1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa hệ cử nhân chính trị

177 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa
Tác giả TS. Phan Thanh Khôi, TS. Nguyễn Văn Oánh, GS.TS. Trịnh Quốc Tuấn, PGS.TS. Nguyễn Đức Bách, TS. Nguyễn Quốc Phẩm
Người hướng dẫn GS.TS. Trịnh Quốc Tuấn
Trường học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình nêu rõ quá trình hình thành và phát triển của tư tưỏng xã hội chủ nghĩa, từ những yếu tố ban đầu thòi cổ, trung đại đến tư tưỏng xã hội chủ nghĩa không tưỏng thời kỳ đầu cận đ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ Quốc GIA H ồ CHÍ MINH

V IỆN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHỎA HỌC

Trang 3

1 DL 9

Mã số:™

-CTQG-2001

Trang 4

HỌC VIỆN CHÍNH TR Ị QUỐC GIA H ồ CHÍ MINH

VIỆN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 5

ĐỗNG CHỦ BIÊN:

GS.TS Trịnh Quốc Tuấn

TS Nguyên Vản Oánh CÁC TẢC GIẢ:

TS Phan Thanh Khôi TS.Nguyển Văn Oánh GS.TS Trịnh Quốc Tuấn PGS.TS Nguyễn Đức Bách

TS Nguyến Quốc Phẩm

Trang 6

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, nhân loại cần lao

đã mơ ước về một xã hội không có bất bình đẳng về kinh tế, không có chế độ ngưòi bóc lột ngưòi, không có dân tộc này áp bức dân tộc khác Theo V.I.Lênin, "Đó là một nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa”

Để hiểu sâu hơn vấn đề trên và cung cấp tài liệu cho giảng viên và học viên trong hệ thống Trường Đảng, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản Giáo trình Lịch $ử tư

tưởng xã hội chủ nghĩa (Hệ cừ nhân chính trị) do Viện Chủ

nghĩa xã hội khoa học thuộc Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh biên soạn

Giáo trình nêu rõ quá trình hình thành và phát triển của

tư tưỏng xã hội chủ nghĩa, từ những yếu tố ban đầu (thòi cổ, trung đại) đến tư tưỏng xã hội chủ nghĩa không tưỏng (thời

kỳ đầu cận đại: thế kỷ XVIII ỏ Pháp và đầu thế kỷ XIX ỏ Pháp và Anh) mà đỉnh cao là sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học cùng với các giai đoạn phát triển của nó

Đây là một vấn đề khó, phức tạp Mặc dù các tác già và cán bộ biên tập đã có nhiều cố gáng song vẫn khó tránh khỏi thiếu sót Nhà xuất bản và các tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc

Tháng 11 năm 2001

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 7

LỜI GIỚI THIỆU

Lạch sử tư tưỏng xã hội chủ nghĩa là một trong

những nội dung cơ bản hợp thành của bộ môn chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh từ năm

1984, môn lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã được giảng dạy như là một bộ phận hợp thành của bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa học Việc nghiên cứu để nắm vững quá trình phát sinh, phát triển của các tư tưởng

xã hội chủ nghĩa; của quá trình chuyển biến chủ nghĩa

xã hội từ không tưỏng thành khoa học và các giai đoạn phát triển của chỏ nghĩa xã hội có ý nghĩa rất quan trọng để hiểu đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học Vì vậy, Viện Chủ nghĩa

xã hội khoa học biên soạn tập giáo trình "Lịch sử tư tưỏng xã hội chủ nghĩa" dùng cho hệ cử nhân chính trị, đồng thời là tài liệu tham khảo cho các bạn đọc quan tâm đến chuyên ngành khoa học này

Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã cố gắng theo tinh thần đổi mổi, đồng thòi đã kế thừa các công trình khoa học của các nhà khoa học trong và ngoài nước Trong các công trình khoa học ấy phải kể tới các

Trang 8

công trinh được các tác giả kế thừa trực tiếp là: "Lịch sử

tư tưởng xã hội chủ nghĩa trưóc Mác*’ do Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học; G.s Đỗ Tư chủ biên và cuốn

"Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa" do tập thể GS, Đỗ Tư, GS.TS Trịnh Quốc Tuấn và PGS.TS.Nguyễn Đức Bách đồng chủ biên

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học trân trọng giói thiệu tập giáo trình và mong nhận được sự đóng góp của bạn đọc

VIỆN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 9

1.1 Khái niêm tư tưởng xã hôi chủ nehĩa: Tư tưồng

xã hội chủ nghĩa là những tư tưỏng phản ánh cuộc đấu tranh của đông đảo quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột chống lại các giai cấp thống trị bóc lột; những ước

mơ, nguyện vọng của tầng lớp lao động nghèo khổ về một xã hội không còn sự áp bức, bóc lột, không còn sự kKác biệt giàu nghèo, khác biệt giai cấp và đẳng cấp, không có chiến tranh và bạo lực; một xã hội sống trong tình thương yêu, giúp đỡ nhau trên cơ sỏ quan hệ cộng đồng theo chủ nghĩa tâp thể Tư tưỏng ấy cũng phản ánh quan niệm về những con đường, giải pháp và

Trang 10

những điều kiện để tỉến tới một xã hội như thế Lênin khái quát "chủ nghĩa xã hội là sự phản kháng và đấu tranh chống bóc lộtòigưòỉ lao động, một cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ hoàn toàn sự bóc lột ấy"1; "xoá bỏ sự khác nhau giữa người giàu và người nghèo Đó là nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa , tấ t cả những người

xã hội chủ nghĩa đều mơ ước như thế"1 2 "Đã lãu rồi, hàng bao th ế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay, nhân loại mong ước thủ tiêu "lập tức" mọi sự bóc lột"3.Với những nội dung trên, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không nảy sinh trong xã hội công xã nguyên thuỷ - xã hội tồn tại trên cơ sở cộng đồng kinh tế, xã hội một cách

tự nhiên và phổ biến Tư tưỏng xã hội chủ nghĩa nảy sinh khi xã hội phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp, phân chia đẳng cấp Tóm lại, nó' nảy sinh khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, chế độ người bóc lột người, dân tộc này bóc lột dân tộc khác Và nó sẽ còn tồn tại khi xã hội loài người còn giai cấp và đấu tranh giai cấp

Tư tưỏng xã hội chủ nghĩa là tư tưởng phổ biến của nhân loại, có trong tất cả các nển văn hoá của các dân tộc V.I Lênin viết: Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có

những thành p hần, thậm chí không phát triển của một

1 V.I Lênin: Toán tập, Nxb, Tiến bộ, Mátxcơva, t.l

tr 346.

