1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)

233 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền Tảng Văn Hóa Và Sự Chuẩn Bị Hòa Nhập Văn Hóa Của Cô Dâu Việt Nam Di Cư Sang Hàn Quốc (Thông Qua Nhận Thức Của Các Cô Dâu)
Tác giả Kim Seo Jung
Người hướng dẫn GS.TS. Phan Thị Thu Hiền
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính cấp thiết của đề tài được nêu như trên, luận văn Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc Thông qua nhận thức của các cô dâu được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KIM SEO JUNG

NỀN TẢNG VĂN HÓA VÀ SỰ CHUẨN BỊ HÒA NHẬP

VĂN HÓA CỦA CÔ DÂU VIỆT NAM

DI CƯ SANG HÀN QUỐC (Thông qua nhận thức của các cô dâu)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KIM SEO JUNG

NỀN TẢNG VĂN HÓA VÀ SỰ CHUẨN BỊ HÒA NHẬP

VĂN HÓA CỦA CÔ DÂU VIỆT NAM

DI CƯ SANG HÀN QUỐC (Thông qua nhận thức của các cô dâu)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ NGÀNH: 8229040

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHAN THỊ THU HIỀN

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các tư liệu

sử dụng trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả

nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2023

Tác giả Luận văn

KIM SEO JUNG

Trang 4

1.2.4 Lý thuyết về sự hòa nhập văn hóa của người di cư 28

1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của hôn nhân Việt - Hàn 35 1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hôn nhân Việt - Hàn trước khi cô dâu Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG 2 NỀN TẢNG VĂN HÓA CỦA CÔ DÂU VIỆT NAM 59

3.2 Sự chuẩn bị tinh thần, thái độ cho quá trình hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam

99 3.2.1 Tình cảm đối với người chồng Hàn Quốc và gia đình nhà chồng 99

3.3.3 Nhận thức và thái độ đối với yêu cầu hòa nhập văn hóa 109

PHỤ LỤC

Trang 6

MỤC LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Thông tin nhân khẩu của các cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu 16 Bảng 2 Thông tin nhân khẩu gia đình cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu 16 Bảng 3 Danh sách chuyên gia liên quan hôn nhân Việt - Hàn được phỏng vấn 17 Bảng 1.1 Tình hình giao dịch thương mại Hàn Quốc - Việt Nam 34 Bảng 1.2 Người giới thiệu cho cô dâu lấy chồng Hàn Quốc 42

Bảng 2.3 Công việc tạo thu nhập chính của gia đình 62 Bảng 2.4 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Vì sao chị quyết định lấy chồng nước ngoài?” 63

Bảng 2.6 Các ngày lễ lớn ở Hàn Quốc và Việt Nam 78 Bảng 3.1 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị học tiếng Hàn bao lâu?” 91 Bảng 3.2 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có khả năng nói tiếng Hàn ở mức độ nào?”

92 Bảng 3.3 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Trước khi lấy chồng Hàn Quốc chị có biết gì về

Bảng 3.4 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có thường xuyên tìm kiếm thông tin về Hàn

Bảng 3.5 Số người tham gia vào “Chương trình giáo dục định hướng cho người kết hôn

Bảng 3.6 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Vì sao chị không tham gia các chương trình hỗ trợ cô dâu Việt Nam trước khi sang Hàn Quốc? (có thể chọn nhiều đáp án)” 98 Bảng 3.7 Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị nói chuyện với chồng về điều gì? (có thể

Trang 7

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Tình trạng cấp Visa định cư kết hôn đến Đài Loan và Hàn Quốc ('95 ~ '08)

39 Biểu đồ 2.1 Trình độ học vấn của các cô dâu lấy chồng Hàn Quốc 72

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện tượng toàn cầu hóa hiện đại đã kích thích sự gia tăng đột biến số người di cư khắp thế giới Sự phát triển của hệ thống vận tải hiện đại tinh vi và nhiều mạng lưới làm cho việc di cư trở nên một cách dễ dàng hơn, rẻ hơn và nhanh hơn cho con người Nhưng, các vấn đề về xã hội và nhiều khía cạnh văn hóa vẫn có thái độ hướng về di cư, bên cạnh đó quan hệ giữa người bản xứ và người di cư thì không phải lúc nào cũng dễ dàng và rất khó để hòa nhập

