ liệu biên mục dạng in ấn đến hợp tác mua quyền dùng chung các cơ sở dữ liệu tài liệu dạng số hóa và nhiều công trình nghiên cứu về những lợi ích cũng như những khó khăn mà các Liên hiệp gặp phải và tìm ra hướng xử lý các khó khăn để phát triển mạnh
mẽ các Liên hiệp thư viện
Các nguồn tài liệu nghiên cứu này có giá trị thực tiễn và khoa học cho thực tiễn nghiên cứu và phát triển các hoạt động liên kết thư viện ở Việt Nam Các công trình đã đúc kết những lợi ích thiết thực từ hoạt động liên kết thư viện song cũng nêu lên những trở ngại thường xảy ra ở các nước Liên kết thư viện đó là vấn đề công nghệ, tài chính, con người và văn hóa ở từng quốc gia
Phần lớn, các tài liệu trên đề cập đến vấn đề hợp tác chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin, khía cạnh các nguồn lực khác như cơ sở vật chất trang thiết
bị, nguồn nhân lực, nguồn tài chính trong hợp tác chia sẻ chưa có đề tài nào
đề cập trong lĩnh vực thông tin thư viện
3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam hoạt động này vẫn chưa được quan tâm đúng mức kể cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn Theo hướng nghiên cứu của đề tài, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện trường Đại học
Số lượng luận văn Thạc sỹ liên quan đến liên kết và chia sẻ nguồn lực
thông tin khá nhiều: Luận văn “Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện trong Quân đội Nhân dân Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thúy
Cúc (2005) Tác giả đã nêu thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, những nguyên nhân
Trang 9gặp khó khăn khi hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển việc chia sẻ nguồn lực thông tin phục vụ người dùng tin ngày càng hiệu quả hơn
Luận văn Thạc sỹ “Chia sẻ thông tin giữa các thư viện trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam” của tác giả Nguyễn Lê Phương Hoài (2010); tác
giả đã nêu thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin giữa các thư viện trực thuộc Viện khoa học xã hội ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp để phát triển các hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin ngày càng mạnh hơn để đáp ứng nhu cầu tin của người sử dụng
Luận văn Thạc sỹ “Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các trường đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Hoàng Ngọc
Chi (2011), tác giả đã trình bày thực trạng chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin giữa các trường Đại học khối kỹ thuật, nêu lên thực trạng của hoạt động thư viện, sự cần thiết phải chia sẻ trong giai đoạn hiện nay, cũng như nêu lên những lợi ích có được
Ngoài ra, nhiều bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Thư viện và tạp
chí Thông tin tư liệu cụ thể như: Bài nghiên cứu “Chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các thư viện đại học: nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất mô hình hợp tác”của tác giả Đỗ Văn Hùng (2017); Tác giả Nguyễn Hoàng Vĩnh Vương (2015) với bài nghiên cứu: “Liên kết thư viện: mô hình phát triển bền vững cho các thư viện Việt Nam” Tác giả Nguyễn Huy Chương, Trần Thị Phương (2007) “ Chia sẻ nguồn lực thông tin” kinh nghiệm thư viện Mỹ giải pháp cho thư viện Việt Nam” Bài nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Huyền (2013) “Hợp tác liên thư viện giữa các thư viện đại học tại Việt Nam: cơ hội
và thách thức” Tác giả Lê Văn Viết (2006) “Một số vấn đề thiết lập hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam” Qua tìm
hiểu, nội dung các bài nghiên cứu trên có liên quan đến chủ đề hợp tác chia sẻ
Trang 10nguồn lực thông tin giữa các thư viện đại học, nêu lên những yếu tố tác động đến vấn đề hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin của các thư viện đại học cũng như giới thiệu khái quát các mô hình đã hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin của một số quốc gia để các thư viện Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm Tuy nhiên, riêng vấn đề hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện đại học các bài viết chưa đề cập tới
Nhìn chung, các công trình trên tập trung nghiên cứu về hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện, riêng khía cạnh hợp tác chia sẻ nguồn lực nói chung giữa các thư viện đại học cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu nào Do đó, đề tài “Hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết” là đề tài hoàn
toàn mới, không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Mặc dù TTHL-ĐHCT đã hợp tác chia sẻ với nhiều đơn vị khác nhau, tuy nhiên chỉ với 3 thư viện là có sự hợp tác dài hạn và chuyên sâu Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ với 3 thư viện sau:
- Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Thư viện trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
- Thư viện Trung tâm Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11- Phạm vi thời gian:
Các số liệu thông tin phản ánh trong luận văn tập trung chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến nay và đề xuất giải pháp mở rộng phạm vi liên kết trong những năm tiếp sau
- Phạm vi nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các Thư viện liên kết, gồm: nguồn lực thông tin và các nguồn lực khác
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1.Câu hỏi nghiên cứu
- Hợp tác chia sẻ nguồn lực có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động thư viện ?
- Thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết ?
- Cần đưa ra những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết ?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Nhu cầu thông tin của người sử dụng rất phong phú, đa dạng và luôn phát triển; trong khi các nguồn lực của mỗi thư viện lại hạn chế nên khó đáp ứng cho nhu cầu này Nếu tổ chức tốt việc hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện thì sẽ thỏa mãn được nhu cầu thông tin của người sử dụng thư viện
Hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết cũng đã có những thành quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp một số khó khăn, trở ngại nên chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của người sử dụng thư viện Nếu nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân của các khó khăn, trở ngại và có biện pháp để giải
Trang 12quyết những nguyên nhân đó thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả của hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm học liệu trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích-tổng hợp tài liệu có liên quan để hệ thống hóa cơ sở lý luận
về đề tài