2 Sđd, 1.13, tr.159

3 Sđd, t.12, tr.53.

Trang 11

nền vàn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi

dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ tư tương dân chủ và xã hội chủ nghĩa

Ngoài tính phổ biến, tư tưỏng "xã hội chủ nghĩa còn

có tính chất phê phán, tính nhân đạo, tính lãng mạn và tính chính trị, trong đó tính chính trị, tính giai câp là

cơ bản nhất

Tư tưỏng xã hội chủ nghĩa biểu hiện rất đa dạng và phong phú theo cách tiếp cận từ nhiều hướng, nhiều chiều Thí dụ: theo cách tiếp cận từ chế độ sỏ hữu ta có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; theo cách tiếp cận từ lĩnh vực kinh tế sản xuất và tiêu dùng ta có chủ nghĩa xã hội sản xuất và chủ nghĩa xã hội tiêu dùng; theo cách tiếp cận từ giai cấp ta có chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội tư sản, chủ nghĩa xã hội vô sản; theo thời gian ta có chủ nghĩa xã hội cổ đại, chủ nghĩa xã hội trung đại, chủ nghĩa

xã hội cận đại, chủ nghĩa xã hội hiện đại Ngoài ra còn có

cả chủ nghĩa xã hội Phật giáo, chủ nghĩa xã hội Hồi giáo 1.1.2 ĐỐI tượng nghiên cứu lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa là: Nghiên cứu lịch sử phát sinh, hình thành và phát triển của những ý tưỏng ước mơ; quan điểm, tư tưởng, trựốc hết là những tư tưởng xoá bỏ áp bức, bóc lột, xoá bỏ bất công xã hội Nghiên cứu lịch sử 1

1 Sđd, Mátxcơva.1980, t 24, tr.154.

Trang 12

hình thành và phát triển của những tư tưỏng về một xã hội tương lai với những đặc trưng kinh tế, chính trị, xã hội, vãn hoá đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng của đa số nhân dân lao động, bảo đảm lợi ích và cuộc sống hạnh phúc của họ; nghiên cứu những tư tưỏng về con đường và những giải pháp để thực hiện những ước

mơ, nguyện vọng và những nhiệm vụ ấy

2 Về p hư ơ ng p h á p n g h iê n cứu:

2.1 Phương pháp lich sử: biểu hiện trước hết ở chỗ

luôn bám sát quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của các tư tưỏng xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ, từng giai đoạn, từ những mầm mống đầu tiên, đơn sơ, mộc mạc đến độ chín muồi, từ văn học dân gian đến văn học thành ván đến lý luận, cương lĩnh và học thuyết Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải có quan đỉểm lịch

sử cụ thể Mỗi tư tưỏng xã hội chủ nghĩa đều nảy sinh, phát triển trong những quốc gia dân tộc vối những dỉều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

2.2 Phương pháp k ế thừa những thành tựu tri thức của nhân loại

Kế thừa tri thức của nhân loại là quy luật phát triển chung của tất cả các khoa học Các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa (dù chưa đạt tới trình độ nhận thức khoa học) cũng không phát triển ngoài quy luật ấy, mặc dù nó

có gốc rễ sâu xa trong những điều kiện kinh tế vật chất

Trang 13

Vì vậy, nghiên cứu các tư tưỏng xã hội chu nghĩa phải' tính đến sự tác động của những thành tựu văn hoá tư tưòng của thời đại trước, thế hệ trước; sự tậc động của các ngành khoa học có hên quan trực tiếp như tư tương triết học, tư tưởng kinh tế, vản học, xã hội học, lịch sử, pháp luật ; sự kế thừa ấy không bị hạn chế bồi không gian, thòi giañ, địa lý dân tộc hoặc quốc gia nào Điều đó giải thích vì sao các nhà xã hội chủ nghĩa tiêu biểu thường là những nhà bách khoa (nhà triết học, nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ, ) Sự ra đòi của chủ nghĩa

xã hộỉ khoa học là kết quả của sự kế thừa toàn bộ tri thức nhân loạỉ đạt được vào giữa th ế kỷ XIX và là minh chứng tiêu biểu của phương pháp nghiên cứu này

Ph.Ăngghen đã viết: "Cũng như bất cứ học thuyết Nmới nào, chủ nghĩa xã hội trước hết phải xuất phát từ những tư liệu tư tưởng đã tích luỹ từ trước, mặc đù gốc

rễ của nó nằm sâu trong những sự kiện kinh tế vật chất"1 Rằng chủ nghĩa xã hội hiện đại Đức không bao giò được quên rằng nó đóng trên vài ba nhà xã hội chủ nghĩa đầu th ế kỷ XIX: Xanh Ximông, Phuiriê và Ôoen

2.3 Nghiên cứu hoàn cảnh xuất thân và mức độ chuyển biến về lập trường của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một phương pháp quan trọng khi nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

1 C.Mác và Ph.Ảngghen; Toàn tập, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995, t 19, tr 275.

Trang 14

Những tư tưỏng xã hội chủ nghĩa có gốc rễ sâu xa từ nhũng điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội khách quan -

từ đời sống thực tiễn của các giai cấp cần lao, nhưng phản ánh những tư tưởng ấy trong văn học, trong lý luận, trong các học thuyết lại là kết quả hoạt động tư duy của các trí thức hoặc người lao động đã vươn lên trinh độ của ngưòi trí thức Tômát Muynxtxơ Tômát Morơ, Xanh Ximông đến C.Mác, Ph.Ảngghen đều là trí thức của gịai cấp hữu sản trỏ thành những đại biểu

về mặt tư tưởng của giai cấp lao động cần lao; Mác, Ảngghen đại biểu về mặt tư tưỏng lý luận của giai cấp công nhân hiện đại, Nghiên cứu lịch sử các tư tưỏng xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải nghiên cứu têri tuổi, sự nghiệp và quá trình chuyển biến tư tưởng cửa cậc nhân vật đại biểu cho dòng tư tưởng xã hội chủ nghĩa

2.4 Các tư tường xã hội chủ nghĩa nảy sinh trong môi trường văn koá với nhiều sắc thái khác nhau Do đó,

việc khai thác kho tàng văn hoá của mỗi dân tộc cũng là phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa (kho tàng văn học dân gian: thần thoại, ca dao, tục ngữ, các tác phẩm văn học khuyết danh, văn học viễn tưỏng đều cung cấp nhiểu tư liệu quý trong đó chứa đựng nhân tố xã hội chủ nghĩa như Lênin đã chỉ ra), II-

II- NHỮNG YẾU TỐ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỜI CỔ ĐẠI

Chế độ nô lệ là đặc trưng của xã hội thời cổ đại Xã

Trang 15

hội này hình thành từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, Đó là cả một quá trình đần dần, nảv sinh

tư hữu, cùng sự bất bình đẳng xã hội khác, xuất hiện, giai cấp và nhà nước*

Trong chế độ* nô lệ, chủ nô là giai cấp thống trị bao gồm những bộ phận khác nhau (chủ đất, chủ xưởng, nhà buôn, kẻ cho váy nặng lãi ) và đếu có sử dụng nô

lệ Nô lệ là giai cấp cơ bản thứ hai và chiếm sô" đông trong dân cư Ngoài ra còn có những tầng lốp trung gian khác là những người dân tự do, như tiểu chủ (nông dân, thợ th ủ công), vô sản lưu manh Quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sỏ hữũ của chủ nô đôì với tư liệu sản xuất và đốì với nô lệ Nô lệ được col như là "những công

cụ biết nói", bị mưa bán, đàn áp Những quan hệ ấy phù hợp với trình độ lực lực lượng sản xuất lúc đó đã phát triển cao hơn trình độ lực lượng sản xuất trong công xã nguyên thuỷ Trong xã hội hình thành sản xuất hàng hoá, công cụ bằng kim loại được sử dụng rộng rãi, phân công lao động xã hội phát triển thành những ngành chăn nuôi, nông nghiệp, th ủ công nghiệp Chế

