Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những đổi mới, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện thu hút khách nước ngoài để giới thiệu đất nước, con người và tinh
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ - -
LÊ THỊ ÁNH NGỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH ĐỊA LÝ DU LỊCH )
Đà Nẵng – Năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ - -
LÊ THỊ ÁNH NGỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH QUẢNG NGÃI
NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH )
KHÓA: 2019 - 2023
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Tưởng
Đà Nẵng – Năm 2023
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận này, ngoài sự nổ lực cố gắng từ bản
thân, em còn nhận được nhiều sự giúp đỡ, quan tâm, động viên nhiệt tình từ các tập thể
và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm –
ĐHĐN cùng toàn thể các Quý thầy cô giáo Khoa Địa lý - trường Đại học Sư phạm –
ĐHĐN đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Tưởng – Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình lập đề
cương và hoàn thành khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng
Ngãi cho phép, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập tài liệu cần
thiết để thực hiện đề tài
Cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình và bạn bè để em có thể có những điều
kiện tốt nhất để hoàn thành đề tài
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nổ lực trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc
chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em kính mong kính mong Quý thầy cô, các chuyên
gia, những người quan tâm đến đề tài, gia đình và bạn bè có những ý kiến đóng góp,
giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 2
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp 2
4.3 Phương pháp đối sánh 2
4.4 Phương pháp biểu đồ, bản đồ 3
5 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 3
B PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch 4
1.1.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường 6
1.1.3 Nội dung phát triển du lịch 7
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam 12
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở các tỉnh, thành phố và bài học rút ra cho phát triển du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi 14
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
18
2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ngãi 18
2.1.1 Vị trí địa lý 18
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 18
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi 23
2.2.1 Tài nguyên du lịch 23
2.2.2 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật 31
2.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội, chính trị 34
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua 36
2.3.1 Khách du lịch 36
2.3.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch 38
2.3.3 Nguồn lao động phục vụ du lịch 40
2.3.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 41
2.3.5 Loại hình và sản phẩm du lịch 43
2.3.6 Công tác quảng bá, xúc tiến và đầu tư phát triển du lịch 47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI 51
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi 51
3.1.1 Quan điểm phát triển 51
3.1.2 Mục tiêu phát triển 51
3.2 Những cơ hội và thách thức đối với du lịch tỉnh Quảng Ngãi 53
3.2.1 Cơ hội 53
3.2.2 Thách thức 53
3.3 Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi 54
3.4 Một số kiến nghị 58
C PHẦN KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
Trang 6DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
11 UNESCO United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hiệp Quốc)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: GRDP tỉnh Quảng Ngãi theo khu vực kinh tế giai đoạn 2016 - 2019 21
Bảng 2.2: Tổng hợp các tuyến đường bộ chính của Quảng Ngãi 31
Bảng 2.3: Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2018 - 2020 41
Bảng 2.4: Thống kê cơ sở lưu trú tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2018 – 2020 42
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tình hình khách du lịch đến Quảng Ngãi giai đoạn 2018 – 2022 37
Biểu đồ 2.2: So sánh khách du lịch đến ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, 38
Biểu đồ 2.3: Tổng thu từ du lịch của Quảng Ngãi giai đoạn 2018 – 2022 39
Biểu đồ 2.4: Tổng thu từ du lịch của Quảng Ngãi, Quảng Nam và 40
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu buồng lưu trú của Quảng Ngãi năm 2020 42
Trang 8A PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống văn hóa lâu đời với nhiều lễ hội, phong tục tập quán tốt đẹp và độc đáo, nhiều di tích lịch sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, giàu bản sắc văn hóa, nguồn lao động dồi dào thông minh, cần
cù và giàu lòng nhân ái Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những đổi mới, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện thu hút khách nước ngoài để giới thiệu đất nước, con người và tinh hoa của dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế; đáp ứng một phần nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân trong nước, bước đầu
đã thu được những kết quả nhất định về kinh tế Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng
Nắm bắt xu thế phát triển, những năm gần đây Quảng Ngãi – một tỉnh ven biển nằm
ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều tiềm năng lớn để phát triển du lịch, cũng đã
có những bước phát triển và đạt được nhiều thành quả Tuy nhiên, đến nay ngành du lịch Quảng Ngãi vẫn đang tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém Trong số đó, nhiều tiềm năng du lịch còn chưa được khai thác, môi trường ô nhiễm, phát triển thiếu tính bền vững, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, nghèo nàn; đa số các cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ tại Quảng Ngãi có quy mô nhỏ, phân tán, chưa liên kết với nhau, chưa tạo đặc trưng riêng; cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chưa tạo điều kiện tiếp cận tài nguyên, phương thức tổ chức còn lạc hậu chưa gắn với nhu cầu thị trường; hoạt động
du lịch ở nhiều nơi còn nghiệp dư, không hấp dẫn du khách; hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường mang lại chưa cao, chưa toàn diện…
Xuất phát từ những vấn đề trên, sinh viên quyết định chọn đề tài “Thực trạng và
giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Hy
vọng rằng, việc thực hiện đề tài sẽ làm rõ được thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi những năm qua và tìm được những giải pháp cần thiết góp phần thúc đẩy du lịch Quảng Ngãi không ngừng phát triển trong lương lai
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch và đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm thúc
đẩy phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ngãi trong tương lai
Trang 93 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Toàn bộ hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi + Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2018 – 2022 và đề xuất định hướng, giải pháp, tầm nhìn đến 2030 + Phạm vi về nội dung: Đánh giá đặc điểm kinh tế - xã hội, các tiềm năng phát triển
du lịch; đánh giá hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn trước; đề xuất định hướng, giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn mới
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu, số liệu, dữ liệu thu thập được từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo hành chính, văn bản quản lý; sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, đề tài khoa học, đề án, dự án; thông tin, dữ liệu thu thập được qua mạng internet trên các trang thông tin, báo điện tử, cổng thông tin điện tử, website của các cơ quan, tổ chức có liên quan
Từ các tài liệu này, trong khóa luận được phân tích, đánh giá tổng hợp để đưa ra các
lý giải, chứng minh cho các vấn đề có liên quan Phương pháp này rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu địa lý nói chung và du lịch nói riêng Đây có thể coi là phương pháp dẫn đến sự thành công của khóa luận Kết quả của phương pháp này là cơ sở khoa học cho việc xây dựng, thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các định hướng, các chiến lược, các giải pháp phát triển của du lịch mang tính khoa học, thực tiễn và đạt hiệu quả cao
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phân tích, đánh giá chi tiết từng vấn đề liên quan đến phát triển du lịch tại địa phương; tổng hợp lại các vấn đề riêng lẻ để đưa ra những đánh giá, nhìn nhận chung, bao quát, toàn diện
4.3 Phương pháp đối sánh
So sánh tiến trình phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ngãi theo theo năm, theo thời kỳ
để xác định tốc độ, mức độ phát triển; so sánh, đối chiếu mức độ phát triển du lịch với các ngành, lĩnh vực khác để xác định vị trí, vai trò của du lịch trong cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh; so sánh, đối chiếu phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ngãi với các địa phương khác trong Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 104.4 Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Đây là phương pháp đặc thù của địa lý nói chung và địa lý du lịch nói riêng Phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu Các mối quan hệ về thời gian, không gian, số lượng, chất lượng, quy mô của các đối tượng địa lý du lịch được thể hiện trong khóa luận một cách rõ nét thông qua hệ thống biểu đồ, bản đồ
