Mặc, là một nét văn hóa của đời sống vật chất và tinh thần phần nhiều gắn liền với tư tưởng cũng như sở thích của người mặc, nhưng trong xã hội quân chủ phong kiến, đối với tầng lớp quý
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3.1 Nghiên cứu về trang phục Việt Nam 3
3.2 Các công trình nghiên cứu về phẩm phục 4
3.3 Các công trình nghiên cứu về lịch sử, mỹ thuật, văn hóa, xã hội, kiến trúc thời Nguyễn 6
3.4 Các công trình nghiên cứu về hoa văn và biểu tượng 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Lý thuyết nghiên cứu 10
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 13
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 13
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 14
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
9 Bố cục luận văn 14
Chương 1 16
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ 16
BẢO TÀNG LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 16
1.1 Các khái niệm 16
1.1.1 Văn hóa 16
1.1.2 Trang phục 18
Trang 21.1.3 Phẩm phục (品服) 19
1.1.4 Hoa văn 20
1.1.5 Khái niệm về biểu tượng 20
1.2 Tổng quan BTLSTPHCM 20
1.3 Sự hình thành và phát triển bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh 22
Tiểu kết 46
Chương 2 48
ĐẶC TRƯNG HOA VĂN TRÊN PHẨM PHỤC TRIỀU NGUYỄN TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
2.1 Tư tưởng về văn hóa trang phục cung đình triều Nguyễn 48
2.2 Những quy định về chất liệu, màu sắc may phẩm phục 49
2.3 Kỹ thuật dệt, thêu 50
2.4 Cơ sở hình thành hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn 53
2.5 Các đồ án và ý nghĩa hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn 55
2.5.1 Hoa văn tứ linh 55
2.5.2 Hoa văn chữ Hán 64
2.5.3 Hoa văn gắn với hiện tượng tự nhiên 65
2.5.4 Hoa văn hình động vật trong đời sống thường nhật 68
2.5.5 Hoa văn thảo quả (thực vật) 71
2.5.6 Các loại hoa văn biểu tượng tôn giáo 79
Tiểu kết 97
Chương 3 99
GIÁ TRỊ HOA VĂN TRÊN PHẨM PHỤC TRIỀU NGUYỄN 99
3.1 Các giá trị 99
3.1.1 Giá trị về lịch sử 99
3.1.2 Giá trị về văn hóa 100
Trang 33.1.3 Giá trị về mỹ thuật 103
3.1.4 Giá trị của việc ứng dụng hoa văn trang trí trên phẩm phục triều Nguyễn trong mỹ thuật trang trí hiện đại ngày nay 105
3.1.5 Nhận định, đánh giá 108
3.2 Một số kiến nghị đề xuất bảo tồn 111
3.2.1 Cơ sở pháp lý của việc bảo tồn 112
3.2.2 Phương pháp bảo tồn 112
3.2.3 Một số biện pháp phát huy giá trị 117
Tiểu kết 120
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 131
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang phục là nhu cầu thiết yếu của loài người từ thời kỳ cổ đại khi xã hội chưa văn minh thì nhu cầu làm đẹp đơn giản chỉ sử dụng những vật liệu từ thiên nhiên như: lá, vỏ cây để làm trang phục vừa che chắn, vừa bảo vệ cơ thể, hạn chế nắng, rét bên cạnh đó không loại trừ khả năng thể hiện vai trò thứ bậc trong một xã hội từ những vật đội, vật đeo hoặc những hình vẽ trên cơ thể trong cuộc sống cộng đồng bộ lạc Khi xã hội phát triển các hình thái kinh tế xã hội cũng phát triển và trang phục là một nét văn hóa cũng cải tiến và thay đổi theo thời gian, không gian Việc mặc, ngoài mục đích nhằm bảo vệ cơ thể mình, trước là giữ ấm, che chắn bảo
vệ cơ thể với môi trường và các loại côn trùng gây hại khác kế đến là dùng trang phục làm tăng thêm vẻ đẹp, tạo sự lôi cuốn hấp dẫn mọi người, về mặt hình thức, hay nói cách khác (thông qua trang phục người ta có thể hình dung dời sống vật chất tinh thần) [42, tr 6] Ca dao Việt Nam có câu “Hơn nhau tấm áo manh quần, thả ra bóc trần ai cũng như ai” Mặc, là một nét văn hóa của đời sống vật chất và tinh thần phần nhiều gắn liền với tư tưởng cũng như sở thích của người mặc, nhưng trong xã hội quân chủ phong kiến, đối với tầng lớp quý tộc nhất là đối với cung đình, hoàng gia, và nhân dân luôn phải theo những chế định mà triều đình ban hành
để thấy được sự khác biệt, đồng thời nói lên vị trí, cấp bậc, địa vị xã hội, phẩm hàm, chức sắc thông qua màu sắc, chất liệu và các đồ án, bố cục trang trí hoa văn trên trang phục
Thực tế đã cho thấy, con người trên thế giới, từ xa xưa, nhiều dân tộc đã dùng trang phục để thể hiện văn hóa, sự phát triển của mình, hoa văn trang trí là nhu cầu phục vụ trong đời sống tinh thần của người dân Việt [8, tr 109], trong đó hoa văn trên trang phục là một trong những văn hóa được thể hiện rộng rãi và phổ biến nhất Hoa văn được thể hiện với nhiều cách thức khác nhau như: chạm, khắc, vẽ, đục… và trên nhiều chất liệu khác nhau như gỗ, đá, gốm, kim loại… cũng như, dệt, thêu trên vải, gấm, lụa… cùng kết hợp sự giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa từ xa
Trang 5xưa đã tạo nên nét văn hóa đa dạng, được phát triển, từ văn hóa bản địa, đến văn hóa lai tạo, trong đó văn hóa bản địa được bồi tụ cải tiến và phát triển đến mức tối
ưu nhất vẻ đẹp có tính mỹ thuật cũng như nghệ thuật, kỹ thuật đặc biệt là phẩm phục của các vương triều thì càng được quan tâm, và còn có những quy chế chặt chẽ bởi thứ bậc trong hệ thống thể chế chính trị cầm quyền Triều Nguyễn, là triều đại quân chủ cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam cũng không ngoại lệ
Hoa văn trong nghệ thuật trang trí trên phẩm phục triều Nguyễn là đề tài rất thú vị từ hình tượng của các con vật linh: Long, lân, quy, phụng hay những động vật hiện hữu trong cuộc sống ngày thường như: cá, bướm, sóc, dơi… đến các hình tượng thực vật như: mai, lan, cúc, trúc, mẫu đơn, phật thủ, lựu, sen, đào, nho… cũng như các đồ án có tính chất biểu trưng của Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo như: tù và, cuốn thư, sừng tê giác, nút dây, quạt, ống sáo… đã được các nghệ nhân
áp dụng và trang trí trên nhiều chất liệu: gỗ, gốm, vải… trong đó đặc biệt là thể hiện trên phẩm phục cung đình rất tinh xảo, bằng các kỹ thuật và phương pháp thủ công khá phức tạp Nhưng không chỉ là những đồ án trang trí đơn thuần khi nói đến phẩm phục của các vương triều, hoàng thân quốc thích hay các quan lại thì có sự quy định
và ý nghĩa từng loại hoa văn, đồ án đến màu sắc cho mỗi loại phẩm phục từ Vua, Thái tử, Quan lại đến Hoàng hậu, Thái phi…
Đồ án hoa văn trang trí trên trang phục cung đình vô cùng phong phú và đa dạng, ngoài hình thức trang trí, nội dung của những đề tài còn ẩn chứa những giá trị văn hóa phi vật thể rất đặc sắc và thể hiện tư tưởng nhân văn, quan niệm sống của người xưa Do điều kiện về mặt khí hậu cũng như kinh tế, chính trị, xã hội mà những trang phục truyền thống xưa không thể tồn tại với thời gian đến ngày hôm nay được một cách vẹn toàn Hiện nay chỉ còn một số ít trang phục thuộc cung đình triều Nguyễn được lưu giữ ở một số Bảo tàng và vài nhà sưu tập tư nhân Trên cơ sở của bộ sưu tập về phẩm phục triều Nguyễn hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh (BTLSTPHCM) không đầy đủ, nhưng cũng khái quát một nét cơ bản về một triều đại lịch sử cận đại mà chúng tôi muốn tìm hiểu thêm giá trị di sản
phi vật thể loại hình trang phục này, đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Đặc trưng
Trang 6và giá trị hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn tại Bảo tàng lịch sử Thành phố
Hồ Chí Minh” để thực hiện luận văn này Nhưng với kiến thức còn hạn chế, chúng
tôi có thể chưa giải mã hết ý nghĩa của các đồ án hoa văn trên phẩm phục một cách sâu sắc, vì niềm đam mê và mong muốn học hỏi, từ đó chúng tôi có thêm kiến thức
để có thể mở rộng hơn đề tài nghiên cứu trong tương lai, nếu có điều kiện
2 Mục đích nghiên cứu
Để tìm hiểu về ý nghĩa của các đồ án hoa văn được sử dụng trang trí trên phẩm phục cung đình triều Nguyễn tại BTLSTPHCM, qua đó thấy được những giá trị lịch sử, văn hóa và mỹ thuật trường tồn, đồng thời áp dụng vào mỹ thuật trang trí đương đại nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, làm cơ sở cho việc tuyên truyền, giáo dục thế hệ học sinh, cũng như cung cấp thêm thông tin
cho việc nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa lịch sử
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với mỹ thuật trang trí và văn hóa cung đình triều Nguyễn nói chung, được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm và xuất bản nhiều ấn phẩm có giá trị về lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc là những công trình lớn đã được các nhà chuyên môn đánh giá cao Nhưng đối với hoa văn trang trí trên phẩm phục triều Nguyễn nói riêng, thì chưa có công trình nào lớn quy mô, hay chưa được công bố,
mà chỉ có những công trình nghiên cứu nhỏ, lẻ Tổng quan tình hình nghiên cứu chúng tôi tạm chia thành các chủ đề sau:
3.1 Nghiên cứu về trang phục Việt Nam
Đoàn Thị Tình, 2010, Trang phục Thăng Long – Hà Nội Với công trình này
đã được đánh giá cao về tính chuyên môn có sự nghiên cứu sâu, không những tác giả Đoàn Thị Tình dốc hết toàn tâm về trang phục mà cả toàn ý về phẩm phục qua các thời kỳ lịch sử Tuy vậy, phần nào thì Đoàn Thị Tình vẫn còn thiếu sót về phần hoa văn trang trí trên phẩm phục, có thể do nhiều yếu tố khách quan như tập sách quá lớn, hao tốn nhiều công sức vì vậy chỉ tập trung vào phần cách thức, quy chuẩn
về màu sắc may mặc cho nhân gian và cung đình, còn phần hoa văn trang trí có thể cho đề tài tiếp theo
Trang 7Ngô Đức Thịnh, 1994, Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, với tác
phẩm này đã khái quát một bức tranh đa sắc màu cổ truyền của các dân tộc Việt Nam Trong đó Ngô Đức Thịnh cũng giới thiệu sơ lược về quy chế, cách thức về may và mặc trang phục cung đình triều Nguyễn, còn về hoa văn trang trí trên phẩm phục không thấy đề cập tới thấy
Nguyễn Thị Đức, 1998, Văn hóa trang phục từ truyền thống đến hiện đại,
đây là đề tài chuyên về trang phục mà Nguyễn Thị Đức muốn bày tỏ cảm xúc, cảm nhận của mình qua cách ứng xử giao tiếp trong cách ăn mặc chủ yếu là trang phục trong dân gian mà phần nhiều tập trung vào trang phục phụ nữ từ truyền thống đến hiện đại, phần trang phục cung đình thì tác giả Nguyễn Thị Đức có thể dành cho chuyên đề khác