Đặc biệt, di cư do hôn nhân có ý nghĩa quan trọng hơn so với những người di cư lao động Người di cư do hôn nhân có thể mang hai bản sắc là người di cư đến hoặc cũng có thể là người bản xứ Hầu hết những người di cư do hôn nhân có ý định định cư lâu dài trong xã hội nước đến và có tiềm năng trở thành công dân của nước đến bằng cách nhập quốc tịch Do đó, vấn đề di cư do hôn nhân cần được coi trọng hơn so với các loại hình di cư khác

Vấn đề phụ nữ di cư đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới học thuật Hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’ được quy định trong Luật Di cư Quốc tế có đặc điểm như sau: phụ nữ di chuyển qua biên giới một cách độc lập, không theo chồng hoặc các thành viên gia đình Sự gia tăng của phụ nữ di cư đã đưa đến các hình thức di cư dễ bị tổn thương đặc trưng về giới, trong đó có di cư được tổ chức cho kết hôn qua môi giới Ngoài ra, điểm nổi bật là có xu hướng phần lớn phụ nữ di cư có ‘xuất thân’ từ khu vực Châu Á (Kim Min Kyeong, 2011, tr.1) Như vậy thì, hôn nhân Việt -Hàn có thể được coi là một ví dụ quan trọng về hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’ mà giới học thuật đáng chú ý

Vào cuối những năm 80, Hàn Quốc chuyển từ một quốc gia ‘xuất cư’ thành một quốc gia ‘nhập cư’ (Lee Hye Kyeong, 2010) Hôn nhân xuyên quốc gia giữa nam giới Hàn Quốc và phụ nữ châu Á, bắt đầu dưới hình thức hôn nhân xuyên quốc gia do chính quyền chủ đạo vào những năm 1990, vào những năm này dân số ở Hàn Quốc có xu thế giảm và nhiều nam giới ở vùng nông thôn khó tìm được đối tượng để kết hôn, vì thế mà chính quyền ở Hàn Quốc đã khuyến khích kết hôn với người nước ngoài, bùng nổ sau

Trang 9

năm 2000 và số lượng người di cư do hôn nhân và cư trú tại Hàn Quốc vào cuối năm

2020 đã tăng nhanh chóng lên 168.594 người Trong đó, số người Việt Nam di cư do hôn nhân là 44.058 người và đa phần là nữ giới (40.863 người), chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau người Trung Quốc Các số liệu đã cho thấy người Việt Nam là 3.622 trong số 6.717 người nhập quốc tịch thông qua hôn nhân tại Hàn Quốc vào năm 2020 và người Trung Quốc kế tiếp là 1.924 người.1 Phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người nước ngoài định cư tại Hàn Quốc thông qua di cư do hôn nhân

Sau khi Lee Jasmin, một người nhập quốc tịch, được bầu làm nghị sĩ Quốc hội năm 2012 với tư cách là đại diện tỷ lệ, Won Ok Geum là một người nhập quốc tịch gốc Việt Nam đã gia nhập Đảng Dân chủ vào năm 2020, và trở thành chính trị gia Động thái tuyển mộ người di cư trong giới chính trị sẽ là một bằng chứng cho thấy xã hội Hàn Quốc đang thay đổi Hai người này là thế hệ đầu tiên của những người nước ngoài di

cư do hôn nhân vào Hàn Quốc Cộng đồng người di cư đã chiếm một phần nhất định trong xã hội Hàn Quốc và đang tạo ra tiếng nói trong xã hội Trong đó, những người di