- Điều tra bằng bảng hỏi:
+ Đối với cán bộ thư viện: Để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện
+ Đối với người sử dụng thư viện: Để tìm hiểu về nhu cầu sử dụng thư viện, nhu cầu thông tin
- Phương pháp thống kê: Để thống kê các số liệu đã thu thập được làm
cơ sở phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất các giải pháp
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho nhân viên và sinh viên chuyên ngành thông tin-thư viện
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về Trung tâm Học liệu Trường
Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
Chương 2: Thực trạng hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung tâm Học
liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
Chương 3: Nâng cao hiệu quả hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa Trung
tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
Trang 14Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học ( 2005) khái niệm “Hợp
tác” là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung [30]
Từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2007)
“Hợp tác” là một nhu cầu cần thiết trong công việc giúp chúng ta giải quyết công việc riêng cũng như công việc chung tốt hơn và hiệu quả hơn, đồng thời người biết hợp tác sẽ luôn nhận được sự hợp tác của người khác [31]
Theo Từ điển “The Ala Glossary” (1996) “Thư viện hợp tác” là một thư viện liên kết với một thư viện khác hay một nhóm thư viện khác trong một vài đề án chung, thí dụ như việc phát triển có phối hợp về sưu tập và dịch vụ hay việc đóng góp các kí lục vào một thư mục liên thư viện [9]
Từ những khái niệm và giải thích thuật ngữ của một số quan điểm trên,
có thể nói “Hợp tác” trong bối cảnh thư viện để chia sẻ nguồn lực là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều thư viện cùng phối hợp với nhau để chia sẻ trách nhiệm trong việc mua tài liệu, phát triển và quản lý các nguồn tài liệu, dùng chung một số nguồn lực trong thỏa thuận hợp tác giữa các thư viện Từ đó giúp NSD của từng thư viện thành viên có thể truy cập vào nguồn lực thông tin của tất cả các thư viện tham gia hợp tác
Trang 15 Chia sẻ
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học(2005) khái niệm “Chia
sẻ” là cùng chia với nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu, chia sẻ cho nhau từng bát cơm, chia sẻ vui buồn, chia sẻ một phần trách nhiệm
Mặt khác theo tác giả Shreeves, E (1997) khái niệm “hợp tác liên thư viện luôn đi kèm với thuật ngữ chia sẻ nguồn lực bao gồm truy cập dữ liệu thư mục chung, mượn liên thư viện và phát triển các bộ sưu tập chung” [54]
Tóm lại “chia sẻ’” là các hoạt động do thỏa thuận, chính thức hoặc không chính thức, giữa một nhóm các thư viện để chia sẻ các bộ sưu tập, dữ liệu, phương tiện, nhân sự, v.v., vì lợi ích của người sử dụng và giảm chi phí hoạt động cho mỗi thư viện
Nguồn lực thư viện
Theo tác giả Nguyễn Văn Sơn (2014) “Nguồn lực” là các yếu tố hiện hữu và góp phần trong sự phát triển của một doanh nghiệp được gọi là những
nguồn lực Những nguồn lực đó chính là nguồn lực vật chất, nguồn lực nhân lực, nguồn lực tài sản và nguồn lực thông tin vì chúng góp phần lớn ảnh
hưởng trực tiếp trong việc giúp cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, và nếu những nguồn lực này có sự liên kết bền vững với nhau thì đó chính là thế mạnh cốt yếu mà doanh nghiệp nào cũng muốn hướng đến [46]
Theo từ điển The Ala Glossary (1996) “Thư viện” là một bộ sưu tập những tài liệu được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn phận phục vụ, để cho họ có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư tịch, cũng nhưtrao dồi kiến thức của họ Thư viện có một ban nhân viên được huấn luyện chuyên môn để cung ứng dịch vụ, chương trình liên quan đến sự truy tìm thông tin của độc giả
Trong sách Bách khoa toàn thư của Anh định nghĩa: “Thư viện” là bộ sưu tập sách nhằm mục đích để đọc, để nghiên cứu hoặc tra cứu”
Trang 16Sách Bách khoa thư của Trung Quốc định nghĩa: “Thư viện” là cơ cấu khoa học, văn hóa, giáo dục, thu thập, xử lý, bảo tồn tài liệu và cung cấp cho độc giả sử dụng”
Theo tác giả Attam Parkash Gakhar cho rằng: “Nguồn lực thư viện” Có nhiều loại tài nguyên trong một thư viện Chúng có thể được mô tả là tài nguyên vật lý (ví dụ: xây dựng, nội thất, thiết bị, v.v.), Nhân sự (ví dụ: nhân viên thuộc các loại khác nhau hoặc người cần điều hành thư viện) và tài nguyên trí tuệ (tài liệu in, sách, tạp chí, tạp chí, báo, v.v vật liệu in, vật liệu
đa phương tiện và tài nguyên điện tử, vv) Các chức năng chính của thư viện
có thể được mô tả là thu thập, xử lý và tổ chức và phổ biến
Như vậy “Nguồn lực thư viện” là những nguồn lực bao gồm nguồn lực thông tin, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở vật chất Giữa chúng có mối quan hệ, hỗ trợ tác động chặt chẽ với nhau góp phần trong sự phát triển của thư viện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng nguồn lực thông tin của người sử dụng
1.1.2 Nguồn lực thông tin và các nguồn lực khác
Nguồn lực thông tin
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đội ngũ những người làm công tác khoa học đang tăng lên nhanh chóng và sản phẩm của họ là tri thức khoa học cũng tăng lên rất nhanh đã góp phần đáng kể vào việc phát triển NLTT tại các cơ quan TT-TV
Căn cứ loại hình thông tin: Trong các cơ quan thông tin nói chung và tại các trường đại học nói riêng Hiện nay NLTT rất đa dạng về hình thức và phong phú nội dung bao gồm NLTT truyền thống và NLTT điện tử
- Nguồn lực thông tin truyền thống:
Bao gồm các thông tin được thể hiện dưới dạng các tài liệu văn bản và được trình bày bằng một bài viết, tài liệu, ấn phẩm, hồ sơ,về mọi lĩnh vực mà
Trang 17NSD có thể đọc được thông qua vật mang tin truyền thống (giấy, đá, gỗ, vải) Các loại tài liệu truyền thống bao gồm: sách tham khảo, giáo trình, báo, tạp chí, tài liệu tra cứu, tài liệu nội sinh
+ Sách tham khảo: Trong NLTT của thư viện, đây là loại tài liệu có số
lượng lớn nhất, quan trọng đối với sự phát triển của Nhà trường nói chung và sự hoạt động hiệu quả của Thư viện nói riêng Sách tham khảo gồm các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập và nghiên cứu của NSD
+ Giáo trình: Đây là loại tài liệu mang tính đặc thù của các trường đại
học Sách giáo trình cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, có
hệ thống về các môn học theo chương trình đào tạo của trường, giúp sinh viên thiết lập một nền tảng vững chắc ban đầu khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu
+ Tài liệu nội sinh: Bao gồm các luận án, luận văn của các thạc sỹ, tiến
