Suốt từ năm 1989, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được chỉ định là cơ quan đầu mối về bảo tồn nguồn gen cây rừng, và cũng từ đó công tác nghiên cứu bảo tồn được coi là nhiệm vụ thường
Trang 1CÔNG TÁC BẢO TỒN NGUỒN GEN CÂY RỪNG GIAI ĐOẠN 1996-2010
Nguyễn Hoàng Nghĩa và Phí Hồng Hải
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Từ năm 1989, đề tài nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
làm chủ trì đã thực hiện công việc điều tra khảo sát, xây dựng phương án bảo tồn, thu thập hạt giống, cây
con hoặc cành hom và xây dựng một số khu sưu tập, quần thụ bảo tồn cho hàng trăm loài cây rừng quý
hiếm và/hoặc có giá trị kinh tế Năm mươi ba loài cây lá kim, 42 loài thuộc 6 chi Dầu; 216 loài/phân loài của
25 chi tre, và 107 loài cây lá rộng khác đã được điều tra và lên danh sách, từ đó làm cơ sở cho chọn lọc loài
bảo tồn và đánh giá mức độ đe dọa theo tiêu chí của IUCN (2001) Cho tới nay, gần 80 ha quần thụ bảo tồn
ex-situ và trên 60ha rừng trồng bảo tồn của 192 nguồn gen thuộc 84 loài, trong đó có 100 nguồn gen của 38
loài quý hiếm, đã được xây dựng tại Ba Vì - Hà Nội, Cầu Hai - Phú Thọ, Xuân Sơn - Phú Thọ, Lương Thịnh -
Yên Bái; Bến En - Thanh Hóa, Măng Linh - Lâm Đồng, Đakplao - Đắk Nông, Bình Thuận, Bầu Bàng - Bình
Dương, Cát Tiên - Đồng Nai và Cà Mau Bên cạnh đó, công tác bảo tồn hạt giống cũng đã bước đầu được
tiến hành cho 1000 lô hạt cá thể và xuất xứ của các loài như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Bạch
đàn uro, Bạch đàn pellita, Bạch đàn grandis và Bạch đàn camal
Sử dụng hai loại chỉ thị phân tử RAPD và DNA lục lạp (cpADN) đánh giá mối quan hệ di truyền giữa các
loài cây (cho 17 loài thuộc 6 chi họ Dầu và 12 loài cây họ Dầu) và đánh giá đa dạng di truyền trong loài (cho
Linh xanh, Gõ đỏ, Giổi xương, Giổi xanh, Pơ mu, Sao lá hình tim, Bách xanh) đã được chú trọng thực hiện
Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng đã thành công cho nhiều loài cây bản địa Công tác tư liệu hóa trên máy
vi tính danh sách giống (xuất xứ và lô hạt) của 16 loài Bạch đàn, 31 loài Keo, 6 loài Thông, 10 loài Tràm, và
2 loài Phi lao Chương trình tra cứu cơ sở dữ liệu trên máy tính đã được thiết kế cho 150 loài cây bản địa và
bước đầu thử nghiệm trên Website của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Từ khóa: Bảo tồn nguồn gen
I MỞ ĐẦU
Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên
nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài
nguyên Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong
chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983) Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền
tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài Đa dạng di truyền là biến dị di truyền có trong biến dị tự nhiên
Biến dị tự nhiên có bên trong mỗi loài là kết quả của các tương hỗ phức tạp giữa các yếu tố khác nhau như
di truyền, phản ứng với sự đa dạng của môi trường sống, hệ thống nhân giống, mức độ lai chéo, lai giống,
kích thước quần thể và sự cách ly Cùng với quá trình tiến hóa, các yếu tổ này thường tạo nên các quần thể
khác biệt về mặt di truyền bên trong một loài và tạo nên các cá thể khác biệt nhau về mặt di truyền bên trong
quần thể (Baradat, 1986; Cossalter, 1989)
Việt Nam có một hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, trong đó có khoảng 20% số loài là đặc hữu
(N.N.Thìn 1997, T V Trừng 1998) Các nhà khoa học dự đoán Việt Nam có khoảng 15.000 loài thực vật,
trong đó trên 10.000 đã được nhận biết Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân như chiến tranh kéo dài, khai
thác lạm dụng, du canh du cư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã làm diện tích và chất lượng rừng của
nước ta bị suy giảm Các hệ sinh thái rừng cũng bị suy thoái nghiêm trọng Nhiều loài thực vật rừng quý
hiếm đang bị khai thác, chặt hạ trái phép nên đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng Năm 1996,
Việt Nam có 356 loài thực vật bị đe doạ tuyệt chủng (Sách đỏ Việt Nam 1996), thì con số này đã tăng lên
Trang 2450 loài vào năm 2007 (Sách đỏ Việt Nam, 2007) Nếu chúng ta không có những chính sách và chiến lược bảo tồn kịp thời và hiệu quả thì con số này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới
Suốt từ năm 1989, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được chỉ định là cơ quan đầu mối về bảo tồn nguồn gen cây rừng, và cũng từ đó công tác nghiên cứu bảo tồn được coi là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ các nguồn gen quý hiếm và đặc thù của đất nước, góp phần duy trì
sự tồn tại của một số loài bị đe dọa cho các thế hệ tương lai Báo cáo này trình bày các kết quả bảo tồn và
sử dụng quĩ gen cây rừng đã đạt được trong giai đoạn từ năm 1996 tới nay
II ĐIỀU TRA KHẢO SÁT, THU THẬP VÀ XÂY DỰNG CÁC QUẦN THỤ BẢO TỒN CÁC LOÀI CÂY QUÝ HIẾM
Qua 15 năm triển khai, đề tài nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam làm chủ trì đã thực hiện công việc điều tra khảo sát, xây dựng phương án bảo tồn, thu thập hạt giống, cây con hoặc cành hom và xây dựng một số khu sưu tập, quần thụ bảo tồn cho hàng trăm loài cây rừng quý hiếm và có giá trị kinh tế Một số loài trong đó có tiềm năng gây trồng trong thực tiễn trồng rừng sản xuất hoặc phòng hộ
2.1 Điều tra, khảo sát và đánh giá nguồn gen
Đối với một số nhóm loài, việc xác định chính xác tên loài, phạm vi phân bố và mối liên kết di truyền là một yêu cầu không thể bỏ qua trong chiến lược và kế hoạch bảo tồn Thông qua khảo sát thực địa và tập hợp tài liệu hiện có, đề tài đã lên được danh sách các loài cây cho một số họ thực vật quan trọng làm cơ sở cho chọn lọc loài bảo tồn và đánh giá mức độ đe dọa theo tiêu chí của IUCN (2001) Các nhóm loài được quan tâm trong giai đoạn vừa qua là:
Các loài cây lá kim
Trong nhiều năm qua, 53 loài cây lá kim có mặt tại nước ta đã được điều tra khảo sát và 33 loài đã được đánh giá mức độ đe dọa và tiềm năng gây trồng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) Có thể thấy rõ là nhiều loài cây lá kim Việt Nam đang đứng trước các mức độ đe dọa cao, trong đó mức độ Rất nguy cấp (CR) có 3 loài
là Hoàng đàn Chi Lăng, Thủy tùng và Thông đỏ Lâm Đồng; mức độ Nguy cấp (EN) là 10 loài (Bách vàng, Bách xanh đá, Bách Đài Loan, Đỉnh tùng, Thông đỏ Pà Cò, Dẻ tùng sọc nâu, Thiết sam, Thông năm lá Pà
Cò, Du sam đá vôi, Vân sam Fansipăng); và 12 loài ở mức Sắp nguy cấp (VU)
Đặc trưng nổi bật ở phần lớn các loài cây lá kim bản địa là chúng sống trên các vùng núi cao, núi đá vôi khắc nghiệt, điều kiện khí hậu và lập địa không thuận lợi cho tái sinh tự nhiên và bị tác động chặt phá mạnh của con người Quần thể cuối cùng của loài Hoàng đàn Chi Lăng chỉ còn lại một số ít cây trong Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên (Lạng Sơn); Thủy tùng chỉ còn lại 30 cây ở Trấp Ksor và 230 cây tàn tạ ở Ea Hleo (Đăk Lăk) Bách vàng chỉ tìm thấy duy nhất một khu phân bố trên độ cao 1200-1400m trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn (Hà Giang); Bách Đài Loan chỉ có duy nhất ở Văn Bàn (Yên Bái); Dẻ tùng sọc nâu ở Thài Phìn Tủng (Hà Giang); Du sam đá vôi ở Kim Hỷ (Bắc Cạn); Vân sam Fansipăng chỉ có ở Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) Như vậy việc bảo tồn các loài cây này đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
Các loài cây họ Dầu
Dựa vào các công bố trước đây và các công bố mới (Nguyễn Tích và Trần Hợp, 1971; FIPI, 1996; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ NN&PTNT, 2000; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003; Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, 2003) kết hợp với các chuyến điều tra khảo sát thực tế tại hiện trường, tổng số các loài họ Dầu của nước ta được xác định có 42 loài thuộc 6 chi (Anisoptera: 1 loài; Dipterocarpus: 12 loài; Hopea: 11 loài; Parashorea: 2 loài; Shorea: 8 loài và Vatica: 8 loài và 1 phân loài) So với các loài cây lá kim, các loài cây họ Dầu có mức độ đe dọa thấp hơn và số loài bị đe dọa thấp hơn; 22 loài trên tổng số 42 loài bị đe dọa Có 2 loài ở mức rất nguy hiểm (CR) là Sao lá hình tim và Sao mạng Cà Ná; 3 loài ở mức Nguy cấp (EN) là Chò nâu, Dầu mít và Dầu bao; 17 loài ở mức Sắp nguy cấp (VU) Sao lá hình tim chỉ còn không quá 250 cây tại Cam Ranh (Khánh Hòa), trong khi đó Sao mạng Cà Ná chỉ còn không quá 200 cây tại Cà Ná (Ninh Thuận) Chai lá cong trước đây được xếp vào mức Rất nguy cấp (CR) vì
Trang 3chỉ tỡm thấy 13 cõy tại Khỏnh Hũa và Phỳ Yờn, nhưng một quần thể tự nhiờn với hàng trăm hộc ta đó được tỡm thấy tại Mỹ Ca (Cam Ranh - Khỏnh Hũa) nờn mức độ đe dọa của loài này được hạ xuống mức Sắp nguy cấp
