Kết quả chọn giống Căn cứ vào sản lượng quả thực tế ở trên cây đã chọn được 100 cây dự tuyển ở 3 huyện trọng điểm trồng Hồi là Văn Quan, Cao Lộc và Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn, các cây
Trang 1Kết quả bước đầu chọn giống vμ nhân giống vô tính cây Hồi
Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng
Trung tâm NC Lâm đặc sản
1 Đặt vấn đề
Hồi (Ilicium verum Hook.F) là cây đa mục đích vừa có tác dụng che phủ bảo vệ đất vừa
đem lại hiệu quả kinh tế cao Tinh dầu hồi là nguyên liệu quí trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm Hơn nữa, hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số nước trên thế giới nên tinh dầu hồi còn
là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Hàng năm các nước trên thế giới đã tiêu thụ khoảng 25000 tấn tinh dầu, trong đó các nước Châu á tiêu thụ khoảng 28%, các nước Châu Mỹ tiêu thụ khoảng 40%, các nước Châu Âu 20%, còn lại ở các nước khác (Pavlovna, 1977, dẫn từ Nguyễn Ngọc Tân, 1987) Như vậy, nhu cầu sử dụng tinh dầu Hồi trên thế giới là rất lớn ở nước ta, hồi được trồng nhiều ở các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc, nhưng tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, đa số rừng hồi hiện nay có nguồn giống chưa được cải thiện, nên năng suất còn rất thấp Để nâng cao năng suất chất lượng rừng Hồi, việc cải thiện giống Hồi là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tế sản xuất Chọn giống và nhân giống vô tính là hai nội dung quan trọng trong quá trình cải thiện giống cây rừng nói chung và giống Hồi nói riêng, đồng thời là một trong những nội dung của đề tài “Xây dựng mô hình rừng Hồi có sản lượng cao trên cơ sở giống đã được chọn lọc” thuộc chương trình 661 mà Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã thực hiện từ năm 1999-2003 Trong phạm vi bài này xin giới thiệu kết quả bước đầu về vấn đề chọn giống và nhân giống vô tính
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu
- Hom của cây con 2 tuổi gieo từ hạt, hom cành của cây mẹ 10 tuổi và >25 tuổi
- Rừng Hồi trồng ở Văn Quan, Cao Lộc và Văn Lãng (Lạng Sơn)
- Gốc ghép là cây con 2 tuổi gieo từ hạt
- Thuốc kích thích: IBA (Indo Butilic Acid)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Chọn cây mẹ (cây trội) theo phương pháp chuyên gia kết hợp với phân tích trong phòng Căn
cứ vào tiêu chuẩn cây trội đã được quy định ở điều 9 quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn giống (QPN15-93) của Bộ Lâm Nghiệp ban hành năm 1994, việc chọn cây trội được chia làm 2 bước
* Bước 1 chọn lọc số lượng (theo sản lượng quả): xác định sản lượng quả ở trên cây bằng
phương pháp ước lượng sản lượng quả, sau đó kiểm tra sai số bằng cách thu hái trực tiếp mỗi quần thể 3 cây làm cơ sở điều chỉnh Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp phỏng vấn để xác định sản lượng quả của những năm trước Đồng thời với việc ước lượng sản lượng quả ở trên cây, bằng phương pháp chuyên gia chọn những cây có bộ tán lá dài, rộng, tròn và cân đối, nhiều cành nhánh, thấp, cây có số lượng quả 8 cánh to đều chiếm đại đa số trên một cây Sản lượng quả của mỗi cây trội đã chọn được so sánh với số trung bình tổng thể của 8-10 cây xung quanh gần nhất
* Bước 2 chọn lọc chất lượng (hàm lượng và chất lượng tinh dầu): phân tích tinh dầu được thực
hiện tại Phòng phân tích hữu cơ, Viện Hoá học và các hợp chất thiên nhiên Hàm lượng tinh dầu
được phân tích theo phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước (tính theo độ khô tuyệt đối) Chỉ
số khúc xạ đo trên máy khúc xạ kế Abbe Định lượng anethol trên máy sắc ký khí HP 6890 Độ