sỹ được bảo vệ trong và nước ngoài của các cán bộ và sinh viên trong trường, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước Đây là nguồn tài liệu vô cùng có giá trị bởi những giải pháp hữu hiệu trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
- Nguồn lực thông tin điện tử
Thành phần chính của nguồn lực thông tin điện tử (NLTTĐT) là tài liệu điện tử và tài liệu số Khác với NLTT truyền thống là thông tin được ghi trên giấy và con người có thể đọc được trực tiếp thì đối với NLTTĐT, thông tin được ghi trên đĩa cứng, đĩa mềm, băng từ, đĩa CD,đĩa DVD, các thiết bị lưu trữ khác Nguồn lực thông tin điện tử chỉ có thể được truy cập và khai thác trên máy tính hay hệ thống mạng máy tính NLTTĐT gồm những tài liệu điện
tử miễn phí do các cơ quan thuộc chính phủ hay các cơ quan phi lợi nhuận
Trang 18xuất bản cung cấp, tuy nhiên giá trị của loại thông tin này không cao cần phải kiểm định lại trước khi đưa vào sử dụng
- Đối với tài liệu điện tử phải trả tiền đây là nguồn tài liệu có giá trị cao, chính xác, đáng tin cậy thường thì các cơ quan phải mua bản quyền từ các nhà xuất bản các nhà cung cấp tài liệu điện tử
- Đối với tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin tự xây dựng nên bằng cách số hóa, nhập, quét các tài liệu đã được xuất bản trên giấy và làm cho chúng có thể truyền đi trên mạng hoặc chuyển sang các đĩa CD-Rom hoặc đĩa DVD để lưu giữ và sử dụng
Một trong số các phương tiện cầu nối đưa NSD tới NLTT tại các cơ quan TT-TVchính là hệ thống các mục lục công cộng tra cứu trực tuyến OPAC (Online Public Access Catalog) OPAC là một cơ sở dữ liệu (CSDL) bao gồm các biểu ghi thư mục, mô tả sách hoặc các tài liệu khác được sở hữu bởi một thư viện, trung tâm thông tin, cơ quan lưu trữ Ngày nay, nhờ sự tiến
bộ không ngừng của công nghệ thông tin, NSD có thể thông qua OPAC để tra cứu thông tin ngay trên máy tính tại nhà, tại cơ quan, tại trường học thông qua các kết nối Internet có dây và không dây
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, rất nhiều loại điện thoại di động đời mới có hỗ trợ kết nối Internet và sử dụng dịch vụ 3G, 4G được sử dụng phổ biếnmột trong những ứng dụng của các thiết bị này là tạo điều kiện đưa NDT đến gần hơn với OPAC, với nguồn tin mà họ đang tìm kiếm
Sách điện tử (E-book): là một phương tiện số tương ứng của các loại
sách in thông thường Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng sử dụng, chia sẻ trên internet Với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử rất thuận tiện cho nhu cầu lưu trữ, tìm kiếm và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị thông tin cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính bảng Sách điện tử là phiên bản điện tử của sách in
Trang 19được đọc trên máy tính hoặc các thiết bị chuyên dụng, sách điện tử có thể đọc bằng nhiều cách như tải xuống máy tính để đọc, đọc trực tuyến trên web, in ra giấy và đọc Hiện nay đa số các cơ quan thông tin-thư viện sở hữu số lượng sách điện tử rất nhiều chủ đề khác nhau thông qua nguồn học liệu mở miễn phí hoặc các cơ sở dữ liệu được mua quyền truy cập
Tạp chí điện tử: Tạp chí có vai trò rất lớn đối với việc thu thập tư liệu
phục vụ công tác học tập, nghiên cứu, tìm tòi của NSD Thông tin trong các tạp chí là nguồn tư liệu quý và không thể thiếu được đối với công tác nghiên cứu khoa học Cũng giống như sách, tạp chí có hai loại tạp chí in ấn và tạp chí điện tử, tạp chí điện tử là phiên bản điện tử của tạp chí in
Cơ sở dữ liệu: Tác giả Đoàn Phan Tân cho rằng “ Cơ sở dữ liệu” là
tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản lý, được lưu trữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và được quản lý theo một cơ chế thống nhất, nhằm giúp cho việc truy nhập và xử lý dữ liệu được dễ dàng
và nhanh chóng” [24]
Cơ sở dữ liệu được quản lý bởi một hệ quản trị CSDL và hệ thống các phần mềm, bao gồm các chương trình giúp người sử dụng quản lý và khai thác CSDL theo ba chức năng: về mô tả dữ liệu, cập nhật dữu liệu, tìm kiếm
dữ liệu Trong lĩnh vực TT-TV có nhiều cách phân loại CSDL, căn cứ theo bản chất của thông tin được lưu giữ người ta phân biệt ba loại CSDL chính sau: CSDL thư mục; CSDL toàn văn; CSDL dữ kiện
Bộ sưu tập số: Đây được hiểu là một tập hợp các đối tượng được lựa
chọn và được tổ chức cùng với các siêu dữ liệu mô tả và có ít nhất một giao diện để cho người sử dụng truy cập Bộ sưu tập số cũng được tổ chức nhiều tài liệu đã được số hóa dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, audio, video) về một chủ đề trong đó mặc dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện, nhưng nó đều cung cấp một giao diện đồng nhất mà
Trang 20qua đó các tài liệu có thể truy cập, tìm kiếm dễ dàng Bộ sưu tập bao gồm tập hợp các tài liệu được thu thập dưới nhiều dạng thức khác nhau gồm: văn bản, hình ảnh, âm thanh, các bản vẽ về một chủ đề xác định, được biểu diễn dưới dạng số có tổ chức theo một cấu trúc thống nhất để có thể truy cập, chia sẻ, khai thác trong môi trường điện tử
Các nguồn lực khác
- Nguồn nhân lực
Tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh (2018) cho rằng “Nguồn nhân lực Thông tin thư viện là một bộ phân nguồn nhân lực của xã hội nói chung và của nguồn nhân lực văn hóa nói riêng Bởi vậy nó mang đặc điểm của cả hai nguồn nhân lực này Con người là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến hiệu quả hoạt động của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào” [21]
Nguồn nhân lực có vị trí rất quan trọng trong các cơ quan TT-TV, chính họ là cầu nối giữa NLTT và NSD Nguồn nhân lực thư viện bao gồm: Nhóm cán bộ quản lý các cơ quan TT-TV và các cán bộ thư viện
- Nhóm cán bộ quản lý phải có khả năng dự báo, hoạch định chiến lược
và triển khai thực hiện chiến lược; đi tắt và đón đầu xu thế phát triển của ngành TT-TV và ra quyết định kịp thời; kỹ năng tổ chức và quản lý NNL, NLTT, CSVC; NTC, nghiên cứu phát triển và phục vụ thông tin cho NSD TT-TV
- Nhóm cán bộ thư viện phải có kỹ năng chuyên môn cần thiết về xử lý,
tổ chức NLTT, lựa chọn, bổ sung NLTT hợp lí và hiệu quả và quan trọng hơn phải có năng lực phổ biến và khai thác thông tin
Trong thế giới mở và xu thế hội nhập như hiện nay, ngoại ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong giao tiếp và trong làm việc Giúp người làm công tác thư viện có thể tìm hiểu, học tập và nghiên cứu các tài liệu nước ngoài viết về chuyên ngành thư viện hoặc trao đổi chuyên môn với các
Trang 21chuyên gia trên thế giới về chuyên ngành đang công tác Hay trong quá trình công tác, CBTV tiếp xúc và xử lý các tài liệu ngoại văn rất thường xuyên cho nên việc biết và sử dụng thành thạo ngoại ngữ rất có ích cho người CBTV trong quá trình công tác