Cỏc loài tre Việt Nam
Nghiờn cứu loài tre trỳc ở Viện Khoa học Lõm nghiệp Việt Nam đó được tiến hành nhiều năm trờn cơ sở
kế thừa và phỏt triển cỏc kết quả điều tra và thu thập mẫu thực vật từ nhiều vựng trong cả nước Mở đầu bằng cỏc nghiờn cứu do tiến sĩ Nguyễn Đỡnh Hưng chủ trỡ trong khuụn khổ của Chương trỡnh nghiờn cứu KN03, giai đoạn 1991-1995 Trong ba năm 2003-2005, dưới sự phối hợp của dự ỏn “Đa dạng loài và bảo tồn ex situ một số loài tre ở Việt Nam” được tài trở bởi IPGRI và sự hỗ trợ của hai chuyờn gia phõn loại tre Trung Quốc, nhiều chuyến điều tra khảo sỏt suốt từ Bắc vào Nam đó được thực hiện và cụng tỏc đỏnh giỏ lại danh sỏch cỏc loài tre trỳc năm 2003 và định danh loài cũng được tiến hành Kết quả là 133 loài của 24 chi tre trỳc ở nước ta đó đưa vào danh sỏch mới Bờn cạnh đú, đề tài cũng bổ sung cỏc loài mới thu thập vào danh sỏch này và đến nay danh sỏch đó cú 216 loài/phõn loài của 25 chi tre trỳc ở Việt Nam (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Trong số này, nhiều loài được xếp vào nhúm cú giỏ trị kinh tế cao và được đưa vào gõy trồng rộng rói (như Tre gai, Luồng, Trỳc sào, Vầu, Diễn và Nứa), trong khi một số loài được xếp vào nhúm quý hiếm cần sớm được thu thập bảo tồn (như Trỳc đen, Trỳc vuụng, Trỳc húa loang và Tre bụng)
Cú hàng chục loài tre trỳc được coi là mới phỏt hiện vỡ tới nay chưa tỡm thấy trong cỏc tài liệu và bỏo cỏo khoa học đó cụng bố Hầu hết chỳng đó cú tờn địa phương, song chưa được tập hợp vào tài liệu khoa học, chẳng hạn như: Mạy pau (Acidosasa), Mạy loi (Ampelocalamus), Mạy khụ, Mạy quõn và Nụm ở Sơn La và
Điện Biờn; Xả mỏ (Ampelocalamus), Hao biảng và Tre dẻo ở Hà Giang; Tre bụng (Bambusa maculata) ở
Bến Tre; Là a Cà Nỏ ở Ninh Thuận; Mũ o ở Bỡnh Định; Tre leo ở Tõn Phỳ v.v (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005)
Cỏc loài cõy bị đe dọa khỏc
Ngoài 40 loài cõy đó từng điều tra khảo sỏt và cụng bố trong cuốn sỏch “Một số loài cõy bị đe dọa” (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999) và cỏc loài đó được đưa vào nhúm cõy lỏ kim, cõy họ Dầu và Tre trỳc, 67 loài khỏc đó được tiếp tục khảo sỏt và đỏnh giỏ Danh sỏch này bao gồm một số loài hiện đang bị đe dọa cao (Sơn đào, Sơn huyết, Re hương, Xỏ xị, Trai Nam Bộ) và một số loài mặc dự cú mức độ đe dọa thấp song cú tiềm năng trồng rừng lớn như Vạng trứng, Dẻ đỏ, Khỏo vàng, Xoay, Ràng ràng mớt, Ươi, Giổi xanh, Sỳ, Trang v.v Xỏc định cấu trỳc tổ thành và mối quan hệ giữa cỏc loài trong quần thể tự nhiờn và cỏc xuất xứ trong loài cũng đó được tiến hành ở hàng chục ụ tiờu chuẩn cho một số loài cú tiềm năng trồng rừng để cú
cơ sở khoa học cho khai thỏc và sử dụng sau này, chẳng hạn như: Ràng ràng mớt (Phỳ Thọ), Pơ mu (Lào Cai, Lõm Đồng), Kiền kiền (Thừa Thiờn Huế), Chiờu liờu đen (Đắk Lắc), Song mật (Đồng Nai), Thụng đỏ (Lõm Đồng), Thụng Pà Cũ (Hũa Bỡnh), Thụng năm lỏ (Lõm Đồng, Gia Lai), Bỏch xanh đỏ (Quảng Bỡnh), Bỏch xanh (Hà Nội), Giổi xanh (Phỳ Thọ, Thanh Húa, Gia Lai) và Re gừng (Thanh Húa và Lõm Đồng) Rừng trồng bảo tồn cỏc loài cõy này được thiết lập với mục tiờu vừa bảo tồn vừa gúp phần cung cấp giống trồng rừng trong tương lai
2.2 Thu thập nguồn gen và xõy dựng cỏc khu bảo tồn
Mặc dự đó cú hệ thống cỏc khu BTTN, song nhiều loài cõy quý hiếm và cõy bị đe doạ hiện vẫn chưa cú mặt trong cỏc khu này Hơn nữa, cỏc loài đó sưu tập cũng chưa đầy đủ xuất xứ, hầu hết chỉ cú 1-2 xuất xứ
Do vậy bảo tồn ex-situ là cần thiết trờn cơ sở xõy dựng cỏc vườn sưu tập cõy gỗ, vườn thực vật và đặc biệt
là quần thụ bảo tồn ex-situ Đối với cỏc đề tài bảo tồn, vỡ kinh phớ hạn hẹp nờn chỉ tập chung xõy dựng cỏc quần thụ bảo tồn ex-situ và rừng trồng bảo tồn Cho tới nay, gần 80 ha quần thụ bảo tồn ex-situ và trờn 60
ha rừng trồng bảo tồn đó được xõy dựng tại Ba Vỡ (Hà Nội), Cầu Hai và Xuõn Sơn (Phỳ Thọ), Lương Thịnh (Yờn Bỏi); Bến En (Thanh Húa), Cam Ly và Lang Hanh (Lõm Đồng), Đakplao (Đắk Nụng), Bỡnh Thuận, Bầu Bàng (Bỡnh Dương), Cỏt Tiờn (Đồng Nai) và Cà Mau (Bảng 1 và 2) Trong cỏc quần thụ bảo tồn và rừng trồng bảo tồn này, 192 nguồn gen cho 84 loài, với gần 100 nguồn gen của 38 loài quý hiếm đã được thu thập cả bằng hạt giống, cây con và cành hom Cho tới nay, hầu hết cỏc nguồn gen này đều sinh trưởng tốt, nhưng một số nguồn gen của loài Vạng trứng, Chai lỏ cong, Ràng ràng mớt, Xoan đào, Chũ chỉ đó phỏt hiện