Trang 2đông đo trên thiết bị đo độ đông Mẫu quả phân tích được lấy riêng cho từng cây mẹ vào cuối tháng 9/1999, mỗi cây mẹ lấy 0,5kg quả ở các điểm đại diện của tán Mỗi lâm phần lấy 01 mẫu hỗn hợp để phân tích làm đối chứng
- Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng được chia làm 2 bước:
* Bước 1: nghiên cứu thăm dò phương pháp giâm hom và phương pháp ghép
* Bước 2: nghiên cứu nhân giống mở rộng
- Bố trí thí nghiệm: đối với các thí nghiệm thăm dò bố trí 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại từ 20-30 hom hoặc gốc ghép Đối với các thí nghiệm mở rộng không bố trí lặp lại nhưng dung lượng mẫu lớn từ 50-200 hom hoặc gốc ghép, tuỳ thuộc vào khả năng cung cấp vật liệu của từng cây mẹ
- Xử lý số liệu trên máy vi tính với sự hỗ trợ của chương trình Excel 5.0
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Kết quả chọn giống
Căn cứ vào sản lượng quả thực tế ở trên cây đã chọn được 100 cây dự tuyển ở 3 huyện trọng điểm trồng Hồi là Văn Quan, Cao Lộc và Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn, các cây dự tuyển
đều có sản lượng quả cao hơn sản lượng trung bình của lâm phần từ 20% trở lên Bằng phương pháp phỏng vấn để xác định những cây thường xuyên sai quả trong vòng 2-3 năm gần nhất kết hợp với phương pháp chuyên gia chọn hình dáng bộ tán lá, hình dáng và kích thước quả của từng cây đã xác định được 35 cây trội để lấy mẫu phân tích hàm lượng tinh dầu, hàm lượng anethol và
độ đông (35 cây trong số 100 cây đã sơ tuyển ở trên)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mê Linh (1977) thì hàm lượng tinh dầu trong quả Hồi biến động rất rõ qua các tháng trong năm, cao nhất vào tháng 6 (12,24%), thấp nhất vào cuối tháng 4 và tháng 9 (tương ứng là 8,66 và 7,69%%) Tổng hợp kết số liệu chọn giống về sản lượng quả và chất lượng tinh dầu đã phân tích cho thấy sản lượng quả của 35 cây trội biến động
từ 20-47,33%, hàm lượng tinh dầu của 38 mẫu quả (gồm 35 mẫu quả của 35 cây trội và 3 mẫu quả hỗn hợp của 3 quần thể đại diện) biến động từ 5,12-9,72%, độ đông biến động từ 15,0-19,00C, hàm lượng anethol trong tinh dầu biến động từ 89,10-98,57% Kết hợp cả sản lượng quả
và chất lượng tinh dầu của 35 cây trội dự tuyển trên đã chọn ra được 18 cây vừa có sản lượng quả cao và vừa có chất lượng tinh dầu tốt được thể hiện ở bảng 01 dưới đây
Các cây trội được chọn từ cây thứ nhất đến cây thứ 18 là những cây thường xuyên sai quả
và sản lượng quả hiện tại năm 1999 vượt trội so với số trung bình của những cây
Bảng 01 Sản lượng quả và chất lượng tinh dầu của 35 cây trội
Số
tt
Số
hiệu
cây
trội
Tuổi cây mẹ (năm)
Sản lượng quả
(kg)
TB quần thể (kg)
Vượt trội (%)
T
dầu (%)
Ane (%)
Mức sai quả (liên tục từ 1-3 năm)
1 01vq* >25 55 38,67±5,23 42,23 8,33 96,94 3 năm
2 04vq* >25 50 37,89±5,55 31,96 7,32 95,61 3 năm
3 06vq* 10 13,5 10,43±2,17 29,43 7,61 95,59 2 năm
4 09vq* 10 14 11,57±2,86 21,00 8,71 96,70 2 năm
5 11vq* >25 60 43,69±5,46 37,33 9,72 98,57 3 năm
6 14vq* >25 40 29,55±3,98 35,36 7,32 95,61 3 năm
7 02cl* >25 46 32,25±4,03 42,63 9,15 96,02 3 năm
8 03cl* >25 45 33,30±4,35 35,14 8,69 95,81 3 năm
9 02vl* 10 12 9,55±2,07 25,65 7,00 95,59 2 năm
10 03vl* 10 14 10,65±2,15 31,45 7,65 95,05 2 năm
11 10vl* 10 9,5 7,25±2,13 31,03 7,65 95,70 2 năm
Trang 312 11vl* 10 14 9,87±2,29 41,84 7,75 95,47 2 năm
13 12vl* 10 11 8,75±2,07 25,71 7,00 95,75 2 năm
14 14vl* 10 12,5 9,67±2,35 29,26 8,20 96,19 2 năm
15 17vl* 10 13 9,25±2,12 40,54 7,32 95,70 2 năm
16 22vl* 10 9 6,5±1,26 38,46 7,87 95,43 2 năm
17 23vl* 10 8 5,43±1,17 47,33 8,94 95,47 2 năm