Ngày nay, công nghệ thông tin được ứng dụng hầu hết trong các hoạt động TT-TV như quản lý nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất, người sử dụng, nguồn tài chính Nguồn nhân lực phải có kiến thức về công nghệ thông tin như khả năng vận hành hệ thống, phát triển các phần mềm quản lý TT-TV, mạng Internet Cách mạng công nghệ hay cách mạng số hóa hiện nay đã hướng nguồn nhân lực TT-TV phát triển hơn nữa về khả năng lưu trữ, tổ chức, khai thác và truy cập NLTT trong môi trường số hóa
Nguồn tài chính
Nguồn tài chính là một trong những nhân tố quyết định mọi hoạt động của các cơ quan TT-TV Hằng năm, nguồn tài chính dành cho hoạt động TT-
TV không lớn nhưng đòi hỏi người cán bộ quản lí phải có dự toán phân bổ và
sử dụng tài chính hợp lí và hiệu quả theo năm tài chính Nguồn tài chính được
sử dụng vào các mục đích như: mua NLTT, bảo trì và phát triển hệ thống thông tin, nâng cấp cơ sở vật chất, hay nguồn kinh phí đào tạo CBTV thông qua các báo cáo thu chi đầy đủ và chính xác Đây cũng là yếu tố chính để các thư viện xem xét khi tham gia hợp tác chia sẻ các nguồn lực giữa các thư viện với nhau Nguồn tài chính của các cơ quan TT-TV có được từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn từ ngân sách Nhà nước, nguồn tài chính từ các dự án, nguồn tài trợ từ các tổ chức cá nhân trong xã hội, nguồn thu từ sự nghiệp thư viện
- Nguồn từ ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng, chủ chốt và quyết định hiệu quả hoạt động của thư viện
Trang 22- Nguồn tài chính từ dự án cũng đóng góp cho hoạt động của thư viện, tuy nhiên nguồn kinh phí từ dự án lại không ổn định, thường xuyên
- Nguồn tài chính từ các tổ chức cá nhân trong xã hội Nguồn này cũng không ổn định và tùy thuộc vào năng lực vận động của CBTV
- Nguồn tài chính thu từ phí sử dụng thư viện Nguồn này thường ít không đáng kể
Cơ sở vật chất-trang thiết bị
Cơ sở vật chất-trang thiết bị là yếu tố quan trọng đảm bảo yêu cầu nâng cao và hoàn thiện chất lượng các hoạt động của thư viện, đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng thông tin của NSD Hoạt động TT-TV của bất kỳ cơ quan nào cũng cần có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng CNTT tương ứng
Cơ sở vật chất tại các cơ quan TT-TV gồm có: không gian các phòng làm việc của CBTV; không gian phục vụ NSD đọc tài liệu, sử dụng máy tính, không gian tự học; không gian giải trí; không gian bố trí hệ thống kho tài liệu, giá kệ; không gian bố trí máy tính; không gian giải trí Thiết kế xây dựng không gian trong thư viện phải đảm bảo được tiêu chí về an toàn phòng cháy chữa cháy và tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng do nhà nước quy định
Trang thiết bị tại các cơ quan TT-TV như: máy tính điện tử, camera, quạt máy, máy hút bụi, điều hòa, hệ thống mạng, hạ tầng CNTT, cổng từ, máy photocopy, máy scan và các phần mềm chuyên dụng của ngành thông tin thư viện
Cơ sở vật chất-trang thiết bị (CSVC-TTB) là những điều kiện thiết yếu của bất cứ một thư viện nào Thư viện có CSVC khang trang, đầy đủ và thân thiện sẽ giúp cho công tác phục vụ NSD đạt hiệu quả cao đồng thời tạo ra môi trường làm việc thoải mái cho cán bộ thư viện Trụ sở thư viện được thiết kế
Trang 23khoa học và thân thiện chắc chắc gây được hứng thú làm việc và học tập cho CBTV và NSD thư viện
Cơ sở hạ tầng CNTT các cơ quan TT-TV bao gồm phần cứng và phần mềm quản trị TT-TV; mạng và hệ thống viễn thông để đảm bảo cho thư viện vận hành và hoạt động trong môi trường tự động hóa Khi cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, viễn thông được đầu tư và phát triển mạnh sẽ tăng cường khả năng xây dựng hệ thống thư viện tự động hóa, truy cập dữ liệu trực tuyến, chia sẻ nguồn tin giữa các thư viện thông qua Internet, trao đổi thông tin thuận tiện hơn
1.1.3 Vai trò của các nguồn lực trong hoạt động thông tin, thư viện
Các nguồn lực là yếu tố cấu thành thư viện
Trong Điều 9 Pháp lệnh thư viện quy định, Thư viện được thành lập khi
có những điều kiện sau: Vốn tài liệu thư viện; Trụ sở, trang thiết bị chuyên dùng; Người có chuyên môn nghiệp vụ thư viện; Kinh phí đảm bảo cho thư viện hoạt động ổn định và phát triển
Theo các nhà thư viện học Xô Viết thì thư viện có thể được tạo thành từ
4 yếu tố sau: Vốn tài liệu, Cán bộ thư viện, bạn đọc, cơ sở vật chất-kỹ thuật
và giữa chúng có mối quan hệ, tác động chặt chẽ với nhau mà thiếu một trong các yếu tố đó sẽ không còn là thư viện
Trong hoạt động thư viện các yếu tố này không thể hoạt động riêng lẻ, mỗi yếu tố đều có vai trò rất quan trọng và chúng có mối quan hệ qua lại, tác động chặt chẽ lẫn nhau, nhưng NLTT có vị trí quan trọng đặc biệt, trước hết
là tiền đề, là điều kiện tiên quyết, là tài sản lớn, quý giá nhất là cơ sở để thư viện tồn tại và vận hành NLTT càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu đọc càng lớn và do vậy càng có sức lôi cuốn đối với NSD Nó được xem là tiêu chí để xem xét mức độ hiệu quả của cơ sở vật chất kỹ thuật, đánh giá
Trang 24trình độ cán bộ thư viện, là đối tượng để bổ sung tổ chức kho, xử lý kỹ thuật, lưu giữ và bảo quản để tuyên truyền, giới thiệu với NSD
Sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành thư viện thể hiện rõ trong hoạt động thực tiễn của các thư viện Để xây dựng một thư viện, công việc đầu tiên là phải có được một khối lượng NLTT nhất định, đó là cơ sở quan trọng đảm bảo cho thư viện có thể mở cửa phục vụ NSD Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật, con người là các đối tượng quan trọng góp phần giúp hoạt động của thư viện đạt hiệu quả tốt, đáp ứng được nhu cầu của NSD và tạo điều kiện tối ưu cho việc phối hợp thành công mối quan hệ giữa con người với NLTT làm cho việc khai thác sử dụng thông tin có hiệu quả và tăng giá trị của thông tin. Một thư viện có NLTT dồi dào, cơ sở vật chất-kỹ thuật tốt, các trang thiết bị hiện đại và sự nhiệt huyết của cán bộ thư viện là niềm tự hào của thư viện để cung cấp cho NSD những dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu của họ, tạo uy tín đối với NSD và xã hội Ngay cả trong thời đại điện tử, khi công nghệ tiên tiến phát triển mạnh mẽ đã ảnh hưởng lớn đến những thay đổi trong cách xây dựng và tổ chức của thư viện thì các yếu tố cấu thành thư viện vẫn tồn tại và liên quan với nhau rất chặt chẽ, tạo nên sự tồn tại vững chắc của thư viện
Các nguồn lực là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện
Hoạt động TT-TV là một quá trình tương tác giữa 4 yếu tố chủ yếu: NLTT với tư cách là cơ sở cho mọi hoạt động, NSD và nhu cầu tin với tư cách là đối tượng sử dụng kết quả hoạt động, nguồn nhân lực với tư cách chủ thể hoạt động giữ một vai trò quan trọng không kém, họ chính là người môi giới thông tin, giúp NSD tiếp cận được với nguồn tin Nguồn cơ sở vật chất-trang thiết bị với tư cách phương tiện hoạt động là một phần không thể thiếu,
nó giúp cho NSD truy cập thông tin mọi lúc, mọi nơi Nguồn tài chính với tư cách quyết định đến sự phát triển mọi hoạt động của thư viện, quyết định đến
Trang 25số lượng và chất lượng của nguồn tin Bên cạnh đó, việc khai thác NLTT phục vụ tối đa nhu cầu của NSD là yếu tố để đánh giá kết quả hoạt động của một cơ quan TT-TV Tất cả các hoạt động này có sự tương tác chặt chẽ giữa các yếu tố nói trên và được thể hiện trong tất cả các công đoạn của hoạt động bao gồm: Hoạt động bổ sung, hoạt động xử lý, hoạt động phục vụ đó là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện:
- Hoạt động bổ sung
Là khâu đầu tiên trong công tác thư viện, quyết định chất lượng và hiệu quả của công tác thư viện, là cơ sở cho công tác khác và có ý nghĩa trực tiếp đến việc thỏa mãn nhu cầu NSD Bổ sung là một quá trình sưu tầm và thu thập tài liệu đưa vào thư viện Quá trình đầu tiên trong công tác bổ sung là xây dựng chính sách, diện bổ sung, xác định chức năng, nhiệm vụ của thư viện cũng như nhu cầu của NSD và làm cho NLTT đó luôn luôn được đổi mới, luôn được sử dụng đến mức tối đa Trong công tác bổ sung, chính sách phát triển NLTT đóng vai trò quan trọng Vì là một công cụ để công chúng hay cơ quan quản lý cấp trên đánh giá công việc của cơ quan TT-TV, là cơ sở
để các cơ quan cấp trên xem xét trong quá trình phân bổ ngân sách cho các cơ quan thông tin thư viện
Tuy nhiên, ngày nay trong môi trường thư viện hiện đại, hoạt động bổ sung trở nên phức tạp hơn, mỗi công đoạn đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng chuyên môn riêng, cán bộ thư viện phải có kiến thức và kỹ năng như đánh giá, dự đoán, kiểm soát, lựa chọn được nhà cung cấp, đàm phán giá cả, đảm bảo được giá trị và chất lượng của từng đợt bổ sung
- Hoạt động xử lý
Xử lý tài liệu nhằm mục đích sắp xếp tài liệu khoa học, hợp lý, phục vụ nhu cầu của NSD Như vậy xử lý nghiệp vụ hỗ trợ cho các khâu còn lại trong dây chuyền thông tin tư liệu như chọn lọc và bổ sung, tổ chức, khai thác và
Trang 26phổ biến thông tin Bất cứ một tài liệu nào được nhập vào cơ quan thông tin thư viện, trước khi xếp lên giá để phục vụ đều phải qua xử lý nghiệp vụ thư viện Quá trình xử lý nghiệp vụ có thể tiến hành bằng phương pháp thủ công hoặc vừa bằng thủ công vừa bằng máy tính tùy theo điều kiện của từng thư viện Xử lý nghiệp vụ thư viện bao gồm hai giai đoạn chính: xử lý về mặt hình thức tài liệu (mô tả thư mục) và xử lý về mặt nội dung tài liệu (mô tả nội dung)
Vấn đề xử lý nghiệp vụ để đạt được hiệu quả cao cần chú ý đến việc kiểm soát tính thống nhất Kiểm soát tính thống nhất là cơ sở để chuẩn hóa các hoạt động xử lí nghiệp vụ của thư viện này với các thư viện khác trên toàn thế giới Và đặc biệt với sự gia tăng không ngừng của nhu cầu về thông tin như hiện nay thì sự chuẩn hóa là rất quan trọng, nó là cơ sở để bảo đảm khả năng cung ứng tối đa các yêu cầu của NSD, đồng thời cũng là một cơ hội để hợp tác liên kết với các thư viện trên toàn thế giới
- Hoạt động phục vụ
Hoạt động phục vụ NSD là khâu trung tâm, khâu then chốt trong mọi hoạt động của công tác TT-TV Nó là khâu tác động trực tiếp với các đối tượng NSD, quyết định hiệu quả của hoạt động TV Mục tiêu phấn đấu chung của công tác TV cũng là mục tiêu phấn đấu của công tác phục vụ NSD Hoạt động phục vụ NSD là khâu cuối cùng trong chu trình đường đi của tài liệu cũng như là khâu cuối cùng trong chu trình thực hiện nhu cầu NSD Kết quả phục vụ NSD là thước đo hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của hoạt động thư viện NSD của thư viện gồm nhiều thành phần, lứa tuổi, trình độ nghề nghiệp khác nhau và theo đó, nhu cầu, sở thích, điều kiện đến thư viện, khai thác thông tin cũng khác nhau
Vì vậy, muốn thu hút nhiều NSD đến sử dụng thư viện phải có nhiều hình thức phục vụ phong phú, biện pháp phục vụ linh hoạt, NLTT phong phú,
Trang 27cơ sở vật chất trang thiết bị, hạ tầng công nghệ hiện đại, cán bộ thư viện phục
vụ nhiệt tình, chuyên nghiệp Đó là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới việc lôi cuốn NSD đến thư viện
1.1.4 Tầm quan trọng của hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện
Tăng cường sức mạnh cho thư viện
Hợp tác chia sẻ nguồn lực trong các cơ quan TT-TV mang lại rất nhiều tác dụng cho các thư viện và người sử dụng của từng thư viện, đồng thời tăng cường sức mạnh cho thư viện NLTT của thư viện được xem là “lợi ích cốt lõi” của hợp tác chia sẻ mang đến cho NSD, là yếu tố quan trọng thu hút NSD đến thư viện, đồng thời con người và cơ sở vật chất trang thiết bị cũng là những yếu tố không thể thiếu trong hoạt động hợp tác chia sẻ Đó là sức mạnh
để các thư viện thành viên xây dựng và hoàn thiện chia sẻ nguồn lực thư viện
cụ thể:
- Hoạt động hợp tác chia sẻ giúp tăng cường các dạng tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử ngày một phát triển hơn và trở thành phổ biến giúp cho NSD dễ dàng tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khác nhau
- Tạo thêm cơ hội cho các thư viện phối hợp bổ sung để được dùng chung nguồn tài liệu điện tử giữa các thư viện liên kết nhằm giúp NSD có thể
sử dụng tài liệu một cách thuận tiện và tiết kiệm thời gian
- Tăng khả năng truy cập tài liệu cho NSD thông qua CSDL thư mục trực tuyến Việc này giúp NSD tại các thư viện thành viên có cơ hội tiếp cận với NLTT của nhiều đơn vị khác nhau Mở rộng phạm vi và độ sâu nội dung của thông tin đáp ứng nhu cầu thông tin tài liệu của họ Đồng thời chia sẻ CSDL thư mục trực tuyến giúp thực hiện và đẩy mạnh dịch vụ mượn liên thư viện, giúp NSD đáp ứng được tài liệu mình cần mà không mất công sức và thời gian để mượn ở nhiều địa điểm khác nhau
Trang 28- Thông qua hoạt động trao đổi nghiệp vụ giữa cán bộ thư viện của các thư viện hợp tác sẽ tăng tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, học hỏi được những kinh nghiệm hay khi triển khai công việc chuyên môn thư viện, đồng thời cũng để cán bộ có ý thức tự giác trau dồi trình độ của mình về mọi mặt để khẳng định chính mình trong hệ thống nghề thư viện Có thể thông qua các chương trình học tập ngắn hạn, tham dự hội nghị hội thảo, tọa đàm liên quan đến các kiến thức và kỹ năng chuyên ngành của các thư viện thành viên tổ chức Ngày nay, cùng với sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ hiện đại thì việc chia sẻ kinh nghiệm cũng không còn là khó khăn nữa, thông qua các forum, diễn đàn, chat, email, web, CBTV có thể tư vấn, tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp trường bạn một cách nhanh chóng
