Một số đề xuất biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả về công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh .... Để có cái nhìn toàn diện v
Trang 11
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH THUẬN
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA DI TÍCH VĂN THÁNH MIẾU Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Trang 22
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH THUẬN
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA DI TÍCH VĂN THÁNH MIẾU Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 8229042
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: - PGS.TS PHAN AN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi có tham khảo từ nhiều nguồn tư liệu, đồng thời có trao đổi với các nhà nghiên cứu, những người hiểu biết thông tin của chính quyền địa phương, các cấp ngành có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Đây là những tư liệu quý báu để tác giả làm luận cứ, luận chứng phục vụ cho việc nghiên cứu Luận văn của mình với mong muốn luận văn này được hoàn thành đúng mục đích, yêu cầu của đề tài và hy vọng sẽ mang lại kết quả cho người học lẫn người dạy
Tác giả
Nguyễn Thanh Thuận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các Quý
thầy cô của trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các thầy
cô được mời thỉnh giảng từ nhiều đơn vị, cơ quan đến dạy lớp Cao học Quản
lý Văn hóa khóa 6 (năm học 2016 - 2018)
Xin chân thành cảm ơn các đơn vị, tổ chức và cá nhân tại Thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp: Sở VHTTDL tỉnh Đồng Tháp, Bảo tàng Đồng
Tháp, Phòng Văn hóa và Thông tin Thành phố Cao Lãnh, BQL Công trình
công cộng thành phố Cao Lãnh, Hội Khoa học Lịch sử Đồng Tháp, Thư viện
Đồng Tháp, Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu - Phó Chủ tịch Hội Khoa học
Lịch sử Đồng Tháp, cùng những người bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
việc cung cấp thông tin, tư liệu từ văn bản cho đến việc tạo điều kiện điền dã
được thuận lợi
Xin được cảm ơn những tác giả, những nhà nghiên cứu cho ra đời
những tác phẩm, những công trình nghiên cứu hữu ích, cung cấp thêm tư liệu
quý làm tài liệu tham khảo cho đề tài luận văn
Và cuối cùng xin được gửi lời tri ân đến PGS.TS Phan An là giảng
viên hướng dẫn cho đề tài của tôi đã dày công chỉ dạy, hỗ trợ về tư liệu,
phương pháp khoa học để tôi thực hiện Luận văn cao học của mình
Vì những yếu tố chủ quan lẫn khách quan, Luận văn tuy hoàn thành
nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót và chắc chắc tiếp tục được hoàn
thiện, chỉnh lý trong thời gian sắp tới Rất mong nhận được sự giúp đỡ của
quý thầy cô để luận văn thêm hoàn chỉnh
Nguyễn Thanh Thuận
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
UBND: Ủy ban Nhân dân
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc VHTTDL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VHTT: Văn hóa và Thông tin
BQL: Ban Quản lý
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 3
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4.2.1 Không gian 4
4.2.2 Thời gian 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
8 Bố cục Luận văn 6
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VĂN THÁNH MIẾU Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái niệm sơ lược về văn hóa 8
1.1.2 Khái niệm về Di sản văn hóa (DSVH) 10
1.1.2.1 Khái niệm DSVH vật thể 11
1.1.2.2 Khái niệm DSVH phi vật thể 11
1.1.3 Khái niệm về giá trị và phân loại giá trị 12
1.1.3.1 Khái niệm về giá trị 12
Trang 71.1.3.2 Phân loại giá trị 13
1.1.4 Khái niệm di tích và di tích lịch sử văn hóa 13
1.1.4.1 Khái niệm về di tích 13
1.1.4.2 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa 14
1.1.4.3 Khái niệm về Quản lý di tích lịch sử văn hóa 15
1.1.5 Khái niệm và quan điểm về bảo tồn, bảo tồn di tích 17
1.1.5.1 Khái niệm về bảo tồn, bảo tồn di tích 17
1.1.5.2 Quan điểm về bảo tồn, bảo tồn di tích 18
1.1.6 Khái niệm và quan điểm về phát huy và phát huy di tích 22
1.1.6.1 Khái niệm về phát huy và phát huy di tích 22
1.1.6.2 Quan điểm về phát huy và phát huy di tích 23
1.2 Tổng quan về Thành phố Cao Lãnh và Văn Thánh Miếu Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 26
1.2.1 Lịch sử và sự thay đổi địa giới hành chính vùng đất Cao Lãnh 26 1.2.1.1 Lịch sử hình thành và nguồn gốc danh xưng Cao Lãnh 26
1.2.1.2 Sự thay đổi địa giới hành chánh qua các thời kỳ 29
1.2.1.3 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên Thành phố Cao Lãnh 33
1.2.1.4 Đặc điểm dân cư 34
1.2.1.5 Đặc điểm tình hình kinh tế 35
1.2.1.6 Đặc điểm văn hóa, xã hội 35
1.2.1 Lịch sử hình thành Văn Thánh Miếu 37
1.2.1.1 Lịch sử hình thành Văn Thánh Miếu ở Nam Kỳ 37
1.2.1.2 Lịch sử và kiến trúc Văn Thánh Miếu Cao Lãnh 40
Tiểu kết Chương 1 47
Trang 8Chương 2 48
HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH VĂN THÁNH MIẾU 48
2.1 Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 48
2.1.1 UBND tỉnh Đồng Tháp 49
2.1.1.1 Sơ lược tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của UBND tỉnh Đồng Tháp 49
2.1.1.2 Các văn bản ban hành của UBND tỉnh Đồng Tháp liên quan đến Văn Thánh Miếu 49
2.1.2 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp 51
2.1.2.1 Phòng Quản lý DSVH (nay là Phòng Quản lý Văn hóa) 52
2.1.2.2 Bảo tàng Đồng Tháp 52
2.1.2.3 Sơ lược các bước quy trình làm hồ sơ để công nhận Văn Thánh Miếu thành di tích cấp Tỉnh 52
2.1.3 UBND Thành phố Cao Lãnh, Phòng Văn hóa và Thông tin, Ban Quản lý công trình công cộng Thành phố Cao Lãnh 53
2.1.3.1 UBND Thành phố Cao Lãnh 53
2.1.3.2 Phòng VHTT Thành phố Cao Lãnh 54
2.1.3.3 Ban Quản lý công trình công cộng 55
2.2 Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu từ chính quyền quản lý 56
2.2.1 Hoạt động bảo tồn di tích 56
2.2.2 Hoạt động phát huy giá trị di tích 59
Tiểu kết Chương 2 62
Chương 3 63
3.1 Những giá trị tiêu biểu của di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu 63
3.1.1 Giá trị lịch sử 63
Trang 93.1.2 Giá trị văn hóa (kiến trúc, tâm linh, giáo dục…) 64
3.2 Một số nhận xét về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 64
3.2.1 Những ưu điểm 64
3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 66
3.2.2.1 Những hạn chế 66
3.2.2.2 Nguyên nhân 69
3.2.3 Bài học kinh nghiệm 69
3.3 Một số giải pháp và kiến nghị về việc bảo tồn và phát huy di tích Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh trong thời gian tới 71
3.3.1 Giải pháp thực hiện 71
3.3.1.1 Giải pháp về chính sách quản lý Nhà nước 71
3.3.1.2 Giải pháp về cơ cấu tổ chức 74