Phương pháp này được sử dụng để biểu diễn, thể hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch, các vùng tài nguyên, không gian du lịch, tuyến điểm du lịch, hạ tầng giao thông kết nối
và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch một cách trực quan trên hệ thống bản đồ, biểu đồ
5 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống các các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch làm cơ sở lý thuyết cho hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch
Đề tài này sẽ làm cơ sở cho các doanh nghiệp định hướng trong đầu tư sản phẩm, liên kết phát triển, đồng thời hỗ trợ cho cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cũng như các cấp, ngành liên quan xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho du lịch tỉnh Quảng
Ngãi
6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì đề tài được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
Trang 11B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
Trong tiếng việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán Du lịch có nghĩa
là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi du lịch là du lãm với ý nghĩa đi chơi để nhận thức
Do hoàn cảnh (thời gian và khu vực) khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch
Theo I.I pirôgionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá
Luật Du lịch Việt Nam 2017 đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
Có nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch của các tổ chức và nhà nghiên cứu: Theo nhà kinh tế học người Áo – Jozep Stemder định nghĩa: “Khách du lịch là những người đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên, để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”
Trang 12Nhà kinh tế người Anh – Olgilvi khẳng định rằng: “Để trở thành khách du lịch cần
có hai điều kiện sau: thứ nhất phải xa nhà một thời gian dưới một năm; thứ hai là phải dùng những khoản tiền kiếm được ở nơi khác”
Định nghĩa khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời
ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”
Khái niệm khách du lịch được định nghĩa như sau: Tại Khoản 2 Điều 3 Luật du lịch
2017 quy định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến Theo đó, khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài”
Theo III Pirojnik (1985), “TNDL là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, trí lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép"
Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), đưa ra định nghĩa về TNDL như sau: “TNDL
là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn
du khách, đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của
du lịch một cách hiệu quả và bền vững"
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2017 quy định tại điều 3, chương I thì “TNDL là cảnh quan thiên nhiên yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch TNDL bao gồm TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa”
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị TNDL để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”
Trang 131.1.1.5 Tổ chức lãnh thổ du lịch
Có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010): “Tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất”
Cũng theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), TCLTDL có thể chia thành 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch, cụm tương hỗ phát triển du lịch (thể tổng hợp lãnh thổ du lịch) và vùng du lịch"
1.1.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường
Ở nhiều Quốc gia du lịch đóng góp một phần đáng kể trong tổng thu nhập hàng năm, đặc biệt tại Việt Nam du lịch được đánh giá là một trong 3 ngành kinh tế mũi nhọn được nhà nước chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, không ngừng phát triển và đóng góp rất lớn
và nền kinh tế đất nước
Thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Du lịch phát triển hỗ trợ các ngành giao thông vật tại, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ ăn uống và nghỉ ngơi Ngoài ra ngành du lịch phát triển mang lại thị trường tiêu thụ văn hóa rộng lớn, thúc đẩy tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân
Hoạt động du lịch làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu nhập ngoại tệ đối với đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Ngoài ra, du lịch còn góp phần khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Ngành du lịch giúp tạo cơ hội việc làm lớn cho lao động Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần 1 lượng lớn lao động Ở các vùng cao, ngành du lịch tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân nông thôn, tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống
Góp phần làm giảm quá trình đô thị hoá, cân bằng lại sự phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn, nhờ đó làm giảm gánh nặng những tiêu cực do đô thị hoá gây ra
Trang 14Đồng thời du dịch là cách thức tuyên truyền, quảng bá văn hoá, con người, phong tục tập quán, các danh lam thắng cảnh, các di tích văn hóa lịch sử, các làng nghề truyền thống… của nước chủ nhà đến với bạn bè quốc tế
Một trong những đặc điểm của du lịch là khuyến khích khôi phục những nét văn hóa bị mai một, phục hưng và duy trì các loại hình nghệ thuật cổ truyền như âm nhạc truyền thống, các điệu múa nghi lễ…; làm sống lại các phong tục, tập quán đẹp, bảo tồn các công trình văn hóa và tạo ra thị trường mới cho các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc từ đó nâng cao dân trí, nâng cao trình độ văn hóa, tăng thêm lòng yêu nước tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình yêu quê hương đất nước,…
Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nếu như công trình được phối hợp hài hoà Góp phần cải thiện các điều kiện vi khí hậu nhờ các dự án thường có yêu cầu tạo thêm các công viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo
Góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp trong cấp thoát nước được áp dụng
Góp phần làm tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ các
dự án có phát triển công viên cây xanh, khu nuôi chim thú hoặc bảo tồn các đa dạng sinh học thông qua các hoạt động nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch
Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ những dự án nơi các hoạt động phát triển du lịch cần đến các quỹ đất còn bỏ hay sử dụng không có hiệu quả Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh kinh tế trong những dự án phát triển du lịch tại các khu vực nhạy cảm như : vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên…
1.1.3 Nội dung phát triển du lịch
Quy hoạch phát triển du lịch có thể được coi là một hoạt động đa chiều và hướng tới một thể thống nhất trong tương lai Trong chiến lược phát triển du lịch, công tác xây dựng quy hoạch tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích từ du lịch và giảm thiểu những tiêu cực
mà du lịch có thể mang lại cho cộng đồng
Trang 151.1.3.3 Phát triển thị trường du lịch
Phát triển thị trường du lịch nhằm mở rộng thị trường du lịch trên cơ sở cung cấp thông tin về sản phẩm và thế mạnh du lịch của địa phương cho du khách để thu hút ngày càng nhiều du khách Phát triển thị trường du lịch phải dựa trên cơ sở xây dựng các chiến lược về sản phẩm để mở rộng thị trường với việc xây dựng đan xen sản phẩm và thị trường với nhau sao cho hoạt động kinh doanh du lịch có được hiệu quả
Vốn đầu tư là yếu tố giúp duy trì, nâng cấp và mở rộng phát triển các sản phẩm du lịch; để thu hút khách du lịch trước hết cần phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: hệ thống giao thông, hệ thống khách sạn nhà hàng, phương tiện vận chuyển, đồng thời phải tôn tạo, trùng tu các khu du lịch, khu di tích, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống để tạo tính đa dạng trong các sản phẩm du lịch, tạo sức hấp dẫn, phong phú
Nguồn nhân lực là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm trực tiếp và gián tiếp, nếu nguồn nhân lực được trang bị đúng, đủ kiến thức, kỹ năng quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, trình độ quản
lý, ngoại ngữ thì đó là những yếu tố thuận lợi để thúc đẩy ngành du lịch phát triển
Du lịch và môi trường là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch Vì vậy, phát triển
du lịch có tác động thúc đẩy cải tạo môi trường, làm cho cảnh quan, môi trường sinh thái xanh, sạch đẹp hơn Mặt khác, phát triển du lịch là động lực thúc đẩy xây dựng các CSHT, CSVCKT các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng quốc gia
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch
Trong quá trình phát triển du lịch, vị trí địa lý được coi là một nguồn lực quan trọng