độ nô lệ duy trì sự áp bức siêu kinh tế, sự bóc lột khủng khiếp đôì với giai cấp nô lệ sả n phẩm thặng dư của mỗi người nô lệ thì rất ít, nhưng tổng sô" sản phẩm thặng dư thì khậ lón do chủ nô bóc lột rất đông ngưòi

nô lệ và trả công không đáng kể cho họ

Phù hợp với tình hình trên, nhà nước chủ nô đã sử dụng bạo lực không thương tiếc đốì với những ngưòi nô

Trang 16

lệ và nhân dân lao động nói chung Nó thực sự là một

bộ máy áp bức, giúp cho thiểu sô" kẻ thông trị đàn áp đa

số người bị trị

Chế độ nô lệ là một giai đoạn tấ t yếu trong sự tiến

bộ của xã hội, đã tạo điểu kiện nhất định cho lực lượng sản xuất, khoa học,ỵà vặn hoá phát triển Nhưng toàn

bộ lịch sử của chế độ nô lệ là lịch sử của đấu tranh giai cấp ác liệt Nhất là vào cuối thời kỳ cổ đại khi chế độ nô

lệ bắt đầu tan rã thì đấu tranh giai cấp càng phát triển cao độ Những cuộc n ổỉ dậy của nô lệ cùng với những cuộc đấu tranh của những người lao động tự do bị chèn

ép làm cho chế độ nô lệ sụp đổ nhanh chóng hơn

Sóng song với các biểu hiện đấu tranh giai cấp trong

thực tiễn dưới thòi cổ đại, đã nảy sinh những yếu tố tư

tưởng có tính chất xã hội chủ nghĩa

Thời cổ đại chế độ nô lệ phát triển không đều ỏ các quốc gia Chính trong một sô' nơi, đặc biệt ở Hy Lạp và

La Mã cổ, chế độ nô lệ phát triển đến một hình thức cao

và điển hình Do đó chính ở những nơi này các tư tưởng

xã hội chủ nghĩa sơ khai cũng được biểu hiện rõ rệt hơn

cả vào cuối thời cổ đại (thòi kỳ cổ đại ỏ châu Âu kéo dài

từ th ế kỷ V trước công nguyên đến thế kỷ V sau công nguyên)

Trong lịch sử xã hội, truyện thần thoại đã có từ lâu,

và lúc đầu, chủ yếu mang màu sắc th ế giới quan, giải thích những sự lạ của giới tự nhiên Cuối thồi cổ đại, ỏ

Hy Lạp, chuyện thần thoại phát triển và có thêm chủ

Trang 17

để xã hội Gạt bỏ những hoang tương và sắc màu tôn giáo sang một bên, người ta thấy nhiều chuyện thần thoại đã thể hiện tâm lý chống đốì các quan hệ đương thòi, phê phán bất công xã hội, phủ nhận hiện tại và qua đó toát lên tư tưởng bình qũân và mục đích cộng sản chủ nghĩa

Mục đích cộng sản chủ nghĩa này chủ yếu thông qua việc miêu tả về một "Thời đại hoàng kim" Đó chính là

xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã qua, được mô phỏng và thi vị hoá Tác giả của truyện thần thoại là nhân dân, Nhưng sau đó nội dung của truyện được các nhà trí thức bổ sung, đem lại tính phê phán cao hơn, yếu tố cộng sản chủ nghĩa hiện thực và rõ nét hơn.,

Từ truyện thần thoại về "Thời đại hoàng kim", các nhà

triết học đã dựa lý luận vào để tạo nên thuyết "Trạng thái

tự nhiên" Thuyết "Trạng thái tự nhiên" là triết lý về sự phát triển xã hội Trong đó, đã lý tưởng hoá thuỏ ban đầu

- "thời thơ ấu" của loài người (tức xã hội cộng sản nguyên thuỷ) là tự nhiên và hợp lý, thanh cao và đẹp đẽ nhất; coi

xã hội đương thời (tức chế độ nô lệ) là không hợp lý, đầy những thiên vị và xấu xa, do đi "chệch" khỏi "trạng thái

tự nhiên"; và khuyên con người eần phải trỏ lại thuở ban đầu - xã hội cộng sản của mình

Triết lý về "Trạng thái tự nhiên" mang tinh thần cộng sản chủ nghĩa được thể hiện khác nhau trong bàn luận của phái Kimich, của các nhà triết học: Platôn, Đikêac

Trang 18

Lý tưởng hoá "Trạng thái tự nhiên" đã tác động đến những nhà dân tộc học, sử học có tinh thần bình đẩng Họ đã tìm đến những vùng xa xôi cách biệt xã hội hiện thời, còn in đậm nét "thời thơ ấu" của loài người,

để miêu tả cuộc sống ở những nơi đó theo khuynh hướng triết lý vừa nói và lồng vào những ước mơ bình đẳng cộng sản của mình

Cuối thòi cổ đại ố Hy Lạp còn xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết hoang tưỏng vể xã hội công bằng lý tưởng có nội dung phong phú và hấp dẫn hơn các yếu tô" cộng sản nguyên thuỷ được biểu hiện ỏ các hình thức vừa trình bày trên Đây là bước tiến của tư tưỏng xã hội chủ nghĩa Với sức mạnh của nghệ thuật ngôn từ và hư cấu, nên các tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong tiểu thuyết đã vượt qua được sự mô phỏng công xã nguyên thuỷ để bay bổng, mang nhiều yếu tố dự đoán hơn Điển hình là cuốn tiểu thuyết 'Tămbum" (thế kỷ III trước công nguyên) đưa trí tưỏng tượng của người đọc đến một hòn đảo hạnh phúc Trên hòn đảo này, tiêu thụ

và sản xuất mang tính cộng đồng, không có chính quyền, con người hoàn mỹ về thể lực và cả tinh thần, của cải dồi dào, thiên nhiên tươi đẹp 1

La Mã cổ đại bao gồm nhiều vùng đất rộng lớn do thôn tính tạo nên, trong đó có Paletxtin ở đây, cuôl

1 V.P.Vônghin: Lược khảo lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr 46-50.

Trang 19

thời cổ đại, xung đột kinh tê và mâu thuẫn xã hội vốn

có trong chế độ nô iệ nói chung lên cao, và lại càng sâu sắc bỏi có sự xâm lược

Vào th ế kỷ ĩ trước công nguyên đến th ế kỷ I sau công nguyên, từ sự bất bình và chông đối những người giàu có bóc lột, chống đôi chính quyền chủ nô