3.3.1.3 Giải pháp nhân sự 77
3.3.1.4 Giải pháp về tài chính 80
3.3.1.5 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá, giáo dục 82
3.3.1.6 Giải pháp phát triển kinh tế du lịch gắn với di tích 86
3.3.1.7 Giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra di tích 89
3.3.2 Một số đề xuất biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả về công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 1
Phụ lục 1: Ảnh minh họa về di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 2
Phụ lục 2: Một vài nội dung tiêu biểu liên quan đến di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu 24
Trang 10Vào giữa thế kỷ thứ XIX, tri phủ Kiến Tường Hồ Trọng Đính khi về trấn nhậm nơi đây muốn chấn hưng nền Nho học trong vùng đã khởi xướng dựng nên tòa Văn Thánh Miếu tại địa phận thôn Mỹ Trà, huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường (nay thuộc Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) Đây là văn thánh miếu được xây dựng sớm thứ 3 của Nam Kỳ, trước Văn thánh miếu Vĩnh Long và hiện là 1 trong số 9 Văn thánh miếu còn sót lại
ở Việt Nam
Trải qua biến thiên của lịch sử với các lần dời đổi, sửa chữa, đến năm
2001 Văn thánh miếu Cao Lãnh đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh Tuy nhiên nơi đây chỉ là một công trình trống rỗng, trong khi đó các
tự khí của văn thánh miếu và những di sản của di tích nầy lại nằm ở một di tích khác So với 2 Văn thánh miếu hiện còn tại miền Nam là Văn Miếu Trấn Biên ở Đồng Nai và Văn Thánh miếu Vĩnh Long thì Văn thánh miếu Cao Lãnh chưa được bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử xứng đáng Gần đây, chính quyền thành phố Cao Lãnh có dự kiến lên một số phương
án cải tạo lại di tích này bởi vị trí của di tích nằm ngay trung tâm Thành phố Cao Lãnh và bao quanh di tích là một quảng trường với công viên rộng lớn
Trang 11phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý, phát huy đúng mức giá trị của di tích đặc biệt này
2 Mục đích nghiên cứu
Từ thực trạng quản lý di tích hiện tại, thấy được những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích Đề xuất phương án khôi phục lại Văn Thánh Miếu với các thiết chế vốn có theo truyền thống và kết hợp với công tác khuyến học, tôn vinh nhân tài của địa phương, gắn với phát triển du lịch
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành và biến đổi của Văn Thánh Miếu Cao Lãnh:
Hai tác giả Nguyễn Văn Dần và Nguyễn Văn Cứng trong công trình biên khảo mang tên “Sa Đéc nhơn vật chí” in tại Sài Gòn năm 1926, trong trương
“cổ tích” của sách, các tác giả đã chép lại gốc tích, lai lịch của Văn Thánh Miếu tỉnh Sa Đéc - tức Văn Thánh Miếu Cao Lãnh ngày nay Đây được xem
là một trong những công trình biên khảo sớm nhất về Văn Thánh Miếu Cao Lãnh, trong đó có mô tả về nội thất, kiến trúc ban đầu của di tích
Trang 123
Trong công trình biên khảo của các tác giả Huỳnh Minh (1971), “Sa Đéc
xưa và nay”, NXB.Cánh Bằng, Sài Gòn; Trần Quang Hạo (1963), “Cao Lãnh… Đến 1954”, Nhà in Bùi Trọng Thúc, Phú Nhuận xuất bản năm 1971
tại Sài Gòn cũng có chép sự tích Văn Thánh Miếu Cao Lãnh với nội dung tương tự
Trong quyển hồi kí chưa xuất bản của Trần Quang Hạo, người được cử giữ chức Hội trưởng Hội Khổng học Việt Nam tỉnh Kiến Phong đã nêu chi tiết quá trình di dời, tái thiết Văn Thánh Miếu đến địa điểm hiện tại của di tích vào tháng 8 năm 1965
Nguyễn Phẩm (2013), “Hồ Trọng Đính (1813 -1878)”, Đồng Tháp Xưa
& Nay, số 40, Hội Khoa học Lịch sử Đồng Tháp, Đồng Tháp, tr.35 - 36; khảo
cứu lai lịch, tiểu sử của quan Tri phủ Kiến Tường Hồ Trọng Đính - người khởi xướng xây dựng Văn Thánh Miếu Cao Lãnh vào năm 1857
Phạm Nguyễn Ý Tuyên (2008), “Văn Thánh Miếu Cao Lãnh vang bóng
một thời”, Đồng Tháp Xưa & Nay, số 23, Hội Khoa học Lịch sử Đồng Tháp,
Đồng Tháp, tr.13 - 14; bài viết đã điểm lại các tài liệu ghi chép về Văn Thánh Miếu Cao Lãnh
Phạm Nguyễn Ý Tuyên (2007), “Tác giả “Cao Lãnh … Đến 1954” và
“Bức ảnh Văn Thánh Miếu Cao Lãnh””, Đồng Tháp Xưa & Nay, số 21, Hội
Khoa học Lịch sử Đồng Tháp, Đồng Tháp, tr.18 - 20; đưa ra một số nhận định
về bức ảnh Văn Thánh Miếu 1857 đăng trong các quyển sách của các tác giả Huỳnh Minh, Trần Quang Hạo
Nhiều tác giả (1997), Đồng Tháp di tích lịch sử danh lam thắng cảnh, Sở
Văn hóa Thông tin - Bảo tàng Đồng Tháp, Đồng Tháp Trong bài viết “Văn Thánh Miếu của tác giả Phương Chi cũng nêu lịch sử Văn Thánh miếu từ khi thành lập đến thời điểm hiện tại, trong đó có nêu việc chính quyền tỉnh Đồng
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử di tích Văn Thánh Miếu Cao Lãnh
Để có cái nhìn toàn diện về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của di tích, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác quản lý di tích trên của Đảng, Nhà nước và của các cơ quan quản lý trực thuộc tỉnh Đồng Tháp, đến bộ máy tổ chức cán bộ cùng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích Văn Thánh Miếu của tỉnh cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Không gian
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý của ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh về di tích Văn Thánh Miếu Cao
Trang 145 Giả thuyết nghiên cứu
Văn Thánh Miếu là một biểu tượng của văn hóa khoa cử, Nho học thời phong kiến Phải chăng do định kiến về chế độ phong kiến, nhất là triều Nguyễn và quan niệm Nho học bắt nguồn từ Trung Quốc dẫn đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chưa đúng mức
Thời đại ngày nay, việc tìm hiểu nghiên cứu về các giá trị truyền thống, nhất là những giá trị liên quan đến Nho giáo ít được quan tâm Các nhà quản lý phần nhiều không hiểu đúng chức năng, nhiệm vụ và giá trị của văn thánh miếu
Ở một số tỉnh có Văn Thánh Miếu, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích rất tốt Vậy vấn đề ở đây có thể do các nhà quản lý chưa có sự giao lưu, học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp ngoài tỉnh
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát định lượng: khảo sát thu thập các số liệu, ghi chép, chụp ảnh, khảo tả và hệ thống hóa tư liệu điền dã có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập được
Trang 156
- Ngoài ra, để thực hiện đề tài này, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành như quản lý văn hóa, dân tộc học, bảo tàng học,…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích Văn Thánh Miếu Cao Lãnh giúp làm rõ được thực trạng quản lý di tích trên địa bàn Thành phố Cao Lãnh nói riêng, tỉnh Đồng Tháp nói chung thông qua một di tích cụ thể
Thấy được những hạn chế trong công tác quản lý di tích của địa phương,