Vị trí địa lý bao gồm vị trí địa lý về mặt tự nhiên, vị trí kinh tế - xã hội và chính trị Đồng thời vị trí địa lý có ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi
Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế
Tài nguyên du lịch (TNDL) là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch (SPDL) Trong hệ thống lãnh thổ du lịch, TNDL là những phân hệ giữ vai trò quan trọng và quyết định sự phát triển du lịch của hệ thống lãnh thổ du lịch Đặc biệt TNDL
Trang 16có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với các phân hệ khác và đối với môi trường kinh tế xã hội Do vậy TNDL là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên SPDL
Sự phong phú và đa dạng, đặc sắc của TNDL tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch Số lượng, chất lượng, sự kết hợp giữa các loại tài nguyên cùng sự phân bố của TNDL là yếu tố quan trọng hấp dẫn khách du lịch và có mối quan
hệ chặt chẽ, ảnh hưởng đến việc đầu tư CSVCKT du lịch, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực du lịch TNDL là yếu tố quan trọng mang tính quyết định để tạo nên quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả của hoạt động du lịch
TNDL là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch (hoạt động du lịch mạo hiểm được tổ chức trên cơ sở các TNDL như núi cao, hệ thống hang động, các khu rừng nguyên sinh, hoang vắng có đa dạng sinh học cao…; du lịch nghĩ dưỡng tắm khoáng được phát triển ở những vùng có các suối khoáng…)
TNDL là bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch gồm: Khách du lịch, TNDL, CSHT, CSVCKT du lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lý du lịch
Du lịch là những chuyến đi là trải nghiệm Do đó mà không thể kể đến các thuận lợi
và nét cộng hưởng cần thiết từ cơ sở hạ tầng Bao gồm hệ thống đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện… Khi cơ sở hạ tầng hiện đại, các chuyến đi được thực hiện dễ dàng hơn Đảm bảo cho du khách tiếp cận dễ dàng với các điểm du lịch, Thỏa mãn được nhu cầu thông tin liên lạc và các nhu cầu khác trong chuyến đi
Hệ thống giao thông đảm bảo cho tính chất an toàn, tiện nghi Cung cấp dịch vụ vận tải với chi phí ngày càng rẻ, tăng tốc độ vận chuyển, tiết kiệm được thời gian đi lại Kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và đi tận đến cả các nơi xa xôi Với thời gian cho trải nghiệm càng nhiều thay vì dành quá nhiều thời gian trong di chuyển Đảm bảo cho các
lộ trình được triển khai đúng với kế hoạch
Cuối cùng đều là hướng đến đảm bảo tốt nhất nhu cầu cho khách hàng Trong xu hướng phát triển những hàng hóa hay dịch vụ trong xu hướng phát triển và hiện đại hơn Khi đó, các năng lực trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến tính năng và tiện ích của các công trình Vừa đáp ứng cho du lịch, vừa phục vụ cho các nhu cầu khác trong phát triển kinh tế, xã hội Việc thực hiện thúc đẩy cho hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của con người nhằm khai thác các giá trị tài nguyên du lịch Tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn của dịch vụ du lịch
Trang 171.1.4.4 Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị
Dân cư và lao động
Dân cư và lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành là nhờ tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sống, nâng cao khẩu phần ăn uống, có đầy đủ cơ
sở y tế, giáo dục, văn hóa,
Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật
độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào nhiều đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư
Cần phải nghiên cứu cơ cấu dân cư theo nghề nghiệp, lửa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vì đây là một trong những nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển Sự tập trung dân cư vào các thành phố, tốc độ tăng dân số và mặt độ dân số, tuổi thọ, quá trình đô thị hóa cũng liên quan mật thiết tới sự phát triển của du lịch
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Sự phát triển của nền sản xuất xã hội làm nảy sinh nhu cầu nghỉ ngơi, phát triển các hoạt động dịch vụ du lịch
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tác dụng trước hết làm xuất hiện du lịch, rồi sau đó đưa hoạt động này phát triển với tốc độ nhanh hơn Sự phát triển du lịch cũng phụ thuộc vào nền sản xuất xã hội Để giải quyết nhu cầu ăn ở, đi lại, nghỉ ngơi, du lịch của con người tất yếu phải có Đồng thời bên cạnh đó, cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng
và vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ cho du lịch phát triển lên ở mức độ cao hơn Ngược lại các nước có nền sản xuất xã hội chậm thì khả năng trên xảy ra chậm hơn
Hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông vận tải
có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch Công nghiệp phát triển cao, sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây dựng các cơ sở dịch vụ và hàng loạt hàng hóa các loại đáp ứng nhu cầu du khách Nông nghiệp có ý nghĩa lớn vì du lịch phục vụ cho khách đều là các sản phẩm chủ yếu từ nông nghiệp mà ra Đây còn là nguồn ẩm thực rất quan trọng, bởi vì khách du lịch tham quan, ngắm cảnh còn thưởng thức các món ăn đặc thù của từng vùng miền Giao thông cũng là tiền đề quan trọng để phát triển du lịch Các tuyến, loại hình giao thông nhằm giúp cho việc kết nối các điểm, khu, vùng du lịch lại với nhau Ngày nay, kinh tế càng phát triển thì loài người càng cải tiến các loại hình giao thông rút ngắn về thời gian như đường cao tốc, máy bay, tàu điện,
Trang 18 Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế
Nhờ vào tiến bộ khoa học và công nghệ, lao động cơ bắp giảm xuống, thay thế vào
đó là các hoạt động sản xuất hiện đại, tự động hóa và cơ giới hóa Tuy nhiên, dù có lao động các công cụ sản xuất hiện đại, dễ dẫn đến căng thẳng Cho nên để phục hồi sức lực sau những ngày làm việc trí óc thì con người thông qua các hoạt động đi du lịch
Đô thị hóa
Là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đô thị hóa được xem như một trong những nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch Đô thị hóa là điều kiện rất tốt cả về cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngành du lịch phát triển Bên cạnh đó, về mặt kiến trúc các đô thị cũng tạo nên một dấu ấn cho khách tham quan du lịch
Mặt khác, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi là những nhu cầu không thể thiếu của người dân đô thị Những ngày làm việc với cường độ cao, giảm stress, tải sức lao động đây là những nhu cầu thiết yếu mà người đô thị rất cần Nói mặt khác lối sống người đô thị khác hơn lối sống nông thôn cho nên việc đi du lịch của người đô thị lúc nào cũng cao hơn so với nông thôn
Thực tế cho thấy, ở mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du lịch sẵn có, nhân tố quyết định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp cho sự phát triển du lịch
Ở các nước có ngành du lịch phát triển đứng hàng đầu thế giới là những nước có nhiều chính sách quan tâm đầu tư phát triển du lịch, có hệ thống văn bản pháp luật, quy phạm hoàn thiện làm hành lang pháp lý cũng như sự điều chỉnh linh hoạt để thích ứng trong những điều kiện, hoàn cảnh mới
Cơ chế chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất cả các hoạt động du lịch từ khai thác, bảo vệ tải nguyên du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt động xúc tiến phát
triển du lịch, đầu tư quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh doanh du lịch
Tại một khu vực, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ có bầu không khí chính trị hòa bình và ổn định kết hợp với các tài nguyên du lịch sẵn có của lãnh thổ sẽ tạo nên sức hấp dẫn với đông đảo quần chúng nhân dân – các khách du lịch tiềm năng Ngược lại,
sự phát triển của du lịch sẽ gặp khó khăn nếu tại phạm vi một lãnh thổ nào đó xảy ra các
sự kiện (như đảo chính, bất ổn chính trị, nội chiến, khủng bố ) làm xấu đi tình hình chính trị, hòa bình và ổn định thì sẽ trực tiếp và gián tiếp làm giảm sức hút du lịch, ảnh
Trang 19hưởng xấu đến lượng khách du lịch cũng như các công trình du lịch, lưu thông và cả môi trường tự nhiên
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam
Nước ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên nhiên phong phú, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống văn hóa lâu đời với nhiều lễ hội, phong tục tập quán tốt đẹp và độc đáo, nhiều di tích lịch sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, giàu bản sắc nhân văn, nguồn lao động dồi dào thông minh, cần
cù và giàu lòng nhân ái Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những đổi mới, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện bước đầu thu hút khách nước ngoài và kiều bào về thăm Tổ quốc, giới thiệu đất nước, con người và tinh hoa của dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế; đáp ứng một phần nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân trong nước, bước đầu đã thu được kết quả nhất định về kinh tế Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế
Năm 2019, ngành du lịch Việt Nam đạt được nhiều kết quả rất quan trọng: Toàn ngành đã đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế (tăng 16,2% so với năm 2018), phục vụ