- Thông qua hợp tác chia sẻ, tăng cường hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong các thư viện nhằm thuận tiện cho việc chia sẻ CSDL thư mục với nhau Tạo điều kiện cho NSD có thể truy cập và xác định nơi lưu trữ tài liệu của các thư viện thông qua công giao tiếp Z39.50, mục lục liên hợp, cổng thông tin OPAC Chính vì điều này đã tạo nên sự thuận tiện cho NSD tiếp cận tới các nguồn tin của các thư viện liên kết
Nâng cao chất lượng hoạt động thư viện
Các cơ quan TT-TV đều nhận thấy được tầm quan trọng việc hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các thư viện, việc hợp tác chia sẻ này đã góp phần nâng cao các hoạt động trong thư viện cụ thể nâng cao về chất lượng nguồn lực thông tin, nâng cao chất lượng xử lý tài liệu và nâng cao chất lượng phục
vụ
- Nâng cao chất lượng NLTT
+ NLTT được xem là nhân tố trung tâm tạo cơ sở cho việc hợp tác chia
sẻ, thông qua đó, giá trị và độ tin cậy của NLTT được tăng lên và phù hợp với
Trang 29chức năng nhiệm vụ của từng thư viện nhằm đáp ứng được nhu cầu khai thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau cho NSD
+ Từ việc hợp tác và chia sẻ, NLTT của các thư viện được cập nhật khá đầy đủ và chính xác Điều đó giúp cho NSD có thể lựa chọn NLTT theo yêu cầu của họ
+ Hợp tác chia sẻ NLTT là yếu tố thúc đẩy việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin mới đa dạng và phong phú hơn, góp phần nâng cao hiệu quả tìm kiếm tài liệu của NSD
+ Nâng cao việc xây dựng mục lục liên hợp và phối hợp bổ sung các nguồn thông tin điện tử có chất lượng và giá trị Hơn nữa cũng giúp nâng cao chất lượng quản lý tài liệu trong thư viện
- Nâng cao chất lượng xử lý NLTT
Có thể một thư viện thành viên nào đó thực hiện hiệu quả công tác xử
lý tài liệu như tạo ra NLTT chất lượng và khoa học, có độ chính xác cao, thống nhất các dữ liệu thư mục, các thư viện còn lại sẽ tiết kiệm thời gian cho nhiều công tác chuyên môn nghiệp vụ, điển hình là công tác biên mục khi phải biên mục những tài liệu giống nhau, thay vì chỉ xử lý một lần và dùng chung cho tất cả các thư viện được liên kết Từ đó sẽ nâng cao được sự tích hợp các biểu ghi thư mục và mục lục liên hợp của nhiều thư viện khác nhau Chính hoạt động hợp tác chia sẻ này đã nâng cao chất lượng phục vụ cho NSD có cơ hội tiếp cận tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau mà họ cần đang lưu hành tại các thư viện khác nhau một cách nhanh chóng với nhiều điểm truy cập Các thư viện cũng nhờ đó có thể phục vụ đông đảo cộng đồng, góp phần thúc đẩy hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện
- Nâng cao chất lượng phục vụ
+ Giúp NSD thư viện nâng cao kỹ năng khai thác thông tin của nhiều dạng tài nguyên khác nhau, thông qua một điểm truy cập cổng thông tin của
Trang 30các thư viện thành viên, hơn nữa được hỗ trợ nhanh chóng để tiếp cận tài liệu gốc, đồng thời tiết kiệm được thời gian tìm kiếm tài liệu
+ Tạo sự thuận lợi cho NSD có thể tiếp cận tốt hơn đến các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong thư việnthông qua web Từ đó, nâng cao hiệu quả trong việc tìm kiếm tài liệu, thông tin được tăng lên giảm thiểu tối đa thời gian, sức lực, tài chính của NSD
Đáp ứng nhu cầu thông tin cho người sử dụng thư viện
Hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện không chỉ giúp nâng cao mọi hoạt động chuyên môn của các thư viện thành viên mà còn mang lại nhiều lợi ích cho NSD thư viện NSD có thể truy cập nguồn lực thông tin ở các thư viện thành viên mọi lúc mọi nơi thông qua mục lục liên hợp Mục lục này được xây dựng trên cơ sở cổng thông tin và nó tích hợp dịch vụ TT-TV của các thư viện thành viên giúp việc tìm kiếm thông tin chính xác hơn, có thẩm quyền và nhanh chóng, bất kể thông tin đến từ đâu Vì vậy chỉ có hợp tác chia sẻ các nguồn lực thì các thư viện mới đáp ứng được nhu cầu tin của NSD cả về nội dung lẫn hình thức một cách nhanh chóng, chính xác và đầy đủ
Hơn nữa, hợp tác chia sẻ giúp NSD đáp ứng khả năng tiếp cận các nguồn thông tin tại các đơn vị thành viên Người sử dụng có thể tra cứu xem nơi lưu giữ tài liệu mình cần tìm, từ đó lựa chọn xem cơ quan thông tin thư viện nào phù hợp nhất với điều kiện sử dụng của mình, chứ không nhất thiết phải đến đúng thư viện của trường học, cơ quan mình như hiện nay
1.1.5 Nội dung hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện
Hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin
Hợp tác chia sẻ NLTT là xu hướng tất yếu của hoạt động TT-TV trong giai đoạn hiện nay Mục đích của việc hợp tác chia sẻ này là để nâng cao chất lượng NLTT và tiết kiệm chi phí bổ sung mà vẫn đảm bảo được nhu cầu thông tin của NSD Hiện nay các cơ quan TT-TV hợp tác chia sẻ NLTT qua
Trang 31các phương thức sau: mượn liên thư viện, trao đổi tài liệu, dùng chung và phối hợp bổ sung
- Mượn liên thư viện
Hình thức mượn liên thư viện đã có lịch sử từ rất sớm Năm 1907 Hội Thư viện Mỹ đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề này Những hình thức chủ yếu của nó trong thời gian này là thành lập mục lục liên hợp và trao đổi sách, mượn giữa các thư viện
Theo tác giả Lê Văn Viết:“Mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện là hình thức phục vụ bạn đọc khi sử dụng nguồn lực thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin khác cả trong nước lẫn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đọc và thông tin của người dùng thư viện mình Như vậy có mượn, chia sẻ tài liệu trong nước và quốc tế Mượn, chia sẻ tài liệu có mục đích tạo ra những điều kiện tốt nhất để thoả mãn một cách toàn diện và kịp thời những yêu cầu về tài liệu, thông tin của các cơ quan Ðảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp và các cá nhân, đồng thời phát huy với hiệu quả cao nhất vốn tài liệu, thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin trong
cả nước Mượn, chia sẻ tài liệu vì thế tiết kiệm được kinh phí cho các thư viện” [41, tr.15]
Hiện nay, các thư viện thành viên có thể dễ dàng thực hiện mượn liên thư viện, thông qua phối hợp nguồn dữ liệu thư mục, cổng thông tin (OPAC), cổng Z39.50 giữa các cơ quan TT-TV Mỗi cơ quan TT-TV đều có một số lượng biểu ghi nhất định về một lĩnh vực nào đó, sự hợp nhất giữa chúng sẽ tạo nên một ngân hàng dữ liệu phong phú và đa dạng Điều này sẽ giúp NSD
có cơ hội hơn trong việc tiếp cận để lựa chọn tài liệu phù hợp với nhu cầu