Tác phẩm, Ngàn năm áo mũ, của Trần Quang Đức, 2013, đã giới thiệu tổng
quan về áo mũ của Việt Nam trong một ngàn năm từ thời Lý – Trần – Lê – Nguyễn Đây là tập sách với công trình nghiên cứu đồ sộ, công phu từ việc nghiên cứu phương thức chế tác, vải vóc, thêu thùa nhưng chủ yếu làm rõ kiểu dáng, quy chế của các loại áo mũ từng được phổ biến trong cung đình và dân gian Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn [14, tr 16] Với tập sách Ngàn năm áo mũ là nguồn tham khảo chính để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này Tuy nhiên, tác phẩm Ngàn năm áo mũ chỉ khảo tả về cách thức và hình thức may trang phục cung đình nhưng hoa văn trên phẩm phục cung đình vẫn chưa đề cập tới, hoặc vì quá rộng lớn hay có thể Trần Quang Đức đưa phần trang trí hoa văn trên phẩm phục cung đình vào chuyên mục khác
Trịnh Quang Vũ, 2008, Trang phục triều Lê – Trịnh, đây cũng là một công
trình nghiên cứu lớn về trang phục, là nguồn tham khảo phong phú đã khái quát được tính chất lễ nghi thông qua phẩm phục một thời kỳ lịch sử từ thế kỷ XV – XVIII
3.2 Các công trình nghiên cứu về phẩm phục
Trần Đình Sơn, 2013, Đại lễ phục Việt Nam thời Nguyễn 1802 – 1945, đây
cũng là tập sách với công trình chuyên sâu của nhà nghiên cứu gốc Huế, về một
Trang 8giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là giới thiệu về bộ lễ phục vua, hoàng hậu, hoàng tôn, và bá quan văn – võ triều Nguyễn Nhưng có một điều đáng tiếc là khi thể hiện Trần Đình Sơn ít sử dụng tài tư liệu hình ảnh gốc để minh họa mà chỉ sử dụng những bản vẽ của Nguyễn Văn Nhân (1902) là chính Nếu tác giả của quyển sách “Đại lễ phục Việt Nam thời Nguyễn” sử dụng bằng các hình ảnh hiện vật gốc thì đây là một công trình thú vị nhất, vì nó tái hiện lại một triều đại lịch sử Việt Nam qua ảnh nhằm giới thiệu quảng bá ra thế gới Hơn nữa, tác giả Trần Đình Sơn chưa khảo tả hoa văn trang trí trên phẩm phục mà chỉ tóm lược lại trang phục cho các ngày lễ lớn của hoàng gia và bá quan, dù thế nào đi nữa thì tập sách này cũng là nguồn tham khảo hữu ích cho chúng tôi
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về phẩm phục như Hoàng
Anh Tuấn, 1992, Nghiên cứu về áo vua triều Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh [35, tr 201]; Trần Đức Anh Sơn, Nghiên cứu về sưu tập đồ dệt cung đình triều Nguyễn, giới thiệu trong quyển Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế [23, tr 21]; Minh Tâm – Hoàng Hương, Tổng quan về trang phục cung đình triều Nguyễn; Trần Đại Dũng, Áo tế giao vua Nguyễn, Nguyễn Văn Tưởng, Áo thường triều thời Nguyễn; Trần Thị Thanh Duy, Áo đại triều của hoàng thái hậu thời Nguyễn; Huỳnh Thị Bích Nhàn, Hai áo thường phục của Đoan Huy Hoàng thái hậu; Hà Oanh – Bảo Anh, Y phục công chúa Nguyễn; Quang Anh, Y phục Hoàng tử thời Nguyễn; Bảo Vân – Quý Mẫn, Y phục đại triều của võ quan thời Nguyễn; Trịnh Bách, Phục chế lễ phục cung đình triều Nguyễn [24, tr.69]; Hoàng Anh Tuấn – Lương Chánh Tòng, Sưu tập hoàng bào triều Nguyễn tại BTLSTPHCM [25, tr 130]; Trịnh Bách, Khái lược về triều phục của các quan thời Nguyễn [25, tr 125] Đây là những công trình nghiên cứu về trang phục hoàng gia
cung đình thời Nguyễn, đã khái lược về cách thức và hình thức may và mặc, nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về ý nghĩa hoa văn trang trí trên phẩm phục, tuy nhiên đây là những tài liệu hữu ích giúp cho chúng tôi tra khảo so sánh, đối chiếu một cách thuận lợi nhất
Trang 93.3 Các công trình nghiên cứu về lịch sử, mỹ thuật, văn hóa, xã hội, kiến trúc thời Nguyễn
Phan Thuận An, là người nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế đã xuất bản nhiều
ấn phẩm về lịch sử văn hóa Huế, trong đó có công trình lớn như 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân Đây là tập sách mà ông đã dày công nghiên cứu theo chiều dài
lịch sử từ thời kỳ trước chúa Nguyễn, đến các chúa Nguyễn và các đời vua Nguyễn Với tác phẩm này Phan Thuận An đã giới thiệu từ lịch sử, địa lý, văn hóa và con người Phú Xuân và các vùng lân cận trong 7 thế kỷ, nhưng phần trang phục cung đình ông chưa đề cập tới, có thể công trình quá lớn với lượng thôn tin quá nhiều vì vậy có thể dành cho chuyên mục khác
Nguyễn Hữu Thông, 1992, Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế, với đề tài này
là công trình nghiên cứu chuyên về mỹ thuật trên vùng đất Huế chủ yếu về kiến trúc
và những nhận xét đánh giá quá trình hình thành vương triều mới, sự chọn lựa tiếp thu văn hóa truyền thống cái nào nên gìn giữ cái nào cách tân phát triển Nhưng Nguyễn Hữu Thông cũng đã khái quát nhiều mô típ trang trí như bố cục, hoài hòa màu sắc, cảnh quan thiên nhiên, trong mỹ thuật trang trí trên những vật thể cứng, rắn ngoại trừ về trang phục cung đình
Nguyễn Hữu Thông, 2001, Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ và ý nghĩa biểu tượng trang trí, đây là một công trình lớn đã nghiêu cứu về biểu tượng và ý nghĩa
trang trí thời Nguyễn, có thể nói tác phẩm này đã miêu tả gần như toàn bộ về ý nghĩa biểu tượng của các mô típ, đồ án hoa văn trang trí thời Nguyễn trên các công trình kiến trúc, đình, làng, chùa, cung điện ngoại trừ trên trang phục cung đình Đây
là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu trên lĩnh vực biểu tượng hoa văn trang trí, nhưng chúng tôi chưa được tiếp cận tác phẩm này mà chỉ biết qua các tài liệu khác, đây là một hạn chế của chúng tôi
Vài năm gần đây cũng tác giả Nguyễn Hữu Thông, 2014, tiếp tục công trình
nghiên cứu của mình với ấn phẩm Mỹ thuật thời chúa Nguyễn dẫn liệu từ di sản lăng mộ Với công trình nghiên cứu này tuy nội dung chưa phải gắn liền với đề
chúng tôi thực hiện, nhưng cũng là nguồn tài liệu bổ ích, vì là sự khởi nguồn cho
Trang 10việc hình thành nhà Nguyễn sau này về vấn đề kế thừa truyền thống thời Nguyễn với chúa Nguyễn
Nguyễn Tiến Cảnh, 1992, Mỹ thuật Huế, ông đã đưa ra khái quát về ý nghĩa
các đồ án hoa văn trang trí trong mỹ thuật Huế, đồng thời nói lên sự kế thừa và phát triển các biểu tượng hoa văn của các triều đại trước Nguyễn (VD: đồ án hoa văn tứ linh đầy đủ và hoàn chỉnh trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XVIII và phát triển đến thế kỷ XX) Đây là những thông tin làm cơ sở cho việc đi tìm lời giải đáp những yêu cầu đặt ra và để hoàn thành công trình mà chúng tôi chọn lựa để thực hiện
Chu Quang Trứ, 2000, Văn hóa mỹ thuật Huế, với công trình này ông tập
trung nghiên cứu về văn hóa mỹ thuật chủ yếu là kiến trúc lăng tẩm, di tích và các làng nghề thủ công Huế Riêng phần trang phục cũng như hoa văn trang trí trên phẩm phục có thể ông nhường lại cho các nhà nghiên cứu khác, cho nên Chu Quang Trứ không đưa vào phần nghiên cứu của mình
Trần Đức Anh Sơn, 2006, Kiểu Huế, đây là một trong những công trình
nghiên cứu lớn của Trần Đức Anh Sơn như muốn tái hiện lại không gian văn hóa Huế từ lễ hội cung đình, lễ tết cổ truyền,cũng như nơi ăn, chốn ở và du ngoạn trên vùng đất mang đầy chất văn hóa cung đình Kiểu Huế, là nguồn thông tin tham khảo quang trọng cho chúng tôi
Nguyễn Phi Hoanh, 1984, Mỹ thuật Việt Nam, là một tập sách với công trình
tương đối lớn tác giả Nguyễn Phi Hoanh đã dành nhiều thời gian và sức lực để nghiên cứu các loại hình mỹ thuật về hoa văn trang trí trên nhiều chất liệu trải dài theo dòng lịch sử từ thời Hùng Vương đến nền mỹ thuật giai đoạn công nghiệp hiện đại Đối với mỹ thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh là nguồn tài liệu phong phú
là cơ sở cho chúng tôi tham khảo và vận dụng trong việc tìm hiểu nghiên cứu cho
đề tài luận văn
3.4 Các công trình nghiên cứu về hoa văn và biểu tượng
Nguyễn Du Chi, 2003, Hoa văn Việt Nam từ tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến Đây là công trình nghiên cứu sâu của Nguyễn Du Chi về ý nghĩa của
Trang 11các loại hình mô típ hoa văn trong trang trí và mối quan hệ giao lưu với các nền văn hóa khác trong khu vực ở những thời đại trước thời Nguyễn Với tác phẩm này là cơ
sở tiền đề tìm hiểu ý nghĩa các đồ án hoa văn cho chúng tôi thực hiện vấn đề nghiên cứu này, tuy nhiên, công trình chỉ giới hạn thời gian từ thời kỳ tự chủ đến thế kỷ XVI
Ưng Tiếu, 2005, Hoa văn cung đình Huế, là tác phẩm tập hợp những hoa văn
chạm trổ, điêu khắc trang trí cổ truyền của các họa sĩ nổi tiếng như Lê Văn Tùng, Trần Văn Phềnh…chủ yếu nhằm bảo tồn nghệ thuật chạm trổ trang trí cổ truyền Việt Nam, nhưng cũng khái quát ý nghĩa hoa văn cung đình Huế trên chất liệu gỗ, đồng và các công trình kiến trúc là chính chứ không liên đới đến hoa văn trang trí trên phẩm phục cung đình Huế
Trịnh Thị Hòa, 1995, Đồ gỗ thời Nguyễn, tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM, Luận án Phó Tiến sĩ, tuy đề tài này có vẻ như không phù hợp với chủ đề
mà chúng tôi thực hiện, nhưng trong nội dung của luận văn Trịnh Thị Hòa đề cập và giải thích những đồ án hoa văn thời Nguyễn trên đồ gỗ Đây chính là nguồn tham khảo và đối chiếu so sánh với hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn do có sự tương đồng về lịch đại, triều đại, chỉ khác nhau cách thể hiện trên chất liệu cũng như dân gian hay cung đình
Phạm Ngọc Uyên, 2013, luận văn thạc sĩ, Hoa văn gốm Chu Đậu dưới góc nhìn văn hóa, với đề tài hoa văn trên gốm Chu Đậu là trong giai đoạn triều Lê thế
kỷ XV Tuy là hoa văn trên đồ gốm nhưng là sự ảnh hưởng cho các thời kỳ sau, do vậy đây cũng là nguồn tham khảo cho vấn đề nghiện cứu của chúng tôi
Đinh Hồng Hải, 2012, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tập I; 2015, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tập II; 2016, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tập III Tác giả Đinh Hồng Hải đã dành nhiều thời gian và công
sức để nghiên cứu các biểu tượng trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, từ các con vật linh “tứ linh” các biểu tượng về thời tiết trong năm “tứ quý”, đến các biểu tượng của Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo, nhằm tìm hiểu về những giá trị về mỹ thuật và văn
