1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm dẫn luận ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt trong đời sống con người

15 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn Ngữ Là Hệ Thống Tín Hiệu Đặc Biệt Trong Đời Sống Con Người
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Bài Tập Nhóm Dẫn Luận
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 44,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ngôn ngữ là một cơ cấu toàn bộ các yếu tố hợp thành , một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ nói năng để định hình , để biểu hiện và trao đổi

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

A KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÔN NGỮ 3

I Ngôn ngữ là gì ? 3

II Phân biệt ngôn ngữ , lời nói và hoạt động ngôn ngữ : 3

B NGÔN NGỮ LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU ĐẶC BIỆT 3

I Bản chất tín hiệu của hệ thống ngôn ngữ 3

1 Khái niệm hệ thống tín hiệu: 3

2 Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau 4 II Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt 8

1 Tính phức tạp nhiều tầng bậc của ngôn ngữ: 8

2 Các đơn vị ngôn ngữ làm thành những cấp độ khác nhau 9

3 Tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ 10

4 Tính độc lập tương đối của ngôn ngữ 11

5 Giá trị đồng đại và lịch đại của ngôn ngữ: 11

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC THAM KHẢO 13

Trang 2

MỞ ĐẦU

Không phải chỉ chúng ta hôm nay mới tự hỏi: Ngôn ngữ ra đời từ đâu? nhờ cái gì? nhờ ai? Chính xác là: ngôn ngữ xuất hiện cùng với quá trình hình thành ý thức, gắn liền với lao động, với sự xuất hiện của con người

và xã hội loài người Lê Nin nhận định về vai trò của ngôn ngữ: “Ngôn ngữ là

phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.” Cùng với sự ra đời của

ngôn ngữ cũng là sự hình thành nên tín hiệu Trong đời sống của mình, loài người phát hiện, làm quen, xây dựng và sử dụng nhiều kiểu loại tín hiệu khác nhau Việc nghiên cứu toàn diện các loại tín hiệu đó, là nhiệm vụ trung tâm của khoa tín hiệu học (semiology) Đã có nhiều quan niệm khác nhau và nhiều cách phân loại khác nhau đối với tín hiệu Khi vật chất hóa thành tín hiệu, hay trở thành phi vật chất và ý niệm thì ngôn ngữ được định danh, phân cắt rõ ràng Tín hiệu và ngôn ngữ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, là nền

tảng để phát triển, chi phối và củng cố lẫn nhau Vì thế, Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt trong đời sống con người.

Trang 3

NỘI DUNG

A KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÔN NGỮ

I Ngôn ngữ là gì ?

Khái niệm thuật ngữ “ ngôn ngữ ” gồm các nghĩa : “Tiếng nói của

mỗi dân tộc Là tiếng người nói chung Khái quát về lời nói của một cá nhân.”

Cơ cấu ngôn ngữ bao gồm :

- Hệ thống ngữ âm : mặt âm thanh của lời nói

- Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa : tập hợp những đơn vị định danh sự vật , sự tình , biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau

- Hệ thống ngữ pháp : tập hợp những quy tắc tạo nên những đơn vị thông báo

- Ngôn ngữ là một cơ cấu ( toàn bộ các yếu tố hợp thành ) , một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ nói năng để định hình , để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng tình cảm với nhau

Ngoài ra, Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp và chức năng phản ánh tư duy

II Phân biệt ngôn ngữ , lời nói và hoạt động ngôn ngữ :

Ngôn ngữ : Là sự tập hợp các đơn vị , các quy tắc đã được xã hội quy ước và quy định

Lời nói : Là hoạt động cá nhân của người sử dụng hệ thống ngôn ngữ chung để giao tiếp với các thành viên khác trong cộng đồng ngôn ngữ

Hoạt động Ngôn ngữ : là những hiện tượng trong đời sống một ngôn ngữ như , nghĩ thầm , độc thoại , hội thoại , việt , đọc , hiểu tiếp xúc ngôn ngữ , vay mượn , dịch , khôi phục ngôn ngữ ,

B NGÔN NGỮ LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU ĐẶC BIỆT

Trang 4

I Bản chất tín hiệu của hệ thống ngôn ngữ

1 Khái niệm hệ thống tín hiệu:

Tín hiệu là một yếu tố vật chất kích thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác được và thông qua đó biết về một cái gì khác ở ngoài vật đó.1

Tín hiệu bao gồm: Kí hiệu (symbol, coventional sign) là dấu hiệu vật chất quy ước để biểu thị một ý nghĩa nhất định nào đó.2 Dấu hiệu (sign) là những sự vật hiện tượng không do con người làm ra

Ngôn ngữ là một tín hiệu bởi nó thoả mãn các yêu cầu:

- Ngôn ngữ là một thuộc tính vật chất được cảm nhận qua giác quan của con người (bằng chữ viết và âm thanh), kích thích đến giác quan của con người và con người cảm nhận được

- Trong ngôn ngữ, cái biểu hiện (âm thanh và chữ viết) có quan hệ hài hoà với cái được biểu hiện (nội dung của ngôn ngữ)

Nó khác với những hệ thống vật chất khác không phải là tín hiệu, ví dụ như kết cấu của một cái cây, một vật thể nước, đá, kết cấu của một cơ thể sống, v.v…

 Điều kiện để một vật thể, thực thể trở thành tín hiệu:

 Phải là vật chất

 Phải đại diện cho một cái gì đó ngoài bản thân nó

 Phải có liên hệ quy ước giữa “tín hiệu” với cái mà nói đại diện cho

 Sự vật phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để xác định được đặc trưng tín hiệu của mình với các tín hiệu khác

1 Bùi Minh Toán – Đặng Thị Lanh, Tiếng Việt, tập I, NXB Giáo dục 2001

2 Nguyễn Như Ý Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học.

Trang 5

2 Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau:

a Tính hai mặt của tín hiệu:

Với mỗi một tín hiệu ngôn ngữ, theo nguyên lí chung của việc thành lập một tín hiệu, bao giờ cũng phải có hai mặt: Đó là mặt biểu hiện (hình thức tín hiệu) và mặt được biểu hiện (nội dung tín hiệu):

- Mặt hình thức của tín hiệu (cái biểu hiện) là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã

cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ

- Mặt nội dung (cái được biểu hiện) là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại

cái được biểu hiện 3

Ví dụ: Tín hiệu “cây” trong tiêng việt là sự kết hợp giữa lược đồ sau :

Âm thanh: Cây (cái biểu hiện)

Ý nghĩa: loài thực vật có lá (cái được biểu hiện)

3 http://www.dongtac.hncity.org/spip.php?article2789

Trang 6

Cái biểu hiện và cái được biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ gắn bó khăng khít với nhau không thể tách rời

Như vậy, để trở thành một tín hiệu, bất kì một hiện tượng ngôn ngữ nào đã xuất hiện trong giao tiếp của loài người cũng phải bao gồm 2 mặt khác nhau là mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Mặt biểu hiện làm nhiệm

vụ trung chuyển những ý nghĩ, tình cảm, xúc cảm, nhu cầu khác nhau của người nói tới được cơ quan thụ cảm của người nghe Nếu không có cái biểu hiện thì quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe sẽ bị hoàn toàn cắt đứt

Ví dụ: Hệ thống đèn giao thông bao gồm 3 yếu tố: màu đỏ, màu xanh,

màu vàng Đó là cái được biểu hiện Màu đỏ biểu đạt lệnh cấm đi, màu vàng biểu đạt lệnh dừng lại, màu xanh biểu đạt lệnh được đi Nếu chúng không đặt trong hệ thống giao thông thì đặc trưng tín hiệu của nó không còn nữa Bởi vì cái biểu đạt và cái được biểu đạt ấy là do con người quy ước trong hệ thống tín hiệu giao thông

Mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là mối liên hệ rất đặc trưng của ngôn ngữ Đặc trưng này được thể hiện ở chỗ: mỗi một cái biểu hiện luôn chỉ có một cái được biểu hiện tương ứng Khi mối liên hệ 1–1 này bị cắt đứt thì các quá trình giao tiếp sẽ bị ảnh hưởng hoặc không thể thực hiện được

b Tính võ đoán của tín hiệu:

Ngôn ngữ là sự hợp nhất của cái biểu hiện và cái được biểu hiện Do tính chất và số lượng của các từ trong một ngôn ngữ là vô cùng lớn nên ngôn ngữ học cấu trúc luận cho rằng mối liên hệ 1-1 này không bao giờ tách nhau

ra nhưng được coi là võ đoán với nhau và phải được quy ước

Trang 7

Ví dụ: Cái biểu hiện là tín hiệu đèn xanh - cái được biểu hiện là “được

phép đi”; “đèn xanh” đại diện cho “được phép đi”

Ngôn ngữ cũng vậy Âm thanh “sách” được phát ra để đại diện cho khái niệm “sách” trong não bộ con người (xin lưu ý: âm thanh “sách” đại diện cho một khái niệm trong tư duy, chứ không phải là đại diện cho sự vật

“sách” ngoài đời)

Tuy nhiên, cùng một khái niệm được phản ánh, người Việt Nam nói là

“sách”, người Trung Quốc nói là “shu”, người Nhật nói là “hon”, và người Anh nói là “book”

Rõ ràng, không có mối liên hệ logic và tất yếu nào giữa âm thanh “sách” với khái niệm được biểu đạt cả Đó là tính võ đoán của ngôn ngữ