Để hoạt động này có thể được diễn ra, các thư viện thành viên cùng nhau xây dựng quy định cách thức mượn tài liệu từ các thư viện Thông
Trang 32thường hiện nay, nếu NSD cần sách, sách sẽ được chuyển đến thư viện thành viên qua đường bưu điện, nếu NSD cần tài liệu một bài tạp chí, bài tạp chí đó
sẽ được photocopy và gửi qua đường bưu điện hay fax; nếu NSD cần hình thức thông tin điện tử, các định dạng file, có thể được gửi tới thông qua email Mượn liên thư viện sẽ được thực hiện theo quy định chung của hệ thống hợp tác chia sẽ giữa các cơ quan TT-TV Các thư viện sẽ xây dựng quy trình, chính sách, quy định cụ thể cách thức sử dụng các NLTT trong hệ thống để NSD tuân thủ các quy định về mượn liên thư viện
- Trao đổi tài liệu
Hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin qua hình thức trao đổi giúp NSD có được những tài liệu quý hiếm, có thể thư viện này có mà thư viện khác không
có và hình thức này đem lại hiệu quả khá cao về mặt kinh tế, tiết kiệm chi phí khi phải bổ sung các loại tài liệu này Có những tài liệu ít sử dụng với thư viện này nhưng lại có ý nghĩa với thư viện khác Hình thức trao đổi đã phát huy được tác dụng của tài liệu Với những lợi ích thiết thực như vậy nên từ lâu các thư viện đã rất chú trọng tiến hành trao đổi tài liệu sách báo Việc trao đổi có thể tiến hành giữa các thư viện trong nước hoặc giữa các thư viện trên thế giới, giá trị trao đổi có thể tùy thuộc vào chính sách thống nhất của các thư viện hợp tác và chia sẻ
- Dùng chung
Hiện nay, dùng chung NLTT là một hình thức được thực hiện trong các liên hiệp thư viện Các NLTT thường là CSDL điện tử, CSDL dạng thư mục thông qua hệ thống phần mềm, cổng giao tiếp Z39.50, mục lục liên hợp, cổng thông tin OPAC Hợp tác chia sẻ NLTT qua phương thức này, các thư viện có thể tiến tới chia sẻ được nhữnghế mạnh trong nguồn lực thông tin của mình
Trang 33- Phối hợp bổ sung
Trong hợp tác chia sẻ NLTT, phương thức phối hợp bổ sung giúp các thư viện thành viên nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí, giảm đến mức thấp nhất việc bổ sung trùng lặp, đặc biệt là tiết kiệm chi phí bổ sung các nguồn lực thông tin Từ đó, sẽ tiết kiệm rất nhiều khoản: chi phí cho việc xử lý tài liệu, chi phí bảo quản, lưu trữ Khi nguồn lực tài chính của các thư viện còn rất hạn hẹp khiến cho phần lớn các thư viện, nhất là thư viện của các nước đang phát triển, không có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu NSD
Hợp tác chia sẻ các nguồn lực khác
Hợp tác chia sẻ nguồn nhân lực
Hợp tác chia sẻ nguồn nhân lực có nhiều nội dung phong phú đa dạng như:
- Phân công nhân sự của thư viện này đến thư viện khác để xử lý tài liệu,
tổ chức kho, tập huấn cho NSD
- Đưa nhân viên của thư viện này đến thư viện khác để học tập kinh nghiệm, thực hành nghiệp vụ
- Hợp tác tổ chức hội thảo chuyên đề về những vấn đề chuyên môn nghiệp vụ để chia sẻ kinh nghiệm phương pháp hoạt động
- Hợp tác tổ chức các lớp tập huấn về những kỹ năng kỹ thuật nghiệp vụ mới
- Huy động chuyên gia của những đơn vị thành viên lớn để đào tạo cho cán bộ của các đơn vị thành viên nhỏ
Hợp tác chia sẻ nguồn tài chính
Nguồn tài chính cũng được xem là một yếu tố có thể tạo nên hay phá
vỡ những nỗ lực hợp tác chia sẻ các nguồn lực trong cơ quan TT-TV Hợp tác đồng nghĩa với việc các thư viện có sự chia sẻ về mặt tài chính để thực hiện
Trang 34các dự án chung như mua phần mềm, mua cơ sở dữ liệu điện tử, mua tài liệu
in ấn
Tuy nhiên, hiện nay một số liên hiệp thư viện ở Việt Nam mới chỉ hợp tác chia sẻ nguồn tài chính qua công tác bổ sung các cơ sở dữ liệu điện tử bằng hình thức sử dụng tài khoản để truy cập Đối với các vấn đề khác, chưa thực hiện được bởi nhiều lý do và đặc thù của từng thư viện Hoạt động hợp tác chia sẻ nguồn tài chính giữa các thư viện sẽ thực hiện thành công khi việc phân chia tài chính minh bạch cũng như duy trì tính ổn định trong nguồn tài chính góp chung sẽ tạo ra những thuận lợi trong việc duy trì các dự án hợp tác, các nguồn ngân sách của nhà nước
Hợp tác chia sẻ cơ sở vật chất-trang thiết bị
Hợp tác chia sẻ giữa các thư viện phổ biến ngày nay đó là mua quyền dùng chung các CSDL điện tử, chia sẻ tư vấn dịch vụ tham khảo, mượn liên thư viện tài liệu in ấn, biên mục tập trung và tập huấn cán bộ thư viện Đối với hợp tác chia sẻ nguồn cơ sở vật chất-trang thiết bị chưa được triển khai mạnh
mẽ ở các liên hiệp thư viện Việt Nam Số hóa tài liệu nhằm phục vụ tài liệu cho NSD theo hướng truy cập trực tuyến đòi hỏi thư viện phải có kinh phí đầu
tư lớn cho các trang thiết bị như máy scan, máy vi tính, hệ thống máy chủ với dung lượng đủ lớn để lưu trữ dữ liệu và truy xuất dữ liệu số hóa Hầu như, những thư viện nhỏ với nguồn tài chính hạn chế chỉ để bổ sung tài liệu, việc mua sắm các trang thiết bị cho việc số hóa thì khó thực hiện được Nhưng thông qua quá trình hợp tác này, các thư viện có thể xây dựng chính sách hỗ trợ nhau trong công tác số hóa tài liệu Chẳng hạn, thư viện nhỏ sẽ thực hiện được việc số hóa tài liệu của thư viện mình, đối với những thư viện lớn có trang thiết bị hỗ trợ các thư viện nhỏ số hóa tài liệu sẽ được phép sử dụng những tài liệu số hóa đó phục vụ cho NSD của thư viện mình, theo kiểu hợp tác đôi bên cùng có lợi
Trang 351.2 Khái quát về TTHL trường Đại học Cần Thơ với các thư viện liên kết
1.2.1 Khái quát về các nguồn lực của Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ
Trung tâm Học liệu tiền thân là Thư viện Trung tâm được thành lập năm 1966, (đặt ở khu III) Năm 2006 thư viện trung tâm được xây dựng mới hoàn toàn TTHL là tòa nhà bốn tầng được xây dựng trong khuôn viên trường ĐHCT ngay lối vào cổng chính của khu II, Đại học Cần Thơ, một địa điểm lý tưởng thuận tiện cho người đọc đến sử dụng Trung tâm Học liệu để phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy
Nguồn lực thông tin
Hiện tại nguồn lực thông tin của TTHL rất đa dạng loại hình và phong phú nội dung, với tài liệu in ấn có khoảng131.8544 nhan đề, 297.068bản Đối với tài liệu nội sinh dạng điện tử có khoảng 47.886, tài liệu này bao gồm các loại hình: luận án, luận văn, giáo trình, bài giảng của trường biên soạn, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị khoa học, báo cáo nghiên cứu khoa học các cấp, đề tài nghiên cứu khoa học ĐBSCL Số lượng tài liệu nội sinh tăng đều hàng năm Loại hình tài liệu được cụ thể như sau:
Trang 36Bảng 1.1 NLTT theo loại hình tài liệu
Đối với CSDL thư mục OPAC, TTHL liệu có khoảng 176883 biểu ghi thư mục gồm sách, tạp chí, giáo trình, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học, tài liệu đa phương tiện