Trang 12hóa trong đời sống thường nhật Đây là bộ sách hữu ích cung cấp cho chúng tôi tiếp cận đề tài được thuận tiện hơn, tuy không cùng chất liệu và thời đại nhưng có sự ảnh hưởng và kế thừa trong mỹ thuật trang trí Việt Nam
Trần Lâm Biền – Trịnh Sinh, 2017, Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa, là công trình đóng góp nhiều trong ngành di sản văn hóa, giúp cho việc tra cứu
giải mã các biểu tượng còn ẩn chứa bên trong các loại hình trang trí nhằm bảo tồn các giá trị di sản Việt hiệu quả nhất Với tài liệu này cũng là nguồn thông tin bổ ích cho chúng tôi làm sáng tỏ đề tài mà mình cần thực hiện Nhưng công trình này của Trần Lâm Biền chủ yếu đi tìm hiểu những giá trị di sản trên vật thể còn di sản trên phi vật thể như trang phục cung đình thì ông chưa đề cập tới
Nhìn chung, hàng loạt các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, những
nhà nghiên cứu lớn, với các công trình như: Mỹ thuật Việt Nam; Mỹ thuật Huế; Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam; Trang phục Thăng Long, Hà Nội; Văn hóa trang phục từ truyền thống đến hiện đại; Đại lễ phục triều Nguyễn; Hoa văn Việt Nam, Hoa văn cung đình Huế… đã chỉ dẫn được ý nghĩa màu sắc,ý nghĩa biểu
tượng hoa văn, tính mỹ thuật, quy chế cách thức thể hiện, kỹ thuật chế tác nhưng chưa có công trình nghiên cứu sâu về ý nghĩa của các đồ án hoa văn trang trí trên trang phục cung đình thời Nguyễn Do vậy, chúng tôi sẽ tìm hiểu, giải mã những ý nghĩa, giá trị văn hóa lịch sử của các mô típ trang trí trên phẩm phục triều Nguyễn, nhằm bổ sung thêm thông tin về biểu tượng hoa văn trang trí trên lĩnh vực mà chúng tôi thực hiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoa văn trang trí trên bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn hiện đang lưu giữ tại BTLSTPHCM, số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành
phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, Về thời gian: Bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn tại
BTLSTPHCM
Trang 135 Lý thuyết nghiên cứu
Để làm cơ sở cho vấn đề nghiên cứu đề tài này chúng tôi dựa vào các lý thuyết sau:
- Thuyết vùng văn hóa của C.L Wisler (1922), với thuyết này ông Boas nhận định rằng: “văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử, gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể” Thông qua nghiên cứu văn hóa vùng,chúng ta càng thấy được sắc thái văn hóa đa dạng của các vùng,các tộc người; thấy được quy luật hình thành và biến đổi của văn hóa trong các môi trường không gian địa lý nhất định, thấy được con đường các phương thức giao lưu càng ảnh hưởng văn hóa qua lại giữa các vùng trong nước, giữa nước ta với văn hóa trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, đặc biệt là hai nền văn hóa lớn Trung Hoa và Ấn Độ [44, tr 13]
Thuyết diễn giải và biểu tượng của Clifford Geertz (1926 – 2006): ông cho rằng để phân tích, giải mã ý nghĩa của nghi lễ, nghệ thuật, biểu tượng và những hiện tượng văn hóa không phải họ làm gì mà họ định làm nhằm vào ý nghĩa gì [67]
Lý thuyết là cơ sở cho việc hình thành nên những lý luận và cũng là tiền đề cho mọi hoạt động nghiên cứu, để nghiên cứu về một hiện tượng văn hóa, vùng văn hóa, văn hóa hay biểu tượng, biểu trưng văn hóa thì đòi hỏi việc nghiên cứu cần áp dụng một, hai hay nhiều lý thuyết để minh chứng, hay ít ra cũng tìm hiểu được những nguyên nhân ý nghĩa, mục đích để tạo ra những sản phẩm mà con người tạo
ra nhằm phục vụ cho nhu cầu về sử dụng, ẩm thực hay thưởng lãm, giải trí và trang trí…với đề tài “nghiên cứu hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn” chúng tôi dựa vào các lý thuyết như: (thuyết biểu trưng và diễn giải (Interpretive symbol) của L Geertz (như: rồng biểu tượng cho quân tử, hình ảnh rồng gắn liền với nhà vua; dơi biểu tượng cho hạnh phúc, may mắn, hình ảnh 5 con dơi biểu tượng cho ngũ phúc
“phúc, lộc, thọ, khang, ninh”; “mai, lan, cúc, trúc” biểu tượng cho 4 mùa trong năm
“xuân , hạ, thu, đông”; hoa sen tượng trưng cho tính tinh khiết Phật giáo
Trang 14- Với thuyết biểu tượng, diễn giải
Nhân học biểu tượng còn được biết đến với một cái tên khác là nhân học diễn giải (interpretive anthropology) nơi các nhà khoa học ủng hộ việc giải thích văn hoá thông qua ý nghĩa của các biểu tượng Quan niệm của các nhà nhân học theo trường phái này là tiếp cận các “quan điểm tự nhiên” để tìm hiểu tính chất trừu tượng và đa nghĩa của các biểu tượng Tại đây các biểu tượng được sáng tạo và sử dụng trong cộng đồng và trong quá trình giao tiếp của xã hội loài người Mỗi biểu tượng đặc trưng thường đại diện cho một ý nghĩa văn hoá riêng nhưng sự cộng hưởng của chúng lại chính là sự định dạng của đời sống văn hoá thông qua tính
“động” đặc thù của văn hóa
Trên thực tế, các biểu tượng đã tồn tại từ lâu đời trong đời sống của con người ở mọi nền văn minh Theo tiến trình phát triển của văn hoá, các biểu tượng ngày càng mở rộng thêm về số lượng cũng như ý nghĩa, đồng thời, quá trình giao thoa văn hóa cũng đã tiếp nhận thêm ngày càng nhiều các biểu tượng mới từ các nền văn hoá bản địa lân cận và du nhập Đối với Việt Nam, tính chất phức tạp của các biểu tượng cộng thêm sự đa dạng của văn hoá bản địa và sự giao thoa với các yếu tố văn hoá du nhập đã khiến cho ý nghĩa của các biểu tượng càng trở nên đa dạng Trong quá trình nghiên cứu văn hoá Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều tiếp cận nghiên cứu biểu tượng một cách “bán chính thức” thông qua phương pháp luận của các chuyên ngành khoa học khác như văn học, nghệ thuật học, dân tộc học,
xã hội học
Quan điểm của Clifford Geertz coi biểu tượng như một loại phương tiện của văn hoá, tại đây các biểu tượng chuyển tải ý nghĩa và thông tin mà con người nhìn thấy, nhận thức và suy nghĩ về thế giới của họ Theo ông, văn hoá không đóng khung trong tiềm thức của từng cá nhân đơn lẻ mà bao gồm một tập hợp hệ thống các biểu tượng thể hiện thế giới quan về nhận thức, đặc tính, giá trị Trong khi Victor Turner lại không coi các biểu tượng như những khuôn mẫu có chứa những đặc tính và nhận thức xã hội mà là một cách điều khiển tiến trình xã hội
Trang 15Nghiên cứu các biểu tượng là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp,
nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có cách tiếp cận vừa cụ thể lại vừa bao quát theo
cả hai chiều đồng đại và lịch đại Nghiên cứu các biểu tượng có thể được coi là một trong những cách tiếp cận cụ thể nhất đối với văn hóa vì biểu tượng chính là sự kết tinh các giá trị văn hóa được con người tạo nên Ở một phương diện khác, văn hoá lại chính là tập hợp của một hệ thống các biểu tượng do con người tạo ra Và như vậy, biểu tượng chính là đối tượng để con người thể hiện bản sắc văn hoá thông qua nhân sinh quan và thế giới quan của họ Biểu tượng là một sản phẩm văn hóa được hình thành một cách tự nhiên trong “hành trình văn hóa” của loài người Tuy nhiên, khi nền văn minh của nhân loại càng phát triển thì những thành tố văn hóa đó càng trở nên phức tạp
Qua cách nhìn của Geertz, Turner và Schneider ở trên, chúng ta có thể nhận thấy một đặc điểm chung xuyên suốt trong lý thuyết của họ là sự diễn giải những đặc tính của văn hoá thông qua các biểu tượng được hình thành trong xã hội loài người Nói cách khác, hệ thống lý thuyết nhân học biểu tượng hướng tới một mục tiêu chung: nghiên cứu các biểu tượng văn hoá bằng công cụ của nhân học Có thể thấy rằng, nghiên cứu các biểu tượng văn hoá không chỉ giúp chúng ta tiếp cận được với những thành tố cụ thể của văn hoá và ý nghĩa biểu đạt của chúng mà còn
có thể tiếp cận được với quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người Qua đây chúng ta cũng có thể xác định được những bộ phận cấu thành của nhân học biểu
tượng dựa trên ba đối tượng chính là con người, xã hội và văn hóa Đây cũng chính
là những trọng tâm mà những người làm công tác nghiên cứu văn hoá thường xuyên phải tiếp xúc Vì vậy, có thể nói rằng lý thuyết nhân học biểu tượng trong nhân học cũng chính là một phần quan trọng của các lý thuyết nghiên cứu văn hóa [62, tr 9 -11]
Thông qua các lý thuyết về biểu tượng nghiên cứu văn hóa chúng ta có thể hình dung ra được và thấy được những ý nghĩa của các hoa văn trên phẩm phục với những hình ảnh hoa văn động vật từ “tứ linh: long, lân, quy, phụng” đến các con vật gần gũi với đời thường “dơi, bướm, cá, …”, như trong tứ linh, Rồng: biểu tượng
Trang 16cho sức mạnh, cho quyền uy, vì rồng có thể làm mưa được, làm gió được, sống ở sông hồ được, sống ở trời cao cũng được và đi mây về gió cũng được Tuy hình ảnh rồng trong trí tưởng tượng nhưng lại được sự tôn vinh sáng tạo và đã nâng lên tầm chúa tể của muôn loài vật Vì vậy, trong văn hóa phương Đông có những nước như Trung Hoa, Việt Nam lấy hình tượng rồng 5 móng làm biểu tượng cho người đứng đầu trong xã hội quân chủ là vua và chỉ có vua mới được trang trí hình ảnh hoa văn
“rồng 5 móng” Trong khi đó, rồng 4 móng biểu trưng cho các bậc đại thần, hoàng
thân hay thái tử Phụng: là loài chim quý, đẹp hơn trong tất cả 360 loài chim vì vậy
có những nước ở Phương Đông cũng lấy hình ảnh chim phụng tượng trưng cho Hoàng hậu để sánh ngang bằng với vua Bên cạnh đó còn nhiều đồ án hoa văn “tứ hữu” “tứ quý” và cổ đồ, bát bửu của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo cũng là những biểu tượng cho thời tiết trong năm, cho những điều may mắn, cát tường hay tượng trưng cho sự học hành thành đạt… về ý nghĩa của từng biểu tượng chúng tôi sẽ giải thích thêm trong Chương hai
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Tìm hiểu về sự hình thành hoa văn cũng như việc áp dụng vào phẩm phục và giá trị trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XIX đến giữa
thế kỷ XX, tập trung vào các nội dung sau:
- Các đồ án hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn có phải do kế thừa các
triều đại trước hay do chủ quan của vương triều Nguyễn?