từ đó có những đề xuất để công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích được tốt hơn
Đề tài sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho chính quyền địa phương trong công tác quản lý, giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về các giá trị lịch sử, văn hóa của di tích
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Giả thuyết nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu:
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 16có tính nền tảng liên quan đến thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu tại Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Chương 2 (Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu) trình bày và phân tích một cách toàn diện công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
từ cơ cấu tổ chức, nhân sự và các hoạt động quản lý cụ thể có liên quan
Chương 3: (Kiến nghị và đề xuất phương hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu tại Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích Văn Thánh Miếu và phân tích những nhân tố khác có tác động, liên quan đến công tác quản lý để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể
Trang 171.1.1 Khái niệm sơ lược về văn hóa
Văn hóa mang nghĩ rất rộng, bao gồm tất cả những gì liên quan đến đời sống con người từ vật chất đến tinh thần, do con người nhận định theo cách riêng của mình Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm nói đến văn hóa cả trong
và ngoài nước Sau đây, xin nêu một vài khái niệm phổ biến, mang tính khoa học, được sử dụng nhiều trong giới nghiên cứu, như một tiền đề bất biến mà mỗi khi nói đến văn hóa, người ta không thể không nhắc đến như:
Khái niệm văn hóa ở Việt Nam, tiêu biểu gồm có:
- Khái niệm được nêu ra từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu
của dân tộc: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt
ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [112, tr.21] Bác cho rằng, văn hóa là những gì do con người
sáng tạo ra, bao gồm cả ngôn ngữ, chữ viết… và ngay cả những công cụ lao động cùng phương thức sử dụng Khái niệm hàm chứa nội dung rất rộng, văn hóa như là tất cả đời sống con người
Theo Cơ sở văn hóa Việt Nam của nhóm tác giả, Trần Quốc Vượng (Chủ biên) thì: “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh
của xã hội loài người” [112, tr.17] Văn hóa này có liên quan đến các dạng
Trang 18Khái niệm văn hóa ở nước ngoài:
Nếu văn hóa trong dạng thức mà trong Chu Dịch, quẻ Bi là xem về dáng vẻ con người thì ở phương Tây, “văn hóa” được dịch là đồng nghĩa với
từ “Culture” (cách dung của người Anh, Pháp), “Kultur” (người Đức) và
“Kultura” (người Nga), những từ này đều có nguồn gốc từ chữ Latinh tus”, nghĩa là trồng trọt tinh thần [112, tr.18-19]
“Cul-Ông E.B.Taylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay Văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [111, tr.10], văn hóa,
kèm luôn cách hiểu về văn minh được là một hay bao gồm tất cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống con người như tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật…
Còn UNESCO thì cho rằng: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [112,
tr.10], văn hóa như một hệ thống tổng hợp các mặt trong đời sống của con người
Các khái niệm về văn hóa được đưa ra từ nhận định ở nước ngoài cũng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Họ cho rằng văn hóa, bao hàm
Trang 1910
nghĩa rất rộng, cũng là do con người tạo ra, có liên quan đến nhiều mặt trong đời sống của con người, ở mỗi dân tộc sẽ có những cái riêng về văn hóa của mình để có sự phân biệt với văn hóa khác
Tóm lại, qua những gì trình bày, chúng ta có thể hiểu văn hóa là những gì do con người sáng tạo ra bao gồm các mặt chất và tinh thần của đời sống xã hội, được đúc kết từ trong hoạt động thực tiễn Đặc điểm rõ nhất là Văn hóa tạo nên những nét riêng biệt của một quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác Văn hóa mang các giá trị truyền thống, sáng tạo, kế thừa và được phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác trải qua một tiến trình lịch sử lâu dài Qua đó, Luận văn xin đưa ra khái niệm riêng của mình về văn hóa:
“Văn hóa có ý nghĩa rất lớn và rất riêng đối với mỗi quốc gia, dân tộc, bao gồm tất cả những giá trị tốt đẹp, tinh hoa được tạo ra từ con người trong quá trình lao động, sản xuất, có sự đúc kết, truyền thừa thì đó là văn hóa Văn hóa
là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc Khái niệm này giúp
luận văn hiểu, thu thập và phân tích được các vấn đề liên quan đến văn hóa
1.1.2 Khái niệm về Di sản văn hóa (DSVH)
Theo Luật DSVH (2001) có nói đến DSVH Việt Nam: “DSVH Việt Nam
là tài sản qúy giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [48, tr.5] Điều này nói đến DSVH Việt Nam có vai trò rất quan
trọng không chỉ ở nước ta mà còn đối với cả nhân loại, vì vậy mà chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ
DSVH ở đây được đề cập đến bao gồm 2 loại là DSVH vật thể (tangible)
và DSVH phi vật thể (intangible), là những sản phẩm vật chất, tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Trang 2011
1.1.2.1 Khái niệm DSVH vật thể
Trước khi nói đến khái niệm DSVH vật thể, xin được nêu sơ lược về văn hóa vật thể: Là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng
và thẩm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống con người như: dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, phương tiện truyền thông, giao thông, nhà cửa, công trình công cộng (đình, chùa, miếu, miễu…)… [42, tr.817]
Theo Luật DSVH (2009) thì DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị
liên quan đến lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [49, tr.33] Khái niệm này cho biết, DSVH vật thể là những hiện vật có thể nhìn thấy và sờ chạm đến được, là hiện vật thật, có không gian và thời gian tồn tại nhất định, ví dụ
về di tích lịch sử - văn hóa như: đình, chùa, miếu, mạo…
1.1.2.2 Khái niệm DSVH phi vật thể
Theo khoản 1 điều 4 của Luật DSVH (2009) thì DSVH phi vật thể được
xem là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn hay các hình thức khác [49, tr.33] DSVH Phi vật thể là những gì liên quan đến yếu tố tinh thần, sự đúc kết kinh nghiệm, sự trao truyền tiếp nối của các thế hệ… có lệ thuộc đến phạm vi không gian, thời gian dài ngắn khác nhau
Trong Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể quốc tế (UNESCO) năm
2003, có đưa ra khái niệm về DSVH phi vật thể: Là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ
Trang 2112
vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ và phải được trao truyền qua nhiều thế hệ theo thời gian [18]
Việc đưa ra khái niệm về DSVH, DSVH vật thể và DSVH phi vật thể giúp đề tài phân biệt rõ đối tượng nghiên cứu ban đầu chính là di tích lịch sử - văn hóa Văn Thánh Miếu Từ đối tượng chung là Văn Thánh Miếu lại được chia ra thành 2 đối tượng cụ thể có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại: Trong Văn Thánh Miếu những gì liên quan đến hiện vật được cho là DSVH vật thể và những gì liên quan đến tinh thần như nghi thức cúng, lễ cúng… thuộc về DSVH phi vật thể và chung quy hai vấn đền vật thể và phi vật thể này lại để hiểu Văn Thánh Miếu là DSVH
1.1.3 Khái niệm về giá trị và phân loại giá trị
1.1.3.1 Khái niệm về giá trị
Có rất ít tư liệu nói đến khái niệm riêng về Giá trị, trong số tư liệu thu
thập được thì chỉ có Từ điển bách khoa, quyển 2 có đề cập đến phạm trù Giá trị như sau: “Giá trị được hiểu là phạm trù triết học, xã hội học chỉ tính có
ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người.” [40, tr.97]
Như vậy, Giá trị có thể được hiểu như một khái niệm rộng, trừu tượng, hàm chứa rất nhiều nội dung và cần được gán ghép cụ thể với những loại hình nào đó để nghĩa của nó được hiểu một cách cụ thể hơn Ví dụ: Giá trị vật chất (có liên quan đến vật thể nào đó, nói đển những ưu điểm của vật thể đó nhằm tôn vinh nó); giá trị tinh thần (liên quan đến những mặt tâm linh, tín ngưỡng, thờ cúng… mà có ý nghĩa); tương tự, nếu đến nói giá trị di tích, nghĩa là nói
Trang 2213
đến những điều tốt đẹp liên quan đến di tích đó, ví dụ về kiến trúc, thẩm mỹ, tâm linh…
1.1.3.2 Phân loại giá trị
Như một vài ví dụ được nêu trên, giá trị có thể được chia theo nhiều loại
khác nhau như giá trị văn hóa (là những gì liên quan đến văn hóa (rất rộng) như DSVH, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể…), giá trị lịch sử (có liên
quan đến quá trình lịch sử, thời gian và không gian…); hai giá trị này kết hợp
với nhau tạo thành giá trị lịch sử văn hóa (là những giá trị có liên quan đến
lịch sử văn hóa của một di tích hay được gọi là di tích lịch sử văn hóa…, di tích đã được trải qua thời gian dài, được xã hội cộng đồng công nhận và phải
có bể dày lịch sử nhất định); giá trị vật chất (là đối tượng của những lợi ích và nhu cầu); giá trị tinh thần (những lý tưởng, quan niệm, niềm tin, tín ngưỡng, truyền thống… ); giá trị xã hội (sự tự do, công bằng, dân chủ…); giá trị nhận thức (chân lý); giá trị đạo đức (điều kiện); giá trị thẩm mỹ (cái đẹp); giá trị du lịch (tham quan)… [40, tr.97] Những giá trị này đều có những ý nghĩa khác nhau, tùy vào từng trường hợp mà nó được hiểu thao những dạng khác nhau
và được áp dụng cho phù hợp
1.1.4 Khái niệm di tích và di tích lịch sử văn hóa
1.1.4.1 Khái niệm về di tích
Di tích: Là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của
khảo cổ học, bảo tàng học và sử học Di tích được chia thành hai loại chính là
di tích khảo cổ và di tích trên mặt đất [39, tr.667] Ngoài ra, còn có nhiều khái niệm về di tích khác như:
Ở Đại hội Quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư, các kỹ thuật gia và chuyên gia về các di tích lịch sử, họp ở Venice từ ngày 25 - 31/5/1964 đã
Trang 2314
thông qua Hiến chương Venice Theo đó di tích “Không chỉ là một công trình
kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử” [27, tr.60] Di tích kiến trúc là phần còn lưu giữ lại từ một công trình kiến
trúc trước đó, tồn tại qua thời gian, có thể còn nguyên vẹn hay bị hư hoại bởi
chiến tranh, nạn nước, nạn lửa… có giá trị về lịch sử văn hóa hoặc nghệ thuật
Ngoài ra, còn có rất nhiều từ điển song ngữ, chẳng hạn Từ điển Việt -
Anh di tích được dịch là vetiges hay remains, có nghĩa là những cái còn lại
sau khi các phần khác đã bị loại bỏ hay các tòa nhà cổ còn lại khi những tòa nhà khác đã bị phá hủy [109, tr.207] Trong Từ điển Việt - Anh thì di tích hiểu là những di vật cổ, lăng tẩm, lăng mộ, đài tượng niệm cổ có giá trị lịch
sử - văn hóa “Relics of the past, old re-lics anh monuments” [109, tr.497] Như vậy, là không gian vật chất cụ thể, khách quan, ngoài ý muốn của con người đương đại, không do chúng ta quy định mà do trong quá trình hoạt động hình thành nên di tích Di tích hình thành từ sự sáng tạo của tập thể hoặc
cá nhân trong lịch sử để lại, tồn tại bằng những không gian hiện trạng muôn hình, muôn vẻ, với nhiều bộ phận cấu thành như anh hùng dân tộc, cảnh quan thiên nhiên đẹp, công trình kiến trúc, nghệ thuật,…Tùy theo mỗi loại di tích
mà những thuộc tính trên đây tạo thành các di tích
1.1.4.2 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa
Trong điều 1 của Hiến chương Venice, có đưa ra khái niệm về di tích lịch
sử như sau: “Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc
đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa, hoặc một sự kiện lịch sử” [27]
Hiến chương cho rằng di tích lịch sử văn hóa cả là một nền văn minh đồ sộ,
Trang 2415
mang tính tổng thể liên quan, không riêng lẻ và còn có giá trị, ý nghĩa về giai đoạn lịch sử
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, quyển 1 thì: Di tích lịch sử văn hóa
là một dạng thức nâng cao của di tích, di tích lịch sử, là những công trình xây dựng, những hiện vật, đồ vật… có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội của một dân tộc, một đất nước [39, tr.667] Nội dung khái niệm này chứa hàm ý nội dung tương tự với khái niệm trước
Tại điểm 4, điều 4, chương 1 của Luật DSVH (2001) có viết: “Di tích
lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”
[48, tr.7], chưa thấy sửa đổi trong Luật DSVH (2009) nhưng ở điều 29 trong
Luật DSVH (2009) có đề cặp đến việc công nhận di tích trở thành di tích cấp
tỉnh như sau: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đều được gọi chung là di tích, muốn được công nhận di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương [49, tr.14]
Di tích sau khi được công nhận cấp tỉnh thì sẽ thuộc quyền quản lý của Nhà nước và tất cả những gì liên quan đến di tích như: đơn vị quản lý, pháp luật… đều cũng phải theo quy định của Nhà nước và pháp luật
1.1.4.3 Khái niệm về Quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giời khác nhau như xã hội, sinh học, kỹ thuật… bảo đảm giữ gìn một cơ cấu
ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó [39, tr.580]
Tương tự, quản lý Nhà nước là hệ thống cả đội ngũ nhân viên, bao gồm các cấp từ Trung ương, đến địa phương, nhiều lĩnh vực, nhiều đơn vị, mỗi một đơn vị chịu trách nhiệm nhất định về một công việc nào đó được phân