cú hiện tượng sõu bệnh trong cỏc quần thụ bảo tồn
Trang 4Bên cạnh việc xây dựng các khu bảo tồn trên hiện trường, với sự giúp đỡ một phần kinh phí của đề tài, công tác bảo tồn hạt giống đã bước đầu được tiến hành cho các loài cây nhập nội có giá trị kinh tế cao nhằm phục vụ các nghiên cứu trong tương lai Trên 1000 lô hạt cá thể và xuất xứ của các loài như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Bạch đàn urophylla, Bạch đàn pellita, Bạch đàn grandis và Bạch đàn camaldulensis đã được bảo quản như vậy
Bảng 1 Loài, số lượng giống và diện tích hoặc số cây/loài tại các quần thụ bảo tồn đã xây dựng
trong giai đoạn 2000-2010
Loài
Số lượng giống
Diện tích (ha)/Số cây Nơi trồng quần thụ bảo tồn
-PT
Giổi xanh + Giổi ăn quả 4 3,0 Ba Vì - HN; Xuân Sơn - PT; Bến En - TH
Trang 5Tấu duyờn hải 1 0,5 Đắc Nụng
Ghi chỳ: LĐ: Lõm Đồng; HN: Hà Nội; PT: Phỳ Thọ
Bảng 2 Địa điểm, diện tớch và loài cõy của rừng trồng bảo tồn được xõy dựng
trong giai đoạn 2000-2005
Địa điểm Diện tích Loài
Cầu Hai, Phú Thọ 29,5 ha Chò nâu, Sến mật, Chò chỉ, Trầm hương, Mun, Mỡ Ba Vì, Táu
mật, Nghiến, Thiết đinh, Sưa, Vạng trứng, Ràng ràng mít, Kháo vàng, Dẻ đỏ, Re gừng, Xoan đào, Dẻ cau và bổ sung cho Vườn sưu tập
Cam Ly và Lang Hanh,
Lâm Đồng
14,5 Cẩm lai, Trắc, Gõ đỏ, Gụ mật, Thông tre, Thông đỏ LĐ, Bách
xanh, Mun và bổ sung cho Vườn sưu tập ở Lang Hanh, Cam Ly Dakplao, Đắc Nông 4,2 Một số loài họ Dầu và họ Đậu
Lương Thịnh, Yên Bái 3 Trầm hương, Thông tre, Bách xanh,
Bầu Bàng, Bình Dương 3 Một số loài họ Dầu và họ Đậu
Bình Châu, Bà Rịa 3 Một số loài họ Dầu và họ Đậu
III ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ DI TRUYỀN GIỮA CÁC LOÀI VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN TRONG LOÀI BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ
Những năm gần đõy, cỏc chỉ thị phõn tử đó được sử dụng khỏ phổ biến trong nghiờn cứu nguồn gốc phỏt sinh loài, phõn loại, tỡm mối quan hệ di truyền giữa cỏc loài, đỏnh giỏ đa dạng di truyền trong loài và trong xuất xứ (Nguyễn Đức Thành, 1999) Từ năm 2001 đến nay, đề tài đó sử dụng hai loại chỉ thị phõn tử RAPD và DNA lục lạp (cpADN) để đỏnh giỏ mối quan hệ di truyền giữa cỏc loài cõy và đỏnh giỏ đa dạng di truyền trong loài cho một số loài cõy quý hiếm và/hoặc cú giỏ trị kinh tế Một số kết quả chớnh như sau:
3.1 Đỏnh giỏ mối quan hệ di truyền giữa cỏc loài cõy
Trang 6Mười bảy loài thuộc 6 chi họ Dầu đó được thu thập và đỏnh giỏ mối quan hệ di truyền giữa cỏc loài Nhỡn chung, cỏc loài cõy nghiờn cứu thuộc chi họ Dầu cú mối quan hệ di truyền khỏ xa Mức độ tương đồng di truyền giữa cỏc chi và cỏc loài trong một chi khỏ thấp (hệ số tương đồng di truyền phần lớn dưới 0,5) chứng
tỏ mức độ đa dạng di truyền cao Đõy là những nguồn gen phong phỳ của cõy thuộc chi họ Dầu ở nước ta Chi Dầu (Dipterocarpus) gồm 4 loài, đú là Dầu nước, Dầu trà beng, Dầu song nàng và Dầu đọt tớm Chi Hopea gồm Sao lỏ hỡnh tim, Săng đào, Sao đen và Sao mạng Cà Nỏ Chi Shorea gồm Cà chớt, Sến mủ và Cẩm liờn, trong đú Cà chớt và Cẩm liờn nằm cựng nhúm với chi Hopea Riờng Sến mủ cú quan hệ di truyền
xa với cỏc loài khỏc của chi Shorea và Hopea Trong hai chi Anisoptera (Vờn Vờn) và Parashorea (Chũ chỉ) thỡ Chũ chỉ nằm cựng nhúm với chi Shorea, cũn Vờn vờn thỡ cỏch biệt hẳn Đối với chi Vatica, Tỏu duyờn hải
và Tỏu ngõu cú quan hệ di truyền rất xa với cỏc loài khỏc trong chi họ Dầu; nhưng Tỏu mật và Tỏu trắng lại
cú quan hệ di truyền gần hơn (Nguyễn Đức Thành et al., 2005)
Trong 12 loài cõy họ Dầu (Dầu rỏi, Dầu bao, Chũ nõu, Dầu cỏt, Dầu trà beng, Dầu lụng, Dầu đồng, Dầu
lỏ búng, Dầu song nàng, Dầu Haselt, Dầu mớt và Dầu đọt tớm), phõn tớch số liệu RAPD và cpADN cho thấy mức độ tương đồng di truyền dao động từ 0,18-0,41 Biểu đồ quan hệ di truyền (Biểu đồ 1) cho thấy 12 loài nghiờn cứu cú quan hệ di truyền rất xa nhau Điều này chứng tỏ sự đa dạng di truyền cao của 12 loài thuộc chi họ Dầu ở Việt Nam Riờng hai loài Dầu trà beng và Dầu cỏt cú mối quan hệ di truyền gần nhau hơn so với cỏc loài khỏc trong chi (Nguyễn Thuý Hạnh et al., 2005)
Biểu đồ 1 Biểu đồ quan hệ di truyền (hệ số Jaccard) giữa 12 loài thuộc họ Dầu
Cỏc loài cõy lỏ kim trước đõy thường được chia thành 7 họ là Araucariaceae, Cephalotaxaceae, Cupressaceae, Pinaceae, Podocarpaceae, Taxaceae, và Taxodiaceae Việt nam cú tổng số 33 loài của 19 chi thuộc 6 họ Cỏc nghiờn cứu của chỳng tụi và kết hợp với cỏc nhà khoa học Thụy Điển (Wang, Szmidt và Hoàng Nghĩa, 2000) cho thấy Thụng hai lỏ dẹt rừ ràng thuộc vào chi Thụng (Pinus) và khụng nhất thiết phải tỏch thành chi Ducampopinus
3.2 Đỏnh giỏ đa dạng di truyền trong loài
Đỏnh giỏ đa dạng di truyền giữa cỏc xuất xứ trong một loài nhằm thỳc đẩy quỏ trỡnh khai thỏc và sử dụng hiện quả, bảo tồn bền vững và đa dạng cỏc nguồn gen cõy rừng, và đồng thời phục vụ cụng tỏc cải thiện giống sau này Đầu tiờn, 9 xuất xứ Lim xanh (Thanh Húa, Ba Vỡ, Hà Bắc, Đụng Giang, Lanh Hanh, Nghệ An, Cầu hai, Tam Đảo và Quảng Ninh) đó được đỏnh giỏ đa dạng di truyền giữa cỏc xuất xứ và trong từng xuất
xứ Kết quả cho thấy sự đa dạng di truyền trong cỏc xuất xứ Lim xanh là rất cao (Quỏch Thị Liờn et al., 2004); Nguyễn Hoàng Nghĩa et al., 2005) Tất cả cỏc xuất xứ cú hệ số tương đồng di truyền nhỏ hơn 0,5 Hai xuất xứ Lanh Hanh và Cầu Hai được coi là gần nhau nhất về quan hệ di truyền, chứng tỏ cỏc cõy Lim xanh trồng tại Lanh Hanh (Lõm Đồng) cú thể cú nguồn gốc từ Cầu Hai (Phỳ Thọ) Hai xuất xứ Quảng Ninh
và Nghệ An cú mối quan hệ di truyền xa nhất so với cỏc xuất xứ cũn lại Như vậy, nếu cần phải chọn 3 xuất
xứ cho cụng tỏc bảo tồn in situ, trước hết nờn chọn xuất xứ Quảng Ninh và Nghệ An Xuất xứ Tam Đảo và Cầu Hai, nơi cú điều kiện bảo vệ và theo dừi nghiờn cứu lõu dài, cú thể được chọn cho cụng tỏc bảo tồn Giống như Lim xanh, loài Gừ đỏ cú mức đa dạng di truyền cao Hệ số tương đồng di truyền dao động từ
47 đến 100% Trong tổng số 50 mẫu thu được từ 7 vựng của 4 tỉnh thỡ cỏc mẫu từ Đắc Lắc và Gia Lai cú
Coefficient
DR
DB
CN
DC
TB
DL
DD
LB
SN
HS
DM
DT
Dầu rái Dầu bao Chò nâu Dầu cát Dầu Trà beng Dầu lông Dầu đồng Dầu lá bóng Dầu song nàng Dầu Haselt Dầu mít Dầu Đọt tím
Trang 7mức độ khỏc biệt di truyền cao hơn so với cỏc mẫu cũn lại Cỏc mẫu cũn lại chia làm 3 nhúm chớnh: Nhúm I gồm cỏc mẫu E1 (Eakmat, Đắc Lắc), N1, N2, N3 (Đốo Ngoạn Mục, Ninh Thuận), K9 (Kon Hà Nừng, Gia Lai), L1, L6, và L7 (Lắc, Đắc Lắc), cú sự khỏc biệt so với hai nhúm II và nhúm III khoảng 50%; Nhúm II gồm E5 (Eakmat, Đắc Lắc), K1, K2, K3, K7, K10 (Kon Hà Nừng, Gia Lai), B1, B2, và B4 (Bắc ỏi, Ninh Thuận), cú mức độ khỏc biệt so với nhúm III khoảng 45% và Nhúm III gồm cỏc mẫu cũn lại (Nguyễn Hoàng Nghĩa et al., 2007)
Giổi xương (Michelia baillonii) là loài cõy gỗ lớn thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae), cú phõn bố tự nhiờn
ở Nam Trung Quốc, Lào, Myanma và Việt Nam Một số xuất xứ Giổi xương đó được nhập từ Trung Quốc vào khảo nghiệm ở nước ta và việc đỏnh giỏ đa dạng di truyền của cỏc xuất xứ này là cần thiết Nghiờn cứu cho thấy cỏc mẫu Giổi xương cú mức độ đa dạng di truyền gen nhõn cao Cỏc xuất xứ Giổi xương cú mối quan hệ di truyền rất khỏc nhau (hệ số tương đồng di truyền chỉ là 0,3) và chia thành 4 nhúm chớnh Cỏc xuất xứ của Trung Quốc khỏc biệt rừ rệt với hai xuất xứ của nước ta (xuất xứ Đà Lạt và Phỳ Thọ) (Nguyễn Hoàng Nghĩa et al., 2009) Như vậy, việc đưa cỏc xuất xứ từ Trung Quốc vào khảo nghiệm và gõy trồng ở nước ta là gúp phần vào làm tăng đa dạng di truyền của loài và bổ sung nguồn gen quý cho loài Giổi xương
Sao lỏ hỡnh tim (Hopea cordata) là loài được xếp vào hạng rất nguy cấp vỡ khu phõn bố đó bị phỏ hủy
nghiờm trọng trong những năm qua, hiện chỉ cũn 3 đỏm với số lượng cõy cỏ thể rất ớt Chớnh vỡ vậy, 15 mẫu cõy đại diện được thu thập tại 3 đỏm rừng cũn sút ở nước ta để đỏnh giỏ đa dạng di truyền của loài này Kết quả phõn tớch cho thấy, cỏc mẫu Sao lỏ hỡnh tim cú sự khỏc biệt nhỏ ở mức độ genome (Nguyễn Hoàng Nghĩa et al., 2006) Cỏc mẫu thu trong một vựng đều nằm trong cựng một nhúm riờng biệt Sự khỏc nhau ở mức độ genome này cú thể do những tỏc động của điều kiện sinh thỏi lờn cỏc tớnh trạng thớch nghi của từng vựng cụ thể Về mặt tiến húa thỡ cỏc mẫu Sao lỏ hỡnh tim cú cựng nguồn gốc vỡ khụng cú sự đa hỡnh cỏc gen lục lạp đó nghiờn cứu
Tương tư như Sao lỏ hỡnh tim, đa dạng di truyền giữa cỏc xuất xứ của Giổi xanh và Pơ mu cũng rất thấp Trong 19 mẫu trộn của 95 cõy đại diện cho 4 xuất xứ (Phỳ Thọ, Ninh Bỡnh, Hà Tĩnh và Gia Lai) của Giổi xanh thỡ hệ số tương đồng về di truyền dao động từ 0,57-0,95 và chỉ được phõn làm hai nhúm chớnh Nhúm
1 chỉ cú 1 mẫu thu từ Gia Lai, cú mức độ tương đồng di truyền với nhúm 2 (18 mẫu cũn lại) là 0,62 (Đinh Thị Phũng, et al., 2009) Tuy nhiên, hầu hết các mẫu của cùng một xuất xứ được lập thành một nhóm nhỏ, chẳng hạn như 5 mẫu thu từ Gia Lai lập thành một nhóm phụ, hay các mẫu thu có nguồn gốc từ Hà Tĩnh nằm trong nhóm phụ Nhưng các mẫu thu từ Phú Thọ và Ninh Bình lại chỉ được xếp vào 1 nhóm, việc phân loại thực vật khẳng định Giổi tại Xuân Sơn – Phú Thọ là Giổi ăn quả Với loài Pơ mu, khi phõn tớch 25 mẫu trộn của 100 cõy địa diện từ cỏc xuất xứ Lõm Đồng, Khỏnh Hũa, Lào Cai và Hũa Bỡnh, cho thấy 25 mẫu này cũng chỉ phõn làm 2 nhỏnh chớnh cú mức độ sai khỏc di truyền dao động trong khoảng 12,4% (Hệ số Dice
dao động từ 0,876 - 1) (Vũ Thị Thu Hiền, et al., 2009) Nhỏnh I chỉ cú duy nhất mẫu thu tại Lõm Đồng
Nhỏnh chớnh II bao gồm 24 mẫu cũn lại Như vậy, tớnh đa dạng di truyền giữa cỏc xuất xứ của Giổi xanh và
Pơ mu hiện nay là rất thấp và cú thể đe dọa sự tồn vong của 2 loài trong quỏ trỡnh tiến húa và sự cố gắng bảo tồn nguồn gen cho cỏc loài này
Đối với loài Bỏch xanh (Calocedrus macrolepis), hệ số tương đồng di truyền Dice của 20 mẫu trộn từ 100
cõy đại diện thu tại Hà Nội, Lõm Đồng và Quảng Bỡnh dao động từ 0,69 đến 1,0 (Vũ Thị Thu Hiền, et al., 2009) Trong đú cỏc mẫu cú cựng nguồn gốc địa lý thỡ cú hệ số tương đồng di truyền cao hơn khi so sỏnh với cỏc mẫu khỏc nguồn địa lý Từ kết quả nhận được cho thấy cỏc mẫu thu được phõn ra làm 3 nhúm rừ ràng Nhúm I tập trung cả 7 mẫu thu tại Hà Tõy, nhúm II gồm 7 mẫu thu tại Lõm Đồng và nhúm III gồm 6 mẫu thu tại Quảng Bỡnh Như vậy khi tiến hành bảo tồn loài Bỏch xanh cần thu thập ớt nhất hai xuất xứ là Ba
Vỡ và Lõm Đồng Loài Bỏch xanh tại Phong Nha Kẻ Bàng – Quảng Bỡnh được xỏc định là loài Bỏch xanh đỏ
(Calocedrus rupetris), với quần thể rộng tới 2400 ha trờn nỳi đỏ vụi ở độ cao 650m-700m so với mực nước
biển (Phan Kế Lộc, 2009), nờn cần chỳ trọng hơn đến bảo tồn in situ cho quần thể này
IV KẾT QUẢ NHÂN GIỐNG Vễ TÍNH PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG BẢO TỒN
Nhõn giống sinh dưỡng cõy rừng bằng hom và mụ đang được phỏt triển rất nhanh và được ỏp dụng khỏ rộng rói trong trồng rừng cao sản cũng như phục vụ cụng tỏc bảo tồn tài nguyờn di truyền cõy rừng Cõy bản địa quý hiếm vừa cú phõn bố rải rỏc, vừa cú số lượng cỏ thể ớt, lại khú thu hỏi hạt nờn thành cụng nhõn giống sinh dưỡng là rất đỏng khớch lệ, nú sẽ giỳp đưa nhanh loài cõy bản địa vào cỏc chương trỡnh trồng
Trang 8rừng ở nước ta Trong 15 năm vừa qua, đề tài bảo tồn nguồn gen cõy rừng đó nghiờn cứu nhõn giống sinh dưỡng thành cụng cho nhiều loài cõy bản địa như Hồng tựng, Bỏch xanh, Pơ mu, Thụng đỏ Lõm Đồng, Re hương, Vự hương, Hồng Quang, Xỏ xị, Sưa, Xạ đen và Giổi xanh Nhỡn chung, nhõn giống hom cho Hồng tựng, Bỏch xanh, Pơ mu, Vự hương, Sưa và Xạ đen là khỏ dễ dàng, do đú trồng rừng bảo tồn cho cỏc loài cõy này cú thể sử dụng hom chồi vượt từ cỏc cỏ thể trong quần thể tự nhiờn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Nghiờn cứu nhõn giống bằng nuụi cấy mụ cho Vự hương cũng đó bước đầu được tiến hành trong giai đoạn 2005-2010 Tuy chưa cú kết quả cuối cựng, nhưng nghiờn cứu này cũng đó cú một số kết quả nhất định như: phương phỏp khử trựng thớch hợp cho Vự hương là khử trùng bằng HgCl20,1%, thời gian khử trùng thích hợp là từ 5 đến 7 phút; thời điểm lấy mẫu thích hợp nhất cho Vù hương là vào tháng 5-8, vụ hè; môi trường tái sinh ban đầu là môi trường MS và được xác định sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo (Phí Hồng Hải, 2009)
V TƯ LIỆU HểA THễNG TIN
Trờn cơ sở kết quả nghiờn cứu của đề tài và một số dự ỏn hợp tỏc quốc tế về bảo tồn nguồn gen, nhiều bài bỏo đó cụng bố và một số quyển sỏch liờn quan đến cỏc vấn đề lý luận, phương phỏp luận, và kết quả nghiờn cứu của đề tài trong những năm vừa qua cũng đó được xuất bản
Đó tư liệu húa trờn mỏy vi tớnh danh sỏch giống (xuất xứ và lụ hạt) của 16 loài Bạch đàn, 31 loài Keo, 6 loài Thụng, 10 loài Tràm, và 2 loài Phi lao Chương trỡnh tra cứu cơ sở dữ liệu trờn mỏy tớnh đó được thiết
kế cho 150 loài cõy bản địa quý hiếm và/hoặc cú giỏ trị kinh tế Bước đầu thử nghiệm trờn Website của Viện Khoa học Lõm nghiệp Việt Nam
VI ĐỊNH HƯỚNG NGHIấN CỨU TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015
Hướng nghiờn cứu bảo tồn nguồn gen cõy rừng trong giai đoạn tới nờn tập trung vào bảo tồn và phỏt triển 3 nhúm loài chớnh là (1) bảo tồn nguồn gen cõy rừng quý hiếm, bị đe doạ tuyệt chủng; (2) bảo tồn nguồn gen cõy rừng cú giỏ trị kinh tế cao phục vụ trồng rừng và; (3) bảo tồn nguồn gen cỏc loài cõy nhập nội cú giỏ trị kinh tế cao phục vụ trồng rừng Đối với cả 3 nhúm loài trờn, cụng tỏc bảo tồn, phỏt triển và sử dụng cũng phải tuõn thủ đầy đủ cỏc bước đi là (1) Điều tra, khảo sỏt; (2) Thu thập, đỏnh giỏ; (3) Bảo tồn; và (4) Phỏt triển, sử dụng Bước phỏt triển, sử dụng và tư liệu húa thụng tin về nguồn gen cõy rừng cũn chưa được quan tõm đầu tư đỳng mức nờn cũng cần được chỳ trọng hơn trong giai đoạn tới
Cụng tỏc rà soỏt lại cỏc biện phỏp bảo tồn đó được ỏp dụng và thực hiện cho cỏc loài cần được tiến hành Phương ỏn bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ là hai phương phỏp vẫn cần được ưu tiờn sử dụng trong giai đoạn tới Trong đú, bảo tồn tại chỗ phải được coi là biện phỏp quan trọng và được đầu tư trực tiếp cho cỏc khu bảo tồn và vườn quốc gia Bảo tồn chuyển chỗ phải kết hợp xõy dựng cỏc vườn sưu tập nguồn gen với khảo nghiệm xuất xứ hay xõy dựng vườn giống Ngoài ra, phương ỏn bảo tồn hạt giống và nguồn gen bằng in vitro cũng cần được phải tiến hành nhằm đảm bảo duy trỡ vật liệu cho sử dụng lõu dài trong gõy trồng cỏc nguồn gen quý hiếm Để đảo bảo tớnh đa dạng di truyền phục vụ cụng tỏc nghiờn cứu trong tương lai và phũng chống biến đổi khớ hậu, cỏc đối tượng cõy nhập nội cú giỏ trị kinh tế cao cũng nờn được bảo tồn hạt giống (xuất xứ và lụ hạt) tại cỏc kho lạnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Khoa học Cụng nghệ và Mụi trường, 1996 Sỏch đỏ Việt Nam, phần Thực vật Nhà xuất bản Khoa học tự nhiờn và Kỹ thuật, Hà Nội 484 trang
Bộ Khoa học Cụng nghệ và Mụi trường, 2007 Sỏch đỏ Việt Nam, phần Thực vật Nhà xuất bản Khoa học tự nhiờn và Kỹ thuật, Hà Nội 611 trang
Đinh Thị Phũng, Đỗ Tiến Phỏt, Nguyễn Văn Phượng và Phớ Hồng Hải, 2009 Đa dạng di truyền 19 mẫu Giổi bằng chi thị RAPD và DNA lục lạp Tạp chớ Cụng nghệ sinh học 7 (1): 75-83
FAO, 1993 Conservation of genetic resources in tropical forest management Principles and concepts FAO, Rome, Forestry Paper No.107
Forest Inventory and Planning Institute, 1996 Vietnam Forest Trees Agricultural Publishing House,
Trang 9IUCN, 2001 Red List Categories and Criteria, version 3.1 Gland, Switzerland 32pp
Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thuý Hạnh, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 Nghiên cứu quan hệ di truyền của một số loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở Việt Nam dựa trên đa hình ADN genome và lục lạp Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc “Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống”, Nhà xuất bản Khoa học và
Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 1379-1382
Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008 Átlát cây rừng Việt Nam, tập 2 Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, 250 trang Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Đức Thành, Trần Thùy Linh, 2007 Kết quả phân tích đa dạng di truyền loài Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz)) bằng chỉ thị phân tử RAPD Tạp chí Nông nghiệp &PTNT, 14/2007,
44-48
Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Quốc Trọng, Nguyễn Đức Thành, 2005 Kết quả bước đầu đánh giá đa dạng
di truyền của ba xuất xứ Lim xanh bằng chỉ thị phân tử RAPD và ADN lục lạp Tạp chí Nông nghiệp &PTNT, 15/2005, 80-81
Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Đức Thành, 2006 Kết quả phân tích
đa dạng di truyền loài Sao hình lá tim (Hopea cordata Vidal) thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae) bằng chỉ thị
phân tử Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, 1:1-6
Nguyễn Thuý Hạnh, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 Nghiên cứu mối quan hệ di truyền của 12 loài thuộc chi Dipterocarpus (họ Dipterocarpaceae) dựa trên các chỉ thị phân tử Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc “Công nghệ sinh học trong nghiên cứu cơ bản”, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội,
2005 89-92
NguyÔn Hoµng NghÜa, 1999 Mét sè loµi c©y bÞ ®e do¹ ë ViÖt Nam Nhµ xuÊt b¶n N«ng nghiÖp, Hµ Néi, 148 trang
Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003 Dipterocarp species in Vietnam In: H Aminah, S.Ani, H.C.Sim and B.Krishnapillay (eds), “Proceedings of the Seventh Round-table Conference on Dipterocarps, 7-10 October
2002, Kuala Lumpur, Malaysia” APAFRI, Kuala Lumpur, Malaysia 2003, 73-79
Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004 Các loài cây lá kim ở Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 148 trang
Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 Tre trúc Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 406 trang
Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 223
Nguyễn Tích và Trần Hợp, 1971 Tên cây rừng Việt Nam Nhà xuất bản nông thôn, Hà Nội, 258 trang
Phạm Hoàng Hộ, 1999 Cây cỏ Việt Nam Nhà xuất bản trẻ, TP Hồ Chí Minh, 3 tập
Quách Thị Liên, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Hoàng Nghĩa 2004 Sử dụng các chỉ thị RAPD và ADN lục lạp trong nghiên cứu quan hệ di truyền của một số xuất xứ cây Lim xanh Erythrophloeum fordii Oliv Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc “Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống”, Nhà xuất bản Khoa học và
kỹ thuật, Hà Nội, 2004 464 – 468
Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ NN&PTNT, 2000 Tên cây rừng Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 460 trang
Vũ Thị Thu Hiền, Đinh Thị Phòng, Phí Hồng Hải và La Ánh Dương, 2009 Phân tích mối quan hệ di truyền giữa các xuất xứ Pơ mu (Fokienia hodginsii) bằng chỉ thị RAPD và DNA lục lạp Tạp chí Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, số (12): 195-201
Vũ Thị Thu Hiền, Trần Thị Viết Thanh, Đinh Thị Phòng, Lê Anh Tuấn và Phí Hồng Hải, 2009 Phân tích mối quan hệ di truyền tập đoàn giống cây Bách xanh (Calocedrus macrolepis) bằng chỉ thị RAPD và DNA lục lạp Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 3 Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 122-128
Wang X.R, A E Szmidt and Hoang Nghia Nguyen, 2000 The phylogenetic position of the endemic
flat-needle pine Pinus krempfii (Pinaceae) from Vietnam, based on PCR-RFLP analysis of chloroplast DNA
Plant Systematics and Evolution, 220 : 21 - 36
FOREST GENETIC GENE CONSERVATION FROM 1996 TO 2010
Nguyen Hoang Nghia Phi Hong Hai
Forest Science Institute of Vietnam
Trang 10SUMMARY
From 1989, the national project “Genetic gene conservation” implimented by Forest Science Institute of Vietnam (FSIV) has carried out survey of plant resources, setup of gene conservation plans, collection of genetic materials and establishment of ex-situ gene conservation stands, for hundreds of rare/high value species Fifty three conifer species, 42 species of Dipterocarpaceae, 216 species/subspecies of Bambusa, and 107 other broad-leave species, were listed and surveyed to select the species for genetic gene conservation and to evaluate threatening level followed by IUCN (2001) criterion So far, 140 ha ex-situ conservation stands of 192 gene sources of 84 species, in which there are 100 gene sources of 38 rare species, were established at Ba Vi-Ha Noi, Cau Hai-Phu Tho, Xuan Son-Phu Tho, Luong Thinh-Yen Bai, Ben En-Thanh Hoa, Mang Linh-Lam Dong, Dakplao-Daknong, Binh Thuan, Bau Bang-Binh Duong, Cat Tien-Dong Nai and Ca Mau In addition, seed conservation has been just implimenting for 1000 seedlots,
including individual and provenance seedlots, of Acacia mangium, A auriculiformis, A crassicarpa, Eucalyptus urophylla, E pellita, E grandis and E camaldulensis
Using RAPD and Chloroplast DNA for evaluating relatedness of species (such as 17 species of
Dipterocarpaceae and 12 Dipterocarpus sepcies) as well as genetic diversity of some species and provenances (such as Afzelia xylocarpa, Hopea cordata, Erythrophloeum fordii, Fokienia hodginsii, Calocedrus macrolepis, Michilia mediocris and Michelia baillonii) has been also paid attention to carry out
Research on vegetative propagation was also successful for many indigenous species Database and
documentation of conservation species were established for 16 Eucalyptus species, 31 Acacia species, 6 Pinus species, 10 Melaleuca species, 2 Casuarina species and 150 indigenus species This database was
tested on website of FSIV
Keywords: Genetic gene conservation