85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu đạt khoảng 720.000 tỷ đồng Với kết quả này, Việt Nam được đánh giá là một trong 10 quốc gia có mức tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới Các danh hiệu đạt được như: “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á”, “Điểm đến Golf tốt nhất thế giới 2019”…
Ngành du lịch bước vào năm 2020 đón lượng khách quốc tế kỷ lục trong tháng 1, đạt 2 triệu lượt, tăng 32,8% so với cùng kỳ 2019 Du lịch Việt Nam đã kỳ vọng vào một năm thành công, vượt chỉ tiêu đón 20 triệu lượt khách quốc tế năm 2020 theo Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng toàn thế giới đã làm gián đoạn hoạt động du lịch Du lịch Việt Nam bị thiệt hại nặng nề do thị trường quốc tế đóng băng từ cuối tháng 3, thị trường nội địa cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau 2 đợt dịch Nhu cầu đi du lịch giảm mạnh Lượng khách quốc tế năm
2020 chỉ đạt 3,7 triệu lượt, giảm 79,5%; khách nội địa đạt 56 triệu lượt, giảm 34,1%; tổng thu từ khách du lịch đạt 312.000 tỷ đồng, giảm 58,7% - tương đương khoảng 19 tỷ đô-la Mỹ
Năm 2021, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục làm gián đoạn, đứt gãy chuỗi liên kết dịch
vụ du lịch kéo theo thiệt hại không chỉ cho ngành du lịch mà còn đến các ngành nông nghiệp, ăn uống, giải trí, cung ứng thực phẩm, đặc sản, nghề thủ công, hàng lưu niệm,
Trang 20giao thông Chỉ tính riêng trong ngành Du lịch đã có 95% doanh nghiệp lữ hành dừng hoạt động, 35% doanh nghiệp lữ hành xin rút giấy phép kinh doanh; 90% cơ sở lưu trú
du lịch đóng cửa, công suất phòng trung bình năm của toàn bộ hệ thống cơ sở lưu trú du lịch chỉ đạt 5%; hàng triệu lao động du lịch bị mất việc làm chỉ riêng trong năm 2021 Đứng trước những thách thức chưa từng có trong 2 năm vừa qua, du lịch Việt Nam
đã chủ động thích ứng linh hoạt bằng sự sáng tạo của các doanh nghiệp du lịch, sự nỗ lực của từng địa phương, sự chủ động của cơ quan quản lý về du lịch từ Trung ương đến địa phương và từ sự hỗ trợ kịp thời của Nhà nước với những chính sách trực tiếp cho doanh nghiệp và người lao động du lịch Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành du lịch đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Ngành, địa phương tiếp tục tập trung thực hiện
“mục tiêu kép” vừa chống dịch, vừa phục hồi trong tình hình mới trong năm 2021 Tổng cục Du lịch đã tích cực phối hợp với các địa phương tổ chức kích hoạt, tái khởi động du lịch nội địa liên tỉnh, liên vùng an toàn; tổ chức kết nối các điểm đến, doanh nghiệp du lịch và hàng không xây dựng các chương trình du lịch trọn gói, có chất lượng, ưu đãi nhằm kích cầu du lịch; triển khai Hệ thống đăng ký an toàn đối với các cơ sở kinh doanh
du lịch với gần 15.000 doanh nghiệp đã đăng ký và tự đánh giá mức độ an toàn đón và phục vụ khách du lịch
Chính từ sự thích ứng linh hoạt và triển khai hiệu quả nhiều biện pháp mà ngay sau khi dịch bênh được kiểm soát, hoạt động du lịch ngay lập tức đã khởi sắc trở lại Trong đợt nghỉ lễ 30/4 và 1/5, các điểm đến như Đà Lạt (Lâm Đồng) đã đón 145.500 lượt khách; Sầm Sơn (Thanh Hóa) đón 215.000 lượt khách; Nha Trang (Khánh Hòa) đón 125.000 lượt khách; Phú Quốc (Kiên Giang) đón 91.000 lượt khách; Đà Nẵng đón 74.600 lượt khách; Vũng Tàu đón 70.000 lượt khách Đến cuối tháng 9/2021, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Bình, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh
đã mở lại hoạt động du lịch nội tỉnh
Du lịch Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng mạnh của khách nội địa 2022 khi đạt 101,3 triệu lượt, tăng 168,3% so với kế hoạch, vượt mức trước dịch Theo số liệu thống
kê từ Tổng cục Du lịch, trước Covid-19, lượng khách nội địa tăng đều qua các năm và đạt đỉnh vào 2019 với 85 triệu lượt Năm 2022, sau khi gỡ bỏ mọi hạn chế đi lại, lượng khách nội địa cả năm đã đạt 101,3 triệu lượt, tăng 168,3% so với mục tiêu 60 triệu và vượt con số của 2019 Riêng ba tháng hè, lượng khách đạt hơn 35 triệu Doanh thu đạt 495.000 tỷ đồng, vượt 23% kế hoạch Nhiều chuyên gia khẳng định, đây là năm hồi sinh của du lịch nội địa
Số doanh nghiệp lữ hành tái hoạt động và cấp phép mới đã tăng trở lại với 2.563 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 1.060 doanh nghiệp lữ hành nội địa Kể từ sau đại dịch, 90% các cơ sở lưu trú hoạt động trở lại, đạt trên 55% công suất phòng với các ngày trong
Trang 21tuần, dịp cuối tuần đạt trên 95%, đặc biệt là những điểm đến có sức hấp dẫn lớn Hoạt động vận tải, hàng không đáp ứng khá tốt nhu cầu du khách nước ngoài
Bên cạnh đó, dữ liệu từ Google cho thấy Việt Nam liên tục nằm trong tốp điểm đến dẫn đầu thế giới về mức tăng trưởng lượng tìm kiếm thông tin du lịch, đạt mức tăng từ 50% đến 75% Đặc biệt, theo báo cáo mới nhất của Diễn đàn Kinh tế thế giới, chỉ số năng lực phát triển của du lịch Việt Nam năm 2021 xếp thứ 52, tăng 8 bậc so với năm
2019, nằm trong số 3 quốc gia có mức độ cải thiện tốt nhất trên thế giới Việt Nam được
đề cử tại 61 hạng mục ở giải thưởng du lịch thế giới World Travel Awards
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở các tỉnh, thành phố và bài học rút ra cho phát
triển du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi
- Thứ nhất, về phát triển thị trường khách du lịch
Đa dạng hóa thị trường khách du lịch, chú trọng phát triển các thị trường khách du lịch có khả năng chi trả cao Tập trung thu hút khách du lịch thị trường Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh có đường bay trực tiếp đến Bình Định; thị trường các tỉnh Tây Nguyên có khoảng cách địa lý gần và khác biệt về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và một số tỉnh lân cận có khả năng kết nối tour, tuyến
Đẩy mạnh thu hút khách quốc tế ở các thị trường gần tăng trưởng nhanh, nhất là thị trường Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) và Đông Nam Á Tiếp tục thu hút khách du lịch từ một số thị trường xa, có khả năng chi tiêu cao và lưu trú dài ngày như: Tây Âu (Anh, Pháp, Đức ), Bắc Mỹ (Mỹ, Canada ) và Châu Đại Dương (Úc, New Zealand), trong đó chú trọng các nước đã được miễn thị thực (visa)
- Thứ hai, về phát triển sản phẩm du lịch và cơ sở vật chất, dịch vụ du lịch
Xây dựng các chương trình, nhóm sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch hiện có và phát triển các sản phẩm du lịch mới
Tổ chức các hoạt động, sự kiện thu hút khách du lịch theo quý và mùa vụ du lịch; các hoạt động kích cầu, thu hút khách du lịch mùa thấp điểm; tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các dịch vụ tại các di tích văn hóa - lịch sử
Khai thác giá trị đặc trưng về ẩm thực Bình Định phục vụ du khách Nghiên cứu sản phẩm quà tặng lưu niệm cho khách du lịch; hỗ trợ phát triển du lịch MICE gắn với triển khai chương trình hợp tác với các hãng hàng không
Hướng dẫn, khuyến khích các cơ sở kinh doanh ăn uống, mua sắm đăng ký thủ tục công nhận cơ sở đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch
Trang 22Đôn đốc các khu, điểm kinh doanh dịch vụ du lịch tiếp tục đầu tư, nâng cấp chất lượng dịch vụ, bảo đảm các điều kiện để được công nhận các khu, điểm du lịch theo quy định
- Thứ ba, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ cho các cơ sở kinh doanh dịch
vụ du lịch, hoạt động du lịch theo từng nhóm lĩnh vực, nhóm dịch vụ
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra về việc chấp hành các quy định về kinh doanh dịch vụ du lịch, bảo đảm và duy trì chất lượng dịch vụ đã đăng ký, xử lý nghiêm các vi phạm (nếu có)
Nâng cao hiệu quả hoạt động bộ phận thông tin hỗ trợ khách du lịch; tiếp nhận và kịp thời xử lý phản ánh, kiến nghị của du khách
- Thứ tư, truyền thông, xúc tiến quảng bá du lịch
Triển khai các đợt truyền thông quảng bá du lịch trên phương tiện thông tin đại chúng; các kênh truyền thông của doanh nghiệp, các kênh truyền thông của các tỉnh, thành phố trong các cụm liên kết phát triển du lịch với tỉnh Bình Định
Tham gia một số hội chợ, hội thảo về du lịch trong và ngoài nước, xây dựng clip quảng bá du lịch Bình Định
Tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng để kết nối các chương trình, sản phẩm
du lịch, khách du lịch giữa các tỉnh: Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa; Bình Định – các tỉnh Tây Nguyên Liên kết với các công ty lữ hành lớn để đưa khách về Bình Định Xây dựng kế hoạch kích cầu du lịch mùa thấp điểm để thu hút khách du lịch đến tỉnh
- Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng lao động nghề du lịch và cán bộ quản lý nhà nước về du lịch
Xây dựng các chương trình tổ chức bồi dưỡng kỹ năng và nghiệp vụ du lịch cho người lao động trực tiếp phục vụ du lịch: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch: lớp lễ tân, lớp buồng, lớp bàn, lớp kỹ thuật chế biến món ăn cho người lao động tại các
cơ sở kinh doanh du lịch
- Thứ sáu, công tác quản lý nhà nước về du lịch, môi trường du lịch
Thường xuyên nắm bắt tình hình các doanh nghiệp du lịch triển khai các hoạt động phục vụ khách du lịch Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động du lịch; nâng cao hiệu quả hoạt động của Đội kiểm tra liên ngành du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và địa phương, cộng đồng dân cư về xây dựng nếp sống văn minh, bảo đảm vệ sinh, môi