cư do hôn nhân đóng vai trò rất quan trọng

Mặt khác, năm 2019, vụ vợ Việt bị chồng Hàn Quốc hành hung tại Hàn Quốc đã gây bức xúc trong xã hội cả Hàn Quốc và Việt Nam Mặc dù sau khi chính phủ Hàn Quốc tuyên bố ‘Chuyển đổi sang một xã hội đa văn hóa và đa sắc tộc’ vào năm 2006,

cả chính phủ lẫn công dân Hàn Quốc nỗ lực rất nhiều để hòa nhập xã hội, nhưng việc hòa nhập giữa người bản xứ với người di cư vẫn gặp khó khăn Kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy những khó khăn mà người di cư do hôn nhân phải đối mặt trong quá trình định cư ở nơi đến, thường được bắt nguồn từ quá trình hôn nhân xuyên quốc gia bắt đầu từ nơi xuất phát

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập

văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc (Thông qua nhận thức của các cô dâu) để tìm hiểu thực trạng của đối tượng hôn nhân xuyên quốc gia

2 Mục đích nghiên cứu

1 2021년 출입국 외국인정책 통계연보 (Niên biểu Thống kê xuất nhập cảnh và chính sách người nước ngoài Hàn Quốc năm 2021)

Trang 10

Với tính cấp thiết của đề tài được nêu như trên, luận văn Nền tảng văn hóa và sự

chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc (Thông qua nhận thức của các cô dâu) được thực hiện nhằm mục đích làm rõ những vấn đề liên quan đến

hôn nhân Việt - Hàn và nguyên nhân phát sinh sự mâu thuẫn trong gia đình đa văn hóa Việt - Hàn, thông qua tìm hiểu chuyên sâu về tình trạng của các cô dâu Việt Nam trước khi di cư như nền tảng văn hóa, quá trình chuẩn bị di cư Dựa vào đó, luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để giải quyết vấn đề liên quan đến hôn nhân Việt - Hàn

(1) Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, nền tảng văn hóa về mặt vật chất và tinh thần của các cô dâu Việt Nam

di cư sang Hàn Quốc như thế nào?

Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến hôn nhân Việt -Hàn là nhà môi giới, cơ quan nhà nước liên quan và các tổ chức phi chính phủ được hình thành như thế nào và tác động đến quá trình di cư của cô dâu như thế nào?

Thứ ba, quá trình chuẩn bị di cư của cô dâu Việt Nam như thế nào và trong đó hiểu biết và thái độ về Hàn Quốc và gia đình chồng của cô dâu Việt Nam như thế nào? (2) Giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, nền tảng văn hóa về mặt vật chất và tinh thần của các cô dâu Việt Nam

di cư sang Hàn Quốc có nét tương đồng và khác biệt so với văn hóa Hàn Quốc

Thứ hai, hầu như hôn nhân Việt - Hàn được thực hiện thông qua môi giới và trong quá trình đó, chính sách của chính phủ và hoạt động của các tổ chức ảnh hưởng và tác động lẫn nhau

Thứ ba, hiểu biết và thái độ về Hàn Quốc của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc có hạn chế vì quá trình hôn nhân Việt - Hàn thông qua nhà môi giới quá ngắn

3 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về đề tài ‘Di cư do hôn nhân’ hiện đại rất phong phú cả thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như Nhân học, Xã hội học, Phụ nữ học, v.v Chúng tôi phân loại nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài luận văn thành ba chủ đề sau: (1) Giới và di cư, (2) Đa văn hóa và hòa nhập văn hóa, (3) Hôn nhân Việt - Hàn

Trang 11

(1) Giới và di cư

Hochschild (2000) giải thích mối liên hệ giữa việc di cư của phụ nữ kết nối các nước phát triển và nước đang phát triển thông qua khái niệm ‘Global care chain (Chuỗi chăm sóc toàn cầu)’ Trong xã hội công nghiệp hóa, những người làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn cần phải có sự trợ giúp của người làm việc nhà Các gia đình mà

cả hai cặp vợ chồng đều đi làm vẫn cần một ai đó để giúp việc nhà Vấn đề phân công lao động theo giới ở các nước công nghiệp phát triển vẫn chưa được giải quyết Vấn đề này được chuyển sang phụ nữ ở các nước đang phát triển Theo Hochschild, điều này

là ‘Global care chain’