Trang 2516
công cụ thể và có đội ngũ lãnh đạo đến nhân viên chuyên môn phụ trách trong đơn vị đó Ví dụ: Ở UBND tỉnh Đồng Tháp gồm có Chủ tịch Tỉnh và 3 Phó Chủ tịch cùng các ban ngành, phòng ban của UBND tỉnh, mỗi một phòng ban
có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và đội ngũ nhân viên chuyên trách… Quản lý DSVH hay quản lý Nhà nước về DSVH là hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực DSVH (DSVH vật thể và phi vật thể) bao gồm cả di tích, di tích kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa… với mục tiêu đảm bảo cho DSVH được “sống” trong môi trường nó đang tồn tại về cả mặt lịch sử, giá trị, không gian, kiến trúc… đảm bảo nó được đơn vị quản lý của Nhà nước cùng nhân dân bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên này của quốc gia, dân tộc… trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển
Quản lý di tích lịch sử văn hóa là đối tượng đặc biệt, rất quan trọng cần được bảo quản gìn giữ và phát huy “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa có thể coi là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (di tích lịch sử - văn hóa), giúp di tích lịch sử - văn hóa tồn tại bền vững, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và dân tộc nói chung”
Quản lý di tích lịch sử - văn hoá là quá trình hoạt động liên tục của chủ thể (Nhà nước: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, các ngành hữu quan, chính quyền các cấp) lên đối tượng quản lý (các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt được mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa (cả giá trị tinh thần và giá trị kinh tế)
Khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, việc quản lý Nhà nước về di sản được cụ thể hóa từ chức năng, nhiệm vụ, nội dung, đối tượng và các mối quan
hệ, trực tiếp, phối hợp từ trung ương đến địa phương trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản dân tộc
Trang 2617
Quản lý di sản văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị hiện tồn, điều quan trọng hơn chính vai trò của quản lý làm sống lại các giá trị phi vật thể thông qua các giá trị vật thể góp phần giáo dục truyền thống, phát huy giá trị làm giàu cho địa phương và dân tộc Nội dung quản lý Nhà nước về di sản đã được quy định rất rõ tại Điều 54, chương V, Luật Di sản văn hóa
Như vậy, cơ sở quan trọng, tiên quyết cho việc quản lý di sản chính là Luật Di sản văn hóa Luật định hướng các đối tượng, các nội dung, mục tiêu quản lý di sản đi vào nề nếp, góp phần thúc đẩy sự phối hợp trong thực hiện giữa các cấp, các ngành, làm cho di sản trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở mỗi địa phương
1.1.5 Khái niệm và quan điểm về bảo tồn, bảo tồn di tích
1.1.5.1 Khái niệm về bảo tồn, bảo tồn di tích
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) có ghi Bảo tồn nghĩa
là giữ lại, không để cho mất đi [62, tr.39] Như vậy, nghĩa của các từ bảo tồn,
bảo quản, đều có ý nghĩa là gìn giữ, chống sự xâm nhập phá hoại, tác động xấu của môi trường (nói chung) bên ngoài làm ảnh hưởng đến
Theo khoản 11 điều 4 chương I của Luật DSVH (2001): “Bảo quản di
tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [48, tr.8] Bảo
quản hay bảo tồn DSVH (nói chung) là những hoạt động có ý nghĩa, giúp những DSVH của quốc gia, dân tộc đều được bảo vệ, đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định, tránh sự xâm hại xấu từ những tác động xấu bên ngoài
Trang 2718
Những điều trên cho thấy, việc bảo tồn DSVH nói chung, cụ thể là việc bảo tồn di tích nói riêng là việc bảo vệ, giữ gìn sự tồn tại của di sản, di tích đó theo chức năng, nhiệm vụ và giá trị của nó, nhằm đảm bảo được các yếu tố ấy tồn tại Bên cạnh đó thì những đơn vị, bộ phận có trách niệm gìn giữ nó như bảo tàng cũng cần thực hiện hết trách nhiệm và khả năng của mình, xem đây
là điều kiện cần để bảo vệ DSVH, di tích, tài sản của quốc gia, không phải vì nhiệm vụ mà làm
1.1.5.2 Quan điểm về bảo tồn, bảo tồn di tích
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về bảo tồn và bảo tồn di tích
Bảo tồn có thể hiểu là những hoạt động gìn giữ, bảo vệ để cái gì đó không bị
mất đi, tránh khỏi những tác nhân gây hại Những tác nhân mà việc bảo tồn cần quan tâm được quy thành 2 nhóm chính là những tác nhân từ môi trường
tự nhiên (thiên tai, dịch họa, thời tiết…) và môi trường xã hội (chiến tranh, tác
động của con người…)
Phân tích khái niệm về Bảo tồn di tích gồm có 2 phạm trù: “bảo tồn”
và “di tích” Ở đây, đề cập đến đối tượng cụ thể của công tác bảo tồn, đó là di tích bao gồm những giá trị di sản vật thể còn lưu giữ được cho đến ngày nay Liên quan đến khái niệm bảo tồn di tích cũng có nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, có thể chấp nhận 3 khái niệm cơ bản có liên quan đến Bảo tồn di
tích, đó là: 1/”những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của
di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó” 2/“tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết di sản văn hóa và lịch sử, cùng với những ý nghĩa của nó, nhằm đảm bảo sự an toàn về vật chất của di tích và khi cần đến, đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày và khôi phục” 3/hoạt động bảo quản kết cấu một địa điểm, công trình xây dựng ở hiện trạng và kìm hãm sự xuống cấp của di tích,
Trang 28mà còn được mở rộng ra đối với công tác phát huy giá trị di tích – tức là trưng bày, giới thiệu và phổ biến các giá trị di tích đến với cộng đồng nói chung
Cho nên, công tác bảo tồn và phát huy giá trị luôn có mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau Bảo tồn là tiền đề, cơ sở cho việc phát huy giá trị di
tích phục vụ cho sự phát triển cộng đồng Ngược lại, phát huy sẽ góp phần vào việc duy trì, gìn giữ di tích một cách lâu dài thông qua công tác quảng
bá, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng trong việc bảo tồn di tích
Muốn hoạt động bảo tồn di tích đạt được hiệu quả phải kết hợp cùng lúc nhiều phương pháp và công tác khoa học khác nhau Trong đó, quan trọng nhất là phải đánh giá được giá trị của di tích, sử dụng khoa học kỹ thuật để gìn giữ hiện trạng của di tích và thực hiện công tác trưng bày, tuyên truyền các giá trị di sản văn hóa đến với cộng đồng
Quan điểm bảo tồn có mối liên hệ chặt chẽ và giống như quan điểm
về quản lý di sản văn hóa Chỉ khác nhau ở chỗ quan điểm về bảo tồn có
nghĩa hẹp hơn, chỉ đơn thuần là những hoạt động bảo vệ, giữ gìn thiên về công tác chuyên môn Còn quản lý di sản văn hóa bao gồm hệ thống những cách thức, phương pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản, thiên về thủ tục hành chánh và cách thức quản lý hơn là chuyên môn kỹ thuật Ngoài những quan điểm cơ bản như trên về bảo tồn, trên thế giới và ở Việt Nam cũng có