- Sự hình thành các đồ án hoa văn có phải do quá trình giao lưu tiếp xúc với
văn hóa Trung Hoa hay không?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trong lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc giao lưu, tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, có lúc chủ quan, nhưng cũng nhiều lúc bị áp đặt và cưỡng chế Vậy câu hỏi giả thuyết là:
- Phải chăng hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn được sự kế thừa của các triều đại trước, hay chăng là do tư tưởng của các vua triều Nguyễn?
Trang 17- Có phải sự hình hành các đồ án hoa văn trang trí trên phẩm phục triều Nguyễn thật sự là do quá trình giao lưu tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa hay không?
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
+ Phương pháp định tính: Nghiên cứu, khảo sát, miêu tả thực tế trên bộ sưu tập phẩm phục tại BTLSTPHCM
+ Thu thập và phân tích tài liệu: Thu thập những tài liệu liên quan đến đề tài, những tài liệu đã được công bố, những tài liệu trong nước và dựa trên các công trình
đi trước để, đối chiếu so sánh, nhận định đánh giá
+ Phương pháp giám định cổ vật: Dựa trên cơ sở kết quả giám định và phân tích của Hội đồng Giám định Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn
trong lịch sử văn hóa Việt Nam, với những cứ liệu, tài liệu hiện vật, đồng thời cũng
là những trải nghiệm kiểm chứng các lý thuyết khi nghiên cứu sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các nước trong khu vực, đặc biệt hơn vẫn là quốc gia gần kề và thường
xuyên liên tục nhất là Trung Hoa
- Ý nghĩa thực tiễn: Với việc nghiên cứu tìm hiểu những đồ án hoa văn trên
phẩm phục triều Nguyễn qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các nước, và tìm ra những nét khác biệt của văn hóa Việt Nam, nhằm cung cấp thông tin tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa theo góc độ lịch sử này
Trang 18hình thành của BTLSTPHCM, quá trình hình thành bộ sưu tập phẩm phục qua các giai đoạn của BTLSTPHCM
Chương 2: Đặc trưng hoa văn trên phẩm phục triều Nguyễn tại
BTLSTPHCM
Trong chương hai, chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề như: Tư tưởng triều Nguyễn trong giai đoạn mới thết lập triều đại cần có những quy chế, luật định nhằm cũng cố, ổn định chính trị cũng như lễ nghi cho việc triều nghi Đồng thời mô tả, phân tích ý nghĩa của các đồ án hoa văn trang trí trên triều phục của hoàng gia và bá quan văn võ
Chương 3: Giá trị và ý nghĩa văn hóa - lịch sử khi nghiên cứu hoa văn trên
phẩm phục triều Nguyễn tại BTLSTPHCM
Ở chương này, chúng tôi tập trung tìm hiểu ý nghĩa giá trị của các đồ án hoa văn trang trí trên phẩm phục (giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật…), cũng như sự ảnh hưởng giao lưu tiếp biến văn hóa để hình thành đặc trưng văn hóa triều Nguyễn Từ những giá trị này chúng tôi kiến nghị một số giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong giai đoạn hội nhập
Trang 19
trang phục, phẩm phục, biểu tượng ; Cơ sở lý luận và thực tiễn hoa văn trên Phẩm
phục triều Nguyễn tại BTLSTPHCM; tổng quan về BTLSTPHCM
1.1.1 Văn hóa
Ngày nay, ở Việt Nam và trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu, cũng như các học giả đã nghiên cứu và đưa ra những khái niệm về văn hóa Có những khái niệm văn hóa đề cao tính cá thể như Tylor (1832-1917), khái niệm về văn hóa của ông: “văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học Nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên xã hội” [55, tr 14] Tylor cho rằng văn hóa “trước hết phải là một thành viên của xã hội”;
có khái niệm văn hóa như một cấu trúc theo UNESCO: “văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả những hệ thống giá trị”; có những khái niệm
nghiêng về miêu tả như khái niệm của Hồ Chí Minh: “trước tiên Người nghĩ ngay đến việc sinh tồn cũng như mục đích sống của nhân loại thì loài người mới cần thiết tạo ra những sản phẩm đó là văn hóa”… Nhưng theo chúng tôi thấy khái niệm về
văn hóa của Hồ Chí Minh là tương đối phù hợp với đề tài mà chúng tôi tiếp cận
nghiên cứu Khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày, về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó đều là văn hóa”[60, tr 23]
Trang 20Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, trang phục cũng là nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp xã hội, cho dù là thời đại nào hay hoàn cảnh nào thì việc mặc cũng luôn được quan tâm và luôn đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại Như lời nhận xét của GS Vũ Khiêu đã nhận xét trong lời giới thiệu của quyển sách Trang
phục Thăng Long Hà Nội của Đoàn Thị Tình: “Làm thế nào để phân biệt được tính sáng tạo của con người Việt Nam trong việc tạo ra các kiểu áo, quần sao cho giản
dị trong sinh hoạt gia đình, gọn gàng trong lao động, thoải mái trong lúc đi chơi và trang nghiêm trong các lễ hội” Mặt khác thông qua trang phục người ta có thể hình
dung đến đời sống vật chất và tinh thần qua từng thời kỳ, diện mạo thông qua trang phục, có thể hình dung từ cách sinh hoạt của người dân trong lễ hội, cũng như trong đời sống thường nhật Sự hưng vong của một triều đại, cũng có thể biết thêm bằng các chính sách cai trị của một vị vua thông qua các phẩm phục của vua quan [42, tr 6]
Còn rất nhiều khái niệm về văn hóa, nhưng chúng tôi chỉ xin trích vài khái
niệm về văn hóa vừa nêu trên, và văn hóa được hiểu là: Văn hóa là một phức thể bao hàm và chứa đựng những giá trị văn hóa mang tính vật chất và tinh thần, văn hóa vật chất giúp cho con người thỏa mãn về nhu cầu cũng như phương tiện sống như: nhà cửa, các vật dụng hàng ngày, các công cụ lao động…, văn hóa tinh thần thỏa mãn về nhu cầu giải trí như: lễ hội, hát xướng, tín ngưỡng, trang phục…Văn hóa luôn đi theo con người chúng ta từ buổi sơ khai đến thời đại văn minh của nhân loại, mọi lúc, mọi nơi văn hóa luôn tồn tại trong mỗi chúng ta, dù chúng ta là ai, dù chúng ta ở đâu, ngay cả những lúc cơ hàn hay những lúc giàu sang phú quý thì văn hóa là cái hiện hữu và tồn tại không bao giờ tách rời ngay cả khi chúng ta chìm vào giấc ngủ nghìn thu
Vì vậy, văn hóa là dòng chảy xuyên suốt từ thế hệ này sang đến thế hệ khác, cũng là sự vận động liên tục không ngừng nghỉ, luôn luôn giao thoa tiếp biến, cải tiến hòa nhập để phát triển cho cộng đồng, cho xã hội trên cơ sở xã hội chấp thuận những yếu tố mới phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại Ngày nay nhằm nâng cao giá trị di sản và tri thức của cộng đồng Đảng và Nhà nước ban hành một
Trang 21số Luật nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di sản Việt Nam cũng như di sản thế giới tại Việt Nam Năm 2001, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X thông qua Luật Di sản văn hóa, và đã quy định tại Điều 1, bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể Là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [22, tr 7-8]
- Di sản văn hóa vật phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, chữ viết được lưu truyền bằng trí nhớ, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức nghề y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [22, tr 8]
- Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích - lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [22, tr 9]
1.1.2 Trang phục
Theo Nguyễn Thị Đức khái niệm về trang phục: “Trang phục hay còn gọi là cái mặc là một nhu cầu vật chất quan trọng thứ hai sau cái ăn trong đời sống nhân loại Dưới tính chất thực dụng thì nó là một sản phẩm vật chất, dưới góc độ thẩm
mỹ thì nó là một tác phẩm nghệ thuật, dưới góc độ văn hóa thì trang phục là một sắc thái biểu hiện bản sắc” [14, tr 18] Bên cạnh các hình thái văn hóa trong đời
sống hàng ngày khác như: nhà cửa, đồ dùng… thì trang phục cung đình là một nhu cầu vật chất cần thiết và gắn bó với con người như “hình với bóng” Do vậy, ngoài chức năng bảo vệ cơ thể người, trang phục còn là sự phản ánh nếp sống văn hóa, xã hội Đặc biệt là giai cấp thống trị thời kỳ quân chủ có những quy định rõ ràng, chặt chẽ để thể hiện sự tôn tri, trật tự xã hội, thứ dân mặc khác với vua, quan, từng phẩm cấp, phẩm hàm, căn cứ trên độ dài, độ ngắn, màu sắc, họa tiết trang trí trên trang
Trang 22phục từng tầng lớp trong xã hội, trên vua, dưới quan từ lớn đến nhỏ, học trò, thứ dân đều có sự quy định về trang phục [14, tr 20 - 21)