áp bức và kẻ xâm lược chiếm đóng của nhân dân lao động Do Thái (nhất là thợ thủ công và nông dân đã

và đang bị phá sản) đã nảy sinh một cơ cấu xâ hội mối: công xã Công xã là một tập thể chung sống, trong đó tài sản không của riêng ai và thực hiện tiêu dùng cộng sản chủ nghĩa Phong trào đấu tran h mang tính xã hội chủ nghĩa của những người Etxây,

và sau này của phái Têrapet thể hiện ỏ việc xây dựng nên những công xã này

Sống chung theo kiểu công xã và chủ nghĩa cộng sản tiêu dùng đã đoàn kết người ta lại với nhau, tạo nên sức mặnh nhất định, nhằm vượt qua cảnh sông bấp bênh,

hy vọng tồn tại được và không bị tụ t hẳn xuống địa vị

kẻ ăn xin và người lang thang nay đây mai đó Nhưng ngay trong bản chất của nó, công xã tiêu dùng đã chứa đựng những nhân tố làm cho cơ cấu xã hội này dễ bị tan rã

Tất nhiên, công xã có được không chỉ do nguyên nhân kinh tế - xã hội mà còn có sự đồng cảm nào đó về mặt tín ngưỡng Giai đoạn này, trong dân cư Do Thái, tín ngưỡng phát triển mạnh mẽ và dần hình thành tôn

Trang 20

giáo Cơ Đốc Tôn giáo Cơ Đốc giai đoạn đầu - {Cơ Đốc giáo sơ kỳ), đó là tố chức tín ngưỡng của những người nghèo khổ, thu hút nhiều thành viên của các công xã nói trên Trong các bộ kinh của Cơ Đốc giáo sơ kỳ còn

để lại đến ngày nay ("Kinh phúc âm", "Sự nghiệp của các thánh tông đồ", "Khải huyền thư" ) có những yếu

tố mang tính xã hội chủ nghĩa th ật đẹp đẽ

Trước hết, kinh thánh đã miêu tả những công xã Cơ

Đốc giáo của mình và khuyên nhủ các tín đồ thực hiện

Trong thực tế đã xuất hiện những công xã này hay chưa, còn là điều tranh cãi, nhưng rõ ràng, điều đó thể hiện tinh thần cộng sản của Cơ Đốc giáo

Các công xã được miêu tả theo nguyên mẫu của các công xã có thực trong dân cư Do Thái, nhưng được Cơ Đốc hoá tạc thành sắc thái của chủ nghĩa cộng sản tôn giáo "Sụ nghiệp của các thánh tông đồ" có đoạn viết vể công xã: "Tất cả các tín đồ đều ở cùng nhau và mọi cái đều là của chung Và họ bán tài sản và mọi thứ sở hữu

Và phân chia cho mọi người theo nhu cầu của mỗi người ở số đông các tín đồ có một trái tim và một tâm hồn; và không ai gọi một cái gì trong tài sản của mình

là của tôi, mọi cái ở họ đểu là của chung Trong họ

không ai thiếu gì, vì ai cỏ ruộng đất và nhà cửa đều đem bán cả, đểu đem tiền bán được đặt dưới chân các tông đồ: ai cần gì được nấy"

Ước mơ về một xã hội tôt đẹp, còn được thể hiện đặc trưng trong tư tương về "Thiên đường" - "Giang sơn

Trang 21

ngàn nàm của Chúa" Đó chính là hình ảnh về xã hội bình đẳng và cực lạc - xã hội chỉ giành cho những người lao động nghèo khổ: "Lạc đà đi qua lỗ kim còn dề hơn là

kẻ giàu đi vào thiên đàng"

Do tính hấp dẫn của nó, nên lúc đầu, thuyết vê

"Giang sơn ngàn nãm của Chúa" thuần tuý Do Thái, đã nhanh chóng lan nhanh, mang tính quốc tế Nhưng xã hội lý tưởng ấy, chỉ đến với con người ở kiếp sau và đâu

đó ngoài trái đất, nên không đem lại tính hiện thực nào cả

Tư tưởng vể "Thiên đưòng" liên quan đến thuyết

"Hai lần giáng th ế của Chúa" hay là hình ảnh về vị cứu tinh của nhân loại Lần giáng thế thứ nhất lập ra giáo hội, qua đó hy vọng đem lại trậ t tự cho xã hội Nhưng càng ngày xã hội càng có nhiều tệ nạn Lần giáng thế sắp đến với "Ngày phán xử cuối cùng" đem lại sự toàn thắng cho chân lý trưốc sự giả dối, cho cái thiện trước cái ác

Bao lớp người lao khổ chờ đợi "lần thứ hai giáng thế" trong niềm hy vọng lập lại công bằng và bình đẳng Sự chò đợi đó tạo nên một ví dụ điển hình về chủ nghĩa cộng sản thụ động

Vào th ế kỷ III - IV, văn học Cơ Đốc giáo phát triển rộng rãi Lúc này Cơ Đôc giáo không chỉ còn là riêng của những tầng lớp lao động nghèo khổ, mà còn có sự tham gia của những đại biểu thuộc các tầng lớp khác, trong đó có những người có học thức Những người có

Trang 22

học thức đã đưa triết lý vào giáo lý, tạo ra thuyết Cơ Đốc giáo "Về quyến tự nhiên", thực chất đó là thuyết

"Trạng thái tự nhiên" phát biểu bằng tinh thần và thuật ngữ Cơ Đốc

Cuối thòi cổ đại, giáo hội Cơ Đốc giáo dần dần bị phân hoá Một sô" thầy tù và tín đồ đã tách ra hình thành các tu viện Do ỏ xjuá xa, hẻo lánh nên tu viện không chỉ là một công xã tiêu dùng mà còn là công xã sản xuất - chủ nghĩa cộng sản sản xuất

Tóm lại, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời co đại

chưa mang tính độc lập mà lẫn vào vói các hình thái ý thức xã hội khác Đó là tiếng nói của những người lao động (nô lệ, dân tự do ) chông lại chế độ nô lệ Nội dung chủ yếu vẫn là thi vị hoá quá khứ bằng cách miêu

tả xã hội lý tưởng nào đó theo hình mẫu của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, hơn nữa còn tái lập lại dưới dạng công xã Tư tưỏng xã hội chủ nghĩa cũng như tư tưởng nói chung, trong thòi kỳ này, thấm đượm thê giới quan tôn giáo Các yếu tố chủ nghĩa xã hội còn tản mạn, mơ

hồ Ước mơ về công bằng xã hội và bình đảng giữa người với người được thể hiện thật ngây thơ mộc mạc nhưng cũng thật đẹp đẽ và bay bổng lạ thường III-

CHỦ NGHĨA THỜI TRUNG ĐẠI

Chế độ phong kiến là xã hội đặc trưng của thòi đại Lực lượng sản xuất so với thòi cể đại đã phát triển hơn

Trang 23

Con người đã cải tiến nghề luyện kim và chế biến kim loại thành công cụ lao động một cách phổ biến, cũng như sử dụng được sức gió và nước Sự phân công lao động giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp rõ rệt hơn.