Trang 2920
nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn Trong đó, quan trọng nhất là 2 quan
điểm về bảo tồn: quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và quan điểm bảo tồn trên cơ
sở kế thừa
* Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn
dựa trên một cơ sở khoa học xác thực, chính xác, giữ gìn nguyên vẹn các yếu
tố ban đầu, yếu tố “gốc” của di tích, hiện vật nào đó Theo quan điểm này thì những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có, để tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, xê dịch, biến dạng…
Tác giả Tô Vũ cho rằng: “Khi nói tới bảo tồn, ta luôn nghĩ đến gìn giữ toàn bộ và nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn” Trong đó, đối tượng bảo tồn phải thỏa mãn hai điều kiện: 1/ Đối tượng đó được cho là tinh hoa, có giá trị đích thực và không tồn tại sự hồ nghi khác; 2/ Đối tượng đó đã từng tồn tại lâu dài với đời sống vật chất và tinh thần của con người [69, tr 36-37]
Một tác giả khác (không rõ) cho rằng: “Bảo tồn” là giữ lại, không để
bị thay đổi, biến hóa hay biến thái… Đối tượng bảo tồn phải được nhìn là tinh hoa, phải khẳng định được giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian dưới nhiều hình thức khác nhau của chúng [69, tr.37]
Cả hai quan điểm trên có tính tương đồng, “quan điểm bảo tồn” là gìn giữ đối tượng theo thời gian được bền vững, nguyên vẹn, không bị biến đổi hay biến thái
Theo quan điểm của ông Gregory J.Ashworth: ông cho rằng quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được phát triển đầu tiên từ những năm 1850 và nhiều người cho rằng đây là quan điểm gần như đóng vai trò chủ đạo [69, tr.37]
Từ quan điểm “bảo tồn nguyên vẹn”, đặc biệt là của của ông Gregory J.Ashworth được rất nhiều nhà bảo tồn, bảo tàng ủng hộ trong lĩnh vực di sản văn hóa Họ cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như cái vốn có của nó, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di
Trang 3021
sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cũng như cố gắng tách di sản ra khỏi môi trường xã hội hiện đại [107] Mỗi một di sản đều chứa đựng những giá trị văn hóa xã hội nhất định, biến đổi theo thời gian, chịu sự tác động từ môi trường bên ngoài nên khó đảm bảo được những tầng lớp thế hệ hiện tại hiểu đúng được giá trị văn hóa của thế hệ trước Nên quan điểm bảo tồn nguyên vẹn rất khó thực hiện, đòi hỏi những chuyên gia nghiên cứu phải có những kiến thức sâu nhất định về chuyên môn, việc tầm tư liệu cũng vậy, phải có tính xác thực
để mong có kết quả chính xác
* Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm này được xem là một xu thế phổ biến hơn quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, dễ thực hiện hơn trên một đối tượng, việc gìn giữ và duy trì đối tượng đó theo quá trình lịch sử, thời gian và không gian trong môi trường
cụ thể cũng dễ dàng hơn
Nhiều học giả nước ngoài như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem đối tượng cần bào tồn trên cơ sở kế thừa như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý đối tượng đó tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản [107]
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Đời sống mới có nêu ra những
quan điểm rõ rang về sự kế thừa: cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm Đây được tác giả Bùi Hoài Sơn khẳng định đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa trên sự kế thừa [70, tr.41]
Từ đó cho thấy, cả hai quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên
cơ sở kế thừa đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Bảo tồn nguyên vẹn thì cần xác định yếu tố gốc, nguyên thủy ban đầu, còn bảo tồn trên cơ sở
kế thừa thì cần chọn lọc xen yếu tố giá trị của đối tượng
Trang 3122
* Quan điểm bảo tồn để phát triển
Từ việc xác minh được hai quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa trên thì nên thêm một quan điểm về bảo tồn nữa là “Bảo tồn để phát triển”, việc này rất cần thiết để áp dụng cho việc bảo vệ di sản nói chung, di tích, di tích lịch sử nói riêng, nhất là các nhà làm quản lý di sản, di tích Ở nước ngoài, có những nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice… thì cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản [107] Nghĩa là bảo tồn để phát triển gắn với du lịch, họ quan tâm việc gắn di sản văn hóa với phát triển du lịch, khẳng định tính đa dạng về quan điểm này trong sáng tạo của con người
Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của PGS.TS Trịnh
Thị Minh Đức (Chủ biên) nói về đặc trưng cơ bản của bảo tồn di tích là quan điểm về bảo tồn di tích là nghiên cứu phát hiện giá trị di tích, tiến hành bảo quản, tu bổ để giữ gìn lâu dài di tích, trên cơ sở đó có thể thực hiện khai thác các giá trị của di tích phục vụ xã hội [23, tr.10] Điều này có nhiều điểm tương đồng với những quan điểm trên Vậy Quan điểm bảo tồn di tích là gìn giữ cái vốn có của di tích và có thể thay biến đổi cái vốn có đó theo chiều hướng mới sao cho phù hợp với giá trị của di tích và phù hợp với xã hội thời đại
1.1.6 Khái niệm và quan điểm về phát huy và phát huy di tích
1.1.6.1 Khái niệm về phát huy và phát huy di tích
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên): Phát huy là làm cho
cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [62, tr.768] Vậy, phát
huy được hiểu là làm cho điều gì đó phát triển, thay đổi thêm theo chiều
hướng tốt Trong Từ điển bách khoa Việt Nam (quyển 3) tuy không nói đến
khái niệm phát huy nhưng có nói đến “phát triển” thuộc phạm trù Triết học,
Trang 3223
chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra và là một thuộc tính phổ biến của vật chất [41, tr.424]
Còn theo PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức thì cho rằng phát huy: “Là tập
trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của di sản văn hóa” [23, tr.184] Điều này chỉ chung cho DSVH, nếu được công
chúng quan tâm tới thì việc phát huy thật sự có hiệu quả Ví dụ như phát huy DSVH gắn với du lịch, đẩy mạnh kinh tế cho cộng đồng
Như vậy, phát huy di tích từ việc hiểu về phát huy thì phát huy di tích là làm cho những cái hay về giá trị, kiến trúc, vật thể, phi vật thể… liên quan đến di tích đó được tỏa tác dụng, tiếp tục nảy nở thêm hay phát triển nó theo chiều hướng tích cực nhất
1.1.6.2 Quan điểm về phát huy và phát huy di tích