Nói tóm lại, tính võ đoán của ngôn ngữ là chỉ cái biểu hiện và cái được biểu hiện không có mối quan hệ tất yếu nào, mà chỉ đơn thuần là do một nhóm người quy ước với nhau, khi quy ước được xã hội chấp nhận rộng rãi, nó sẽ được cố định Vì thế nên tín hiệu còn mang tính xã hội, nó được con người quy ước với nhau để biểu thị một nội dung nào đấy

c Tính vật chất của tín hiệu:

Thuộc tính vật chất của mỗi tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những đặc trưng có khả năng phân biệt của nó

Ví dụ: So sánh vết mực và 1 chữ cái:

Giống nhau: về bản chất vật chất Chúng đều có khả năng tác động vào thị

giác như nhau

Khác nhau: Tất cả các thuộc tính vật chất của vết mực như: độ lớn, hình

dạng, màu sắc,… đều quan trọng như nhau trong đặc trưng của vết mực Còn 1 chữ cái nhất định thì dù đậm nét hay thanh, to hay nhỏ vẫn chỉ là chữ cái đó thôi

Trang 8

Có sự khác nhau đó là do chữ cái nằm trong hệ thống tín hiệu còn vết mực thì không

d Giá trị khu biệt của tín hiệu.

Trong một hệ thống tín hiệu, cái quan trọng là sự khu biệt Thuộc tính vật chất của mỗi tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những đặc trưng có khả năng phân biệt của nó So sánh một vết mực trên giấy và một chữ cái chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Cả vết mực lẫn chữ cái đều có bản chất vật chất như nhau, đều có thể tác động vào thị giác như nhau Nhưng muốn nêu đặc trưng của vết mực phải dùng tất cả các thuộc tính vật chất của nó: độ lớn, hình thức, màu sắc, độc đậm nhạt v.v…, tất cả đều quan trọng như nhau

Trong khi đó, cái quan trọng đối với một chữ cái chỉ là cái làm cho nó khác với chữ cái khác: Chữ A có thể lớn hơn hay nhỏ hơn, đậm nét hơn hay thanh nét hơn, có thể có màu sắc khác nhau, nhưng đó vẫn chỉ là chữ A mà thôi Sở dĩ như vậy là vì chữ A nằm trong hệ thống tín hiệu, còn vết mực không phải là tín hiệu Như vậy, ở đây nét khu biệt của các thuộc tính vật lí của các màu cũng là quan trọng

II Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt

1 Tính phức tạp nhiều tầng bậc của ngôn ngữ:

Hệ thống ngôn ngữ phức tạp ở chỗ nó bao gồm vô số lượng từ và câu không thể thống kê được bởi vì chúng thường xuyên biến đổi và được bổ sung thêm Các hệ thống dưa hấu có tính đồng loại và khác loại, đồng thời các đơn vị của ngôn ngữ thuộc nhiều cấp độ khác nhau Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan hệ cấp bậc do đó hệ thống ngôn ngữ là một hệ thống của nhiều hệ thống: hệ thống âm vị, hệ thống hình vị, hệ thống từ vựng, hệ thống câu các hệ thống này lại gồm các hệ thống con khác

Trang 9

- Hệ thống con: Vì ngôn ngữ bao gồm các yếu tố không đồng loại cho nên nó tạo ra nhiều hệ thống và hệ thống con khác nhau Mỗi hệ thống con như vậy bao gồm những yếu tố tương đối đồng loại Chẳng hạn, hệ thống âm

vị bao gồm tất cả các âm vị, hệ thống từ vựng bao gồm tất cả các từ và đơn

vị tương đương với từ, hệ thống hình vị bao gồm tất cả các hình vị v.v… Hệ thống âm vị lại có thể chia ra hệ thống nguyên âm và hệ thống phụ âm, hệ thống hình vị có thể chia ra hệ thống hình vị thực và hệ thống hình vị hư, hệ thống từ vựng có thể chia ra hệ thống từ đơn và hệ thống từ ghép v.v…

- Yếu tố không đồng loại: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp bao gồm các yếu tố đồng loại và không đồng loại, với số lượng không xác định Những hệ thống tín hiệu nhân tạo như hệ thống đèn giao thông, biển chỉ đường, quân hiệu, quân hàm v.v… chỉ bao gồm một số tương đối hạn chế các yếu tố đồng loại Chẳng hạn, hệ thống đèn giao thông chỉ gồm ba yếu tố là đèn đỏ, đèn xanh và đèn vàng và tính chất của chúng là hoàn toàn như nhau Ngôn ngữ có nhiều loại đơn vị khác nhau: âm vị khác với hình vị, hình vị khác với từ, từ khác với câu Số lượng từ và câu trong một ngôn ngữ

là vô số Không ai có thể biết tất cả các từ của ngay tiếng mẹ đẻ của mình, bởi vì nó quá nhiều, lại thường xuyên được phát triển, bổ sung thêm

2 Các đơn vị ngôn ngữ làm thành những cấp độ khác nhau

Khi nghiên cứu, người ta thường chia các yếu tố của ngôn ngữ vào các cấp độ khác nhau Cấp độ là một trong những giai đoạn nghiên cứu của ngôn ngữ được quy định bởi những thuộc tính của những đơn vị được phân xuất trọng khi phân tách chuỗi lời nói một cách liên tục từ những đơn vị bậc cao đến những đơn vị bậc thấp Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan

Trang 10

hệ tôn ti, tức là các đơn vị bậc thấp "nằm trong" các đơn vị bậc cao và các đơn vị bậc cao "bao gồm" các đơn vị bậc thấp

Thí dụ: câu bao gồm các từ, từ bao gồm các hình vị, hình vị bao gồm các âm

vị Ngược lại, âm vị nằm trong hình vị, hình vị nằm trong từ, từ nằm trong câu Vì vậy, âm vị, hình vị, từ và câu là những cấp độ khác nhau Chẳng hạn, hình vị thực và hình vị hư, từ đơn và từ ghép không tạo thành những cấp độ khác nhau, bởi vì ở đấy không tìm thấy quan hệ "nằm trong" và "bao gồm"

Có khi sự khác nhau bên ngoài của những đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau giảm tới số không (zero), nhưng chúng vẫn khác nhau về chất, bởi vì chức năng của chúng không đồng nhất

Ví dụ: Một đứa trẻ thấy mẹ về reo lên: – U! - Có thể coi đây là một câu,

nhưng câu này chỉ gồm một từ, từ này lại chỉ gồm một hình vị, và cuối cùng, hình vị ”U “ cũng là một âm vị Trong ngôn ngữ học, có khi người ta gọi ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp hoặc ngữ âm và ngữ nghĩa là các cấp độ Thực

ra, đây chỉ là những mặt, những lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ mà thôi

3 Tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ

Trong các hệ thống tín hiệu khác, mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện có tính chất đơn trị, nghĩa là mỗi cái biểu hiện chỉ tương ứng với một cái được biểu hiện Ở ngôn ngữ không hoàn toàn như vậy Trong ngôn ngữ, có khi một cái biểu hiện tương ứng với nhiều cái được biểu hiện khác nhau, chẳng hạn, các từ đa nghĩa và đồng âm, có khi nhiều cái biểu hiện khác nhau chỉ tương ứng với một cái được biểu hiện, chẳng hạn, các từ đồng nghĩa Mặt khác, vì ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp và phương tiện tư duy mà còn là phương tiện biểu hiện tình cảm, cho nên mỗi

Trang 11

tín hiệu ngôn ngữ, ngoài nội dung khái niệm còn có thể biểu hiện cả các sắc thái tình cảm của con người nữa

Ví dụ:

- Anh ấy đang làm gì vậy?

- Anh ấy đang làm

- Anh ấy đang làm!

4 Tính độc lập tương đối của ngôn ngữ

Các hệ thống tín hiệu nhân tạo khác thường được sáng tạo ra theo sự thoả thuận của một số người, do đó hoàn toàn có thể thay đổi theo ý muốn của con người Ngược lại, ngôn ngữ có tính chất xã hội, có quy luật phát triển nội tại của mình, không lệ thuộc vào ý muốn của cá nhân Tuy nhiên, bằng những chính sách ngôn ngữ cụ thể, con người vẫn có thể tạo điều kiện cho ngôn ngữ phát triển theo những hướng nhất định Chính vì vậy, người ta nói ngôn ngữ có tính độc lập tương đối

5 Giá trị đồng đại và lịch đại của ngôn ngữ:

Cả hai thuật ngữ đều xuất phát, trước hết, từ lãnh vực ngôn ngữ học Lịch đại là cái nhìn theo chiều dọc, mang tính lịch sử, theo đó, mọi thứ đều đặt trong quan hệ với những gì trước và sau đó Đồng đại, ngược lại, là cái nhìn theo chiều ngang, theo đó, mọi thứ đều đặt trong tương quan với những thứ khác ở những nơi khác, cùng thời Các hệ thống tín hiệu nhân tạo chỉ có giá trị đồng đại, tức là được sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu nào đó của con người trong một giai đoạn nhất định Ngôn ngữ vừa có giá trị đồng đại vừa

có giá trị lịch đại Bất cứ ngôn ngữ nào cũng là sản phẩm của quá khứ để lại

Trang 12

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp và tư duy của những người cũng thời mà còn là phương tiện giao tiếp và tư duy của những người thuộc các thời đại khác nhau, các giai đoạn lịch sử khác nhau

Ngày đăng: 16/11/2023, 07:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w