Quan hệ sản xuất phong kiến đã giải phóng một phần cho người sản xuất trực tiếp (phần lốn là người nô

lệ trước đây Người nông dân bây giò có một phần cơ nghiệp, một gia đình nên quan tâm nhiều hơn đến sản xuất và góp phần phát triển mọi mặt của đời sông kinh

tế Thủ công nghiệp được mỏ rộng và ý nghĩa của nó cùng vị trí của nông thôn tăng lên

Xã hội vói hai giai cấp cơ bản là giai cấp phong kiến thông trị (vua chúa, quí tộc, chúa đất ) và giai cấp nông dân Nửa đầu thời kỳ trung đại (khoảng th ế kỷ V đến th ế kỷ X) xung đột kinh tế và giai cấp chưa gay gắt, trình độ giác ngộ của nông dân rất thấp và họ còn bị mê hoặc bỏi những giáo lý tôn giáo, do vậy, những tư tưỏng

xã hội chủ nghĩa đã không xuất hiện

Nửa sau của thời kỳ trung đại (khoảng th ế kỷ XI đến thế kỷ XV), chế độ phong kiến ở nhiều nơi đã làm cho kinh tế thủ công nghiệp phát triển, sản xuất hàng hoá mở rộng, vì thế vị trí của thành thị tăng lên Đồng thòi, sự phân hoá giai cấp thêm sâu sắc, đưa tới những xung đột giữa những ngươi thợ thủ công với thợ cả, chủ sản xuất và thương nghiệp nhỏ

Trang 24

Ớ nông thôn, kinh tế hàng hoá cũng tác động mạnh

mẽ Người nông dân bị bóc lột, mát dần đất đai và lệ thuộc nhiều hơn vào các tầng lớp phong kiến Tính chất đối kháng của nển kinh tê trong chê độ phong kiến dần

làm cho đấu tranh giai cấp ồ nông thôn thêm gay gắt.

Ớ châu Âu phong kiến, tôn giáo đã trỏ nên phản động, mang nặng tính ngu dân và khổ hạnh Giáo hội

đã biến chất và cùng vối nhà nưốc tích cực phục vụ cho giai cấp thông trị, đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chổng sự bóc lột phong kiến Do vậy, đâu tranh giai cấp trong thòi kỳ này là chống phong kiến không tách rời chống giáo hội Và nhiều phong trào chông giáo hội nhưng vẫn mang ngọn cò tôn giáo Cũng do vậy, các phong trào này bị -gọi là "dị giáo" Nhưng chính d các "dị giáo" lại nảy sinh những tư tưởng xã hội chủ nghĩa đáng lưu ý

Thế kỷ XI, giáo phái Cata (Tây Âu) đã truyền bá khắp nơi quan điểm có tính chất nhị nguyên luận của mình Bản chất linh hồn con người vốn dĩ là thiện nhưng lại bị quyến rũ, bị cầm tù bôi các yếu tố vật chất Song cũng do bản chất này mà linh hồn con người luôn muốn quay lại vói dâng sáng tạo Muốn thế, con người phải thoát khỏi quyền lực vật chất, từ bỏ các luật lệ trần gian

Thực chất đấy là tiếng nói chống lại chế độ phong kiến và nhà nước chuyên chế Từ đó, trong thực tế, giáo phái Cata đã tuyên truyền cho chủ nghĩa khổ hạnh, lý

Trang 25

tưởng hoá sự nghèo nàn, và cũng đã tổ chức nên những nhóm người sông cộng đồng theo tinh thần ấy.

Do ảnh hưởng của giáo phái trên, đã xuất hiện dị giáo của phái Vanđenxơ (Pháp) Giáo phái này đã xây dựng được những công xã sống trong những điều kiện sinh hoạt chung theo kiểu chủ nghĩa cộng sản tiêu dùng

Cũng ỏ Pháp vào thê kỷ XIII, Amanrich Benxki, một nhà trí thức đã đưa ra triết lý có tính phiếm thần luận của mình Ông cho rằng Chúa là tấ t cả, mọi cái thông nhất và tồn tại là do Chúa, chỉ riêng vật chất và các ác là không tồn tại Tâm hồn con người do tách khỏi Chúa là nguyên nhân của mọi tội ác Do vậy, để tránh điều ác phải từ bỏ vật chất, và quay vể thông nhất với Chúa

Thực châ't, đây cũng là tiếng nói chông chuyên chế

và giáo hội Cũng như các giáo phái trên, Benxkỉ đi đến phủ nhận xã hội hiện tại hướng tới xã hội bình đẳng nhưng theo kiều chủ nghĩa cộng sản vô chính phủ, ỏ đó tín đồ trực tiếp giao tiếp với Chúa, phục tùng nội tâm

và ý Chúa mà thôi

Vào thế kỷ XIII ở Italia nổi lên phong trào nông dân chông chế độ ptyong kiến dưới sự lãnh đạo của Đôsinô Phong trào này ít nhiều đã mang mục đích cộng sản chủ nghĩa Đôsinô và những người cùng chí hướng tin tưởng rằng sắp đến lúc giang sơn của con người nhưòng chỗ cho "Giang sơn ngàn năm của Chúa" Nhưng để

Trang 26

tiến tới, không phải là chờ đợi thụ động, mà cần bằng hành động tích cực của con người Đây chính là động lực đem lại tính cách mạng đấu tranh của phong trào dị giáo này.

Hà Lan, thế kỷ XIII, là quốc gia phát triển cao hơn

về kinh tế Đặc biệt là thủ công nghiệp dệt đã tiến xa so vói các nước xung quanh, ở các thành phô" lớn tập trung nhiều phường hội và xưởng dệt Cạnh tranh và chèn ép nhau đã dẫn đến sự tập hợp một sô" thành viên ngành dệt, gọi là người Bécgácđơ, để tách ra hoạt động riêng

về kinh tê" Những người Bécgácđơ còn có sự gắn bó về tín ngưỡng, cùng thấm nhuần tinh thần về "Nước chúa ngàn năm" của Cơ đốc giáo sơ kỳ Thể hiện tiêu dùng chung và hoạt động kinh tê" cộng đồng, công xã dệt của người Bécgácđơ là hình ảnh của chủ nghĩa cộng sản, sản xuất mang tính công nghiệp sơ khai

Thế kỷ x rv ở Anh, các dị giáo hình thành từ những

tư tưỏng cộng sản chủ nghĩa của một sô" nhà lý luận thầy tu như Giôn Víchcơli và GiônBôn GiônVíchcơli theo thuyết "Trạng thái tự nhiên" Ông cho rằng ỏ trạng thái tự nhiên thì xã hội vô tội, không có tư hữu và chính quyển Quyền tự nhiên của con người bị phá vỡ, không đầy đủ nữa là do tội tổ tông và đạo đức suy thoái Vì vậy, Chúa đả tạo ra nhà nước th ế tục, nhưng nhà nước này gắn với tư hữu và đầy những tội lỗi Loài người phải vươn tới sự công minh chính trực Và điều

Trang 27

này chỉ có thể có được trong một xã hội mọi cái là của chung Lúc đó, xã hội vẫn cần có nhà nưdc Nhưng do dựa trên cơ số của chủ nghĩa cộng sản nên nhà nước sẽ

là tự nhiên và thanh cao, khác hẳn với nhà nước trong

xã hội tư hữu Giôn Víchcơli đã vượt qua được chủ

nghĩa cộng sản vô chính phủ

Còn Giôn Bôn, cùng vối tư tưdng cộng sản chủ nghĩa, đã nhấn mạnh nhiều đến vai trò của lao động đối với con người và phát triển xã hội Ông cho rằng chính nhò lao động của dân chúng mà những kẻ giàu có mới đước sống xa hoa và phè phơn; mọi cái trên đòi để tiêu dùng là đêu do công sức của người lao động trực tiếp tạo ra