Muốn nâng cao hiệu quả của di tích, ngoài công tác bảo tồn, việc phát huy giá trị di tích phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng là hoạt động vô vùng cấp thiết Phát huy là làm cho quần chúng biết đến giá trị của một thực thể nào đó, ở đây gọi chung là di sản văn hóa và cụ thể hơn nữa là di tích Qua
đó làm tăng giá trị của di tích thông qua nhiều biện pháp, phổ biến nhất là giới thiệu đến đông đảo quần chúng nhân dân để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Công việc này ở tầm vĩ mô đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của nhiều ngành chức năng, nhiều cá nhân và tập thể cùng hướng đến việc phổ biến giá trị di sản của cộng đồng phục vụ cho sự phát triển chung của xã hội
Việc phát huy di tích cũng không thể tách rời với công tác bảo tồn, là một trong hai chức năng cơ bản của hoạt động bảo tồn di tích Mục đích và đối tượng của công tác phát huy chính là các giá trị được khai thác và sử dụng
cho mục đích cụ thể nào đó Có thể hiểu “…phát huy giá trị di tích là khai
thác các giá trị của di tích phục vụ cho xã hội hiện tại và tương lai, góp phần
Trang 3324
phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa xã hội” [23, tr.184] Tương
ứng với từng loại hình di tích, việc phát huy giá trị di tích cũng được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau và phục vụ cho các mục đích khác nhau
Cơ sở và nền tảng cho việc phát huy di tích chính là các giá trị mà di
tích ấy chứa đựng, thường là giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ Điều
này có thể nhận thấy rõ trên lĩnh vực du lịch khi có các di tích là một trong những tuyến điểm tham quan nằm trên tour du lịch đó Mọi người tham quan tại một di tích nào đó không chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí, tìm hiểu cái mới
mà còn để phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu… Qua đó giáo dục các giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, khoa học của di tích đến từng đối tượng, đồng thời truyền tải và phổ biến tri thức liên quan đến di tích cho mọi người hiểu biết góp phần nâng cao ý thức giữ gìn và cùng chung tay góp sức phát huy các giá trị ấy một cách rộng rãi hơn nữa
Một trong những văn bản quy phạm có đề cập đến việc phát huy nói chung và phát huy giá trị di sản nói riêng là Luật Di sản Văn hóa Điều 12, chương 1 trong văn bản pháp luật này có nói đến DSVH Việt Nam được sử
dụng nhằm 3 mục đích: 1/ Phát huy giá trị DSVH vì lợi ích của toàn xã hội;
2/ Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; và 3/ Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng DSVH Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế [48, tr.11]
Như vậy, có thể hiểu việc phát huy giá trị di sản là làm tăng giá trị của các loại hình di sản (vật thể và phi vật thể) phục vụ chung cho sự phát triển của cộng đồng, hướng đến sự tiến bộ của xã hội Trên cơ sở các yếu tố đã được định hình, các giá trị về di sản văn hóa tiếp tục được phát huy, sáng tạo thêm làm phong phú truyền thống văn hóa dân tộc Trong quá trình đó, tính
Trang 3425
kế thừa đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa mới, không chỉ được phát huy trong phạm vi quốc gia, dân tộc mà còn phục vụ cho việc giao lưu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa Ngược lại, để phát huy, sáng tạo giá trị văn hóa mới liên quan đến lĩnh vực di sản - cụ thể nhất là các
di tích - cộng đồng xã hội cần đề ra biện pháp bảo tồn nguyên vẹn, phát huy một cách đúng mức Và vô hình trung, các công tác này đã tạo thành “chuỗi”
hoạt động bảo tồn – phát huy – sáng tạo giá trị văn hóa không thể tách rời
Trong lĩnh vực di sản nói chung, công tác bảo tồn và phát huy là hai mặt công tác không thể tách rời nhau, có quan hệ hỗ trợ cho nhau Và hai mặt của công tác chỉ thật sự đạt được hiệu quả khi kết hợp cùng lúc nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển cần có sự can thiệp của Luật pháp, chính sách, cơ chế, tuyên truyền và giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường quản lý Nhà nước với việc khơi dậy và phát huy ý thức trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức xã hội Vì vậy, có thể thấy công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích là tổng hòa của nhiều phương thức khác nhau,
cả chính sách quan phương lẫn phi quan phương và hơn hết là sự chung tay góp sức của tất cả mọi cá nhân, toàn thể cộng đồng xã hội
Trang 3526
1.2 Tổng quan về Thành phố Cao Lãnh và Văn Thánh Miếu Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
1.2.1 Lịch sử và sự thay đổi địa giới hành chính vùng đất Cao Lãnh
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và nguồn gốc danh xưng Cao Lãnh
Cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, lưu dân người Việt đã khai phá đến vùng phía Nam sông Tiền - trong đó có vùng đất Cao Lãnh ngày nay nằm
ở phía Bắc sông Sang thế kỷ XVIII, đã có làng xóm hình thành trên vùng cù lao Trâu, sông Cái Sao Thượng và quanh sông Con (tức sông Cao Lãnh ngày nay) Cư dân khai phá vùng nầy chủ yếu là dân thôn Bả Canh (nay thuộc xã Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tiêu biểu là ông bà Nguyễn Tú - người có công lập vùng đất mà sau nầy là hai thôn An Bình, Mỹ Trà
Năm Tân Dậu (1741), chúa Nguyễn cho lập 9 khố trường biệt nạp ở toàn phủ Gia Định Khố trường biệt nạp: “Theo quy định của chúa Nguyễn: những nơi dân cư thưa thớt, chưa đủ số dân và diện tích đất ruộng để chịu thuế thì chưa chánh thức thành lập thôn; nếu các thôn đã lập nhưng chưa liền ranh nhau thì chưa thành lập cấp tổng, khi đó sẽ thiết lập kho thu thuế bằng hiện vật gọi là khố trường” Vùng đất Cao Lãnh ngày nay thuộc vào khố trường Bả Canh
Nhờ đất đai màu mỡ, lưu dân cần mẫn nên sau gần một thế kỷ khai phá, đất nầy thành nơi sản xuất nhiều lúa gạo, chẳng những đủ ăn mà còn có dư giả
để đem xứ khác buôn bán kiếm lời
Đến đầu thế kỷ XIX, có gia đình ông Đỗ Công Tường là lưu dân vùng Ngũ Quảng vào Nam lập nghiệp Ông Đỗ Công Tường cùng vợ đến lập nghiệp tại thôn Mỹ Trà khoảng đầu thời Gia Long Nhờ chăm chỉ, cần cù khai khẩn đất hoang, ươm trồng vườn tược, không bao lâu sau, ông bà đã trở nên
dư ăn từ huê lợi của khu vườn quýt Vườn quýt của ông bà là nơi rộng rãi, mát
Trang 36là chợ Ông Câu hay chợ Câu Lãnh Danh xưng Cao Lãnh bắt nguồn từ đây
Năm Canh Thìn (1820), một trận dịch tả rất lớn khởi phát từ Xiêm La, qua Chân Lạp rồi truyền vào nước ta ở Hà Tiên lan dần ra Bắc Trận dịch bắt đầu từ mùa thu, qua mùa đông Đây là lúc ở Nam Kỳ đang vào mùa mưa nên dịch bệnh lây lan nhanh chóng, làm chết rất nhiều người