trật trong bộ máy triều đình Năm 1806 vua Gia Long (嘉隆) ban chiếu quy định về
phẩm phục đại triều, thường triều cho các hàng văn giai, võ giai, trong đó có, mũ,
áo bào, mãng bào, mãng lan,đai, hia, tất, bổ tử…mỗi loại được chỉ định kiểu dáng, màu sắc tùy theo cấp bậc [42, tr.187]
Mãng bào
Mãng bào hay còn gọi là bào phục, sắc phục về áo bào đại triều theo Hội điển, quy chế năm 1806 quy định: Áo bào triều phục dành cho các quan trên nhất phẩm áo mãng bào màu tía, cổ tròn; từ tam phẩm đến nhất phẩm mãng bào cổ tròn các màu xanh, lục, lam, đen tùy nghi sử dụng Quy chế này được sửa đổi năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), lúc này các quan từ tam phẩm trở lên đều mặc mãng bào, trong đó quan trên nhất phẩm mặc màu tía, quan chánh nhất phẩm mặc màu cổ đồng, tòng nhất phẩm màu thiên thanh, chính nhị phẩm mặc màu cam bích, tòng nhị phẩm mặc
Trang 23màu quan lục, chính tam phẩm mặc màu bảo lam, tòng tam phẩm mặc màu ngọc lam, quan tứ phẩm mặc hoa bào [15, tr 314]
Mãng lan:
Là dạng áo tay hẹp, có lối dệt, thêu sức (hoa văn) như áo mãng bào, song
chiều dài vạt áo, ống tay áo ngắn hơn và nhỏ hơn mãng bào Theo Hội điển “Trước đây áo hẹp tay của quan viên thị vệ (dành cho võ quan) được gọi là áo Long chấn, như vậy không phù hợp, nay gọi áo hẹp tay là mãng lan mới phải, từ rày không được gọi theo cách gọi trước kia để làm rõ danh phận”[15, tr 326]
1.1.4 Hoa văn
Hoa văn: Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên: Hình vẽ hoặc được thể hiện trang trí trên các đồ vật, hoa văn trên trống đồng, quần áo dệt, thêu
hoa văn sặc sỡ [36 tr 468] (PL1.1)
1.1.5 Khái niệm về biểu tượng
Tự điển Larousse cho rằng : "Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một
sự vật hay một điều gì đó"; Theo Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131 - 1200) trong "Dịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết:
"Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia” [63, tr.5] (PL1.2)
Biểu tượng là ngôn ngữ không lời, từ xa xưa con người đã biết sử dụng biểu tượng truyền đạt những thông tin cho các thế hệ sau hay dùng biểu tượng trong giao tiếp giữa các bộ lạc và các quốc gia khác Trong cuộc sống hàng ngày, biểu tượng
nó có thể dẫn chúng ta đến nơi cần đến hay nó có thể cảnh báo cho chúng ta biết được nơi nguy hiểm để tránh xa Trong văn hóa biểu tượng hàm chứa những điều tốt đẹp, những lời chúc phúc, hay đại diện cho người đứng đầu của một quốc gia phong kiến (rồng 5 móng biểu tượng của vua)…
1.2 Tổng quan BTLSTPHCM
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 02 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, khuôn viên và diện tích sử dụng khoảng 6.873m2 Trong đó diện tích trưng bày khoảng 2000m2,
Trang 24có tất cả 18 phòng trưng bày phục vụ khách tham quan Chia thành hai phần: Phần thứ nhất trưng bày lịch sử văn hóa Việt Nam từ thời Nguyên thủy đến năm 1945, phần thứ hai có các phòng chuyên đề trưng bày các nền văn hóa như Chăm Pa và
Óc Eo, phòng tượng Phật Việt Nam và các nước Châu Á và phòng các dân tộc phía Nam Việt Nam và các bộ sưu tập được hiến tặng
BTLSTPHCM hiện nay, tiền thân là Bảo tàng Blanchard de la Brosse Ngày
24 tháng 11 năm 1927, thừa lệnh Toàn quyền Đông Dương, ông Blanchard de la Brosse đã ký quyết định cho phép xây dựng ở Sài Gòn một Bảo tàng lấy tên là “Bảo tàng Nam Kỳ” (Musee de la Cochinchine) Theo quyết định của Toàn quyền Đông Dương “Bảo tàng Nam Kỳ” có tính chất như một Viện Bảo tàng Mỹ thuật, Lịch sử, Khảo cổ và Dân tộc học, đặt dưới quyền kiểm soát của Thống đốc Nam kỳ; về mặt khoa học do trường Viễn Đông bác cổ quản lý Sau hai năm xây dựng đến ngày 01 tháng 01 năm 1929 Bảo tàng Nam Kỳ được khánh thành Để nghi nhận công của người khai sáng ra nó ông Blanchard de la Brosse – người ta đổi tên Bảo tàng Nam
Kỳ thành “Musee Blanchard de la Brosse” [28, tr 20]
Năm 1946, do điều kiện lịch sử thay đổi, ngày 08.04.1946, Nguyễn Văn Thinh thay mặt chính phủ Lâm thời Việt Nam Cộng hòa, ký với Cedile, ủy viên chính phủ Pháp một hiệp ước do đó Chính phủ Pháp giao tất cả quyền hành về Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa Nhưng trong
08 năm đầu từ năm 1946 đến 1954, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy khuyết nhân viên chuyên môn, nên giữ lại ba nhân viên Pháp kế tiếp nhau giữ chức Giám thủ viện, giai đoạn này Bảo tàng Blanchard de la Brosse đổi tên thành Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn [28, tr 22]
Đến năm 1975, lịch sử đã sang trang Sài Gòn được giải phóng thống nhất đất nước, ngày 23.08.1979 UBND Thành phố Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh tới ngày nay
Từ khi BTLSTPHCM được thành lập đến nay đã gần 40 năm, với sự nổ lực của các cấp quản lý và nhân viên qua các thời kỳ đã không ngừng sưu tầm bổ sung nguồn cổ vật với số lượng tăng đáng kể so với các bảo tàng cũ trước đây, góp phần
Trang 25bảo tồn và phá huy các giá trị Di sản văn hóa Hiện nay, BTLSTPHCM đã sở hữu hơn 30 bộ sưu tập lớn nhỏ với các chất liệu khác nhau có giá trị lịch sử, khoa học,
kỹ thuật và mỹ thuật đã được các nhà chuyên môn trong nước và quốc tế đánh giá cao [qua các đợt trưng bày ở nước ngoài: năm (2003-2004) tại Bảo tàng Nghệ thuật
và Lịch sử Hoàng gia Bruxellex – Bỉ; (2005-2006) Bảo tàng quốc gia Nghệ thuật Châu Á Guimet – Pháp; (2007) Bảo tàng quốc gia Đài Loan; (2008) Bảo tàng Văn minh Châu Á – Singapore; (2009-2010) Bảo tàng Nghệ thuật Houston, Texas – Hoa Kỳ; (2010) Bảo tàng Busan - Hàn Quốc; (2014) Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York; (2015) Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc [16, tr.186] Một trong số 30 bộ sưu tập hiện lưu giữ trong BTLSTPHCM, là bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn mà chúng tôi chọn làm đề tài nghiên cứu về những nét văn hóa tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử phong kiến Việt Nam.Tuy nhiên bộ sưu tập phẩm phục tại BTLSTPHCM chưa đầy đủ về loại hình nhưng cũng đã khái quát được tính đặc trưng văn hóa cung đình triều Nguyễn đã để lại đến ngày nay
1.3 Sự hình thành và phát triển bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 23 tháng 8 năm 1979, BTLSTPHCM chính thức được thành lập, sau khi tiếp quản bàn giao từ Bảo tàng cũ với số lượng hiện vật không nhiều chỉ độ khoảng vài ngàn hiện vật gồm các chất liệu khác nhau, trong đó có 08 hiện vật thuộc bộ sưu tập phẩm phục triều Nguyễn gồm: 03 chiếc mão quan triều Nguyễn,
nhưng chỉ có 01 chiếc (BTLS.419) (PL.1.3) còn tương đối nguyên vẹn; và 02 hiện vật (BTLS.1574, BTLS.1575) (PL.1.4 và 1.5) không còn nguyên vẹn (đã bảo quản phục dựng năm 2014, do Vũ Kim Lộc thực hiện) và 05 áo gồm 03 áo vua (PL.1.6; 1.7;1.8) và 02 áo hoàng thái tử: (PL.1.9; 1.10), nhưng cũng đã và đang trong tình
trạng xuống cấp, hư hại do thời gian
Đến năm 1997 cơ quan An ninh điều tra của Thành phố bàn giao cho BTLSTPHCM một chiếc áo quan theo Quyết định số 02/QĐ-CATP, ngày 11 tháng
01 năm 1997, Biên bản bàn giao số 150; trình trạng của chiếc áo này bị bạc màu và
rách, đứt chỉ nhiều nơi, với số đăng ký BTLS.13312 (PL1.11)
Trang 26Năm 2012, BTLSTPHCM sưu tầm thêm 48 hiện vật phẩm phục triều Nguyễn do nhà sưu tập Nguyễn Hữu Hoàng, xã Phú Mỹ, Huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế chuyển nhượng, nâng tổng số bộ sưu tập phẩm phục lên 57 hiện vật, trong đó bao gồm những hiện vật của bảo tàng cũ để lại vừa nêu trên Tuy nhiên trong số 48 hiện vật của sưu tập Nguyễn Hữu Hoàng có một số chỉ là áo thường của các phi hay mệnh phụ và vài trang phục hát tuồng vì vậy chúng tôi không đưa vào trong danh sách phẩm phục này Tổng số phẩm phục gồm mũ, áo là 38 hiện vật
* Danh mục phẩm phục tại BTLSTPHCM gồm có như sau:
Mão quan: Số đăng ký BTLS.1575 (PL 1.5)
- Kích thước: Cao - 22cm; Rộng - 55cm
- Chất liệu: vàng, đá quý, lông đuôi ngựa
Theo tài liệu đăng ký của BTLS, và sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL), Tập 4, tr 134-135 thì mão này của thống chế nhất phẩm Lê Văn Phong, hàm chánh nhất phẩm võ ban
Theo chỉ dụ của Vua Thiệu Trị năm thứ 5 (1845)
Phía trên mão có phiến vàng gọi là kim bác sơn (金博山), hai bên có hai
phiến khác gọi là kim khóa nhãn; trước mão có hai bông hoa và hai con rồng bằng vàng (kim hoa 金花 và kim giao 金蛟), sau có hai hoa bằng vàng Hai cánh chuồn
có viền vàng và hai con rồng bằng vàng, hai giá đỡ cánh chuồn gọi là như ý (如意) Hai dây tua bằng vàng gọi là kim nhiễu tiễn (金繞踐) bao quanh mão