18 24vl* 10 10 7,82±1,33 27,88 9,52 97,50 2 năm
19 12vq >25 35 29,15±3,22 20,07 5,12 90,10 2 năm
20 13vq >25 40 32,51±4,55 23,04 6,67 92,70 1 năm
21 25vq >25 35 28,88±4,22 21,19 7,10 93,70 2 năm
22 27vq >25 45 37,50±5,11 20,00 7,00 93,50 2 năm
23 31vq >25 37 30,41±3,25 21,67 6,78 89,10 3 năm
24 01cl >25 30 24,71±4,45 21,41 6,89 90,10 3 năm
25 04cl >25 35 29,15±3,87 20,07 6,95 92,50 2 năm
26 05cl >25 33 27,11±3,88 21,73 7,10 94,33 3 năm
27 07cl >25 38 31,51±4,55 20,60 7,33 95,55 2 năm
28 08cl >25 34 28,09±3,79 21,04 7,20 93,70 2 năm
29 11cl >25 35 28,42±4,37 23,15 6,95 90,20 2 năm
30 15cl >25 40 31,66±4,33 26,34 6,10 90,15 3 năm
31 23cl >25 39 31,66±4,33 23,18 5,90 89,10 3 năm
32 05vl 10 8,5 6,87±1,23 23,73 7,00 94,45 2 năm
34 09vl 10 11 8,79±1,52 25,14 5,80 90,05 2 năm
xung quanh hầu hết là >30%, đặc biệt các cây 01vq, 02cl, 11vl, 17vl và 23vl vượt trội từ 40-47%, riêng cây 09vq có sản lượng quả chỉ vượt trội 21% nhưng hàm lượng tinh dầu và hàm
lượng anethol khá cao (tương đương với các trị số là 8,71% và 96,70%)
3.2 Các thí nghiệm thăm dò
3.2.1 Thăm dò nhân giống bằng phương pháp giâm hom
Kế thừa các kết quả nghiên cứu nhân giống hom cho một số loài cây rừng như nhân giống hom mỡ của Phạm Văn Tuấn (1991), nhân giống hom Keo, Bạch đàn, Phi lao, Sao, Dầu của Lê Đình Khả (1997, 1999), đặc biệt kết quả bước đầu nghiên cứu nhân giống hom cho cây Hồi của Nguyễn Ngọc Tân (1984), đề tài đã bố trí thí nghiệm thăm dò nhân giống hom cho cây Hồi với vật liệu giâm hom ở 2 cỡ tuổi khác nhau: 2 tuổi và >25 tuổi
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân và cộng sự (1984) thì tuổi cây mẹ và thời
vụ giâm hom có ảnh hưởng rất rõ đến khả năng ra rễ của hom, tuổi hom cành càng già thì càng khó ra rễ Thời gian giâm hom tốt nhất cho cây Hồi có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 hàng năm với thuốc kích thích ra rễ là IBA và IAA Kế thừa các kết quả trên, đề tài đã bố trí thí nghiệm vào tháng 7 với vật liệu là hom thân của cây 2 tuổi, hom chồi vượt và chồi đầu cành của cây >25 tuổi Riêng đối với công thức hom thân cây 2 tuổi được lặp lại một lần nữa vào tháng 2, tất cả các công thức thí nghiệm được sử dụng đồng nhất một loại thuốc IBA(1%)
Số liệu thu được ở bảng 02 một lần nữa khảng định rằng hom cành già rất khó ra rễ Trong phạm vi thí nghiệm này hom chồi đầu cành hoàn toàn không có khả năng ra rễ, hom chồi vượt tuy có tuổi giai đoạn trẻ hơn chồi đầu cành cũng chỉ ra rễ được 18,4%, trong khi đó hom lấy
từ cây con 2 tuổi có khả năng ra rễ từ 66,7-69,2% Mặt khác, số liệu bảng 02 còn cho thấy khả năng ra rễ của hom giâm vào thời điểm tháng 7 (69,2%) cao hơn thời điểm tháng 2 (66,7%) mặc
dù không nhiều
Trang 4Bảng 02: ảnh hưởng của tuổi cây và thời vụ lấy hom
Tuổi cây mẹ lấy hom
Loại thuốc
và tỷ lệ
Thời điểm (tháng)
Tỷ lệ ra rễ (%)
1 Hom cây 2 tuổi
2 Hom cây 2 tuổi
3 Hom chồi vượt của
4 Hom chồi đầu cành
của cây >25 tuổi IBA(1%) 7 00
Nhân giống bằng hom thân cây con gieo từ hạt tuy đạt kết quả khá cao, song ý nghĩa về mặt cải thiện giống không cao, dù cho những hạt giống đó được thu hái từ các cây mẹ đã được chọn lọc cẩn thận
Tuy nhiên, kết quả này ít nhiều cũng có ý nghĩa đối với sản xuất trong giai đoạn trước mắt khi chưa có giống tốt để cung cấp, bằng phương pháp nhân giống này có thể giải quyết được những khó khăn về giống cho những năm thiếu hụt hạt giống do thiên tai mất mùa hoặc do chu
kỳ sai quả Hơn nữa, hạt Hồi là loại hạt khó bảo quản, thay vì việc bảo quản hạt giống trong kho, bằng phương pháp này có thể lưu giữ liên tục được giống trong vườn ươm để cung cấp giống cho sản xuất
3.2.2 Thăm dò nhân giống bằng phương pháp ghép
Ghép cây là một trong những phương pháp nhân giống sinh dưỡng được áp dụng phổ biến trong nghiên cứu chọn giống cây ăn quả như: Nhãn, Vải, Xoài, Hồng, Gần đây, trong Lâm nghiệp cũng đã ứng dụng công nghệ ghép thành công cho một số loài cây rừng Đặc biệt, ghép Trám để phục vụ mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp lấy quả Ngoài việc duy trì bản chất di truyền của cây mẹ, phương pháp ghép có thể khắc phục được nhược điểm của phương pháp giâm hom đối với những loài cây "khó tính" như cây Hồi Với ý tưởng đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu thăm dò thời vụ và phương pháp ghép Hồi với các vật liệu là chồi đầu cành của các cây mẹ 10 tuổi và cây mẹ > 25 tuổi Gốc ghép là cây con 2 năm tuổi được gieo tạo từ hạt,
đường kính cổ rễ từ 0,6-0,8cm, chiều cao từ 0,7-0,8m
Tháng 5/1999 đề tài đã tiến hành thử nghiệm thăm dò 2 phương pháp ghép (ghép nêm và ghép áp) với vật liệu ghép là chồi đầu cành của cây 10 tuổi Kết quả theo dõi sau 2 tháng cho thấy phương pháp ghép áp và ghép nêm có tỷ lệ sống gần tương đương nhau (ghép áp có tỷ lệ sống 40,1% và ghép nêm 38,8%) Do vậy, thời điểm tháng 9 và tháng 11/1999 đề tài chỉ chọn phương pháp ghép áp để tiếp tục thăm dò thời vụ ghép với vật liệu lấy từ cây 10 tuổi và 25 tuổi
Bảng 03 Thí nghiệm thăm dò thời vụ và vật liệu ghép
Tỷ lệ sống sau 2 tháng
(%)
Tỷ lệ sống sau 4 tháng
(%) Thời vụ ghép
10 tuổi >25 tuổi 10 tuổi >25 tuổi
Tháng 11/1999 89,0 81,2 81,5 71,8
Kết quả (bảng 03) cho thấy với vật liệu ghép từ cây 10 tuổi, tỷ lệ sống của cây ghép đạt cao nhất là thời điểm ghép tháng 11, sau 2 tháng tỷ lệ sống đạt tới 89,0%, sau 4 tháng tỷ lệ sống của cây ghép có giảm nhưng không đáng kể và vẫn đạt 81,5% Đợt ghép tháng 5 tuy sau 2 tháng
Trang 5tỷ lệ sống của cây ghép đạt tới 40,1% nhưng sau 4 tháng thì tỷ lệ sống giảm chỉ còn 11,1% Đợt ghép tháng 9 với vật liệu từ cây 10 tuổi, sau 2 tháng tỷ lệ sống chỉ đạt 6,6% và sau 4 tháng thì chết hoàn toàn Kết quả này cho thấy từ tháng 5 đến tháng 9 có thể không phải là thời vụ thích hợp để ghép Hồi, mà thời vụ thích hợp vào khoảng từ tháng 10-11 hoặc đến tháng 12 Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 có thể do mưa nhiều, hàm lượng nước trong thân thường rất cao nên khó thành công Hơn nữa, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mê Linh (1997) thì hàm lượng tinh dầu trong lá thường cao nhất trong khoảng thời gian từ tháng 4-5 và giảm dần đạt giá trị thấp nhất vào tháng 10-11, có lẽ hàm lượng tinh dầu trong thân và cành cũng tương tự như vậy, nên tiến hành ghép vào tháng 11 dễ thành công hơn
Kết quả bảng 03 còn cho thấy tuổi của cây mẹ lấy vật liệu ghép có thể cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cây ghép nhưng chưa rõ rệt Tỷ lệ cây sống sau 2 tháng ghép với cành ghép từ cây 10 tuổi đạt 89%, sau 4 tháng giảm còn 81,5% Trong khi đó tỷ lệ sống của cây ghép với cành ghép lấy từ cây >25 tuổi sau 2 tháng cũng đạt 81,2% và sau 4 tháng chỉ còn 71,8%
Sau khi ghép được khoảng gần 2 tháng cành ghép bắt đầu nhú chồi và ra lá mới, sau 3-4 tháng vết ghép đã gần khép kín bởi lớp tượng tầng và ra được từ 1-3 lá mới Một điểm đáng chú
ý về thời tiết khi ghép, nếu ngày tiến hành ghép hoặc sau ngày ghép khoảng 1 tuần mà có mưa thì tỷ lệ sống của cây ghép đạt rất thấp Giai đoạn từ 2 tháng đến 4 tháng sau khi ghép tỷ lệ sống của cây ghép có giảm nhưng không nhiều (khoảng 10%) Theo kinh nghiệm thì tỷ lệ sống của cây ghép trong tháng đầu tiên hoàn toàn phụ thuộc và kỹ thuật ghép (nếu cành và gốc ghép đạt tiêu chuẩn) Trong giai đoạn từ tháng thứ hai đến tháng thứ tư tỷ lệ sống giảm nhiều hay ít phần lớn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc Ngoài ra, khả năng tương thích giữa cành ghép và gốc ghép cũng là một vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn
Những kết quả nghiên cứu thăm dò trên đây tuy chưa thật đầy đủ, nhưng đó là những cơ
sở khoa học quan trọng để định hướng cho nghiên cứu nhân giống mở rộng tiếp theo
3.3 Thí nghiệm nhân giống mở rộng
Căn cứ những kết quả bước đầu đã đạt được, đề tài đã tiến hành thí nghiệm nhân giống riêng rẽ cho từng cây mẹ Nhưng do đặc điểm của những cây ra quả ở đầu cành như cây Hồi, thường những cây sai quả thì chồi đầu cành rất già và cằn cỗi, nên có những cây mẹ hoàn toàn không chọn được hoặc chọn được rất ít chồi đạt tiêu chuẩn để ghép Chính vì vậy, chỉ có 11/18 cây mẹ (*) đã được chọn lọc theo sản lượng quả và hàm lượng tinh dầu tham gia nhân giống mở rộng, còn lại 9 cây khác được chọn theo sản lượng quả để bổ sung cho tập hợp giống, các cây bổ sung này cũng đều có sản lượng quả vượt trội từ 21-26% Trong số 20 cây mẹ tham gia nhân giống ở bảng 04 có 10 cây ở tuổi >25 năm (không rõ chính xác năm trồng) bao gồm các cây từ
số 1-5 và 12-16, còn lại là ở tuổi 10 năm (trồng năm 1990)
Kết quả ở bảng 04 cho thấy tỷ lệ sống bình quân của cây ghép sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau hơn 5 tháng tỷ lệ sống của các cây ghép tuy có giảm nhưng vẫn đạt gần 74% và sau 14 tháng giảm mạnh chỉ còn gần 46% Như vậy, kết quả thí nghiệm mở rộng tương đối phù hợp với kết quả của các thí nghiệm thăm dò Mặt khác, kết quả bảng 04 còn cho thấy cành ghép lấy từ các cây mẹ khác nhau thì cây ghép có tỷ lệ sống rất khác nhau, sau 3 tháng ghép cây 10 tuổi như cây
số 23vl cho các cành ghép sống tới 100%, nhưng cây mẹ >25 tuổi như cây số 1vq cho cành ghép cũng đạt tỷ lệ cây sống tới 91,2% Sau 5 tháng, phần lớn cành ghép của các cây mẹ sống >70%
kể cả cây 10 tuổi và cây >25 tuổi, cao nhất tới 88,9%, chỉ có 3 cây mẹ cho cành mà tỷ lệ sống của cây ghép <50% gồm cả cây 10 tuổi và cây 25 tuổi
Sau 14 tháng số cây mẹ cho cành ghép có tỷ lệ sống ≥50% chỉ có 9 cây, cao nhất là cây
số 01vq đạt tới 66,4% Chứng tỏ tuổi cây mẹ cho cành ghép ảnh hưởng chưa rõ hoặc không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cây ghép, mà phụ thuộc vào từng cây mẹ cho cành ghép Mặt khác, tuổi giai đoạn và tiêu chuẩn của cành ghép cũng là yếu tố cần phải được nghiên cứu kỹ hơn Tuy chưa có thí nghiệm riêng giữa chồi vượt và chồi đầu cành, song trong quá trình thực hiện nhận thấy rất rõ sự khác nhau giữa cây ghép với chồi vượt và cây ghép với chồi đầu cành Cây ghép
Trang 6bằng chồi vượt cho tỷ lệ sống cao hơn và khả năng sinh trưởng cũng tốt hơn cây ghép với chồi
đầu cành
Bảng 04 Kết quả nhân giống mở rộng bằng phương pháp ghép
Sau 3 tháng ghép Sau 5 tháng
ghép
Sau 14 tháng ghép
Số tt
cây
mẹ
Dòng
cây
mẹ
Tuổi cây
mẹ (năm)
Tổng
số gốc ghép
Số cây sống
T.L.S (%)
Số cây sống
T.L.S (%)
Số cây sống
T.L.S (%)
2 11vq* >25 36 31 86,1 31 86,1 20 55,6
3 02cl* >25 102 82 80,4 82 80,4 57 55,9
4 03cl* >25 85 69 81,2 61 71,8 54 63,5
5 04vq* >25 190 168 88,4 162 85,3 121 63,7
6 06vq* 10 49 34 69,4 28 57,1 15 30,6
7 11vl* 10 45 40 88,9 40 88,9 17 37,8
8 12vl* 10 52 25 48,1 20 38,5 13 25,0
9 22vl* 10 57 50 87,7 50 87,7 25 43,9
12 13vq >25 55 29 52,7 20 36,4 11 20,0
13 11cl >25 46 22 47,8 19 41.3 8 17,4
14 15cl >25 65 57 87,7 47 72,3 7 10,8
15 23cl >25 59 36 61,0 36 61,0 25 42,4
