1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc

11 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 539,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ số thực vật và nhiệt độ mặt đất được lấy ra từ ảnh MODIS và ASTER thông qua các kênh trong giải phổ nhìn thấy và kênh hồng ngoại nhiệt.. Mối liên hệ giữa chỉ số thực vật, nhiệt độ m

Trang 1

Tạp chí Khoa học Đất 2007 Số 26, p: 143-149

Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa

vùng bờ biển ở Việt Nam

Hoàng Việt Anh1, Meredith Williams2, David Manning2

1 Trung Tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt

Nam

2 Đại học Tổng hợp Newcastle, UK

Tóm tắt: Đề tài đã xây dựng một phương pháp đánh giá sa mạc hóa sử dụng ảnh vệ tinh MODIS và ASTER Chỉ số thực vật và nhiệt

độ mặt đất được lấy ra từ ảnh MODIS và ASTER thông qua các kênh trong giải phổ nhìn thấy và kênh hồng ngoại nhiệt Mối liên hệ giữa chỉ số thực vật, nhiệt độ mặt đất và mức độ sa mạc hóa được khảo sát và bước đầu được ứng dụng để xây dựng bản đồ vùng sa mạc hóa ven biển

Abstract: A desertification mapping approach is developed using MODIS, ASTER and ENVISAT ASAR products Vegetation

density and thermal properties were extracted from MODIS and ASTER data while soil moisture was estimated from ENVISAT ASAR The relationship between vegetation density, soil moisture, and surface temperature, and the role of these parameters in the desertification process are under investigation

Keywords: remote sensing, desertification, monitoring, ASTER, MODIS

1 Tổng quan

Sau khi Công Uớc Quốc tế về sa mạc hóa chính thức đi vào hoạt động năm 1996, nhu cầu đánh giá các đất thoái hóa và đất sa mạc hóa một cách toàn diện trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết (UNCCD, 2004) Các phương pháp khảo sát thực địa truyền thống vẫn là hết sức cần thiết, nhưng cũng rất tốn kém và cần nhiều thời gian Trong khi đó các hệ thống viễn thám ngày càng chứng minh tính ưu việt của mình bởi khả năng đánh giá nhanh và liên tục trên những vùng rộng lớn và giá thành hạ

Việt Nam tuy không nằm trong vùng sa mạc hóa điển hình, nhưng do tác động của việc phá rừng, canh tác không hợp lý, nhiều vùng của Việt Nam đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo số liệu thống kê, hiện Việt Nam có hơn 9 triệu ha đất hoang hóa, trong đó có 4 triệu ha đất trống đồi núi trọc đã hoàn toàn mất sức sản xuất sinh học Trong số 3.2 triệu ha đất ven biển, có 1.6 triệu ha bị ảnh hưởng nặng nề bởi hiện tượng xói mòn và sa mạc hóa (UNCCD, 2002) Tại các vùng đất cát ven biển, mùa khô kéo dài cùng với mùa mưa ngắn với cường độ cao đã dẫn đến những vấn đề sau:

- Cát di động do gió tại các vùng cát ven biển

- Mặn hóa các vùng đất cát

- Xói mòn đất do tác động của phá rừng và chăn thả gia súc

Hậu quả của quá trình này là những thay đổi nghiêm trọng trong hệ sinh thái, sự xói mòn tiềm năng sinh học và khả năng sản xuất của đất Ở những dạng đất bị thoái hóa nghiệm trọng sẽ diễn ra quá trình biến đổi dần sang hoang mạc rất khó phục hồi, điển hình là những vùng hoang mạc tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Để xây dựng và thực hiện thành công các kế hoạch sử dụng bền vững đất đai, việc theo dõi đánh giá và xây dựng bản đồ cho các quá trình sa mạc hóa là hết sức quan trọng và cần thiết

Trang 2

1.1 Mục tiêu

Đề tài nhằm mục tiêu phát triển một phương pháp xây dựng bản đồ vùng sa mạc hóa phù hợp với điều kiện Việt Nam và có khả năng ứng dụng cho vùng Đông Nam Á Mục tiêu cụ thể là:

- Đánh giá định lượng quá trình sa mạc hóa bở biển ở Việt Nam

- Xây dựng một phương pháp đánh giá sa mạc hóa có khả năng kết hợp ưu điểm của nhiều nguồn dữ liệu viễn thám

2 Vùng nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được chọn là tỉnh Bình Thuận Tại vùng này có nhiều diện tích đất cát chạy dọc bờ biển hàng trăm km Do điều kiện địa hình có dẫy Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam chắn hầu hết lượng mưa đến từ vịnh Thái Lan nên vùng này có khí hậu đặc biệt khô hạn Tỉnh Bình Thuận có thể chia ra 4 dạng địa hình chính:

- Cồn các ven biển: 143780 ha chiếm 18.2% diện tích

- Vùng đồng bằng: 74260 ha, chiếm 9.4% diện tích

- Vùng đồi thấp: 249640 ha, chiếm 31.6% diện tích

- Vùng núi nối với dẫy Trường Sơn: 322320 ha chiếm 40.8% diện tích

Bình Thuận là tỉnh có khí hậu khô và nóng nhất Việt nam với nhiệt độ trung bình năm 27°C; nhiệt độ trung bình mùa đông 20.8°C, nhiệt độ trung bình mùa hè 32.3°C Vùng này cũng là nơi nhận được nhiều bức xạ mặt trời nhất với 2900 giờ nắng hàng năm, tương đương với gần 8 giờ mỗi ngày Lượng mưa rất thấp và phân bố không đều Mưa trung bình năm

1024 mm Tại một số địa địa điểm, lượng mưu bình quân năm chỉ có 550 mm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với nhiều trận mưa lớn trong thời gian ngắn

3 Nguồn dữ liệu

3.1 Các dữ liệu cần thiết cho việc đánh giá sa mạc hóa

Sa mạc hóa là một quá trình phức tạp bao gồm cả các tác nhân thiên nhiên lẫn tác động của con người Tùy theo các cấp độ quản lý khác nhau, ví dụ cấp chiến lược, cấp chính sách, cấp

ra quyết định, cấp quản lý sử dụng đất, mà yêu cầu về thông tin sa mạc hóa cũng khác nhau

Dự án DESERTLINKS của cộng đồng châu Âu đã đưa ra danh sách 150 chỉ tiêu về sinh

thái, kinh tế, xã hội, hành chính để đánh giá sa mạc hóa (Brandt et al., 2002) Tuy nhiên để

xây dựng bản đồ sa mạc hóa, có 3 yếu tố rất quan trọng là nhiệt độ mặt đất, thực vật che phủ,

và độ ẩm đất

Hiện tại trên thế giới có nhiều cách tiếp cận đánh giá sa mạc hóa khác nhau Trong đó 2 cách tiếp cận phổ biến là điều tra thực địa và giải đoán ảnh viễn thám (visual interpretation) Tuy có khác nhau về kỹ thuật, nhưng cả 2 cách tiếp cận này đều dựa vào kiến thức chuyên gia, khả năng phân tích bằng thị giác các dạng địa hình và tập hợp chúng vào một số nhóm cho trước Cách tiếp cận thứ 3, dựa vào phân loại ảnh viễn thám (image classification) Kỹ

Trang 3

thuật và các thuật toán của cách tiếp cận thứ 3 rất đa dạng nhưng đều dựa trên sự đồng dạng

về quang phổ giữa các pixel ảnh với một bộ khóa phân loại cho trước

Cách tiếp cận thứ 4 hướng đến việc mô hình hóa các quá trình diễn ra trên trái đất sử dụng các chỉ số địa vật lý được tính toán trên nền ảnh viễn thám Một vài chỉ số địa vật lý thông dụng có thể lấy từ ảnh viễn thám là: nhiệt độ, ẩm độ, thành phần khoáng vật, từ trường, thành phần khí quyển Việc sử dụng các chỉ số địa vật lý giúp đánh giá các vấn đề một cách khách quan hơn, định lượng hơn và cho phép so sánh kết quả giữa các vùng địa lý khác nhau

Như đã nói ở trên, có rất nhiều yếu tố có thể sử dụng để đánh giá, và xây dựng bản đồ quá trình sa mạc hóa Tuy nhiên trong viễn thám, chúng ta cần phải khái quát hóa vấn đề về một

số yếu tố quan trọng nhất Để chuẩn hóa quá trình xây dựng bản đồ, chúng tôi đưa ra “chỉ số

sa mạc hóa” (desertification index) dựa trên 2 chỉ tiêu có liên quan chặt chẽ với quá trình sa mạc hóa Đó là: nhiệt độ mặt đất (land surface temperature - LST) và độ che phủ thực vật Nhiệt độ mặt đất (LST) có mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình biến đổi của môi trường đất, đồng thời cũng phản ánh sự thay đổi của thực vật Trong điều kiện khô hạn, nhiệt độ lá cây tăng cao là một chỉ số phản ánh sự thiếu nước của thực vật (Mcvicar, 1998)

Thực vật là lớp phủ có tác dụng quan trọng trong việc bảo vệ đất khỏi các quá trình xói mòn do gió và nước Tình trạng của thực vật phản ánh các thay đổi về thủy văn, khí hậu trong hệ sinh thái vùng khô hạn Sự suy giảm của thực vật cả về diện tích và thành phần loài

là tiêu chí rõ rệt nói lên sự suy thoái đất đai (Haboudane et al., 2002)

3.2 Tách chiết các dữ liệu cần thiết từ ảnh viễn thám

Nhiệt độ mặt đất có thể đo được từ kênh hồng ngoại nhiệt của ảnh viễn thám bằng cách áp dụng công thức Plank trong đó nhiệt độ là hàm số của quang phổ phát xạ và bức xạ nhiệt

Trong đó

R(λ,T): quang phổ phát xạ của non-black body tại bước sóng λ

B(λ,T): quang phổ phát xạ của black body tại bước sóng λ

Λ: bước sóng (μm)

ε(λ): bức xạ nhiệt tại bước sóng λ T: nhiệt độ (K)

c1, c2: hằng số

Bằng cách nghịch đảo phương trình này chúng ta có thể tính được nhiệt độ mặt đất với điều kiện 2 yếu tố quang phổ phát xạ và bức xạ nhiệt có thể đo được từ ảnh viễn thám Nhiều thuật toán tiêu chuẩn đã được phát triển để đơn giản hóa quá trình tính toán này, ví dụ thuật

toán Split windows và TES (Dash et al., 2002)

Trang 4

Độ che phủ thực vật có thể tính được từ dữ liệu viễn thám sử dụng các phép phân loại ảnh hoặc chỉ số thực vật Dạng đơn giản và được ứng dụng phổ biến nhất là chỉ số thực vật tiêu chuẩn (NDVI)

R IR

R IR NIVI

+

= Trong đó R là giá trị của giải phổ đỏ, IR là giá trị của giải phổ hồng ngoại Do thực vật hấp thụ hầu hết ánh sáng đỏ, cho nên khi đo quang phổ phát xạ của thực, ta thấy có sự khác biệt lớn giữa giá trị của giải phổ đỏ và giải phổ hồng ngoại Chỉ số thực vật NDVI có giá trị từ -1 đến 1, với những vùng có NDVI cao đặc trưng cho độ che phủ thực vật cao, và những vùng đất trống có NDVI thấp

3.3 Lựa chọn loại dữ liệu viễn thám

Trong nghiên cứu này, nguồn dữ liệu phù hợp là từ những vệ tinh có khả năng cung cấp thông tin về nhiệt độ và chỉ số thực vật, như đã đề cập trong mục 3.1 Trong việc lựa chọn loại dữ liệu phù hợp, chúng ta không những cần quan tâm đến độ phân giải của ảnh, mà còn cần chú ý tới số băng tần, giá thành, diện tích của ảnh, các tiêu chuẩn lọc nhiễu, và tuổi thọ của vệ tinh

Sa mạc hóa là một quá trình lâu dài, vì thế những nghiên cứu về nó cần dựa trên những vệ tinh có khả năng cung cấp dữ liệu lâu dài và ổn định trong một vài thập kỷ Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn những vệ tinh phi thương mại thuộc các chương trình quốc gia của

Mỹ, những chương trình chắc chắn sẽ kéo dài trong vài chục năm nữa Ngoài ra giá tiền mua ảnh cũng là một vấn đề cần quan tâm, về quan điểm chúng tôi ưu tiên những loại ảnh miễn phí hoặc có giá thành hạ để phù hợp với điều kiện Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực

Với độ phân giải trung bình, chúng tôi lựa chọn ảnh MODIS So với ảnh MERIS thì MODIS có độ phân giải quang phổ lớn hơn, và được lọc nhiễu tốt hơn Ảnh MODIS cung cấp những sản phẩm sau đây phù hợp cho nghiên cứu sa mạc hóa: ảnh phản xạ bề mặt (surface reflectance), nhiệt độ bề mặt, chỉ số thực vật

Với dữ liệu có độ phân giải cao chúng tôi chọn ảnh ASTER So với các sensor có tính năng tương tự, ASTER có một số ưu điểm rõ rệt ASTER có nhiều băng ở vùng hồng ngoại sóng ngắn (SWIR) và hồng ngoại nhiệt (TIR) hơn Landsat 7 ETM+ Các băng ảnh trong giải hồng ngoại nhiệt được lọc nhiễu tốt hơn cho phép giải đoán nhiệt độ mặt đất chính xác tới 0.3 oC Ngoài ra về mặt giá thành ảnh ASTER cũng tương đối hợp lý Một ảnh ASTER level

1 diện tích 60 x 60 km có giá USD 50, ảnh level 2 hiện được cung cấp miễn phí

3.3.1 Dữ liệu viễn thám sử dụng

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu thập 2 bộ dữ liệu viễn thám một cho mùa khô và một cho mùa mưa Bộ dữ liệu cho mùa khô được thể hiện trong bảng 4

Bảng 4: Ảnh viễn thám sử dụng trong nghiên cứu

19 Jan 2005 ENVISAT ASAR Level 2B/ ASAR IMG

Trang 5

19 Jan 2005 ENVISAT ASAR Level 2B/ ASAR IMP

4 Phương pháp

4.1 Xử lý ảnh

Ảnh MODIS được lọc nhiễu khí quyển (amospheric corrected) tại trung tâm NASA Toàn bộ

dữ liệu ảnh MODIS được chuyển từ hệ tọa độ ISIN về UTM WGS 84 để phù hợp với dữ liệu địa lý của Việt Nam, và nắn chỉnh vào lưới toạ độ quốc gia Ảnh ASTER level 2, được đăng

ký tọa độ và nắn chỉnh hình học sử dụng bản đồ địa hình 1:50.000 với độ chính xác dưới 1 pixel

4.1.1 Nhiệt độ mặt đất (LST)

Nhiệt độ mặt đất được tính toán từ 2 nguồn dữ liệu Ở tỷ lệ nhỏ, chúng tôi sử dụng MOD11A2 Đây là ảnh nhiệt tính trung bình cho 8 ngày, được tính toán từ kênh hồng ngoại nhiệt của ảnh MODIS với độ phân giải 1 km Việc tính toán này dựa trên một cơ sở dữ liệu

về các loại vật liệu với độ phát xạ nhiệt đã được biết trước Ảnh nhiệt MOD11A2 đã được kiểm nghiệm độ với độ chính xác 1 độ K trong điều kiện trời quang mây (Wan, 1999)

Với độ phân giải trung bình, chúng tôi sử dụng AST_08 Đây là ảnh nhiệt độ mặt đất được tính toán từ kênh hồng ngoại nhiệt của ảnh ASTER với độ phân giải 90 m sử dụng thuật toán

TES (Gillespie et al., 1998)

4.1.2 Chỉ số thực vật

Ở độ phân giải thấp, chúng tôi sử dụng MYD_13Q, ảnh chỉ số thực vật NDVI tính trung bình cho 16 ngày từ vệ tinh MODIS Sử dụng các dữ liệu chuẩn từ nhà cung cấp giúp tiết kiệm thời gian xử lý ảnh và đồng bộ hóa quá trình tính toán Một lợi điểm nữa của việc sử dụng dữ liệu tiêu chuẩn là những dữ liệu này được nắn chỉnh bằng các thuật toán tiêu chuẩn

do đó giúp đơn giản hóa quá trình xây dựng bản đồ, và cho phép so sánh kết quả tại những vùng địa lý khác nhau trong những khoảng thời gian khác nhau

Ở độ phân giải trung bình, chúng tôi sử dụng chỉ số NDVI và SAVI (Soil Adjusted Vegetation Index) để ước lượng độ che phủ thực vật SAVI là chỉ số thực vật được biến đổi

từ công thức tính NDVI với tham số L được thêm vào để tăng độ chính xác cho những vùng

có độ che phủ thấp Nhiều tác giả ủng hộ việc sử dụng chỉ số SAVI cho các cùng thực vật thưa thớt, như vùng savan hoặc hoang mạc (Huete, 1998, Terrill, 1994)

) 1

L RED NIR RED NIR

+ +

= (3)

Trang 6

4.1.3 Chỉ số nhiệt thực vật (Vegetation Temperature Condition Index - VTCI)

Chỉ số nhiệt thực vật (VTCI) được phát triển bởi Wan (2004) (Wan et al., 2004) VTCI là tỷ

số về sự chênh lệch nhiệt độ giữa các pixel có cùng một chỉ số NDVI Trong công thức tính VTCI, tử số là độ chênh lệch giữa nhiệt độ cực đại và nhiệt độ của 1 pixel nhất định; mẫu số

là độ chênh lệch giữa nhiệt độ cực đại và nhiệt độ cực tiểu của những pixel có cùng 1 giá trị NDVI

VTCI = (LSTNDVIi.max -LSTNDVIi) / (LSTNDVIi.max -LSTNDVIi.min) (4)

Với:

LSTNDVIi.max = a + b NDVIi (5)

LSTNDVIi.min = a’ + b’ NDVIi

Trong đó LSTNDVIi.max and LSTNDVIi.min là nhiệt độ cực đại và cực tiểu của những pixel

có cùng 1 giá trị NDVI

thể tính được trong một vùng đủ rộng để độ ẩm đất biến đổi từ điểm bão hòa đến độ ẩm đồng ruộn Trong thực tế các hệ số này được ước lượng từ scatter plot của nhiệt độ và chỉ số thực vật

Hình 1 Mô hình mối quan hệ vật lý giữa các chỉ số của VTCI (Nguồn Wan 2004)

Sử dụng VTCI, ta có thể giải thích được cả sự thay đổi của thảm thực vật lẫn sự biến động

về nhiệt độ của những vùng có cùng độ che phủ thực vật Trong hình 1, LSTmax được coi như đường “biên nóng” đại diện cho những nơi có độ ẩm thấp và thực vật đang bị khô hạn;

NDVI

o C)

LST (NDVIi) Numerator

LSTmin (NDVIi)

LSTmin

Denominator

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1

LSTmax

Trang 7

LSTmin được coi như đường biên “lạnh”, đại diện cho những nơi mát hơn và có đủ nước cho

thực vật phát triển (Gillies et at 1997, Wang et al 2002) Giá trị của VTCI chạy từ 0 đến 1;

chỉ số này càng thấp thì khả năng xẩy ra khô hạn càng cao hơn

4.2 Phương pháp thực địa

Để thu thập số liệu cần thiết cho việc xây dựng mẫu (training data), chúng tôi đã thực hiện hai đợt khảo sát thực địa vào mùa khô và mùa mưa Tổng cộng đã khảo sát 150 điểm mẫu Việc phân vùng được thực hiện trên cơ sở phân loại ảnh ASTER tháng 1 năm 2003 Kết quả phân loại ảnh cho ta một cái nhìn khái quát về vị trí, diện tích và các dạng sa mạc hóa ở vùng nghiên cứu gồm 7 nhóm đất: đồi cát, đồi cát thấp, trảng cỏ cây bụi trên đất cát, ruộng lúa, đất chăn thả, rừng khộp trên đất thấp và rừng khộp trên núi cao

Tại mỗi điểm mẫu, chúng tôi đo đạc những chỉ số sau:

- Độ che phủ thực vật %

- Thành phần cơ giới (5cm)

- pH, EC

- Độ ẩm đất (0-10 cm)

- Nhiệt độ mặt đất

- Lấy mẫu đất để đo các chỉ tiêu dinh dưỡng cơ bản

5 Kết quả

5.1 Phân tích mối quan hệ giữa nhiệt độ mặt đất và độ che phủ thực vật

Để tìm hiểu mối quan hệ giữa nhiệt độ mặt đất và chỉ số thực vật, chúng tôi đã chập 2 ảnh LST và NDVI được tính toán từ ảnh ASTER 2003 và tạo ra một scatter plot với trục hoành biểu thị NDVI và trục tung biểu thị nhiệt độ Hình 2 cho thấy hai yếu tố LST và NDVI có mối quan hệ tuyến tính với R2= 0.7 Những vùng có rừng che phủ có NDVI cao (0.3-0.5) và nhiệt độ mặt đất tương đối thấp (20-26oC) Trong khi đó, các vùng đụn cát có chỉ số NDVI thấp nhất (-0.15 đến -0.2) và nhiệt độ mặt đất rất cao (40 – 50oC) Kết quả này cũng phù hợp với số liệu thực địa, với nhiệt độ giữa nắng của các đụn cát lên đến 65 oC

Trang 8

Hình 2 Mối quan hệ giữa nhiệt độ và chỉ số thực vật (ảnh ASTER 22/01/2003) (A) đại diện cho vùng sa mạc, (B) đại diện cho vùng

rừng

5.2 Chỉ số nhiệt thực vật (VTCI) cho ảnh ASTER và MODIS

Ở độ phân giải cao, ảnh ASTER được sử dụng để tính chỉ số VTCI cho vùng nghiên cứu Chỉ số thực vật NDVI được tính từ băng 3 và băng 1 (băng hồng ngoại và băng đỏ) Nhiệt độ mặt đất LST được lấy từ ảnh AST_08 như đã trình bầy trong mục 4.1.1 Để giảm thiểu sai số hình học, ảnh NDVI được nắn từ độ phân giải 15m xuống còn 90m để phù hợp với độ phân giải của kênh ảnh nhiệt Trong hình 3 (đồ thị scatter plot giữa LST và NDVI) ta thấy đường chéo phía trên đại diện cho “biên nóng” (LSTmax), còn đường thẳng nằm duới scatter plot đại diện cho “biên lạnh” (LSTmin)

Hình 3 Scatter plot giữa LST và NDVI (ảnh ASTER 16/01/2005)

Từ độ dốc của đường “biên nóng” và “biên lạnh” chúng ta tính được các tham số a, b, a’, b’: LSTNDVIi.max = 43.3 – 29.75(NDVIi) (6)

LSTNDVIi.min = 25.2 + 0(NDVIi)

Áp dụng công thức (6) và (4), chúng ta tính được chỉ số VTCI của vùng nghiên cứu Trong hình 4, những vùng đồi cát ở phía nam được thể hiện bằng mầu trắng, và có giá trị gần với 0 Tron khi các vùng đất nông nghiệp ở giữa có mầu tối hơn với khoảng giá trị từ 0.5 đến 1 Trong chỉ số VTCI, giá trị càng nhỏ (càng gần 0) càng biểu hiện sự khô hạn và thiếu nước đối với thực vật Vùng có mầu sáng ở phía bắc ảnh đại diện cho khu vực rừng khộp vốn rất khô hạn trong mùa khô

Trang 9

Hình 4 VTCI tính từ ảnh ASTER (tháng 1/2005) Độ phân giải 90m Một số pixel trắng hoàn toàn là hồ nước và những vùng bị mây che phủ.

Ở độ phân giải thấp, VTCI được tính toán từ ảnh MODIS Ưu điểm của ảnh MODIS là diện tích bao phủ lớn, chỉ 1 ảnh MODIS là có thể phủ hơn 80% diện thích Việt Nam Hai yếu tố đầu vào là: i) ảnh NDVI trung bình 16 ngày (MYD_13Q1); và ii) ảnh nhiệt MOD_11A2 Tất cả các ảnh được đăng ký tọa độ về lưới tọa độ quốc gia và nắn chỉnh về độ phân giải 1 km Từ scatter plot giữa LST và NDVI (hình 5) chúng ta tính được hệ số a, b, a’, b’

LSTNDVIi.min = 18.74 + 0(NDVIi)

Hình 5 Scatter plot giữa LST và NDVI (ảnh MODIS 12 Jan 2005)

Trang 10

Áp dụng công thức (7) và (4) chúng ta tính được chỉ số VTCI cho ảnh MODIS Trong hình 6 có thể thấy hầu hết các vùng đất cát của Việt Nam đều có chỉ số VTCI thấp thể hiện

sự khô hạn và thiếu nước cho cây trồng, trong đó vùng Phan thiết có chỉ số VTCI thấp nhất tương ứng với mức khô hạn nghiêm trọng Vùng Tây Nguyên cũng có chỉ số VTCI tương đối thấp và được thể hiện bằng mầu trắng Dãy Trường Sơn có mầu đậm hơn trên ảnh thể hiện chỉ số VTCI cao do có thực vật che phủ và lượng mưa nhiều hơn Một diện tích lớn ở miền Trung và miền Bắc bị mây che phủ nên không có số liệu

Hình 6 Chỉ số VTCI of tính toán từ ảnh MODIS (tháng 1/2005) Độ phân giải 1 km Khu vực có mầu trắng ở giữa ảnh là những vùng không có dữ liệu nhiệt độ do bị mây che phủ.

6 Thảo luận

Việc phân tích chỉ số thực vật NDIV và nhiệt độ mặt đất từ ảnh ASTER cho thấy, 2 yếu tố này có mối quan hệ chặt (R2=0.7) và có thể giải thích được các cấp độ sa mạc hóa khác nhau Tuy nhiên, trong quá trình xử lý ảnh, chúng tôi nhận thấy rằng sự khác biệt về độ phân giải giữa các băng trong giải phổ nhìn thấy (VNIR, 15 m) sử dụng để tính NDVI, và các băng trong vùng hồng ngoại nhiệt (TIR, 90 m) sử dụng để tính nhiệt độ mặt đất, có thể dẫn tới những sai lệch đáng kể về hình học và quang học Việc nắn chỉnh ảnh chính xác là rất quan trọng để giảm thiểu những sai lệch này

Kết quả tính toán ban đầu cho thấy, ảnh MODIS và ASTER có nhiều tiềm năng để theo dõi và xây dựng bản đồ sa mạc hóa cho tỷ lệ nhỏ và tỷ lệ trung bình Tới thời điểm này, chúng tôi mới chỉ thử nghiệm trên dữ liệu của mùa khô Bước tiếp theo chúng tôi sẽ tiến hành phân tích ảnh và dữ liệu thu thập trong mùa mưu để có một cái nhìn toàn diện hơn về mỗi quan hệ giữa chỉ số thực vật, nhiệt độ, và sự biến động của sa mạc hóa

7 Lời cảm ơn

Đề tài này được sự hỗ trợ của Đại học tổng hợp Newcastle, và Trung tâm nghiên cứu Sinh thái Môi trường rừng (RCFE), Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt nam (FSIV) Chúng tôi xin

Study area

Ngày đăng: 21/06/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Ảnh viễn thám sử dụng trong nghiên cứu - Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc
Bảng 4 Ảnh viễn thám sử dụng trong nghiên cứu (Trang 4)
Hình  2. Mối quan hệ giữa nhiệt độ và chỉ số thực vật (ảnh ASTER 22/01/2003). (A) đại diện cho vùng sa mạc, (B) đại diện cho vùng - Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc
nh 2. Mối quan hệ giữa nhiệt độ và chỉ số thực vật (ảnh ASTER 22/01/2003). (A) đại diện cho vùng sa mạc, (B) đại diện cho vùng (Trang 8)
Hình 5. Scatter plot giữa LST và NDVI (ảnh MODIS 12 Jan. 2005). - Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc
Hình 5. Scatter plot giữa LST và NDVI (ảnh MODIS 12 Jan. 2005) (Trang 9)
Hình 4. VTCI tính từ ảnh ASTER (tháng 1/2005). Độ phân giải 90m. Một số pixel trắng hoàn toàn là hồ nước và những vùng bị mây che  phủ. - Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc
Hình 4. VTCI tính từ ảnh ASTER (tháng 1/2005). Độ phân giải 90m. Một số pixel trắng hoàn toàn là hồ nước và những vùng bị mây che phủ (Trang 9)
Hình  6. Chỉ số VTCI  of tính toán từ  ảnh MODIS (tháng 1/2005). Độ phân giải  1 km. Khu  vực có mầu trắng ở giữa  ảnh là những  vùng  không có dữ liệu nhiệt độ do bị mây che phủ. - Nghiên cứu khoa học " Ứng dụng chỉ số nhiệt thực vật cho việc đánh giá sa mạc hóa vùng bờ biển ở Việt Nam " doc
nh 6. Chỉ số VTCI of tính toán từ ảnh MODIS (tháng 1/2005). Độ phân giải 1 km. Khu vực có mầu trắng ở giữa ảnh là những vùng không có dữ liệu nhiệt độ do bị mây che phủ (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w