Ngoài ra, TTHL đã tạo lập được các bộ sưu tập số khác nhau rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều bộ sưu tập như sau: bộ sưu tập giáo trình giảng dạy tại trường ĐHCT được xuất bản tại Nhà xuất bản của Trường; bộ sưu tập luận văn sau đại học, được xử lý và tổ chức thành bộ sưu tập dạng số hóa phục vụ cho NSD, riêng bộ sưu tập khóa luận đại học phục vụ tra cứu dạng thư mục; bộ sưu tập đề tài nghiên cứu khoa học của trường ĐHCT được phục
vụ dưới dạng thư mục và toàn văn
Để tạo điều kiện cho NSD có thể truy cập các nguồn tin từ mọi lúc mọi nơi TTHL đã xây dựng CSDL OPAC, cơ sở dữ liệu thư mục tài liệu trực tuyến của TTHL được sử dụng phần mềm Ilib web của Công ty CMC Đây là công cụ hỗ trợ NSD tra cứu tài liệu tại TTHL và thư viện của các khoa tại trường ĐHCT
Bên cạnh đó, TTHL đã mua quyền truy cập các CSDL điện tử và đăng
ký sử dụng các CSDL miễn phí từ các tổ chức trong và ngoài nước Với CSDL đã được đăng ký quyền truy cập gồm: gồm tạp chí khoa học, sách, tài liệu hội thảo khoa học, nghiên cứu điển hình,…liên quan đến tất cả lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và học tập của Trường ĐHCT Đây là những nguồn tài
Trang 37liệu học thuật được đăng ký trả phí để truy cập hoặc qua quan hệ hợp tác giữa Trường ĐHCT với các tổ chức xuất bản uy tín trên thế giới đế đăng ký quyền truy cập Từ năm 2008 đến nay TTHL đã mua qua quyền truy cập các CSDL điện tử gồm: CSDL ProQuestCentral, Ebrary, SpingerLink, SpingerLink Engineering Book, IEEE, Science Direct, Luật Việt Nam, Mạng KH&CN Việt Nam, Thư viện Pháp luật của Công ty CP Lawsoft, tài liệu của quỹ tiền
tệ Quốc tế (IMF), CSDLEmerald case study, CSDL CAB Direct, HINARI, AGORA, ARDI, OARE, ARDI, Lyell collection (UK), Ingenta connect
Ngoài những CSDL đã được đặt mua quyền sử dụng, TTHL đã đăng ký khai thác miễn phí tăng theo từng năm các CSDL uy tín có khoảng 34 CSDL tạp chí khoa học, sách, tài liệu hội thảo khoa học được các nhà xuất bản uy tín trên thế giới cho phép người dùng truy cập miễn phí Các nguồn tài liệu học thuật này liên quan đến tất cả lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và học tập của Trường ĐHCT như: kinh tế, nông nghiệp, thủy sản, môi trường, kỹ thuật công nghệ, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên
Các nguồn lực khác
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của TTHL có sự đa dạng về trình độ chuyên môn với các yêu cầu về số lượng và chất lượng khác nhau cho từng chức vụ cụ thể Trình độ chuyên môn của cán bộ được nâng cao thông qua các hình thức: tham gia các chương trình đào tạo thạc sĩ trong nước và nước ngoài, tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn thông qua các lớp ngắn hạn hoặc hội nghị, hội thảo, học tập trao đổi kinh nghiệm với các thư viện trong và ngoài nước Hiện tại, đội ngũ cán bộ và nhân viên của TTHL là
35 người Trong đó, 14 người có trình độ đại học, 5 người có trình độ thạc sĩ,
4 người đang học cao học, 1 tiến sĩ và 1 nghiên cứu sinh, 9 người có trình độ
Trang 38sơ cấp, 2 người có trình độ trung cấp, 2 người có trình độ cao đẳng và 7 nhân viên phục vụ.1
- Cơ sở vật chất-trang thiết bị
TTHL được thiết kế xây dựng và sắp xếp theo một hệ thống thống nhất của tất cả các kho với trên 800 chỗ ngồi dành cho NSD: Tầng 1 khoảng 100 chỗ, tầng 2 khoảng 350 chỗ, tầng 3 khoảng 350 chỗ, tầng 4 là các phòng làm việc của cán bộ Trung tâm, hội trường và các phòng họp, hội thảo Số lượng
cơ sở vật chất-trang thiết bị được cụ thể như sau:
Trang 3916 Kệ sách 357
18 Hộc đựng giỏ sách bạn đọc 756
Bảng 1.2 Số liệu cơ sở vật chất-trang thiết bị
Ngoài ra, về phần cứng đã được trang bị các thiết bị có cấu hình mạnh bao gồm 14 server; Wireless Access Point (AP) Cisco Systems 02 cái (Tốc độ truyền dữ liệu: 10/100Mbps); các thiết bị ngoại vi: UPS12 cái, Barcode scanner 17 cái, ổ ghi đĩa DVD 60 cái, headphone 50 cái TTHL dùng hệ điều hành mạng Window NT Server và hệ quản trị phần mềm tích hợp iLib web của công ty CMC Bên cạnh đó, TTHL tự xây dựng một số phần mềm để ứng dụng quy trình hoạt động chuyên môn như:
Phần mềm đếm lượt NSD vào thư viện các Khoa ,Viện trong trường
Phần mềm đăng ký phòng thảo luận học nhóm
Xây dựng trang web dành cho học viên sau đại học đăng ký phòng suy ngẫm
Phần mềm để NSD tự tra cứu các câu hỏi thamkhảo
Phần mềm chụp hình làm thẻ tự động và phần mềm về ngân hàng câu hỏi đố vui bạn đọc trả lời
Phần mềm để khách mời đăng ký tham dự hội nghị hội thảo
- Nguồn tài chính
Nguồn tài chính của TTHL đóng vai trò là một nhân tố quyết định trong mọi hoạt động của TTHL Nguồn tài chính của TTHL được cấp từ nguồn ngân sách nhà nước mỗi năm khoãng 1 tỷ đồng và từ các nguồn thu như hoạt động dịch vụ, hoạt động sự nghiệp và một số nguồn từ dự án
Việc bổ sung nguồn NLTT được thực hiện thường xuyên hàng tháng (Tùy theo mức độ kinh phí, nhu cầu của thư viện và việc cung cấp tài liệu của
Trang 40các Nhà xuất bản và Phát hành sách) Phân bổ nguồn ngân sách được thực hiện vào đầu năm, TTHL tiến hành lập bảng ngân sách cho từng đơn vị theo
tỷ lệ: Mua các CSDL điện tử dùng chung: lập dự toán tính trước khi phân bổ kinh phí; Các đơn vị đào tạo của trường: 40% tổng ngân sách, tỷ lệ này được chia nhỏ theo quy mô đào tạo (số lượng sinh viên) của từng đơn vị; phòng ban chức năng (bao gồm Bộ môn giáo dục thể chất và 03 Viện): 10% tổng ngân sách; TTHL: 50% tổng ngân sách
1.2.2 Khái quát về các nguồn lực của Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Thư viện Trung tâm cung cấp nguồn tài nguyên, trang thiết bị và các dịch vụ chất lượng cao phục vụ giảng viên, sinh viên, nhà nghiên cứu và cán
bộ thuộc ĐHQG-HCM và phục vụ NSD thuộc các đơn vị khác nếu có yêu cầu Thư viện Trung tâm ĐHQG-HCM là một đơn vị hành chính sự nghiệp độc lập, trực thuộc Ban Giám đốc ĐHQG-HCM, có tư cách pháp nhân, tài khoản và con dấu riêng Thư viện Trung tâm là đầu mối tổ chức liên kết và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin trong hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM
Nguồn lực thông tin
Thư viện gồm các tài liệu truyền thống với trên 45.000 nhan đề, 89.000 bản như sách tham khảo, sách tra cứu, giáo trình, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác Đối với tạp chí có khoảng 319 tên tạp chí
Tài liệu nội sinh: Đối với loại tài liệu này thư viện trung tâm đã số hóa
và dùng phần mềm quản lý tài liệu số hóa Dspace gồm: 368 luận văn, luận án,
931 đề tài nghiên cứu khoa học và 200 tài liệu hội nghị hội thảo
Đối với CSDL thư mục OPAC, thư viện trung tâm có khoảng 49000 biểu ghi thư mục gồm sách, tạp chí, giáo trình, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học, tài liệu đa phương tiện