16 05cl >25 45 39 86,7 39 86,7 28 62,2
17 05vl 10 52 45 86,5 40 76,9 17 32,7
18 06vl 10 27 22 81,5 22 81,5 7 25,9
19 09vl 10 38 31 81,6 30 78,9 19 50,0
20 27vl 10 40 26 65.0 26 65,0 9 22,5
Như vậy, ghép là phương pháp rất có triển vọng để nhân giống Hồi, có thể nói kết quả này là một trong những cơ sở khoa học rất quan trọng góp phần để cải thiện giống Hồi có năng suất và chất lượng cao trên cơ sở giống đã được chọn lọc Nhưng công việc này cũng rất tốn kém
về thời gian và kinh phí, nhất là các khâu tạo chồi từ cây mẹ và nuôi dưỡng cây trong vườn ươm Tính riêng từ khi gieo hạt đến khi cây con đạt tiêu chuẩn làm gốc ghép mất 24 tháng và thời gian nuôi dưỡng cây ghép trong vườn ươm cũng mất từ 18-24 tháng, tổng cộng mất khoảng gần 48 tháng để tạo cây giống
3.4 Khả năng ứng dụng mở rộng sản suất
Kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài về chọn giống và nhân giống vô tính cây Hồi đã
được Sở KHCN tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận và yêu cầu Viện KHLN Việt Nam phối hợp tham gia dự
án phát triển cây Hồi ở Lạng Sơn giai đoạn 2002-2006 Đặc biệt là khâu chọn và tạo giống Hồi bằng phương pháp ghép Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên đã tiến hành lặp lại 2 phương pháp ghép áp và ghép nêm (áp dụng công nghệ ghép nêm của Trung Quốc) với vật liệu lấy từ 4 cây
mẹ cùng tuổi (khoảng 20 tuổi) ở Văn Quan vào tháng 12/2003
Trang 7Bảng 05 Kết quả ghép Hồi sau 2 tháng
(ghép ngày 17/12/2004, kiểm kê ngày 17/2/2005)
Số
tt
Dòng
cây trội
Tổng số gốc ghép
Số gốc ghép
Số cây sống
T.L.S (%)
Số gốc ghép
Số cây sống
T.L.S (%)
1095 527 517 97,72 568 563 98,94
Kết quả kiểm kê sau 2 tháng (bảng 05) cho thấy tỷ lệ cây sống của cây ghép khá cao, trung bình ở phương pháp ghép áp đạt 97,72%, ghép nêm cũng đạt tới 98,94% Như vậy, lần này ghép vào tháng 12/2003 sau 2 tháng cả phương pháp ghép áp và ghép nêm có tỷ lệ sống khá cao
Để có kết luận chắc chắn cần phải có thời gian theo dõi thêm Tuy nhiên, kết quả bước đầu này cũng đã bổ sung thêm cơ sở khoa học về thời vụ ghép, có thể ghép vào tháng 12 hàng năm cũng rất có triển vọng Ngoài ra, kinh nghiệm và kỹ năng ghép cũng là vấn đề đã góp phần vào sự thành công này
4 Kết luận, tồn tại và kiến nghị
4.1 Kết luận
Căn cứ vào các kết quả đã được phân tích trên đây, có thể rút ra một số kết luận như sau:
- Các cây trội được chọn để lấy vật liệu giống đồng thời vừa có sản lượng quả vượt trội từ 21-47,33% vừa có hàm lượng tinh dầu và hàm lượng anethol cao hơn hẳn so với số trung bình của quần thể
- Nhân giống bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA(1%), hom lấy từ cây
2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66-69%, nhưng với các hom từ cây >25 tuổi có tỷ lệ ra rễ rất thấp, hom chồi vượt chỉ đạt 18%, hom chồi đầu cành thì hoàn toàn không ra rễ Thời vụ giâm hom thích hợp có thể từ tháng 2-8 hàng năm
- Phương pháp ghép có tỷ lệ cây sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn chỉ còn gần 46%, cả phương pháp ghép nêm và ghép áp
đều có tỷ lệ sống khá cao Thời vụ thích hợp để ghép Hồi từ tháng 10-12 hàng năm Tỷ lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi của cây mẹ cho cành ghép mà phụ thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép
- Bằng phương pháp ghép áp với vật liệu ghép là chồi đầu cành thì sau 14 tháng tuổi cây ghép có
tỷ lệ sống gần 46% ứng dụng công nghệ ghép nêm có thể nâng tỷ lệ sống của cây ghép lên cao hơn
4.2 Tồn tại và kiến nghị
Tuy đề tài đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng do thời gian và kinh phí hạn hẹp nên còn một số tồn tại cơ bản như sau:
- Việc nhân giống bằng hom cho cây Hồi từ vật liệu của những cây mẹ có các phẩm chất tốt hiện nay còn là một vấn đề khó khăn Bởi lẽ, Hồi là cây ra quả đầu cành, một năm có 2 vụ quả, những cây sai quả thường có hom cành rất cằn cỗi, nên không thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom thông thường.Việc làm trẻ hoá bằng cách tạo chồi mới để lấy hom cũng có thể rất khả quan, song đa số rừng hồi hiện nay là của tư nhân nên việc đốn cây hoặc chặt tỉa cành để tạo chồi khó có thể thực hiện được
- Việc nhân giống bằng phương pháp ghép tuy đã có những kết quả rất khả quan, song tỷ lệ cây con đạt tiêu chuẩn xuất vườn còn quá thấp
Trang 8- Vì thời gian và kinh phí quá hạn hẹp nên có nhiều vấn đề còn chưa giải quyết được triệt để như: tiêu chuẩn cành ghép, tiêu chuẩn gốc ghép, tiêu chuẩn cây con xuất vườn, …
- Cần phải có chiến lược nghiên cứu toàn diện hơn về vấn đề cải thiện giống Hồi ở Lạng Sơn,
đồng thời kinh phí và thời gian cũng phải được ưu tiên cao hơn và dài hơn
A hướng dẫn Kỹ thuật ghép Hồi
1 Tạo gốc ghép
Cây con làm gốc ghép phải được gieo ươm từ hạt giống của những cây mẹ khoẻ mạnh, ươm trong bầu polyetylen cỡ 18x25cm Hỗn hợp ruột bầu gồm 70-80% đất tầng A+B phát triển trên Rhyolit hoặc đá sét, 10-15% đất nung và 10-15% phân chuồng hoai Nơi không có đất nung thì dùng 90% đất tầng A phát triển trên Rhyolit và 10% phân chuồng hoai Cây con được nuôi dưỡng trong vườn ươm từ 20-24 tháng Sau đó chọn những cây có đường kính gốc (D00)≥0,8cm, chiều cao (H)≥0,8m, cây khoẻ mạnh, sức sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh
2 Bố trí vườn ươm
- Vườn ươm phải được bố trí ở nơi cao ráo, thoát nước
- Cây con được xếp thành luống, hàng ngang trên luống xếp từ 10-12 bầu sát nhau sao cho chiều ngang luống rộng khoảng 1m Các hàng ngang trên luống xếp cách nhau đúng bằng 1 thân bầu hoặc cứ hai hàng ngang xếp sát nhau thì để một khoảng cách bằng 2 thân bầu, giữa các khoảng cách của hàng ngang và xung quanh luống lấp đất cao bằng mặt bầu
- Dàn che cao từ 1,8-2,0m, dùng lưới nilon đen hoặc cỏ, lá che sáng 75%, sau đó giảm dần xuống 50% và trước khi trồng từ 1-2 tháng giảm dần xuống còn 25%
3 Chọn cây mẹ để lấy vật liệu ghép
Cây mẹ để lấy vật liệu ghép là những cây đã thành thục sinh sản, khoẻ mạnh, sinh trưởng vượt trội, tán lá rộng và cân đối, sai quả thường xuyên, sản lượng quả hàng năm phải vượt trội
≥25% so với sản lượng bình quân tổng thể, quả to đều, đa số quả trên cây có 8 cánh
4 Chọn cành ghép
- Cành ghép là những chồi bánh tẻ có đường kính tương đương với gốc ghép, vỏ có màu xanh thẫm, mắt và lá trên cành thưa Mỗi chồi như vậy thường chỉ lấy được 1 đoạn ở đầu cành
- Dùng dao hoặc kéo thật sắc cắt đoạn chồi đó dài khoảng 10cm, cắt bỏ từ 1/2 đến 2/3 đầu lá phía ngoài, sau đó ngâm ngay vào thùng đựng dung dịch benlate nồng độ 0,2-0,3% để bảo quản
và vận chuyển về vườn ươm, tiến hành ghép ngay, không nên để qua đêm
Trang 95 Thời vụ và thời tiết ghép
- Thời vụ ghép từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm, nhưng thích hợp nhất là ghép vào tháng 11
- Thời tiết: nên tiến hành ghép vào những ngày râm mát, tuyệt đối tránh ghép vào những ngày có mưa
6 Kỹ thuật ghép
Có thể áp dụng cả hai phương ghép nêm và ghép áp
6a Ghép nêm
- Xử lý gốc ghép: tại vị trí 1/2-2/3 chiều cao của thân cây làm gốc ghép, dùng dao thật sắc cắt ngang thân, phía gốc ghép còn lại từ 2-3 lá là tốt nhất, dùng dao chẻ đôi phần mặt cắt của gốc ghép sâu từ 1,5-2cm
- Xử lý cành ghép: chọn cành ghép có đường kính tương đương với phần gốc ghép, dùng dao sắc cắt lấy đoạn hom dài từ 4-5cm, cắt vát 2 bên tạo thành hình cái nêm, chiều dài lát cắt vát từ 1,5-2cm
- Ghép: Ghép nêm cành đã xử lý vào gốc ghép sao cho gốc ghép và cành ghép tiếp xúc nhau hết phần lát cắt của cành ghép Dùng dây nilon mềm quấn chặt từ dưới lên sao cho lớp sau xếp lợp lên lớp trước và quấn kín luôn hết cả phần cành ghép
6b Ghép áp
- Xử lý gốc ghép: tại vị trí độ cao từ 15-20cm trên thân cây làm gốc ghép (không cắt ngọn) dùng dao thật sắc cắt vát vào thân cây dài từ 2-3cm và sâu tới 1/3 đường kính, vẫn giữ nguyên phần vỏ ngoài
- Xử lý cành ghép: chọn cành ghép có đường kính tương đương hoặc nhỏ hơn một ít cắt bớt phần dưới sao cho đoạn cành ghép dài khoảng từ 5-6cm, dùng dao thật sắc cắt vát một lát chéo từ bên
nọ sang bên kia, chiều dài lát cắt từ 2-3cm, cắt tiếp một lát mỏng phía đối diện lát cắt trước tạo thành cái nêm lệch, sau đó áp cành ghép vào gốc ghép đã xử lý
- Ghép: dùng dây nilon mềm quấn chặt từ phía dưới lên sao cho lớp sau xếp lợp lên lớp trước, dùng bao nilon nhỏ chụp lên cành ghép và chùm vào phần tiếp xúc của cành và gốc ghép, sau đó buộc chặt ở phía dưới sao cho nước mưa hoặc nước tưới không vào được chỗ tiếp xúc
7 Kỹ thuật chăm sóc sau ghép
- Thường xuyên nhổ cỏ và dùng que nhọn phá váng mặt bầu
- Tưới nước ngày 2 lần, một lần vào khoảng 7-8 giờ sáng và một lần vào 4-5 giờ chiều, không để nước vào chỗ tiếp xúc giữa cành và gốc ghép
Trang 10- Đối với phương pháp ghép áp, sau những trận mưa, nếu có nước ở trong túi nilon bảo vệ thì phải tháo ra ngay Khi thấy cành ghép bắt đầu nhú chồi thì phải tháo bỏ túi nilon bảo vệ, đồng thời tiến hành cắt phần ngọn của cây làm gốc ghép, chỉ để lại 2-3 lá phía trên vị trí ghép Sau khi chồi ghép đã ra được 2-4 lá thì cắt hết phần thân cây của gốc ghép cách chỗ ghép khoảng 1-2cm
về phía trên
Chú ý thường xuyên cắt tỉa các chồi nằm ở phần gốc ghép
- Bón thúc: khi chồi ghép đã ra được 2-4 lá có thể tưới phân cho cây ghép mỗi tuần 1 lần Loại phân: đạm urê (hoặc đạm sunfat) và kali, tưới riêng từng loại phân, cứ một tuần tưới đạm thì một tuần tưới kali, hoà tan phân trong nước theo tỷ lệ 1%, tưới trung bình khoảng 2-4 lít dung dịch/
m2 và tưới vào buổi sáng Chú ý không tưới vào lá non và chỗ ghép
8 Tiêu chuẩn cây ghép xuất vườn
Cây ghép đạt tiêu chuẩn xuất vườn phải là những cây khoẻ mạnh, lá xanh, phiến lá rộng bình thường Chiều cao của chồi mới ≥20cm (tính từ vị trí ghép lên đến đỉnh sinh trưởng) Thông thường nếu chồi ghép là các chồi vượt thì sau 12-14 tháng ghép có thể đạt được tiêu chuẩn, nhưng nếu chồi ghép là các chồi đầu cành thì từ 20-24 tháng mới có thể đạt được tiêu chuẩn và
số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn chỉ đạt khoảng 50%
B hướng dẫn Kỹ thuật trồng rừng hồi thâm canh
(Đối với cây con gieo từ hạt)
1 Chọn cây mẹ lấy giống
Cây mẹ để lấy hạt giống phải là cây khoẻ mạnh, sinh trưởng vượt trội, tán rộng và cân
đối, sai quả thường xuyên, sản lượng quả vượt trội ≥25% so với sản lượng trung bình tổng thể, quả to đều với đa số quả có 8 cánh
2 Tiêu chuẩn cây con xuất vườn
Cây con phải được nuôi dưỡng trong vườn ươm trên 20 tháng tuổi, khi xuất vườn đem trồng phải đạt đường kính cổ rễ ≥0,7cm, chiều cao ≥0,7m, cây khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh và cụt ngọn (trong phạm vi hướng dẫn này không trình bày kỹ về kỹ thuật tạo cây con)
3 Thời vụ, phương thức và mật độ trồng
- Thời vụ trồng rừng: có thể trồng rừng vào vụ đông-xuân hoặc vụ thu, nhưng tốt nhất là vụ
đông-xuân, thời điểm trước tết âm lịch khi có mưa phùn nhiều và cây con chưa ra lá non