Tại thôn Mỹ Trà, đồng bào bị mắc bệnh dịch tả chết rất nhiều Ngày nào cũng có 5, 7 người chết, có nhiều gia đình người chết gần hết Tiếng kêu khóc vang dậy khắp nơi, cảnh tượng chôn xác một cách hối hả liên tiếp diễn
ra Đêm đêm, tiếng mõ kêu cứu hồi một phát lên từng chập Số người trong thôn mười phần còn độ bốn, năm
Ngày xưa, quan niệm dân gian cho rằng bệnh dịch tả là bệnh do quan
ôn (quan niệm dân gian tin rằng mỗi khi dưới cõi âm cần nhân lực thì sai quan
ôn đi làm bịnh dịch để bắt người, cũng như triều đình đi bắt lính) đi bắt lính
Hễ người nào bị dịch coi như tới số, không phương gì cứu được Thuốc men cũng chưa tiến bộ, thiếu thốn đủ thứ nên hễ mắc bệnh là người ta chỉ lo cầu cúng chớ không trông mong gì uống thuốc mà qua khỏi
Trang 3728
Vốn là người nhân đức, ông bà Đỗ Công Tường đâu nỡ ngồi yên nhìn cảnh nhân dân chết quá nhanh chóng Một mặt ông bà lo tìm thầy thuốc cứu chữa cho bá tánh, một mặt cầu khẩn Trời Phật cho ông bà chết thế cho dân Ngày mồng sáu tháng sáu năm Canh Thìn (1820), ông bà tắm gội sạch sẽ, lập bàn hương án giữa trời cầu khấn, nguyện ăn chay nằm đất ba ngày để tỏ tấc lòng thành Trong lúc cúng bái, để người dân phần nào quên đi cảnh tượng chết chóc đang diễn ra, ông có rước về một gánh hát bội Giữa lúc ông đang cùng bà con coi hát thì có người nhà vào báo tin rằng bà vợ của ông mắc bệnh dịch, vừa tắt thở vào 10 giờ đêm ngày mùng 9 Hay tin, ông vội về lo tẩn liệm cho bà thì khoảng quá 2 giờ khuya ngày mùng 10 đến lượt ông bị nhiễm dịch quy tiên Người dân cảm cái nghĩa cử cao đẹp của ông bà nên lo chôn cất cẩn thận
Sau khi ông bà mất ít lâu, cơn bệnh ngặt cũng dần dần dứt hẳn Mọi người tin rằng nhờ ông bà nguyện đứng ra chết thế cho dân nên Phật Trời thương tình mà cho dân khỏi chết nên hằng tưởng nhớ công ơn và không ngớt kính ngưỡng ông bà
Đến năm 1907, nhân dân trong vùng hiệp nhau lập miếu thờ ông bà nơi chợ Vườn Quýt xưa và đặt tên chợ là chợ Câu Lãnh Lâu dần người dân gọi trại là chợ Cao Lãnh đến ngày nay Miếu được người dân quen gọi là Miễu ông bà Chủ Chợ
Ngày 10 tháng 12 năm 1913, quận Cao Lãnh được thành lập Đến năm
1936, vua Bảo Đại sắc phong cho ông bà là: “Dực bảo Trung hưng Linh phò chi thần”
Trang 3829
1.2.1.2 Sự thay đổi địa giới hành chánh qua các thời kỳ
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định lấy
xứ Đồng nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên Đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Khi ấy lưu dân Nam bộ đã có hơn 4 vạn hộ, mộ dân Ngũ Quảng vào khai khẩn ruộng đất, lập sổ đinh điền, thu thuế ruộng đất
Năm 1732, để thuận tiện trong việc quản lý vùng đất Gia Định, Chúa Nguyễn lấy phía nam Phiên Trấn (gồm cả phần đất phía bắc sông Tiền của Đồng Tháp) làm Châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ đặt lỵ sở tại thôn An Bình Đông, tục danh là Cái Bè nên được gọi là Cái Bè dinh Vùng đất di tích tọa lạc lúc ấy thuộc châu Định Viễn
Năm 1741, chúa Nguyễn Phước Khoát cho lập 9 Khố trường tại Gia Định, trong đó có Khố trường Bả Canh là vùng đất sau nầy thuộc tỉnh Đồng Tháp gồm cả thôn Mỹ Trà (nơi tọa lạc di tích)
Năm 1757, tình hình Chân Lạp không ổn định phải cầu cứu Chúa Nguyễn Sau khi tình hình đất nước ổn định, vua Chân Lạp đền ơn chúa Nguyễn Phước Nguyên bằng cách dâng đất Tầm Phong Long và năm phủ Vũng Thơm (Hương Úc), Kampot (Cần Vọt), Chưng Rưm (Chân Sum), Cheal Meas (Sài Mạt), Lình Quỳnh (duyên hải từ Sré Ambel đến Peam Chúa Nguyễn tiếp thu đất Tầm Phong Long (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu), sau
đó được Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh chia thành 03 đạo: Châu Đốc đạo (Hậu Giang), Tân Châu đạo (Tiền Giang) và Đông Khẩu đạo (Sa Đéc) Cả 03 đạo đều thuộc dinh Long Hồ
Năm 1772, chúa Nguyễn Phước Thuần lấy xứ Mỹ Tho thành lập đạo Trường Đồn
Trang 3930
Tháng 11 năm 1779 chúa Nguyễn nâng đạo Trường Đồn thành Dinh gồm một huyện là Kiến Khương và ba tổng: Kiến Đăng, Kiến Hưng và Kiền Hoà Năm 1781, đổi thành dinh Trấn Định
Sau ngày Gia Long thống nhứt đất nước, phủ Gia Định gồm 04 dinh và
01 trấn: Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Long Hồ và Hà Tiên Trấn Địa giới Đồng Tháp nằm trong tổng Kiến Đăng của dinh Trấn Định (phần đất phía bắc sông Tiền) Và đạo Đông Khẩu của dinh Long Hồ (phần đất phía Nam sông)
Tháng 3 năm 1802, Gia Định Phủ đổi thành Gia Định Trấn vẫn gồm 04 dinh và 01 trấn như trước, chỉ có dinh Long Hồ đổi thành dinh Vĩnh Trấn
Năm 1806, huyện Kiến Khương của dinh Trấn Định đổi làm huyện Kiến An
Năm 1808, dinh Trấn Định đổi là trấn Định Tường, thuộc quyền quản
lý của Tổng trấn Gia Định, thăng huyện Kiến An thành phủ Kiến An, đem 3 tổng sở thuộc là Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng lên thành Huyện
Huyện Kiến Đăng có 2 tổng là Kiến Lợi và Kiến Phong Trong đó tổng Kiến Phong có 43 thôn Thôn Mỹ Trà lúc nầy thuộc tổng Kiến Phong
Năm 1838, tách đất Kiến Đăng đặt thêm phủ Kiến Tường, lại đặt thêm huyện Kiến Phong cho thuộc vào phủ ấy
Từ năm 1869 đến 1872, Pháp chiếm Nam kỳ, hủy bỏ hệ thống hành chính Nam kỳ lục tỉnh mà chia ra làm nhiều địa hạt hay khu vực tham biện Trong đó huyện Kiến Phong thuộc hạt Cần Lố
Năm 1876, Pháp chia Nam kỳ thành 4 khu vực Thôn Mỹ Trà lúc nầy lại thuộc tổng Phong Thạnh, hạt Sa Đéc, tỉnh An Giang
Trang 40Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện Nghị quyết số
16-NQ ngày 20/9/1975 của Thường vụ Trung ương cục miền Nam về việc giải thể khu, sáp nhập tỉnh; Nghị quyết số:19-NQ/TƯ ngày 20/12/1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam Tháng 2/1976, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Theo Nghị định nầy, ở miền Nam có 21 tỉnh là đơn vị hành chính trực thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Tỉnh Long Châu Tiền giải thể, 2 tỉnh Sa đéc và Kiến phong cũ hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp khi mới thành lập gồm có 1 thị xã và 5 huyện là: Thị
xã Sa Đéc, Cao Lãnh, Tam Nông, Hồng Ngự, Châu Thành và Lấp Vò Tỉnh lỵ đóng tại thị xã Sa Đéc
Tuy nhiên theo thời gian, để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, Chính phủ đã thông qua nhiều nghị định tách nhập và thành lập các đơn vị hành chính mới
Quyết định số 4-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 5/1/1981 chia huyện Cao Lãnh thành huyện Cao Lãnh và huyện Tháp Mười, đổi tên huyện Lấp Vò thành huyện Thạnh Hưng
Quyết định số 13/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày 23/2/1983 chia huyện Tam Nông thành huyện huyện Tam Nông và huyện Thanh Bình và chia huyện Cao Lãnh thành thị xã Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh