BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỀ BÀI: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế t
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của CISG và án lệ số 340/1999 (A Pakistan seller and a Russian buyer entered into a contract providing for delivery
of certain goods to be shipped to the latter on the term)”
Hà Nội, 2021
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA
VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Nhóm trưởng: Hoàng Việt Hùng
Tổng số sinh viên của nhóm: 07
+ Vắng mặt : Không
Môn: Luật Thương mại Quốc tế; Đề bài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của CISG và án lệ số 340/1999 (A Pakistan seller and a Russian buyer entered into a contract providing for delivery of certain goods to be shipped to the latter
on the term)”
S
T
T
Mã
SV
của SV
SV
Ký tên
Đánh giá của Giáo
viên
(Số)
Điểm (chữ)
GV
Ký
8
Nhóm trưởng ký xác nhận
Hoàng Việt Hùng
Trang 3MỤC LỤC:
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 5
I Phân tích Quy định của CISG về bồi thường thiệt hại 5
1 Về phạm vi thiệt hại được đền bù 5
2 Về tính dự đoán trước của thiệt hại 6
3 Về tính toán các khoản bồi thường thiệt hại khi hủy hợp đồng 6
4 Về nghĩa vụ chứng minh và tiêu chuẩn của bằng chứng 7
5 Về tiền lãi 7
6 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ và hạn chế tổn thất 7
7 Khoản lợi bị bỏ lỡ 7
II Tóm tắt bản án 8
1 Tóm tắt vụ tranh chấp 8
2 Lập luận của các bên trong vụ việc 9
III Đánh giá, bình luận và liên hệ 10
1 Đánh giá, bình luận về quyết định của trọng tài 10
2 Liên hệ tới pháp luật Việt Nam 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 5MỞ ĐẦU
Chế tài bồi thường thiệt hại trong Công ước viên năm 1980 của Liên hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là chế tài được áp dụng rất phổ biến,
từ những tranh chấp thông thường, cho tới những tranh chấp với các tình tiết phức tạp, gây nhiều tranh cãi Trong bối cảnh là thành viên mới của CISG, việc tìm hiểu
kỹ các quy định cũng như tham khảo thực tiễn xét xử là một yêu cầu thực sự cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam, các cơ quan xét xử, các nhà nghiên cứu pháp
luật và nhất là sinh viên ngành Luật Do đó, nhóm 04 chúng em xin chọn đề tài:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của CISG và án lệ số 340/1999 (A Pakistan seller and a Russian buyer entered into a contract providing for delivery of certain goods to be shipped to the latter on the term)” 1
NỘI DUNG
I Phân tích Quy định của CISG về bồi thường thiệt hại
Được quy định tại Điều 74 đến Điều 77 Công ước Viên 1980 Điều 74 đưa ra công thức chung để tính toán tiền bồi thường; Điều 75 và Điều 76 quy định công thức tính toán tiền bồi trong trường hợp hợp đồng bị hủy; Điều 77 đề cập đến vấn
đề giảm tiền bồi thường do bên đòi bồi thường không tiến hành các biện pháp hợp
lý nhằm hạn chế tổn thất
1 Về phạm vi thiệt hại được đền bù
Khi xác định thiệt hại, Công ước Viên 1980 giới hạn phạm vi thiệt hại được đền bù Điều 74 xác định phạm vi thiệt hại bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ
mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, Công ước Viên 1980 lại không đề cập đến việc phân loại tổn thất Việc phân loại tổn thất có thể căn cứ vào thực tiễn áp dụng Công ước Viên 1980, UNCITRAL như sau: Tổn thất phát sinh do làm chết hay thiệt hại về thân thể: không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên 1980 (Điều 5); Tổn thất phát sinh do thiệt hại tài sản khác: bao
1 http://www.unilex.info/cisg/case/876?fbclid=IwAR2BxAybL5PDuOlqhyMGylUFCoXnapORdS1dOTlKbKdzzKPLicTU0xyxum0
Trang 6gồm trong quy định của Công ước Viên 1980 (Điều 5); Tổn thất phát sinh do thay đổi giá trị đồng tiền: Công ước Viên 1980 không có quy định cụ thể về tổn thất gây
ra bởi đồng tiền mất giá Việc thiệt hại này có được bồi thường hay không tùy thuộc vào quyết định của tòa án; Tổn thất phát sinh do thiệt hại lợi ích phi vật chất: Đây là loại tổn thất khá thường gặp trong các tranh chấp phát sinh, nhưng Công ước Viên 1980 không có quy định về loại tổn thất này
2 Về tính dự đoán trước của thiệt hại
Theo Điều 74 Công ước Viên 1980 quy định: Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng
lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết Thực tiễn cho thấy, một số phán quyết về sự mất mát danh tiếng nhìn chung là không thể
dự liệu trước được; một số quyết định khác thì cho thấy rằng một số khoản tiền bồi thường là có thể dự liệu trước được
3 Về tính toán các khoản bồi thường thiệt hại khi hủy hợp đồng
(i) Trường hợp bên bị thiệt hại đã ký kết hợp đồng thay thế:
Theo Điều 75, thì lúc này công thức tính tiền bồi thường bằng khoản 10 chênh lệch giữa giá hợp đồng gốc và giá hợp đồng thay thế Còn phần chênh lệch thì có thể được điều chỉnh tăng thêm các khoản tiền bồi thường tại Điều 74 hay điều chỉnh giảm đi các khoản đáng lẽ ra phải ngăn ngừa được theo nguyên tắc hạn chế tổn thất tại Điều 77
Điều kiện để áp dụng công thức theo Điều 75 như sau: Hợp đồng phải bị hủy; Hợp đồng thay thế phải được ký kết; Hợp đồng thay thế phải được ký kết một cách hợp lý
(ii) Trường hợp bên bị thiệt hại chưa ký kết hợp đồng thay thế:
Trường hợp này được áp dụng công thức tại Điều 76 Điều kiện để áp dụng công thức theo Điều 76: Hợp đồng phải bị hủy; bên bị thiệt hại không ký kết hợp đồng thay thế; tồn tại giá hiện hành trên thị trường
Trang 74 Về nghĩa vụ chứng minh và tiêu chuẩn của bằng chứng
Mặc dù không một công thức tính toán tiền bồi thường nào của Điều 74, 75 và
76 Công ước Viên 1980 chỉ định nghĩa vụ chứng minh nhưng các quyết định đều thống nhất rằng bên nào đòi tiền bồi thường thì phải có nghĩa vụ chứng minh Nếu không được chứng minh một cách hợp lý thì bên bị vi phạm có thể sẽ không được bồi thường
5 Về tiền lãi
Điều 78 quy định về việc tính lãi trên khoản tiền chưa trả và không xác định
cụ thể cách tính lãi suất nợ: “Nếu một bên hợp đồng không thanh toán tiền hàng hoặc một khoản tiền nào đó thì bên kia có quyền được hưởng tiền lãi tính trên khoản tiền đó mà không ảnh hưởng đối với bất cứ yêu cầu nào về bồi thường thiệt hại có thể nhận được theo quy định của Điều 74”
6 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ và hạn chế tổn thất
- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ: Từ quy định tại Điều 74 Công ước Viên 1980, có thể suy ra nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ, rằng khoản tiền bồi thường thiệt hại phải đưa bên bị thiệt hại về tình trạng tài chính trước khi có vi phạm xảy ra và hợp đồng được thực hiện đầy đủ
- Nguyên tắc hạn chế tổn thất: Điều 77 Công ước Viên 1980 quy định bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự
vi phạm hợp đồng gây ra Các biện pháp hạn chế tổn thất bao gồm: Biện pháp do người mua thực hiện và biện pháp do người bán thực hiện
7 Khoản lợi bị bỏ lỡ
Điều 74 Công ước Viên 1980 quy định khoản lợi bị bỏ lỡ là bộ phận cấu thành của số tiền bồi thường thiệt hại Thực tiễn trong một phán quyết, khoản lợi bị bỏ lỡ được tính toán bằng phần chênh lệch của giá hợp đồng và giá hiện hành của hàng hóa khi người mua không thể bán lại hàng hóa; một phán quyết khác thì được tính bằng phần chênh lệch của giá thành sản xuất của đơn vị hàng hóa khi sử dụng máy