Vào thế kỷ XV yếu tố xã hội chủ nghĩa thể hiện khá

rõ ỏ Xéc Lúc đó Xéc là một nước kinh tế phát triển mà mâu thuẫn xã hội cũng đã trỏ nên gay gắt Điển hình là phong trào của người Taborít đã lôi cuốn đông đảo nông dân, thợ thủ công đấu tranh nhiều năm chống áp hức của chính quyền phong kiến và giáo hội Lý tưởng của phong trào là làm cho thành phô" quê hương (Taborơ) trở thành tự do, không có kẻ thống trị và bị trị, sưu thuế bị xoá bỏ, tấ t cả mọi cái đều phải là của chung Trong thực tế, ngay ỏ thành phố này, qua phong trào

đã có những công xã mang tính chất thủần tuý tiêu dùng được lập ra

Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa vô chính phủ kiểu Taborít còn thấy ỏ phong trào của giáo phái Ađammít

Trang 28

Tên của giáo phái đã thể hiện ý tương muốn quay trở lại với điều kiện sinh sống, với xã hội và con người nguyên thuỷ không bị ràng buộc bơi bất cứ qui định, pháp luật nào của nhà nước và giáo hội Cùng thời kỳ này, nhà lý luận Pìe Henxki với quan điểm cộng sản và theo kiểu hoà bình chủ nghĩa, đã tích cực thành lập nên các công xã Các công xã theo kiểu: người ra nhập phải nộp tài sản của mình cho công xã và không được tham gia vào hoạt động nhà nưóc và thương nghiệp Công xã này cũng đã tiến tới tổ chức sản xuất cộng đồng và tồn tại được ít năm.

Đầu th ế kỷ XVI ỏ Đức có Tomát Muyntxơ đại biểu của trào lưu xã hội chủ nghĩa dị giáo - người khởi xướng phong trào cải cách tôn giáo ỏ Đức theo khuynh hướng triệt để hơn so với Luthơ Tư tưỏng nổi bật của Muyntxơ là không thừa nhận sự tồn tại của thiên đường và địa ngục ngoài th ế gian này Theo ông, không

có thiên đường và địa ngục ở ngoài th ế gian này, cũng như không có quỷ dữ nào ngoài những dam mê dục vọng xấu xa của con người Thiên quốc chỉ là một chế

độ xã hội trong đó không còn tài sản tư hữu, không còn

sự khác biệt giai cấp, không còn chính quyền nhà nước tách biệt, đối lập với các thành viên của xã hội và trỏ thành xa lạ với xã hội v ề quan điếm này của Muyntxơ, Ph.Angghen đã nhận xét "Giống như triết học tôn giáo Muyntxơ gần với thuyết vô thần, cương lĩnh chính trị

Trang 29

của ông cũng gần với chủ nghĩa cộng sản"1 Và Ph.Ăngghen còn so sánh sự vượt trội trên cả hai phương diện triết học và chính trị của Muyntxơ so với các nhà duv tâm thần luận đầu thế kỷ XIX Ph Àngghen viết: "vậy mà, giữa Muyntxơ và nền triết học hiện đại có cả 3 thế kỷ" 3.

Điểm nổi bật thứ hai trong quan niệm của Muyntxơ

là phải dùng đấu tranh bằng bạo lực vũ trang để lật đổ

sự thông trị của gỉai cấp quí tộc phong kiến và chính ông đã hành động như vậy với tư cách là người lãnh đạo cuộc khỏi nghĩa nông dân ồ Đức vào thập kỷ 20 thế kỷ XVI Muyntxơ hô hào theò lòi Chúa Giêsu: Nếu các ngưòi muốn làm bầy tôi của thượng đế thì không có cách nào khác là sử dụng thanh gươm ấy để loại trừ và tiêu diệt những kẻ bạo tặc Ông còn kêu gọi: Hãy chiến đấu! Thắng lợi của chúng ta sẽ dẫn bọn bạo Chúa đêh

Điểm nổi bật thứ ba là, Muyntxơ quan niệm và thực

tế đã tổ chức các hiệp hội ở nhiều vùng, trong đó tất cả mọi tài sản, mọi công việc phải là của chung và cùng làm, thực hiện sự bình đẳng đối với mọi người trong hiệp hội

Với những quan niệm trên cùng với hoạt động thực

tế chấp nhận sự hy sinh cả tính mệnh lúc 28 tuổi cho sự

1, 2 C.Mác và Ph.Ảngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1993, t.7, tr 490.

Trang 30

tiến bộ xã hội, Muyntxơ được coi là đại biểu xuất sắc của trào lưu xã hội chủ nghĩa dị giáo cuối thời trung cổ

ỏ châu Âu

Cũng vào thế kỷ XVI ỏ miển Bắc nước Đức xuất hiện phái " Rửa tội lại" gắn liền vói tên tuổi của Menkhiô Hốpman Những tư tưởng của phái "Rửa tội lại" là cơ sỏ tinh thần cho phong trào cách mạng ỏ miền Tây Bắc nước Đức thể hiện tập trung trong cuộc khỏi nghĩa ở Muynxtơ do lan M atít và lan Bôkenđơn lãnh đạo Cuộc khỏi nưhĩa đưa tới sự xuất hiện một chính quyền cách mạng ò Muynxtơ do lan Bôkenđdn đứng đầu với 12 vị trong Hội đồng mang tên 12 vị thánh tông

đồ của đạo Cơ đốc Hội đồng đã thực hiện được một sô" cải cách chính trị - xã hội theo hướng dùng thanh gươm vừa để diệt trừ bạo tặc, vừa để thiết lập "giang sơn của Chúa trên trái đất, từ đó định liệu lấy cuộc sông của mình trên trần thế"

Tuy nhiên Muynxtơ với tư tưởng của phái "Rửa tội lại" đã có sự phát triển nhưng vẫn là những tư tưởng xã hội chủ nghĩa mang nặng màu sắc tôn giáo và không tưởng tiểu tư sản của nông dân mà thôi

Tóm ỉại, các tư tưỏng xã hội chủ nghĩa thời trung

đại ỏ châu Âu vẫn chỉ là những yếu tố còn rời rạc Đó là tiếng nói đấu tranh của đông đảo nông dân, thợ thủ công đang trên đà bị phá sản chông sự áp bức của thế quyền - nhà nước phong kiến và thần quyền - giáo hội phản động Hình thành từ các phong trào dị giáo, các tư

Trang 31

tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ này mang sắc thái tôn giáo, nội dưng mang tính cộng sản triệt đề và có lúc vô chính phủ trong quan niệm vê' xă hội công bằng lý tưởng,

Các tư tưỏng xã hội chủ nghĩa thòi trung đại, tuy vẫn là không tưởng, nhưng trong "đêm trường trung cổ"