Mão quan: Số đăng ký BTLS.1574 (PL 1 4)
- Kích thước: cao: C- 21cm; R - 55cm
- Chất liệu: vàng, đá quý, lông đuôi ngựa
Theo tài liệu đăng ký của BTLS và (KĐĐNHĐSL) Tập 4, tr 134-134 thì đây chính là mũ của “Thiên vương Thống chế” Biên Hoà – Đồng Nai, hàm tòng nhất phẩm Võ ban
Theo chỉ dụ của vua Thiệu Trị năm thứ 5 quy định về mũ áo các quan thì mũ của quan chánh nhất phẩm và Chánh tam phẩm không khác nhau bao nhiêu
Trang 27Phía trên mão có phiến bằng vàng gọi là kim bác sơn, từ phải qua trái có hai phiến bằng vàng gọi là kim khóa nhãn, trước và sau có thêu hai hoa vàng gọi là kim hoa bằng vàng gọi là Hai cánh chuồn có nạm vàng, hai giá đỡ cánh chuồn gọi là như ý (如意) bằng vàng và hai sợi chỉ vàng (kim nhiễu tiễn) chạy vòng quanh mão
Mão quan, số đăng ký: BTLS.419 (PL 1.3)
- Kích thước: cao - 21cm; rộng - 50cm
- Chất liệu: vàng, đá, lông đuôi ngựa
Theo tài liệu đăng ký của BTLS và (KĐĐNHĐSL) Tập 4,tr 134- 135 thì mũ này của quan chánh tam phẩm văn ban
Đúng như chỉ dụ của vua Thiệu Trị năm thứ 5
Phía trên mão có phiến bằng vàng gọi là kim bác sơn, từ phải qua trái có hai phiến bằng vàng gọi là kim khóa nhãn, trước và sau có thêu hai hoa vàng gọi là kim hoa và hai con rồng bằng vàng gọi là kim giao Hai cánh chuồn có nạm vàng, hai giá đỡ cánh chuồn gọi là như ý (如意) bằng vàng và hai sợi chỉ vàng (kim nhiễu tiễn) chạy vòng quanh mão
Long bào, số đăng ký, BTLS 4381(PL 1.6)
- Kích thước: dài áo - 122cm, dài tay - 254cm, cổ tay - 46cm, ngang ngực - 60cm, ngang vạt - 92cm
- Áo may bằng đoạn vàng chính sắc, gia kim
Đây là chiếc áo hoàng bào của vua với cách thể hiện hoa văn và bố cục trên
áo cũng như theo ghi chép của (KĐĐNHĐSL) thì đây chính là long bào vua mặt lúc thiết triều
Áo long bào năm thân (trước 3 và sau 2) được may bằng sa đoạn sắc vàng chính, ngực và sau lưng đính cườm hai chữ Hán “vạn thọ” (萬夀), loại cườm 15 nhỏ li ti bằng cỡ loại cườm 8,9 ở Việt Nam, loại cườm này có xuất xứ từ ở phía Bắc Bombay Ấn Độ, thời gian chờ đợi và mua được 1,5kg phải mất 18 tháng) [24, tr 70], thêu 9 rồng 5 móng (vạt trước 3 rồng, mỗi tay 1 rồng, mặt sau 3 rồng và 1 hình rồng vạt trước bên trong), mặt trước một rồng lớn chầu nhật, dạng rồng đứng, mắt nhìn thẳng, bờm nhiều, sừng chữ V, vảy cá, đuôi xoắn (đây là điểm đặc trưng của
Trang 28rồng thời Nguyễn) Từ nửa thân dưới thêu 2 rồng nhỏ “dạng long chầu nhật” (rồng chầu mặt trời) đối xứng nhau Vạt áo thêu văn sóng nước, rau tảo, vân sơn và san
hô Tay áo mỗi tay một hình rồng đầu hướng ra cổ tay, dơi và sóng thủy ba Toàn thân áo thêu mây màu xanh có các hình dạng dải lụa, hình khánh và hình ngọc như
ý
Dựa theo các nguồn sử liệu triều Nguyễn và trên thực tế từ chất liệu, màu sắc
và hoa văn trên áo thì áo này vua mặc trong các ngày lễ đại triều như mùng 1 và 15
Âm lịch hàng tháng
Hoàng bào, số đăng ký: BTLS.4384 (PL 1.7)
- Kích thước: dài áo - 116cm; dài tay - 254cm; cổ tay - 36cm; ngang ngực - 68cm, vạt áo - 103
- Áo may bằng sa đoạn vàng chính sắc, thêu rồng 5 móng hàm thọ, mặt trước thêu 3 rồng , một rồng lớn chính giữa dạng đứng, mắt nhìn thẳng, bờm ít, sừng hình
chữ V, miệng hàm chữ thọ (夀), vải cá chép, đuôi xoắn, thân uống khúc tư thế mạnh
mẽ Trong vạt áo trước có vẽ 4 chữ Hán “Đồng Khánh Ngự Lãm 同慶御覧”, qua 4 chữ Hán này cho chúng ta biết chiếc Hoàng bào này là của vua Đồng Khánh.Từ giữa thân dưới thêu 2 rồng nhỏ với dạng đứng và đối xứng nhau, cũng mô tiếp
“long hàm thọ 龍頜夀” (rồng chầu chữ thọ), vạt áo văn sóng thủy ba, vân sơn, san
hô Hai tay áo mỗi tay thêu một hình rồng đầu quay ra cổ tay, nút thắt vô tận, và dơi
Toàn thân áo thêu: mặt trước ngoài 3 hình rồng chính diện và 2 rồng cánh tay còn kết hợp các hoa văn khác làm sinh động hơn cho hoàng bào là 12 chữ thọ, 14 hình con dơi, 8 nút thắt dây vô tận, mây ngũ sắc hình khánh và dải lụa Mặt sau: 3 hình rồng, 9 dơi, 12 chữ thọ, 8 nút thắt dây vô tận, mây ngũ sắc
Đối chiếu so sánh và dựa trên màu sắc hoa văn thêu trên hoàng bào thì áo này vua mặc các ngày lễ đại triều, mùng 1 và 15 Âm lịch hàng tháng
Hoàng bào, Số đăng ký 4385 (PL1.8)
- Kích thước: dài áo - 118cm; ngang tay - 160cm; cổ tay -12cm; ngang ngực - 58cm; ngang vạt - 98cm
Trang 29- Áo may bằng sa đoạn vàng chính sắc, thêu kim tuyến, cổ tròn tay hẹp
Hoa văn: Cổ và viền cổ màu đen, thêu rồng chầu nhật, dơi, mây, mặt trước thêu 3 rồng 5 móng chi tiết trên đầu và sóng lưng, chân đính bằng cườm, rồng lớn
và 2 rồng nhỏ, rồng lớn dạng đứng, uống khúc, mắt nhìn thẳng, râu dài, bờm nhiều, sừng lớn dài, vải cá chép, đuôi xoắn Từ giữa thân dưới thêu 2 rồng nhỏ chầu nhật đối xứng nhau và hướng lên rồng lớn, vạt thêu văn sóng nước, tam sơn, nhật, nguyệt, san hô đính bằng cườm Hai tay mỗi tay thêu rồng đầu quay vào, toàn áo điểm xuyết mây ngũ sắc tạo nên sự hoài hòa đồ án hoa văn rồng mây
So sánh thực tế và những quy định trong (KĐĐNHĐSL) thì áo này là Hoàng bào của vua mặc thường triều vào các ngày mùng 5, 10, 20 Âm lịch, hoặc lễ duyệt binh
Hoàng bào , số đăng ký: BTLS.34526 (PL1 12)
- Kích thước: dài áo - 107cm; dài tay -147cm; cổ tay -10cm, ngang ngực - 54cm; vạt áo - 86cm
Hoàng bào may bằng sa kép, vàng chính sắc, cổ tròn, tay hẹp, thêu viên long
“圓龍” ( rồng cuộn) và các hoa văn tứ hữu , thực vật, và cổ đồ
Hoa văn thêu khắp mặt trước và mặt sau và hai tay áo tất cả 20 viên long năm móng và mây ngũ sắc hình khánh cùng với nhiều đồ án trang trí như:
Mặt trước: 6 viên long , 6 chữ thọ (夀), và hoa văn thực vật như: phật thủ, hoa
cúc, hoa sen, hoa mẫu đơn, trúc, đào, quả lựu, nho; cùng với hoa văn động vật là long, lân, dơi, bướm và các hoa văn khác: ống sáo (tiêu), đồng tiền, khánh vân Vạt
áo hoa văn sóng nước thủy ba, hoa cúc, hoa mẫu đơn, hoa sen, và vân sơn, lân ngậm đồng tiền
Hai tay áo thêu 8 viên long, bướm, dơi, chữ thọ, hoa sen, hoa mẫu đơn, quả đào, quả lựu
Mặt sau: hoa văn mặt sau thêu viên long, dơi, bướm, chữ thọ, hoa cúc, quả đào, trúc, phật thủ, vạt áo với hoa văn lân, dơi, đồng tiền, song thủy ba, hoa cúc và vân sơn
Trang 30- Với hoàng bào này của vua mặt các ngày lễ thường triều mùng 5, 10, 20 hàng tháng và lễ tịch điền
Áo Hoàng thái tử, số đăng ký: BTLS.4382(PL1.13)
- Kích thước: dài áo - 132cm; dài tay - 256cm;
- Cổ tay - 49cm; ngang ngực - 70cm; vạt - 101cm
Hoa văn: Áo cổ tròn, tay thụng, may vải sa đỏ thẫm, thêu hình con mãng (9 rồng 4 móng), vạt trước và sau mỗi bên 3 hình rồng, hai tay 2 rồng và vạt trước bên trong 1 hình rồng Chính giữa trước ngực rồng đứng, tư thế uốn khúc, mặt nhìn thẳng hướng nhật, sừng nhỏ và bờm thưa hơn so với rồng trên áo vua, vải cá chép, đuôi xoắn Giữa thân dưới 2 hình rồng nhỏ đối xứng chầu nhật và hướng lên rồng lớn, vạt áo sóng thủy ba, tam sơn, rau tảo và san hô Hai cánh tay mỗi cánh một hình rồng đầu hướng ra cổ tay chầu nhật giống như áo của vua, cổ tay sóng thủy ba
và dơi Toàn áo điểm xuyết mây ngũ sắc
Đối chiếu so sánh sử liệu cũng như dựa trên hoa văn thì áo này là mãng bào của Hoàng thái tử mặc lúc thiết triều
Áo Thái tử, số đăng ký: BTLS 4383 (PL1.14)
- Kích thước: dài áo - 110cm; dài tay - 156cm; cổ tay - 13cm; ngang ngực - 58cm; ngang vạt - 88cm
- Áo cổ tròn, tay hẹp, may bằng sa đoạn, màu đỏ thẵm,
Hoa văn mặt trước và sau mỗi bên 3 hình rồng 4 móng, rồng trước ngực dạng đứng uống khúc, mắt nhìn thẳng, râu dài,sừng ngắn hơn sừng rồng trên áo vua, bờm ít, vải cá chép, đuôi xoắn Giữa thân dưới 2 hình rồng nhỏ chầu nhật đối xứng nhau và hướng lên rồng lớn Vạt sóng thủ ba, rau tảo và tam sơn Hai tay mỗi tay một hình rồng đầu hướng vào, cổ tay mỗi bên một hình rồng và sóng thủy ba, cổ áo văn rồng chầu nhật, toàn áo điểm xuyết mây ngũ sắc
Qua thực tế và đối chiếu so sánh với tư liệu thì chiếc áo này của Thái tử mặc lúc thường triều
Áo phụng bào (PL 1.15 )
- Áo màu vàng chính sắc, gia kim
Trang 31Hoa văn thêu: viên phụng, hai chữ vạn thọ và nhiều đồ án khác như: dơi, bướm, tứ thời mai, sen/lan, cúc, trúc.Vạt áo thêu văn sóng nước, thủy ba Cổ áo thêu
3 dãy mỗi bên đối xứng nhau, dãy trong cùng là hoa văn phụng hoa cúc, dãy giữa thêu văn chữ công, dãy ngoài cùng cúc dây và văn hình học, đều bằng kim tuyến bóng
Dựa theo tài liệu lịch sử, cũng như những chất liệu và họa tiết trang trí trên