Trang 8móc có khuyết tật của người mua và giá thành sản xuất đó giả định khi máy móc
II Tóm tắt bản án
1 Tóm tắt vụ tranh chấp
1.1 Các bên tham gia và giải quyết tranh chấp
Nguyên đơn: Một người bán đến từ Pakistan, sau đây gọi là bên bán
Bị đơn: Một người mua đến từ Nga, sau đây gọi là bên mua
Cơ quan giải quyết: Tòa án Trọng tài Thương mại Quốc tế tại Phòng
Thương mại & Công nghiệp Liên bang Nga
1.2 Sự kiện pháp lý
Một người bán Pakistan và một người mua Nga đã ký kết một hợp đồng về việc giao hàng hóa, sẽ được vận chuyển cho người bán với điều kiện“C.I.F” cảng của Nga
Lần giao hàng đầu tiên, sau khi nhận hàng bên mua phát hiện một lượng lớn hàng hóa bị lỗi, tuy nhiên bên mua đã không đình chỉ hợp đồng, tiếp tục xác nhận ý định nhận lô hàng thứ hai
Lần giao hàng thứ hai, bên mua từ chối giao hàng và thanh toán cho lô hàng thứ hai mà người bán đã chuẩn bị cho việc gửi hàng Thay vì vận chuyển hàng hóa, người bán đã để chúng lưu trữ trong kho của mình
Bên bán khởi kiện bên mua ra tòa án và yêu cầu bên mua thanh toán giá cho lô hàng thứ hai (cộng lãi), thu hồi chi phí lưu kho lô thứ hai và thu hồi chi phí nguyên vật liệu đã mua để sản xuất lô thứ hai
1.3 Vấn đề pháp lý
(1) Vấn đề phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Dựa trên quy định của
hợp đồng giao kết giữa các bên, thì hàng hóa thực tế mà [Bên mua] nhận được không đảm bảo chất lượng với một số lượng lớn Tuy nhiên, sau lần nhận hàng đầu tiên [Bên mua] không có dấu hiệu chấm dứt hợp đồng Sau khi lô hàng thứ hai
2 http://hul.hueuni.edu.vn/upload/file/tn_caohoc/tt-le-huu-hai.pdf
Trang 9được chuẩn bị để vận chuyển thì [Bên mua] lại từ chối giao hàng và thanh toán Thay vì vận chuyển hàng hóa, người bán đã để chúng lưu trữ trong kho của mình Vậy vấn đề pháp lý ở đây là: Liệu [Bên bán] có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay không? Và trách nhiệm bồi thường thiệt hại có hoàn toàn thuộc về [Bên mua] hay không?
(2) Vấn đề phát sinh trách nhiệm giảm thiểu thiệt hại: Thay vì vận chuyển
hàng hóa, người bán đã để chúng lưu trữ trong kho của mình nhưng không bảo quản theo đúng điều kiện Mặc dù theo CISG bên bán nên thực hiện các biện pháp hợp lý trong hoàn cảnh để giảm thiểu tổn thất do vi phạm của bên mua hợp đồng Vậy có phát sinh trách nhiệm của bên bán trong việc bảo quản hàng hóa hay không?
1.4 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp
Vậy, trong vụ việc này, pháp luật liên bang Nga chỉ có thể được thực hiện đối với các vấn đề không thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG, phần còn lại CISG sẽ được áp dụng
2 Lập luận của các bên trong vụ việc
2.1 Lập luận của nguyên đơn
Theo bên nguyên đơn, bên mua đã không thực hiện theo đúng yêu cầu của hợp đồng, nên bên bán yêu cầu gồm: Bồi thường giá của lô hàng thứ hai theo giá của hợp đồng, cộng với lãi của số tiền đó; Bồi thường chi phí lưu kho lô hàng thứ hai; Bồi thường chi phí nguyên vật liệu mà bên bán đã mua để sản xuất lô hàng tiếp theo; Bên mua phải nộp khoản tiền lãi phát sinh từ việc phát sinh vi phạm hợp đồng
2.2 Lập luận của bị đơn
Người mua giải thích trên thực tế người bán không thông báo cho người muavề sự sẵn sàng của hàng hóa để vận chuyển vàkhông có các mẫu hàng hóa đã thỏa thuận, theo yêu cầu của hợp đồng Người mua phản đối các khiếu nại mà
Trang 10người bán dựa trên các khẳng định của mình, ngoài ra, về việc người mua vi phạm các điều kiện hợp đồng
2.3 Lập luận của cơ quan tài phán
Tòa án xác định bên mua vi phạm hợp đồng Hội đồng ra phán quyết rằng người mua phải trả giá hàng hóa chấp nhận cộng tiền lãi trên số tiền còn nợ mà người mua đã không thanh toán vì vi phạm Điều 54 CISG và Điều 60 CISG Đồng thời, quyết định tổn thất của lô hàng thứ hai sẽ phân bổ cho cả hai bên trong đó người bán chỉ được bồi thường 25% giá trị hợp đồng