Trang 23trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh; an ninh, an toàn cho du khách, tạo dựng môi trường du lịch văn minh, an toàn, thân thiện
Hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các dự án ven biển, ven đầm về giữ gìn môi trường du lịch lành mạnh, giữ gìn môi trường sinh thái biển, hồ, đầm; chú trọng tôn tạo, bảo vệ, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, đảm bảo phát
triển du lịch bền vững
Ngành du lịch Quảng Nam phải có biện pháp vừa đón, phục vụ khách du lịch chu đáo, cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng vừa phải đảm bảo an toàn, phòng chống dịch bệnh; nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của phát triển du lịch, tạo sự đồng thuận trong nhân dân về đón khách du lịch quốc tế; xác định việc phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành và toàn xã hội
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch, trong đó chú trọng việc tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch quốc tế thực hiện các thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định; hỗ trợ cho doanh nghiệp du lịch phát triển, cạnh tranh lành mạnh thu hút khách du lịch quốc tế
Tăng cường các hoạt động, sản phẩm du lịch thu hút và phục vụ khách du lịch quốc
tế Tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho các hoạt động du lịch; chú
trọng vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, nhất là các địa phương
có nhiều khách du lịch quốc tế Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ và quản lý điểm đến; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về du lịch; đẩy mạnh công tác quản
lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch trên địa bàn tỉnh Tập trung phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng, đa dạng, khác biệt, có giá trị gia tăng cao và tăng trải nghiệm cho du khách phù hợp với nhu cầu các thị trường khách quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch Quảng Nam Xây dựng các mô hình sản phẩm du lịch mới trên nền tảng các giá trị văn hóa dân tộc, tài nguyên tự nhiên từng vùng, từng địa phương; bổ sung thêm giá trị mang tính sáng tạo, độc đáo để hình thành các sản phẩm du lịch có tính chất đặc thù riêng của từng vùng, từng địa phương nhằm thu hút khách du lịch quốc tế; đảm bảo cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, sản phẩm du lịch, kiên quyết không cạnh tranh phá giá
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp cận thị trường du lịch Tổ chức các chiến dịch marketing online trên các nền tảng mạng xã hội Phát triển các website giới thiệu điểm đến, sản phẩm dịch vụ của địa phương, doanh nghiệp với phiên bản tiếng nước ngoài để tiếp thị tới thị trường quốc tế tiềm năng
Trang 241.2.2.3 Bài học rút ra cho phát triển du lịch ở Quảng Ngãi
Cần xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch Quảng Ngãi phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam, gắn liền với định hướng phát triển thương hiệu vùng duyên hải miền Trung, đồng thời cải thiện vị thế của Quảng Ngãi trong bức tranh du lịch vùng và cả nước
Cần phát triển du lịch theo đúng định hướng, nguyên tắc phát triển bền vững và gắn với bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo lợi ích cộng đồng, tạo nhiều việc làm và giải quyết tốt an sinh xã hội; tôn trọng và bảo
vệ tài nguyên tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo hài hoà giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững
Quảng Ngãi phát triển đồng thời cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế Tăng cường hợp tác, liên kết phát triển du lịch, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, ứng dụng khoa học hiện đại và công nghệ 4.0 Khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng tham gia làm du lịch, góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao mức sống của người dân, hướng đến xây dựng
xã hội du lịch
Cần đánh giá khả năng đáp ứng cho du khách trong từng phân khúc thị trường của Quảng Ngãi so với các tỉnh, thành trong vùng Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch, thu hút đầu tư và tạo ra các sản phẩm du lịch có chất lượng, bài bản, giá trị tăng cao và chú trọng vào dòng khách chuyên biệt để tạo nên sức cạnh tranh, từng bước đưa du lịch phát triển, rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh trong khu vực
Phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Tiếp tục phát triển mạnh 03 dòng sản phẩm du lịch chủ đạo là: Du lịch biển, đảo; du lịch văn hóa; du lịch sinh thái Trong đó, lấy du lịch biển, đảo làm mũi nhọn, du lịch văn hóa làm trọng tâm, du lịch sinh thái làm nền tảng cho phát triển du lịch bền vững
Thời gian tới, tỉnh cần đẩy mạnh công tác quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng dịch vụ du lịch; phát huy lợi thế, tiềm năng du lịch của từng địa phương, phát triển đa dạng sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu của thị trường; phát triển các sản phẩm du lịch mới, quà tặng lưu niệm…
Mục tiêu đến năm 2030, du lịch Quảng Ngãi thực sự là ngành kinh tế quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực khác; khẳng định vị trí vững chắc của
du lịch Quảng Ngãi trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên, từng bước tạo dựng thương hiệu trên bản đồ du lịch của cả nước
Trang 25Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 515.524,8 ha, bao gồm 13 đơn vị hành chính, trong
đó có: 01 thành phố (TP Quảng Ngãi), 01 thị xã (Đức Phổ) và 11 huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tây, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Trà Bồng và huyện đảo Lý Sơn
Huyện đảo Lý Sơn có toạ độ 15°22’51’’ vĩ độ Bắc, 109°07’3’’ kinh độ Đông; là đảo tiền tiêu có vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng của Quảng Ngãi và cả nước Đảo có diện tích 10,33 km2, dân số 22.174 người (năm 2019)
Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở trung độ của cả nước, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có các tuyến giao thông kết nối quan trọng như quốc lộ 1A, quốc lộ 24, cao tốc Bắc - Nam (đoạn nối Đà Nẵng - Quảng Ngãi) và đường sắt Bắc - Nam Tuy nhiên, có thể thấy vị trí địa lý của tỉnh Quảng Ngãi không thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng so với hầu hết các địa phương khác trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Quảng Ngãi là một trong số ít tỉnh thành trong vùng không có sân bay, khoảng cách tương đối xa tới các cảng hàng không của vùng: cách sân bay quốc tế Đà Nẵng gần 150 km (hơn 2h đi ô tô), cách sân bay Phù Cát (Bình Định) hơn 150 km (khoảng
hơn 3h đi ô tô), cách sân bay Chu Lai (Quảng Nam) hơn 40 km (khoảng 1h đi ô tô) (Xem
Vùng núi cao phía Tây: là sườn đông của dãy Trường Sơn, chủ yếu ở 5 huyện miền
núi là Trà Bồng, Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ, Minh Long
Trang 26Vùng trung du và đồng bằng: tiếp giáp với vùng rừng núi phía Tây, có đặc điểm địa
hình núi thấp, gò, đồi xen kẽ với đồng bằng nhỏ hẹp
Vùng ven biển, biển và hải đảo phía Đông: đường bờ biển dài hơn 130 km qua các
huyện Bình Sơn, TP Quảng Ngãi, Tư Nghĩa, Mộ Đức, TX Đức Phổ Đảo Lý Sơn có địa hình, địa chất, địa mạo khá đặc biệt, được hình thành do hoạt động của núi lửa, hiện vẫn còn dấu tích của một số miệng núi lửa, lớn nhất là miệng núi lửa Thới Lới và núi Giếng Tiền
Với các dạng địa hình trên đã tạo ra cho Quảng Ngãi nhiều giá trị tài nguyên du lịch
tự nhiên đặc sắc, cả tài nguyên núi rừng, tài nguyên đồng bằng và tài nguyên biển đảo Tuy nhiên, sự phức tạp về địa hình cũng là những thách thức cho Quảng Ngãi trong việc phát triển kết cấu hạ tầng cũng như phải ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, đặc biệt
là dải địa hình ven biển và hải đảo
2.1.2.2 Khí hậu
Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Mùa khô kéo dài, mùa mưa ngắn hơn, thường bắt đầu từ tháng 09 năm trước đến tháng 01 năm sau
Nhiệt độ và độ ẩm: Quảng Ngãi có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ bình quân trong năm
khoảng 26,7°C Thông thường, từ tháng 5 đến tháng 8 là các tháng nóng nhất với nhiệt
độ trung bình khoảng 29,5 - 30,1°C Có những ngày chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Tây Nam, nhiệt độ có thể lên đến 40°C Trong năm, tổng số giờ nắng có khoảng 2.258,4 giờ Độ ẩm tương đối của không khí khá cao, trung bình năm vào khoảng 83%
Chế độ mưa: Lượng mưa ở Quảng ngãi khá lớn, trung bình năm khoảng 2.560,3
mm, nhưng phân bố không đều giữa hai mùa Mùa nắng (từ tháng 2 đến tháng 8) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 25% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa (từ tháng 9 năm trước đến tháng 1 năm sau) tập trung tới 75% lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất vào tháng
11, lượng mưa lên đến 679,7 mm Ngoài ra, trong mùa này thường có giông, bão kèm theo mưa lớn gây úng lụt cục bộ
Bão: Quảng Ngãi là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của mưa bão Mưa bão diễn ra khá