áo thì chiếc áo này là trang phục nữ quý tộc cung đình như là Hoàng thái hậu Theo báo tuổi trẻ ngày 13/01/2018 trích dẫn lời của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn tác giả quyển sách “Đại lễ phục triều Nguyễn” nhận định: “chiếc áo này là hiện vật thuộc hàng quý hiếm, có giá trị nhất định đối với văn hóa lịch sử Việt Nam, chiếc áo màu vàng sắc chính chỉ dành cho vua và Hoàng thái hậu hay (Thái hoàng Thái hậu)”
Áo nữ cung đình, số đăng ký BTLS.34527 (PL1.16 )
- Kích thước: Dài áo - 107cm; dài tay – 157cm; cổ tay – 10cm; ngang ngực – 53cm; ngang vạt – 84cm
Hoa văn trang trí viên phụng, thực vật và bát bảo
Mặt trước: 3 viên phụng, từ cổ áo xuống hoa mai, bướm, bộ gõ, hoa mẫu đơn, quạt vã, văn sóng nước, tam sơn, mây ngũ sắc
Hai tay áo: dơi, bướm, hoa sen, hoa cúc, viên phụng, lựu, đồng tiền
So sánh với các tài liệu với trên thực tế, chúng tôi nhận định hiện vật này là
áo của mệnh phụ vợ của quan nhất phẩm, mặc thường triều
Áo nữ cung đình (PL1.17)
- Kích thước: Dài áo - 105cm, ngang tay -160cm, cổ tay -10cm, ngang ngực - 57cm, ngang vạt - 82cm
- Áo màu xanh lam, lót vải trắng
Hoa văn dệt: mặt trước hai chim phụng, mặt sau hai chim phụng, dơi, mây ngũ sắc, hoa mẫu đơn, sóng thủy ba ngắn tay áo hoa văn dơi, hoa mẫu đơn, mây ngũ sắc
Trang 32Với các đồ án hoa văn và màu sắc thì chiếc áo này là của trang phục nữ cung đình,
có thể là mệnh phụ của các quan chứ không phải là nữ quý tộc
Theo Bảo tàng Phụ Nữ Nam Bộ (BTPNNB), thì đây là áo của bà Từ Cung Thái hậu Nhưng qua tra cứu tài liệu và so sánh với thực tế thì chúng tôi thấy không hợp lý vì nếu như áo của Hoàng hậu thì phải may gấm đoạn vàng chính sắc và thêu viên phụng, còn hiện vật này may bằng sa đoạn màu lam cùng với hoa văn dệt không phải là hoa văn thêu như sử liệu triều Nguyễn đã ghi Vì vậy áo này có thể là
áo của mệnh phụ, vợ của các quan trong triều
Áo phụng bào (PL1.18 )
- Kích thước: Dài áo – 110cm; ngang tay – 160cm; cổ tay – 10cm; ngang ngực – 58cm; ngang vạt – 82cm
- Áo màu vàng, vải lót trừu vàng
Hoa văn thêu viên phụng và các đồ án như: viên thọ, hoa văn thực vật: mai, lan, cúc, mẫu đơn; văn động vật: rùa, hạc; văn sóng thủy ba, tam sơn
Áo này hiện đang được trưng bày tại phòng thời Nguyễn của BTLSTPHCM
Tuy áo này là hiện vật phục chế, nhưng Trịnh Bách dựa theo kiểu mẫu áo của Hoàng hậu tại Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế1
Áo Thái tử thường triều (PL1.19 )
- Kích thước: Dài áo - 115cm; ngang tay – 166cm; cổ tay 12cm; ngang ngực – 58cm; ngang vạt – 84cm
- Áo màu đỏ, lót tơ tằm màu vàng
Hoa văn thêu rồng 4 móng, mặt trước 3 hình rồng, mặt sau 3 hình rồng, mỗi tay một hình rồng đầu quay vào , cổ tay áo và vạt áo văn sóng nước, tam sơn và san
hô, toàn áo điểm xuyến mây ngũ sắc và kim sa
Đây là áo thái tử thường triều, hiện vật phục chế bởi nghệ nhân Trịnh Bách
Áo Hoàng thái tử thường triều, (PL1.20 )
Hiện vật phục chế bởi nghệ nhân Trịnh Bách
phục chế này, qua đó thấy được công tác bảo tồn của BTLS đáp ứng công tác trung bày – giáo dục thiết thực
Trang 33- Kích thước: Dài áo - 112cm; ngang tay – 164cm; cổ tay – 12cm; ngang ngực – 60cm; ngang vạt 70cm
- Áo màu vàng, lót tơ tằm màu trắng
Hoa văn thêu viên long cùng với mây ngũ sắc, vạt áo văn sóng nước, tam sơn, toàn áo đính nhiều kim sa
Đây là áo thái tử thường triều
Áo này hiện đang được trưng bày tại Phòng thời Nguyễn BTLSTPCHM
Áo mãng bào đại triều võ ban, số đăng ký BTLS 34530 (PL1.21 )
- Kích thước: dài áo - 101cm; dài tay - 230cm; cổ tay - 33cm; ngang ngực - 63cm; vạt - 83cm
Hoa văn dệt: Áo cổ tròn, tay thụng, màu xanh lục
Toàn thân trước sau 12 viên long (圜龍), vạt trước thêu 3 viên long, 2 chữ
thọ (夀), dơi, bướm, hoa cúc, hoa mai, hoa mẫu đơn, hoa lan, hoa sen, quả phật thủ, dưa hấu, quả lựu, sừng tê, quạt vả Vạt áo văn sóng nước, hoa mẫu đơn, tam sơn, pho sách và thanh gươm Hoa văn mặt sau giống như mặt trước có thêm hoa văn hình trúc
So với thực tế và với tư liệu (KĐĐNHĐSL, Tập 4, tr 134-135; Đại Nam Thực lục (ĐNTL), Tập 3, tr 274…) thì áo này của quan chánh nhị phẩm võ ban, mặc lễ đại triều
Áo mãng bào đại triều võ ban, số đăng ký BTLS.34536 (PL1.22 )
- Kích thước: Dài áo - 116cm; dài tay - 208cm; cổ tay - 37cm; ngang ngực – 62,5cm; ngang vạt - 84cm
- Áo cổ tròn, màu xanh lục (do bị lem màu)
Hoa văn: 10 viên long (4 móng) mặt trước và sau; xen kẽ các viên long là hoa văn dơi, bướm, sừng tê, pho sách, kiếm, hoa mai, hoa mẫu đơn, hoa cúc, hoa sen, quả lựu, quả phật thủ, mây ngũ sắc, giữa ngực chữ thọ; cánh tay có thêm hồ lô,
và dưa hấu
Vạt áo: hoa văn sóng nước, vân sơn, hồ lô, đồng tiền, sừng tê và hoa cúc
Hoa văn mặt sau giống mặt trước
Trang 34So với thực tế và với tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTL, Tập 3,
tr 274…) thì áo này của quan chánh nhị phẩm võ ban, mặc lễ đại triều
Áo mãng bào đại triều võ ban, số đăng ký BTLS.34529 (PL1.23)
- Kích thước: dài áo -112cm; dài tay - 220cm; cổ tay - 33cm; ngang ngực: - 69cm; vạt - 95cm
Hoa văn: tứ linh (long lân, quy, phụng)
Mặt trước: giữa ngực đầu rồng, thân rồng và đuôi rồng uống khúc và quàng qua vai trái sau Mặt rồng nhìn thẳng, miệng hé, bừơm thưa, sừng ngắn và thấp, hai chân trước chân phải nắm mặt trời và chân trái nắm mặt trăng Giữa thân hai long
mã cõng hà đồ chầu mặt trời đối xứng nhau,
Vạt áo văn sóng nước, tam sơn, rùa hàm pho sách và thanh kiếm (đây là đồ
án tượng trưng cho văn võ song toàn), rau tảo, sừng tê, đồng tiền, bình hồ lô
Hai tay áo: văn phụng hàm thư đầu quay ra, cùng với các hoa văn sóng nước, hoa mẫu đơn, ngọc như ý, ống sáo, dơi, nút thắt vô tận khắp trên áo điểm xuyết mây ngũ sắc hình khánh và hình ngọc như ý
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTT, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này cấp hàm của quan chánh tam phẩm võ ban, mặc trong các
lễ đại triều
Áo mãng bào đại triều võ ban, số đăng ký BTLS 34541 (PL1.24 )
- Kích thước: Dài áo – 112cm; dài tay – 226cm; cổ tay – 34cm; ngang ngực – 63cm; vạt – 95cm
Hoa văn dệt: Áo may sa bóng, màu xanh lam, cổ tròn, tay rộng
Hoa văn tứ linh (long, lân, quy, phụng) trước ngực thêu rồng 4 móng (mãng), đuôi quàng qua vai sau, chân trái quặp hình mặt trăng, chân phải quặp mặt trời, mặt nhìn thẳng, miệng hơi hé, không há rộng như miệng rồng trên áo vua, bườm, sừng đều nhỏ và ít hơn Từ giữa thân xuống vạt thêu dơi, 2 long mã cõng hà
đồ chầu nhật đối xứng nhau Vạt thêu văn sóng nước, rùa hàm pho sách và gươm (đây là biểu tượng của văn võ song toàn), hồ lô, đồng tiền và tam sơn Hai tay mỗi
Trang 35tay thêu chim phụng hàm sách đầu quay ra, dơi, ngọc như ý, sáo, hoa mẫu đơn Toàn áo điểm xuyến mây ngũ sắc
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL), Tập 4, tr 134-135; ĐNTL, tập
3, tr 274…) thì hiện vật này cấp hàm của quan chánh tam phẩm võ ban, mặc trong các lễ đại triều
Áo mãng bào đại triều võ ban, (PL1 25)
- Kích thước: Dài áo - 110cm; dài tay - 224cm; cổ tay – 36cm; ngang ngực - 95cm
Hoa văn dệt các đồ án tứ linh (long, lân, quy, phụng) Trước ngực thêu rồng
4 móng (mãng) thân và đuôi uốn khúc và vắt từ trước ra sau qua vai phải, chân trái quặp hình mặt trăng, chân phải quặp mặt trời, mặt nhìn thẳng, miệng hơi hé, không
há rộng như miệng rồng trên áo vua, bườm, sừng đều nhỏ và ít hơn Từ giữa thân xuống vạt thêu dơi, 2 lân cõng hà đồ chầu nhật đối xứng nhau Vạt thêu văn sóng nước, quy hàm pho sách và gươm (đây là biểu tượng của văn võ song toàn), hồ lô, đồng tiền và tam sơn Hai tay mỗi tay thêu chim phụng hàm sách đầu quay ra, dơi, ngọc như ý, sáo, hoa mẫu đơn Toàn áo điểm xuyến mây ngũ sắc
Theo nguồn sử liệu và tài liệu của BTPNNB, thì hiện vật này là của Tôn Thất Thiết cấp hàm tòng nhị phẩm võ ban
Áo mãng bào đại triều văn ban, Số đăng ký: BTLS 34533 (PL1.26 )
- Kích thước: Dài áo – 102cm; dài tay – 170cm; cổ tay – 27cm; ngang ngực – 62cm; vạt – 97cm
Hoa văn dệt mãng hoa (viên hoa)
Mặt trước: Ba hình viên hoa và các hoa văn đơn lẽ từ cổ áo xuống: Trước ngực: một viên hoa trong viên hoa có hoa mai, lan, hoa cúc, hoa mẫu đơn, dưa, phật thủ, bướm Xung quanh gồm có các đồ án hoa văn dơi, phật thủ, hoa mai, lan, cúc, trúc, sừng tê
Giữa thân: gồm các hoa văn: hai viên hoa đối xứng nhau, cùng với các hoa văn: hoa mai, lan cúc trúc, bướm và quả lựu
Trang 36Phần vạt áo gồm các hoa văn: pho sách thanh gươm (nếu quan văn thì chỉ có hoa văn pho sách nhưng kèm theo thanh gươm là tượng trưng cho văn võ tài toàn), hoa mẫu đơn, sóng nước, tam sơn, sừng tê, bình hồ lô, đồng tiền, rau tảo và mây ngũ sắc