Tòa án bác bỏ yêu cầu của người bán về việc bồi thường cho việc mua nguyên liệu thô ban đầu để sản xuất lô hàng tiếp theo Bên cạnh đó, tòa chấp nhận yêu cầu thu hồi tiền lãi của bên bán
III Đánh giá, bình luận và liên hệ
1 Đánh giá, bình luận về quyết định của trọng tài
Thứ nhất, về việc lựa chọn luật áp dụng
Các bên đã tham khảo luật của Liên bang Nga là luật áp dụng cho hợp đồng của họ Tòa án Trọng tài khẳng định khả năng áp dụng CISG theo điều kiện của Điều 15 của Hiến pháp Liên bang Nga coi CISG là một phần của hệ thống pháp luật của Liên bang Nga Các vấn đề không thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG nên được giải quyết bằng cách áp dụng bổ sung các quy tắc của luật Liên bang Nga.Điều này cũng có nghĩa là các bên đã công nhận hợp đồng được điều chỉnh bởi CISG.Phán quyết này là phù hợp với quy định tại Điều 1.1.b CISG Tại thời điểm giải quyết tranh chấp, Công ước đã có hiệu lực đối với các quốc gia của người mua
Thứ hai, về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Hội đồng xét xử cho rằng, bên mua không thực hiện các thủ tục thanh toán cho lô hàng thứ hai là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Nhận thấy rằng người mua biết rằng lô hàng thứ hai đã sẵn sàng để vận
chuyển (vì họ đã được thông báo trực tiếp hoặc bởi đại diện của họ) và đã nhận
Trang 11được các mẫu hàng hóa; hơn nữa, đại diện của người mua đã có thể tiến hành kiểm tra hàng hóa trước khi vận chuyển tại nhà máy của nhà sản xuất Mặc dù khi nhận
ra được 10% hàng hóa bị khiếm khuyết trong lô hàng thứ nhất, người mua có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng miễn là thông báo trước về điều đó cho người bán như điều 11 mà hợp đồng mua bán giữa hai bên đã qui định Tuy nhiên người mua đã không chính thức sử dụng quyền này
Vì vậy, người mua không thể từ chối việc thanh toán và việc nhận lô hàng thứ hai Hội đồng trọng tài phán quyết rằng người mua vi phạm điều 54 CISG về nghĩa
vụ thanh toán tiền hàng: do không “áp dụng các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà
hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng” Và
kết hợp với Điều 60 CISG, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo hợp đồng quy định
Trong tình huống người mua không thực hiện nghĩa vụ, hành động người bán gửi hàng hóa vào kho để bảo quản là hợp lý khi người mua chậm trễ nhận hàng hay không trả tiền theo quy định tại điều 85 CISG Tuy vậy, hội đồng trọng tài nhận định rằng người bán để thời gian bảo quản quá lâu, khiến một lượng lớn hàng hóa
bị hư hỏng, phần còn lại được cho tổ chức từ thiện Hội đồng cho rằng hành động trên của người bán là vi phạm điều 77 CISG vì người bánđã không tiến hành những biện pháp cần thiết để giảm thiểu thiệt hại của hàng hóa Trong trường hợp hàng hóa được bảo quản theo điều 85 CISG thuộc loại hàng mau hỏng thì phải được giải quyết theo điều 88 CISG: bên bán có nghĩa vụ phải tiến hành các biện pháp hợp lý
để bán hàng đi Tuy nhiên, người bán lại không đưa ra bất kì bằng chứng nàovề việc đã tiến hành các biện pháp hợp lý để bán hàng đi và cũng như thừa nhận là do thời gian bảo quản quá lâu đã dẫn đến tổn cho hàng hóa
Thứ ba, về nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại của bên bị vi phạm
Phân tích cho thấy, người mua - bên vi phạm hợp đồng nhưng cuối cùng chỉ phải bồi thường 25% thiệt hại Người bán - bên bị vi phạm, đáng lẽ ra được bồi thường những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của đối tác gây ra, thì phải