đã nổi bật lên như là những sản phẩm văn hoẩ với tính nhân văn sâu sắc

Trang 32

CHƯƠNG 2

T ư TƯỞNG XẢ HỘI CHỦ NGHĨA

KHÔNG TƯỞNG THỜI KỲ ĐAU c ậ n đ ạ i

Xét từ góc dộ lịch sử các tư tưỏng xã hội chủ nghĩa, thời kỳ đầu cận đại được tính trong khoảng thời gian th ế kỷ XVI và th ế kỷ XVII Thời kỳ này các

tư tưởng xã hội chủ nghĩa biểu hiên dưới hình thức văn học thành vãn với các tác phẩm Văn học viễn

tưởng tiêu biểu như: Không tưởng của Tômát Morơ

th ế kỷ XVI và Thành p h ố mặt trời, của Tômadô

Cămpanenla th ế kỷ XVII, một scT tác phẩm văn học của Giêrácđơ Uynxtenli th ế kỷ XVII, tiêu biểu là tác

phẩm Luật tự do được viết nãm 1652

I-I- TÁC PHẨM KHÔNG TƯỞNG CỦA TOMÁT

MORƠ MỞ ĐẦU LỊCH s ử TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CẬN ĐẠI

1 H oàn c ả n h r a đời c ủ a tá c p h ẩm K h ô n g tưởng

Không tưởng được Tomát Morơ, nhà xã hội chủ

Trang 33

nghĩa nôi tiếng của nước Anh, viết vào năm 1514 -

1516, trong những hoàn cảnh sau:

Do sự tác động của kỹ thuật và công nghiệp thành thị (công trường thủ cồng) trực tiếp là công nghiệp dệt len - dạ bằng lông thú, nông nghiệp Anh có biến đổi lớn Nghề chăn nuôi cừu đem lại nguồn lợi lón, do đó bọn địa chủ đã dùng bạo lực đuổi nông dân, cướp toàn

bộ đất đai, đồng ruộng, cả ruộng công lẫn tư, biến thành những đồng cỏ chăn nuôi cừu Có địa chủ nuôi tới hàng vạn con cừu Nông nghiệp Anh chuyển dần sang phương thức sản xuất và kinh doanh tư bản chủ nghĩa.Sản xuất hàng h o á tư bản phát triển cả trong cồng nghiệp và nông nghiệp đã thúc đẩy thương nghiệp tư bản ra đời và phát triển, nhiều trung tâm thương nghiệp hình thành như Luân Đôn thúc đẩy sự phát

Trang 34

triến ngành hàng hải và tìm những thị trường mới Sự phát hiện ra châu Mỹ và đường sang cháu Phi, châu Á

đã làm cho chủ nghía tư bản ỏ Anh phát triển mạnh mẽ nhờ sự giàu có về tài nguyên, lao động ở những nơi đó

1.2, vể chính trị - xã hội

Xã hội Anh đang xuất hiện những tầng lớp, giai cấp

xã hội mới Cùng với giai cấp địa chủ và nông dân, một giai cấp đang bị đẩy ra khỏi đồng ruộng, làng mạc, sống lang thang, đói rét, ốm đau, chết dần chết mòn trên con đường vào thành phô" kiếm sỗng; xuất hiện đội ngũ công nhân trong các công trường thủ công, và giai cấp tư sản (bao gồm chủ công trường thủ công, chủ hầm mỏ, thương gia, những tên cho vay nặng lãi, địa chủ và quí tộc tư sản hoá ) Do đó, tồn tại song song với mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư sản phong kiến, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ đã xuất hiện những mâu thuẫn mối:

"Mâu thuẫn giữa tư sản với địa chủ phong kiến cấu kết với giáo hội phản động"; Những mâu thuẫn đẩy tối những cuộc xung đột xã hội gay gắt Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn ấy, tuv có trong tay lực lượng kinh tế lớn, nhưng giai cấp tư sản vẫn chưa giành được thắng lợi chính trị quan trọng nào Thế kỷ XVI nước Anh vẫn do giai cáp địa chủ thông trị với sự chuyên chế hà khắc tiêu biểu là triều đại Hăngri VIII

1.3 Về tư tưởng - văn hoá.

Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản đang lên với giai

Trang 35

; cấp phong kiên câu kết với giáo hội phản động ngàv : càng gay gắt Phản ánh mâu thuẫn và những xung đột trên của xã hội Anh nói riêng và toàn bộ châu Âu nói chung ¿rên lĩnh vực tư tưỏng văn hoá là "Phong trào văn hoá Phục hưng" khỏi đầu từ thế kỷ XIV ỏ Italia và phát triển khắp châu Âu vào thế kỷ XVII, và "Phong trào cải cách tôn giáo" do Luthơ và Tomát Muyntxơ lãnh đạo vào đầu th ế kỷ XVI ỏ Đức Với nội dung và hình thức thể hiện phong phú trên nhiểu lĩnh vực khoa học, văn học nghệ thuật văn hoá phục hưng phản ánh

hệ tư tưỏng của giai cấp tư sản đang lèn chống lại hệ tư tưỏng phong kiến cấu kết vối giáo lý phản động của giáo hội Trong sô" những con người tiêu biểu của thời đại văn hoá Phục hưng phải kể tối là Tômát Morơ

Tóm lại, thế kỷ XVI nưỏc Anh nói riêng và châu Âu

nói chung vẫn là những quốc gia phong kiến Nhưng trong lòng nó đang thai nghén một xã hội mới, xã hội tư sản với những nhân tố* kinh tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng Thế kỷ XVI là th ế kỷ khởi đầu cho sự tan râ của chế độ phong kiến và sự hình thành xã hội tư sản ỏ châu Âu

2 T om át M orơ v à tá c p h ẩ m K hông tưởng

2.1 Tomát Morơ sinh năm 1478 trong một gia đinh trí thức ở Luân Đôn, một gia đình có 6 người

sông trong cảnh hoà th u ận và bình đẩng ở hoàn cảnh ấy, Tomát Morơ được hưởng một sự giáo dục và

Trang 36

ông cũng tự rèn luyện, tự giáo dục, trơ th àn h một trí thức xuất sác trong phong trào văn hoá Phục hưng,

có tư tương nhân đạo cao, là bạn của nhiều nhà bác học

Năm 1504, Morơ tham gia hoạt động chính trị,1 trúng cử nghị viện Năm 1529 ông trở thành Tể tưóng Vối chức vụ cao, uy tín lớn Morơ hy vọng sẽ tác động vào các chính sách của nhà vua theo hướng nhân đạo Nhưng trong điểu kiện chế độ phong kiến

hà khắc vối triều đại độc tài Hăngri VIII, những ước

mơ tốt đẹp của ông trỏ th àn h đối lập vổí nhà vua, bị nhà vua quy thành tội phản quốc Ổng bị bắt giam 15 tháng và bị xử tử ngày 6-7-1535, thọ 57 tuổi

2.2 Không tưởng, tên đầy đủ của nó là Cuổn sách vàng, vừa thú vị, vừa bổ ích nói về một nhà nước tốt đẹp nhất và hòn đầo Ưtôpi, được Morơ viết vào năm

1514 - 1516

Không tường là một tác phẩm văn học viễn tưởng

nổi tiếng của th ế kỷ XVI đã được tái bản nhiều lần bởi sự hấp dẫn của nó cả vể m ặt văn chương và đặc biệt về những tư tưỏng tiến bộ và nhân đạo hết sức

cao cả Trong Không tưởng Morơ đã phê phán sâu sắc

chế độ đương thời ở nưốc Anh, đồng thời phác họa bức tran h toàn cảnh về một xã hội tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục trong đó

tấ t cả mọi người có một đời sống hạnh phúc

Trang 37

3 Nội đ u n g tư tư ở ng xã hội ch ủ n g h ĩá tro n g

tác p h ẩm K hông tưởng củ a Morơ

3 ĩ Tư tưởng chống áp bức bóc lột bất công, vì lợi

ích của những người lao động.