phức tạp, trung bình một năm có khoảng 1 - 2 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp với cường độ mạnh, có năm có tới 4 - 5 cơn bão, 60% số cơn bão có sức gió từ cấp 10 trở lên Bão trực tiếp đổ bộ vào Quảng Ngãi chủ yếu là từ tháng 9 đến hết tháng 12 (tháng 10 là tháng có khả năng xuất hiện nhiều bão nhất)
Với đặc điểm thời tiết, khí hậu như trên, Quảng Ngãi chỉ thuận lợi phát triển du lịch trong khoảng 8 tháng đầu năm, hoạt động du lịch từ tháng 9 đến tháng 12 có thể bị ảnh hưởng nhiều của mưa, bão, lũ quét, sạt lở,
Trang 272.1.2.3 Thủy văn
Hệ thống sông ngòi của tỉnh Quảng Ngãi tương đối phong phú, với 4 sông lớn là Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu cùng với các phụ lưu và một số sông nhỏ như Trà Ích (Trà Bồng), sông Cái (Tư Nghĩa), sông Phước Giang (Nghĩa Hành), sông La Vân (Đức Phổ), sông Ba Liên (Ba Tơ), Nguồn nước chủ yếu là do mưa cung cấp, nên thủy
chế sông cũng theo mùa Vào mùa mưa, tốc độ dòng chảy nhanh với cường độ mạnh,
thường gây ra lũ lụt lớn; vào mùa khô, khả năng tích trữ nước của các dòng sông kém gây nên tình trạng khô cạn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân
Trên địa bàn tỉnh còn có một số đầm nước mặn tự nhiên và rừng ngập mặn như đầm
An Khê, Nước Mặn, Lâm Bình (thị xã Đức Phổ), rừng ngập mặn Bàu Cá Cái (huyện Bình Sơn) và một số hồ chứa nước nhân tạo như: hồ Tôn Dung, hồ Núi Ngang (huyện Ba Tơ);
hồ Liệt Sơn (thị xã Đức Phổ); hồ An Phong (huyện Bình Sơn
2.1.2.4 Đa dạng sinh học
Hệ sinh thái rừng: Quảng Ngãi có diện tích rừng tự nhiên 109.994 ha Thực vật rừng
trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ngãi có các loài cây có giá trị cần được ưu tiên bảo vệ như: Lim xanh, Vàng tâm, Giổi vàng, Cẩm liên, Sơn huyết, Chò nâu, Sao đen, Gụ lau, Sến mật… và một số loài có giá trị kinh tế như: Trám trắng, Chò sao,
Hệ sinh thái thủy vực: có nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế chủ yếu đặc trưng ở 3
vùng nước ngọt, nước lợ, nước mặn Trong đó, vùng nước ngọt với các loài đặc hữu và
có giá trị kinh tế như: cá dày, cá chát, cá chạch vằn, cá đục đanh, cá bống, cá niên, cá chép, cá thát lát, cá lóc, lươn,…; vùng nước lợ có: cá măng sữa, cá đối, cá dìa, cá chẽm, hàu cửa sông; vùng nước mặn có: cá thu vạch, cá bạc má, cá ngừ chù, cá ngừ bò, cá chỉ vàng, cá song, tôm sú, cua huỳnh đế, ghẹ xanh, mực,…
Hệ sinh thái biển: gồm có các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, hệ
sinh thái đụn cát ven biển, hệ sinh thái vùng cửa sông, ghềnh đá,…
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Đặc điểm kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giai đoạn 2016 - 2019 tăng trưởng tích cực, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 11,8%/năm Năm 2019, GRDP của tỉnh đạt 80.600 tỷ đồng (theo giá hiện hành), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 14.730 tỷ đồng, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 41.852 tỷ đồng, khu vực dịch vụ đạt 23.771 tỷ đồng, còn lại là thuế nhập khẩu; cơ cấu GRDP tương ứng của các khu vực trên lần lượt là 18,3%, 51,9%, 29,5% và 0,3%; GRDP bình
Trang 28quân đầu người theo giá hiện hành đạt 65,43 triệu đồng, tương đương 2.784 USD, tăng
77 USD so với năm 2018
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2019 đạt hơn 37.700 tỷ đồng (theo giá hiện hành), trong đó vốn khu vực nhà nước chiếm 13,6%, vốn khu vực ngoài nhà nước chiếm 74,4%, vốn FDI chiếm 12% Lực lượng lao động của Quảng Ngãi là 739.733 người, chiếm 55,5% dân số toàn tỉnh Tỷ lệ thất nghiệp là 1,91% Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng được cải thiện, mức sống người dân ngày càng được nâng cao, an ninh hành), trong đó vốn khu vực nhà nước chiếm 13,6%, vốn khu vực ngoài nhà nước chiếm 74,4%, vốn FDI chiếm 12% Lực lượng lao động của Quảng Ngãi là 739.733 người, chiếm 55,5% dân số toàn tỉnh Tỷ lệ thất nghiệp là 1,91% Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng được cải thiện, mức sống người dân ngày càng được nâng cao, an ninh trật tự và an toàn xã hội ngày càng được đảm bảo
Bảng 2.1: GRDP tỉnh Quảng Ngãi theo khu vực kinh tế giai đoạn 2016 - 2019
Đơn vị: tỷ đồng (theo giá hiện hành)
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2019
Năm 2020, mặc dù đại dịch COVID-19 bùng phát đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội toàn cầu, song kinh tế Quảng Ngãi vẫn tăng trưởng dương, đạt 0,36% Tuy nhiên, một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội bị giảm đáng kể: khu vực dịch vụ giảm -4,6% (so với năm 2019); tổng vốn đầu tư toàn xã hội giảm -25,6% (chỉ đạt 28.046
tỷ đồng);
Trong năm 2021, tình hình KT-XH của tỉnh bị ảnh hưởng, tác động do dịch
Covid-19, nhưng đạt được một số kết quả nhất định Ước tính thực hiện cả năm dự kiến đạt và vượt 15/24 chỉ tiêu chủ yếu đề ra Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2021 ước đạt 53.501 tỷ đồng, tăng 6% so với năm 2020 Nếu so với các tỉnh miền trung và Tây Nguyên cũng như bình quân chung cả nước thì Quảng Ngãi có mức tăng trưởng
Trang 29khá cao nhưng không đạt kế hoạch đề ra Nguyên nhân chủ yếu là do sản lượng dầu không đạt kế hoạch 6,9 triệu tấn như dự kiến (chỉ đạt 6,37 triệu tấn), dịch vụ tăng trưởng
âm 0,7% và một số sản phẩm khác giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 120.553 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2020, đạt 94,8% kế hoạch năm Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 19,3% so với năm 2020, vượt 20% kế hoạch năm Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 17.605
tỷ đồng, tăng 3,02% so với năm 2020 Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 20.981
tỷ đồng, tăng 42,4% so với năm 2020 và bằng 116% dự toán năm 2021 Tổng vốn đầu
tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 22.610 tỷ đồng, giảm 20,4% so với năm 2020, đạt khoảng 90% kế hoạch năm 2021
Năm 2022, bức tranh tổng thể kinh tế của tỉnh có nhiều điểm sáng Đáng chú ý, Quảng Ngãi thực hiện đạt và vượt 25/25 chỉ tiêu kinh tế - xã hội (có 14 chỉ tiêu vượt) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 57.723 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 8,29% so với cùng kỳ (đứng thứ 6/14 tỉnh, thành phố khu vực miền Trung và thứ 3 trong 5 tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 34.400 tỷ đồng, vượt hơn 79,6% dự toán Trung ương giao, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2.797 USD năm 2020 lên 3.836 USD/người năm 2022… Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,66%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 9,39%; khu vực dịch vụ tăng 8,43%; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 11,61%
2.1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc, tôn giáo
Theo số liệu thống kê năm 2019, dân số tỉnh Quảng Ngãi là 1.231.893 người Mật
độ dân số trung bình toàn tỉnh là 238,9 người/km2, song dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ Mật độ dân số đông nhất là tại đảo Lý Sơn với 1.783,9 người/km2; dân cư tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố, thị xã và các huyện đồng bằng với mật
độ 518,3 người/km2; trong khi đó, ở các huyện miền núi mật độ dân số chỉ khoảng 71,0 người/km2 Về mặt cơ cấu dân cư, bộ phận dân cư nông thôn chiếm số lượng lớn, khoảng 1.030.378 người, chiếm 83,64% dân số trong toàn tỉnh
Quảng Ngãi có trên 30 dân tộc sinh sống, trong đó, một số dân tộc chính là Kinh, H’rê, Cor và K’dong Đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh có 51.324 hộ với 194.369 khẩu, chiếm 14,90% dân số toàn tỉnh, sinh sống chủ yếu ở khu vực các huyện miền núi, vùng cao
Hiện nay, toàn tỉnh Quảng Ngãi có nhiều tôn giáo khác nhau như: Đạo Tin Lành, Phật giáo, Công Giáo, Đạo Cao Đài, Hồi Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Bà La Môn, Tịnh
độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Bửu sơn kỳ hương
Trang 302.1.3.3 Đặc điểm văn hóa, giáo dục
Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dầy lịch sử - văn hóa từ thời sơ kỳ cho đến nay với các nền văn hóa lớn: Sa Huỳnh, Chămpa, Đại Việt; là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, quê hương của những người con ưu tú, những chiến sỹ cách mạng kiên trung đã từng nắm giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Trương Quang Giao, Quảng Ngãi còn lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử - văn hoá như Trường Luỹ, Thành cổ; nhiều di tích lịch sử - cách mạng gắn với những chiến công hào hùng như khởi nghĩa Ba Tơ, Trà Bồng, chiến thắng Vạn Tường, Ba Gia và những chứng tích chiến tranh như Sơn Mỹ, Diên Niên - Phước Bình Theo thống kê năm 2019, toàn tỉnh có 609 cơ sở giáo dục, trong đó có 213 trường mầm non, 387 trường phổ thông, 6 trường cao đẳng và 3 trường đại học Trong thời gian qua, toàn ngành đã thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học như: tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở các cấp học; đổi mới kế hoạch dạy học, điều chỉnh nội dung chương trình phù hợp, chú trọng về năng lực, phẩm chất, đánh giá đúng năng lực của học sinh; giáo dục toàn tiện, giáo dục văn hóa kết hợp với giáo dục đạo đức, lý tưởng, kỹ năng sống; nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, tin học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1 Tài nguyên du lịch