Hai tay áo: gồm hai viên hoa trong viên hoa giống như viên hoa ở thân áo, cùng với các hoa văn lẽ hoa mai, lan, sen, cúc, trúc, phật thủ, lựu, bướm, dơi đối xứng nhau
Thân sau giống như thân trước
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, Tập 4, tr 134-135; ĐNTL, tập
3, tr 274…) thì hiện vật này cấp hàm của quan chánh tứ phẩm văn ban, mặc trong các lễ đại triều
Áo mãng lan thường triều, số đăng ký BTLS 13312 (PL1.27 )
- Kích thước: Dài áo - 115cm; Dài tay - 165cm; Cổ tay - 13cm; ngang ngực - 62cm; Vạt - 93cm
Áo màu cổ đồng, lót trừu đỏ
Hoa văn dệt rồng 4 móng, mặt trước 3 hình rồng, rồng lớn giữa ngực chầu chữ thọ, thân uốn lượn, đuôi quàng qua vai trái sau, chân phải trước nắm lấy mặt trăng, chân trái sau nắm lấy mặt trời Cùng với các đồ án biểu tượng tôn giáo dơi, quạt, hòm sách thanh gươm, hình tròn cây xuyên tâm, vạt áo văn sóng nước, cá hóa long, hoa mẫu đơn, tam sơn rất cao lên đến giữa áo
So sánh, tra cứu tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4,tr 134-135 và ĐNTL, Tập 3, tr
274, Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức, tr.326), thì chúng tôi nhận định hiện vật này là áo mãng lan của hàng quan Nhất phẩm võ ban, mặc trong lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban, số đăng ký BTLS.34547 (PL1.28 )
- Kích thước: Dài áo - 104cm; dài tay - 160cm; cổ tay - 10cm; ngang ngực - 56cm; ngang vạt - 84cm
Hoa văn dệt: Mặt trước 3 viên phụng; mặt sau 3 viên phụng; mỗi tay 1 viên phụng, trong mỗi viên phụng tích hợp với dơi hàm khánh, quả lựu và hoa lan
Trang 37Hoa văn trên thân trước và sau xen kẽ dơi, bướm, hoa mai, lan, sen, cúc và trúc; cùng với các loại quả lựu, phật thủ và bí
Vạt áo: pho sách, kiếm và tam sơn
So sánh, tra cứu tư liệu (KĐĐNHĐSL,tập 4,tr 134-135 và ĐNTL, tập 3, tr
274, và Ngàn năm áo mão của Trần Quang Đức, tr 326) thì chúng tôi nhận định hiện vật này là áo mãng lan của hàng quan Tam phẩm võ ban, mặc thường triều So sánh với tư liệu và trên thực tế thì hiện vật này phù hợp với áo võ quan,vì gấu áo có trang trí đồ án thanh gươm, hòm sách và tam sơn.Còn đối với trang phục nữ thì
không có đồ án này
Áo mãng lan võ ban, số đăng ký BTLS.34543 (PL1.29)
- Kích thước: Dài áo - 115cm; dài tay - 159cm; cổ tay - 11cm; ngang ngực - 57cm; ngang vạt - 85cm
Áo màu xanh lam, lót trừu đỏ
Hoa văn dệt: Trước ngực đồ án rồng uốn lượn, đuôi quàng qua vai trái sau, mặt nhìn thẳng, miệng hơi hé, chân phải nắm lấy mặt trời, chân trái nắm lấy mặt trăng Dưới ngực đồ án long mã cõng hà đồ chầu nhật đối xứng, vạt áo văn sóng nước, tam sơn, san hô, tiền, rùa hàm sách, kiếm, xen kẽ giữa các đồ án này là sự tích hợp với dơi, mây ngũ sắc
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTL, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan tam phẩm võ ban, mặc trong các ngày lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban Số đăng ký: BTLS 34542 (PL1.30)
- Kích thước: Dài áo – 114cm; dài tay – 156cm; cổ tay – 14cm; ngang ngực – 64cm; ngang vạt – 97cm
Hoa văn dệt viên long, thỏa quả, bát bửu, cổ đồ
Về màu sắc giống như áo đại triều (PL.1.21), và hoa văn viên long nhưng ít
hơn viên long của áo đại triều 2 viên long Hoa văn cổ ngực áo thêu dơi, hoa mẫu đơn, đồng tiền, dưa hấu, viên long, lọng báu, lựu Từ giữa thân trở xuống vạt hoa văn đồng tiền, kinh phật có hình chữ vạn, cổ ngư (vật cầm tay của Trương Quả Lão
Trang 38một trong bát tiên), bướm, và hoa mẫu đơn, pho sách và gươm Vạt áo thêu văn mẫu đơn, sóng nước, tam sơn Hai tay thêu văn viên long, dơi, phật thủ, quạt, hoa sen, mẫu đơn Toàn áo hoa văn mây ngũ sắc lưa thưa, các hoa văn cổ đồ, bát bửu đều có thắt dây
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTT, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này cấp hàm của quan tòng nhị phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban Số đăng ký, BTLS.34528 (PL 1.31 )
- Kích thước: Dài áo – 110cm; dài tay – 160cm; cổ tay – 12cm; ngang ngực – 60cm; ngang vạt - 92cm
Hoa văn dệt: mặt trước 3 rồng 4 móng; mặt sau 3 rồng, mỗi tay 1 rồng đầu hướng vào
Trên thân trước và sau xen kẽ các đồ án dơi, khánh, sừng tê, quạt, đồng tiền, mây ngũ sắc
Vạt áo: hoa văn sóng nước, tam sơn, cá hóa long, lân hàm tài, hoa mẫu đơn
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTT, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan Nhị phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban Số đăng ký, BTLS 34550 (PL 1.32)
- Kích thước: Dài áo – 112cm; dài tay – 146cm; cổ tay – 12cm; ngang ngực – 54cm; ngang vạt – 86cm
Áo màu xanh, lót trừu trắng
Hoa văn dệt: giữa ngực đồ án rồng uống lượn,đuôi quàng qua vai trái sau, mặt rồng nhìn thẳng, miệng hơi hé, bờm ít, sừng nhỏ, chân phải nắm lấy mặt trời, chân trái nắm lấy mặt trăng Dưới ngực đồ án long mã cõng hà đồ chầu nhật, đối xứng
Viền vạt áo đồ án tam sơn, hòm sách, kiếm
Xen kẽ giữa các đồ án này là sự tích hợp với dơi, và mây ngũ sắc tạo thành một bố cục trang nhã, sang trọng
Trang 39So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTL, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan tam phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban Số đăng ký: BTLS 34532 (PL 1.33)
- Kích thước: Dài áo – 112cm; dài tay – 155cm: cổ tay – 10cm; ngang ngực – 54cm; ngang vạt: 87cm
Hoa văn dệt: rồng 4 móng, long mã, rùa giữa ngực đầu rồng, thân rồng và đuôi rồng uốn lượn và quàng qua vai trái sau Mặt rồng nhìn thẳng, miệng hé, bờm thưa, sừng ngắn và thấp, hai chân trước chân phải nắm mặt trời và chân trái nắm mặt trăng Giữa thân hai long mã cõng hà đồ chầu nhật, đối xứng nhau
Vạt áo văn sóng nước, tam sơn, rùa hàm pho sách và thanh kiếm, rau tảo, sừng tê, đồng tiền, bình hồ lô
Hai tay do kỹ thuật may ghép nối, nên hoa văn không rõ
Khắp áo mặt trước và sau điểm xuyến mây ngũ sắc và dơi
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTL, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan tam phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban, số đăng ký BTLS 34535 (PL 1.34 )
- Kích thước: dài áo - 111cm; dài tay – 153cm; cổ tay – 11cm; ngang ngực – 56cm; ngang vạt – 82cm
Áo màu xanh, lót trừu đỏ
Hoa văn dệt: Mặt trước giữa ngực một hình rồng 4 móng, mặt rồng nhìn thẳng, thân uốn lượn, đuôi quàng qua vai trái sau Chân phải rồng quặp lấy mặt trời, chân trái quặp lấy mặt trăng Dưới ngực đồ án long mã cõng hà đồ chầu nhật đối xứng nhau, vạt áo có đồ án tam sơn và hòm sách, kiếm.Trên toàn thân áo diểm xuyến đồ án mây ngũ sắc, dơi Hai cổ tay hoa văn sóng nước
Hoa văn mặt sau giống mặt trước
Trang 40So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTT, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan Nhị phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo mãng lan võ ban, số đăng ký BTLS 34555 (PL 1.35 )
- Kích thước: dài áo – 108cm; dài tay – 162cm; cổ tay – 11,5cm; ngang ngực – 55cm; ngang vạt – 83cm
Áo màu lam, hoa văn dệt long, lân, rùa
Giữa ngực đầu rồng, thân rồng và đuôi rồng uống khúc và quàng qua vai trái sau Mặt rồng nhìn thẳng, miệng hé, bờm thưa, sừng ngắn và thấp, hai chân trước chân phải nắm mặt trời và chân trái nắm mặt trăng Giữa thân hai long mã cõng hà
đồ chầu nhật, đối xứng nhau
Vạt áo văn, tam sơn, rùa hàm thanh kiếm (đây là đồ án tượng trưng cho quan võ), rau tảo, sừng tê, đồng tiền, bình hồ lô, hai tay áo hoa văn rồng của 2 rồng mặt trước và mặt sau, dơi và mây
Khắp áo mặt trước và sau điểm xuyến mây ngũ sắc và dơi
So sánh với các nguồn tư liệu (KĐĐNHĐSL, tập 4, tr 134-135; ĐNTT, tập 3,
tr 274…) thì hiện vật này là áo mãng lan cấp hàm của quan Tam phẩm võ ban, mặc trong các lễ thường triều
Áo, trang phục cung đình số đăng ký BTLS 34534 (PL 1.36 )
- Kích thước: dài áo – 109cm; dài tay – 154cm; cổ tay – 10cm; ngang ngực – 56cm; ngang vạt – 86cm
Áo màu xanh đen, vải lót màu cam
Hoa văn dệt viên phụng, mây, dơi và dây liên hoa cách điệu trong đường tròn, xen kẽ các đồ án quạt, hồ lô, cổ ngư, pho sách in hình chữ vạn, đồng tiền kép, phật thủ Đây có thể là trang phục một phu nhân vợ của hàng quan có chức sắc Vì
đồ án chim phụng chỉ dùng cho phụ nữ, nhưng với viên phụng này nhỏ so với đồ án viên phụng của phụng bào và có sự tích hợp với các đồ án hoa văn cổ đồ, bát bảo
Từ những họa tiết trang trí trên áo, cũng như dạng thức được thể hiện trên áo, chúng tôi nhận định hiện vật này có thể là của mệnh phụ vợ của các tôn nhân hoặc