Trong Không tưởng Morơ đã dành một phần đáng

kể để phê phán chế độ quân chủ đương thời Đó là chế

độ của quá nhiều bọn quý tộc, linh mục, binh lính - bọn

ăn bám Nhà nước phong kiến chỉ là chỉêu bài để bọn nhà giàu mưu lợi cho mình Nhà, nưốc ấy với những chính sách hà khắc và những luật lệ phi lý gây ra bao

tệ nạn xã hội Xã hội hình thành một bên là quần chúng lao động nghèo khổ, và một bên là bọn quý tộc giàu sang "Bên cạnh sự nghèo nàn thảm hại lại có sự

xa hoa táo tợn" Từ đó ông hô hào "Hãy ngăn chặn hành động vơ vét của bọn nhà giàu; hãy ngăn chặn sự độc đoán và sự độc quyển của chúng; hãy cho bọn chây lười

ăn ít thôi, bắt chúng phải lao động"1

Morơ lên án mạnh mẽ chính 'sách cướp đoạt ruộng đất bằng bạo lực của bọn địa chủ đẩy nông dân Anh tới chỗ mất hết điều kiện sinh sống, Nông dân Anh sông lang thang trong cảnh không nhà cửa, chết dần chết mòn trong khi bọn địa chủ thu những khoản lợi nhuận lỏn trên đồng ruộng đã trô thành đồng cỏ nuôi cừu

1, Tomát Morơ: Tài liệu dịch, lưu tại Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, sô 20-1983-1984; tr.6.

Trang 38

Marơ đã khái quát tình cảnh ấy trong cảu nói "Cừu ăn thịt người”, một hình tượng vừa hiện thực,vừa quái dị của thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản Ông viết - qua lòi nhân vật Raphaen - Ghítỉôđây:

"Những con cừu của các ngài nghe nói bây giò chúng

đã trỏ thành háu ăn và bất trị đến mức ăn cả thịt người, làm cho ruộng đồng, nhà cửa và thành phô" bị phá sản tan hoang”1

Mord cũng phê phán giai cấp tư sản Anh vừa mới ra đòi, vì lợi nhuận, đã bắt những người lao động làm thuê phải "làm việc từ sớm tinh sương đến tận khuya” Thực

tế họ phải làm việc từ 14 - 18 giờ/ngày trong khi nhiều người không có việc làm trỏ thành lưu manh Ông cảm thông sâu sắc với cuộc sống của những người lao động nghèo khổ và bị bần cùng nói trên

Khi phê phán xã hội đương thời, cái quan trọng

nhât, quí nhất và cũng là cái mới nhất trong Không

tưởng của Morơ là ông đã nhận ra được nguyên nhân cơ

bản của mọi bất công và tệ nạn xã hội là do "chế độ tư hữu" và từ đó đi tới kết luận "Phải xoá bỏ hoàn toàn chế

độ tư hữu" Ông viết "Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng không thể phân phôi mọi thứ ngang nhau và công bằng, cũng như không thể quản lý công việc của mọi người một cách tốt nhất, có kết quả nhất bằng cách nào khác

1 Sđd, tr.5.

Trang 39

ngoài việc hoàn toàn xóa bỏ chế độ tư hữu"\ Ông còn chỉ ra rằng, việc cải cách chế độ Nhà nước theo quan điếm của Platôn chỉ có thế giảm nhẹ chứ không có thể xoá được bất công và những tệ nạn xã hội.

3.2 Tư tưởng về mội xã hội tốt đẹp đem lại cuộc sông hạnh phúc cho con người.

a) Trên lĩnh vực kinh tế: Nền kinh tê trong xã hội Không tưởng của Morơ là một khổì thông nhất dựa trên

cơ sở chế độ công hữu và lao động bình đẳng đối vói một thành viên

Hệ thống kinh tế bao trùm là hệ thông kinh tế thủ công nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng nhưng là nghề' nặng nhọc Vì vậy, thủ công là nghề chính của mọi người, làm nông nghiệp là nghĩa

vụ đối với mỗi người; thành thị là nơi cư trú lâu dài, thường xuyên, còn ỏ nông thôn sản xuất mang tính thời vụ; do đó xã hội sẽ phân công theo từng kỳ hạn

hai năm một Trong xã hội Không tưởng không có

nông thôn thuần tuý theo đúng nghĩa của nó Tê bào

kinh tế trong Không tưởng là gia đình - gia đinh kinh

tế Đó là những cơ sở sản xuất mang tính chất chuyên môn; do đó trong gia đình kinh tế có cả người cùng hu3^ết thống và khác huyết thông Khi gia đình kinh

tế phát triển vượt quá khuôn khổ thì nhà nước sẽ

1 Sđd, tr 9.

Trang 40

chuyền lao động từ gia đình này sang gia đình khác.

Trong không tưởng Morớ đà thể hiện tư tưởng phân

phổi triệt để: Phân phối theo nhu cầu trên cơ sở của cải dồi dào, đầy ắp trong các kho công cộng Giải thích về nguồn của cải dồi dào, Morơ nêu ra 4 yếu tố: mọi người đểu lao động; phụ nữ chiếm 1/2 dân sô' được làm việc;

xã hội có thi đua; và nhân viên nhà nước do dân bầu, nên hăng hái làm việc

Qua Không tưởng có thể thấy ỏ Morơ đã xuất hiện

quan điểm mới: quan hệ xã hội trước hết là những quan

hệ trong tố chức sản xuất và cùng với sản xuất ông nêu

ra auan niệm về phân phối, tiêu dùng trên cơ sỏ vừa tổ chức các nhà ăn công cộng vừa thừa nhận sỏ hữu cá nhân những tư liệu tiêu dùng đã được phân phối Ông thừa nhận mỗi người có nhà cửa riêng, vườn tược riêng, bếp nức riêng và việc bếp núc riêng không ảnh hưởng đến chế độ công hữu

bị Trên lĩnh vực chính trị: Xã hội Không tưởng là

một xã hội còn nhà nưốc, nhưng đó là nhà nước th ật sự dân chủ

Nhà nước đó chỉ có một mục đích duy nhất là vì như cầu xã hội, vì lợi ích và cuộc sông hạnh phúc của con người Tất cả nhân viên của nhà nước ấy đều do dân bầu ra bằng bỏ phiếu kín

Đó là một xã hội yêu hoà bình, ghét chiến tranh; trong đối nội không có bạo lực Song Morơ không phản

đốì chiến tranh nói chung; đo đó, trong xâ hội Không

Ngày đăng: 15/11/2023, 13:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w