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên biển, đảo
Là một tỉnh ven biển, Quảng Ngãi có đường bờ biển dài hơn 130 km cùng với vùng lãnh hải rộng lớn hơn 11.000 km2, có 6 cửa biển, nhiều cảng biển và nhiều bãi tắm đẹp Trong đó, đảo Lý Sơn cùng với biển Mỹ Khê, Sa Huỳnh được coi là những giá trị tài nguyên biển đảo quan trọng bậc nhất của tỉnh Quảng Ngãi, có thể khai thác phát triển thành các khu du lịch biển quy mô lớn, thu hút đông khách du lịch
- Đảo Lý Sơn:
Nằm về phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền (tính từ cảng Sa Kỳ) chừng
15 hải lý (khoảng 28 km), đảo Lý Sơn có diện tích 10,33 km2 gồm đảo Lớn (Cù lao Ré)
và đảo Bé (Cù lao Bờ Bãi) Là đảo được hình thành từ hoạt động của núi lửa cách đây khoảng 25 - 30 triệu năm, tạo nên một vùng cảnh quan thiên nhiên đa dạng, địa hình, địa chất, địa mạo độc đáo trên bờ cũng như hệ sinh thái biển đa dạng, phong phú Đảo
Lý Sơn có các điểm di sản nổi bật về sinh thái biển, đảo như: miệng núi lửa Thới Lới, miệng núi lửa Giếng Tiền, vách chùa Hang, vách Hang Câu, cổng Tò Vò, nghĩa địa san
hô cối xay, thắng cảnh đảo Bé Nơi đây còn có số lượng lớn các di tích gồm: 6 di tích cấp quốc gia (Đình làng An Hải, An Vĩnh, Âm linh tự, thắng cảnh Chùa Hang, danh lam
Trang 31thắng cảnh núi Giếng Tiền, núi Thới Lới), 02 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là:
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa và Lễ hội đua thuyền Tứ linh
- Biển Mỹ Khê:
Biển Mỹ Khê thuộc thành phố Quảng Ngãi, nằm giữa dải biển đẹp từ nam cửa Đại với Cổ Lũy Cô Thôn đến Ba Làng An ở phía Bắc với các cảnh đẹp tự nhiên như An Hải
Sa Bàn, Thạch Ky Điếu Tẩu, cửa biển Sa Kỳ Bãi biển Mỹ Khê có hình lưỡi liềm, trải
dài 7 km từ Tịnh Kỳ tới Cổ Lũy với những dải cát trắng mịn, nước biển trong xanh, rợp bóng rừng dương Biển Mỹ Khê cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi chừng 12 km, cách các điểm tham quan, các khu di tích trên địa bàn thành phố và huyện Sơn Tịnh không
xa, do đó, rất có tiềm năng để phát triển nơi đây trở thành khu du lịch trọng điểm của tỉnh
- Biển Sa Huỳnh:
Biển Sa Huỳnh thuộc địa phận phường Phổ Thạnh, thị xã Đức Phổ, là một trong những dải biển đẹp nhất Quảng Ngãi Bờ biển thoai thoải, cát mịn, không có bãi đá ngầm gần bờ, thích hợp cho các hoạt động tắm biển, thể thao bãi biển và lướt ván; cách bờ khoảng một hải lý có dải đá ngầm cùng rạn san hô đa dạng, thích hợp cho các hoạt động
chèo thuyền thúng, ngắm san hô, câu cá (Xem hình 2.2 ở phần phụ lục)
Tài nguyên cảnh quan, núi, rừng
Địa bàn rộng lớn thuộc các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi chứa đựng nhiều giá trị cảnh quan núi, rừng hùng vĩ gắn với sườn Đông của dãy Trường Sơn Một số địa bàn có tài nguyên cảnh quan đẹp, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng núi như: núi Cà Đam ở huyện Trà Bồng, núi Thạch Bích (hay núi Đá Vách) ở huyện Sơn Hà, thảo nguyên Bùi Hui, đèo Vi Ô Lắk, núi Ngang (huyện Ba Tơ);
Bàu Cá Cái là rừng ngập mặn được phục hồi trồng cây cóc trắng thuộc dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu cho các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam” do GCF (Quỹ khí hậu xanh) của UNDP (Chương trình phát triển Liên Hợp quốc) tài trợ với mục đích nhằm phát huy tốt vai trò bảo vệ bầu khí quyển, môi trường sống, cải thiện hệ sinh thái, góp phần giảm thiệt hại từ bão, tạo sinh
kế cho người dân trong vùng từ khai thác thủy sản và làm du lịch Thời gian gần đây, Bàu Cá Cái đang trở thành điểm đến yêu thích của du khách bởi phong cảnh đẹp, lạ và hoang sơ của những luồng lạch, những hàng cây cóc trắng trải dài với những sắc màu xanh, đỏ, vàng, trắng thay đổi theo mùa Có thể khai thác, phát triển Bàu Cá Cái thành
khu du lịch sinh thái, phục vụ khách du lịch cuối tuần (Xem hình 2.3 ở phần phụ lục)
Tài nguyên sông, suối, hồ, thác nước
Quảng Ngãi có 4 con sông chính là Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu và sông Vệ Trong
đó, nổi bật nhất là sông Trà Khúc, đây là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn từ núi
Trang 32Đắc Tơ Rôn (Kon Tum), có chiều dài 150 km chảy qua các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh,
Tư Nghĩa, TP Quảng Ngãi Dòng sông này hợp với núi Thiên Ấn (thành phố Quảng Ngãi) thành cặp biểu tượng “núi Ấn - sông Trà” đặc trưng của Quảng Ngãi
Các hồ chứa nước nhân tạo của tỉnh Quảng Ngãi ngoài việc cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân, nhiều hồ còn có giá trị cảnh quan, có tiềm năng khai thác phục vụ du lịch, tiêu biểu như: hồ Tôn Dung, hồ Núi Ngang (huyện Ba Tơ); hồ Mạch Điểu,
hồ Lỗ Thùng (huyện Mộ Đức), hồ Liệt Sơn, đầm An Khê (thị xã Đức Phổ),
Hồ Núi Ngang là một hồ nhân tạo chứa nước ngọt nằm về phía Đông Nam huyện Ba
Tơ, cách Trung tâm huyện khoảng 19 km Đường giao thông đi vào hồ khá thuận tiện, theo quốc lộ 24, đường chuyển tiếp vào hồ là đường bê tông xi măng dài 2 km, rộng 3,5
m Hồ Núi Ngang có diện tích chừng 250 ha, được ví như “hồ trên núi”, có phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, với những eo núi đồi, đảo giữa hồ, rừng cây xanh mướt bao quanh và những khe suối nhỏ Xung quanh hồ còn có những bản làng của người H’rê sinh sống Nếu được đầu tư phát triển thành khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cuối tuần, nơi đây sẽ trở thành điểm đến du lịch tiềm năng thu hút đông khách du lịch của của huyện Ba Tơ và tỉnh Quảng
Ngãi (Xem hình 2.4 ở phần phụ lục)
Quảng Ngãi có nhiều thác nước, suối và suối khoáng nóng giàu tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như: thác Ba Tầng, thác Cà Đú (huyện Trà Bồng); thác Lệ Trinh, thác Tà Manh, thác Cao Muôn, thác Lũng Ồ (huyện Ba Tơ); suối Tiên, thác Lụa (huyện Sơn Tây); thác Trắng (huyện Minh Long); suối Chí (huyện Nghĩa Hành); suối nước nóng Nghĩa Thuận (huyện Tư Nghĩa); suối nước nóng Thạch Trụ (Mộ Đức)
2.2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Toàn tỉnh hiện có 259 di tích và di sản văn hóa đã được xếp hạng, bảo vệ (trong đó có
139 di tích cấp tỉnh, 77 di tích có quyết định bảo vệ, 31 di tích cấp quốc gia, 01 di tích
quốc gia đặc biệt); có 01 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận (Nghệ thuật
Bài chòi Trung bộ Việt Nam của 11 tỉnh thành: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), 03 bảo vật quốc gia, 07 di sản văn hóa phi vật thể
Di tích lịch sử văn hóa
- Di tích khảo cổ:
+ Di tích khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh: là một trong 3 di sản văn hóa nổi tiếng thế giới
của Việt Nam, cùng với văn hóa Đông Sơn và Óc Eo Di tích khảo cổ Sa Huỳnh phân bố trên dải cồn cát dọc bờ biển Sa Huỳnh thuộc thị xã Đức Phổ, gồm có 3 điểm: Gò Ma Vương (gò Giò Gà), Phú Khương (xã Phổ Khánh), gò Thạnh Đức (phường Phổ Thạnh) Theo nhiều nhà khảo cổ, căn cứ vào các hiện vật văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện tại
Trang 33Quảng Ngãi như: mộ chum, đồ gốm, trang sức, một số dụng cụ bằng đồng, sắt… cho thấy
cư dân Sa Huỳnh từ ngàn xưa đã có một nền văn hóa đặc sắc và trình độ kỹ thuật cao về các dụng cụ lao động Những giá trị văn hóa ấy là tiềm năng thu hút nhiều khách du lịch, các nhà nghiên cứu đến tìm hiểu, tham quan và thuận lợi để phát triển du lịch trong tỉnh
+ Di tích khảo cổ văn hóa Chămpa: Cổ Lũy - Phú Thọ và Thành Châu Sa được các
nhà nghiên cứu cho rằng có thể là thủ phủ của tiểu quốc Chămpa cổ vùng Quảng Ngãi với niên đại khác nhau Hiện nay, chỉ còn Thành Châu Sa là tòa thành đắp đất có quy
mô lớn và còn nguyên vẹn nhất so với các thành Chămpa khác ở miền Trung Việt Nam Các đền tháp Chămpa được tìm thấy ở Quảng Ngãi ngày nay như Chánh Lộ, An Tập,
Gò Phố, Hòn Yàng hầu như đã đổ nát thành phế tích, các pho tượng ở các phế tháp hầu như không còn nguyên vẹn
+ Di tích Trường Lũy: Di tích Trường Lũy Quảng Ngãi đi qua các huyện Trà Bồng,
Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, thị xã Đức Phổ Trường Lũy là loại hình di tích đặc biệt có quy mô lớn, đa dạng về chất liệu, có cấu trúc độc đáo, có những di tích liên quan mật thiết không thể tách rời là lũy - đường cổ - hệ thống đồn và phong cảnh thiên nhiên, là biểu tượng cho công sức lao động và sáng tạo của nhân dân trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia vào ngày 09/3/2011
- Di tích lịch sử cách mạng:
+ Di tích lịch sử khởi nghĩa Ba Tơ: được xếp hạng là di tích cấp quốc gia đặc biệt
Di tích này gồm 11 điểm di tích: Khúc sông Liêng (thị trấn Ba Tơ); Lò gạch Nước Năng (thị trấn Ba Tơ); Nhà đồng chí Trần Quý Hai (thị trấn Ba Tơ); Chòi canh Suối Loa (xã
Ba Động); Đồn Ba Tơ; Nha kiểm lý (thị trấn Ba Tơ); Sân vận động Ba Tơ (thị trấn Ba Tơ); Bãi Hang Én (xã Ba Vinh); Bến Buôn (xã Ba Thành); Chiến khu Nước Lá - Hang Voọt Rệp (xã Ba Vinh); Chiến khu Núi Cao Muôn (xã Ba Vinh)
+ Khu chứng tích Sơn Mỹ: Còn gọi là Khu chứng tích Mỹ Lai, thuộc địa phận xã
Tịnh Khê, TP Quảng Ngãi, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km, trên quốc lộ 24B
Từ khi được hình thành đến nay, khu chứng tích Sơn Mỹ thường xuyên đón khách đến tham quan hàng ngày và số khách nước ngoài ngày càng tăng Đặc biệt, có nhiều du khách là người Mỹ hoặc những cựu chiến binh Mỹ đã đến thắp nhang tưởng niệm, tỏ lòng hối hận, cảm thông trước những nỗi đau mà chính quyền và quân đội nước Mỹ đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Khu chứng tích Sơn Mỹ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp quốc gia
+ Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng: thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức
Nơi đây lưu giữ nhiều kỷ vật của gia đình Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như án thờ, tràng kỷ, án thư, phản… cùng những hình ảnh ghi lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng
Trang 34của ông Đây cũng là nơi giáo dục, bồi dưỡng truyền thống cách mạng của dân tộc, của quê hương đối với các thế hệ sau này Khu lưu niệm đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch công nhận là di tích cấp quốc gia
+ Di tích cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi: Quần thể di tích cuộc
khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi gồm nhiều điểm di tích nằm ở 8 xã, thị trấn thuộc huyện Trà Bồng, bao gồm: Gò Rô (xã Trà Phong), Nước Xoay (Trà Thọ), đôn Eo Chim (Trà Lãnh), đôn Làng Ngãi (Trà Thọ), đôn Tà Lạt (Trà Lâm), đôn Đá Liếp (Trà Hiệp), đôn Xây dựng (Trà Sơn), Lô cốt trung tâm (thị trấn Trà Xuân)… Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp quốc gia
+ Di tích chiến thắng Vạn Tường: Chiến thắng Vạn Tường diễn ra vào ngày
18/8/1965 của quân Giải phóng đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên Stalite (Ánh sáng sao) của lực lượng hải lục không quân Mỹ Quần thể di tích chiến thắng Vạn Tường đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia
- Di tích kiến trúc nghệ thuật, tâm linh:
+ Chùa Thiên Ấn và mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng: Chùa Thiên Ấn được xây dựng
trên đỉnh núi Thiên Ấn Ngôi chùa cổ được xây dựng từ cuối thế kỷ 17, vào năm 1694
và được hoàn thành vào năm 1695 Năm 1717 chùa được chúa Nguyễn ban cho biển ngạch “Sắc tứ Thiên Ấn tự” Ngôi chùa có sự gắn bó bền chặt trong tâm linh, tình cảm của người dân Quảng Ngãi với những giai thoại về giếng Phật, hạt lúa thiêng…
Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng: Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) là nhà chí sĩ yêu nước, nhà nho, nhà báo nổi tiếng, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học và lịch sử Mộ
cụ Huỳnh Thúc Kháng được lập năm 1947, cách chùa Thiên Ấn không xa, ngôi mộ là
sự kết hợp hài hòa kiến trúc hiện đại và truyền thống lăng mộ Đông Phương, được bao bọc bởi khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, nhiều cây xanh
+ Điện Trường Bà: Điện Trường Bà thuộc thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, là
một di tích văn hóa độc đáo với sự giao thoa tín ngưỡng giữa dân tộc Kinh, Cor và dân tộc Chăm, có lịch sử khoảng 400 năm Điện Trường Bà đã được Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định 1388-QĐ/BVHTTDL ngày 9/5/2014
+ Chùa Hang: Chùa còn có tên gọi khác là Thiên Khổng Thạch Tự, nằm về phía
Đông đảo Lớn - huyện đảo Lý Sơn Chùa được lập ra dưới triều vua Lê Kính Tông (1599 – 1618), cách đây khoảng 400 năm Trong chùa là nơi thờ Phật và các vị tiền hiền đã góp công khai hoang, dựng xây các làng xóm trên đảo Đây là một trong những địa điểm tâm linh nổi tiếng hấp dẫn khách du lịch khi đến Lý Sơn Chùa đã được Bộ Văn hóa và Thông
Trang 35tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích thắng cảnh cấp quốc gia năm 1994
+ Âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa: Âm linh tự và mộ phần là di tích tưởng niệm
những người con Lý Sơn vâng lệnh triều đình đã hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa Âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa
đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp quốc gia năm 2007
(Xem hình 2.5 ở phần phụ lục)
Lễ hội truyền thống
Các lễ hội ở Quảng Ngãi là lễ hội gắn liền với tín ngưỡng mang nhiều màu sắc đặc trưng của từng tập tục, lề thói riêng biệt, nếu được khai thác đúng hướng sẽ là giá trị hấp dẫn khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế Tiêu biểu với các lễ hội như: Lễ hội cúng Cá Ông; Lễ hội đua thuyền truyền thống; Lễ hội ra quân đánh bắt hải sản đầu năm
ở Sa Huỳnh - là những lễ hội dân gian gắn liền với nghề nghiệp xưa của ngư dân; ở các huyện miền núi như Trà Bồng, Sơn Hà các dân tộc Cor, K’dong, H’rê vẫn còn giữ được các lễ hội như: Lễ hiến sinh trâu, Lễ ngã rạ, Lễ mừng lúa mới Lễ hội Điện Trường Bà (Trà Bồng), Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa và Lễ hội đua thuyền Tứ linh Lý Sơn đã được
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
Nghệ thuật dân gian
Quảng Ngãi là vùng đất giàu giá trị văn hóa truyền thống với những làn điệu dân ca
mang sắc thái dân gian như: hò lao động (hò kéo rùng, hò kéo neo, hò giựt chì, hò giã vôi);
hò giao duyên (hò tát nước, hò đối đáp, hò mái lơi, hò ba lý), hò tín ngưỡng tâm linh (hò
đưa Ông); các điệu lý trong dân gian (lý vọng phu, lý vẽ rồng, ru con Nam Trung Bộ )
Những làn điệu dân ca này thường được diễn xướng dưới 3 hình thức: hát bài chòi, hát sắc
bùa, hát bả trạo Đặc biệt, nghệ thuật bài chòi của 11 tỉnh Trung Bộ trong đó có Quảng
Ngãi đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (năm 2017) Nghệ thuật Cồng Chiêng dân tộc Cor, huyện Trà Bồng và Nghệ thuật trình diễn Chiêng
Ba của người H’re đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Làng nghề truyền thống
Quảng Ngãi nổi tiếng với các làng nghề truyền thống như: làng gốm Mỹ Thiện (TT Châu Ổ - huyện Bình Sơn); làng nghề dệt chiếu ở các làng xã ven biển (Tịnh Khê, Nghĩa
Hà - TP Quảng Ngãi, Nghĩa Hoà - huyện Tư Nghĩa); làng dệt thổ cẩm làng Teng (xã
Ba Thành - huyện Ba Tơ); làng nghề làm mắm ở làng chài Kỳ Tân, An Chuẩn (xã Đức Lợi - huyện Mộ Đức); làng quế Trà Bồng, Tuy nhiên, theo thời gian một số làng nghề đang dần bị mai một Điển hình như làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ hơn 200
Trang 36năm trước, nhưng từ những năm đầu của thập kỷ 90, người làng gốm Mỹ Thiện dần bỏ nghề, nay chỉ còn duy nhất một lò nung gốm của gia đình nghệ nhân Đặng Văn Trịnh
Phát triển du lịch làng nghề đang là hướng khai thác hiệu quả ở nhiều tỉnh, thành phố
Chính vì vậy, Quảng Ngãi cần quan tâm, đầu tư phát triển để các ngành nghề thủ công truyền thống này trở thành sản phẩm du lịch chất lượng, hấp dẫn du khách
Giới thiệu Tour du lịch Quảng Ngãi 3 ngày 2 đêm
NGÀY 1: QUẢNG NGÃI (Ăn tối)
- HDV sẽ đón quý khách ngay khi quý khách đặt chân đên sân bay, nhà ga hay bến xe Sau đó, xe và HDV sẽ đưa đoàn xuất phát đi Quảng Ngãi
- 17h00: Đoàn đến địa phận Quảng Ngãi Xe đưa du khách về khách sạn và nghỉ ngơi
- 19h00: Đoàn ăn tối tại nhà hàng đặc sản địa phương
- Sau đó du khách tự do tham quan, khám phá Tp Quảng Ngãi về đêm, với những khu chợ đêm, quán ăn vặt hay quãng trường thành phố…
NGÀY 2: QUẢNG NGÃI – LÝ SƠN (Ăn sáng/ trưa/ tối)
- 8h30: HDV làm thủ tục mua vé và hướng dẫn quý khách lên cano/ tàu ra đảo Lý Sơn
- 9h30: Tàu cập cảng Lý Sơn HDV đưa quý khách về khách sạn nhận phòng và cất
hành lý, chuẩn bị hành trình khám phá đảo nơi đây
- 10h00: Đoàn bắt đầu chuyến tham quan trên đảo như:
Chùa Hang Lý Sơn
Chùa Đục và Miệng núi lửa
Bảo Tàng Lý Sơn
Giếng Vua
Trang 37 Đình An Hải …
Buổi trưa:
- 11h30: Đoàn ăn trưa tại nhà hàng trên đảo
- 12h30: HDV đưa du khách về lại khách sạn nhận phòng và nghỉ ngơi
Buổi chiều:
- 14h00: Xe đón du khách tham quan một số điểm nổi bật trên đảo như: Âm Linh tự,
Hồ đập nước trên Đỉnh Thới Lới …
- 17h00: Xe đưa du khách đến Hang Câu Tại đây, du khách được thoải mái tắm biển với làn nước trong vắt nơi đây Bên cạnh đó, quý khách còn được ngắm hoàng hôn trên đảo tuyệt đẹp
Buổi tối:
- 19h00: Ăn tối tại nhà hàng đặc sản địa phương
- 20h00: Du khách tự do khám phá Lý Sơn về đêm với nhiều hoạt động thú vị như dạo Chợ Đêm hay thưởng thức những món ăn được chế biến tại chỗ …
NGÀY 3: LÝ SƠN - ĐI ĐẢO BÉ (Ăn sáng/ trưa/ tối)
Buổi Sáng:
- 7h00 – 7h30: Dùng điểm tâm sáng tại khách sạn
- 8h00 – 8h30: Tàu đưa đoàn đi tham quan Đảo Bé Bình An
- 9h00: Đến với Đảo Bé nơi đây, du khách được tham quan và trải nghiệm Nhà Máy Lọc Nước Ngọt Trên Biển, Hòn Đụn, Mũi Tàu, Bãi Tây… Hoặc du khách có thể tự
mình chèo thúng và lặn ngắm san hô (chi phí tự túc) Hay du khách có thể thỏa thích
chụp hình với một Bãi Đá Cổ với những hình dáng kì lạ tuyệt đẹp, khiến du khách không
khỏi ngạc nhiên…
Buổi Trưa:
- 11h30: Tạm biệt Đảo Bé, cano đón` đoàn trở về Đảo Lớn
- 12h00: Dùng cơm trưa và nghỉ ngơi tại nhà hàng
Buổi Chiều:
- 13h00: Quý khách thu dọn tư trang hành lý HDV hỗ trợ du khách trả phòng Quý
khách lên cano quay về Cảng Sa Kỳ Tạm Biệt Lý Sơn và hẹn ngày gặp lại
- 14h30: Tại cảng Sa Kỳ, xe đón đoàn trở về Tp Đà Nẵng Dọc đường về, đoàn tham
quan Tượng Đài Mẹ Thứ một trong những tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng lớn nhất cả nước, sừng sững và uy nghi như chính tấm lòng của mẹ đã hy sinh cho tổ quốc
- Kết thúc chuyến đi, HDV trả đoàn tại điểm đón Hẹn gặp lại du khách trong những tour tiếp theo