Sassen (2000) đề xuất khái niệm ‘Feminization of survival’ Khái niệm này nghĩa

là hiện tượng phụ nữ bước lên lĩnh vực mưu sinh thay thế nam giới, bởi vì nghèo đói và thất nghiệp ở các nước đang phát triển dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa Sassen chia

sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong quá trình toàn cầu hóa thành ba giai đoạn Giai đoạn cuối cùng, phụ nữ chọn di cư như một phương tiện để duy trì sinh kế cho gia đình,

và chịu đựng dù điều kiện di cư khắc nghiệt

Piper & Roces (2003) cho rằng di cư lao động và di cư do hôn nhân được phân biệt

rõ ràng ở cấp độ pháp luật quốc gia, nhưng trên thực tế, rất khó tách biệt hai loại này trong cuộc sống của phụ nữ di cư Hôn nhân xuyên quốc gia ngày càng có xu hướng tăng, từ khi toàn cầu hóa xuất hiện thì việc di chuyển xuyên quốc gia trở nên thuận tiện hơn Từ những năm 1970, ‘Cô dâu được môi giới qua thư ‘Mail-order bride (Cô dâu được môi giới qua thư)’ là một hiện tượng phổ biến ở các nước tiên tiến như Châu Âu,

Úc Từ thập niên 80 và 90, hiện tượng kết hôn môi giới đã lan rộng trên khắp thế giới,

từ nước xuất phát điểm đến các nước hưởng ứng ngày càng đa dạng hơn Ví dụ như hiện tượng phụ nữ Đông Âu di cư sang Tây Âu, phụ nữ Đông Á lấy chồng Nhật Bản v.v (Kojima, 2006) Thật ra, các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia nêu trên thực chất là một hình thức di cư của phụ nữ, tức là di cư do hôn nhân Cho nên, sự gia tăng hôn nhân xuyên quốc gia là một phần của hiện tượng ‘Nữ giới hóa di cư’

Kim Hyeon Mi (2006) coi hôn nhân xuyên quốc gia là một trong những vấn đề di

cư Trong khi các nghiên cứu có liên quan vào thời điểm đó đề cập đến tình huống mà phụ nữ di cư phải đối mặt tại Hàn Quốc, bà phân tích “Migration regime (Hệ thống di

Trang 12

cư)’ của hôn nhân xuyên quốc gia giữa Hàn Quốc và Việt Nam, trong đó tập trung vào quá trình di cư Quyền lực đa tầng can dự vào quá trình mà phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân với đàn ông Hàn Quốc được phân tích một cách phê phán dưới góc độ giới Theo bà, sở dĩ có xu hướng nhìn nhận phụ nữ như ‘vật sở hữu’ có thể quản lý và kiểm soát hơn là coi phụ nữ là bạn đời và người đồng hành trong cuộc sống trong hôn nhân xuyên quốc gia hiện nay là vì cơ cấu hợp đồng phụ nhiều lớp của hệ thống môi giới hôn nhân xuyên quốc gia hiện nay Nó đang dựa trên mối quan hệ bất cân xứng về giới làm suy yếu tính tự do của phụ nữ và mở rộng sức mạnh của đàn ông

Hwang Jeong Mi (2009) chỉ ra rằng trường hợp Hàn Quốc khác với giải thích của Hochschild và Sassen Theo bà, di cư lao động của phụ nữ trong khái niệm ‘Global care chain’ của Hochschild và ‘Feminization of survival’ của Sassen xuất hiện dưới hình thức di cư do hôn nhân Nhìn vào xã hội Hàn Quốc những năm 90 là thời kỳ bắt đầu xuất hiện di cư do hôn nhân, hoạt động kinh tế của phụ nữ Hàn Quốc là 50%, đây là mức rất thấp trong các nước OECD Số lượng phụ nữ có thể trả tiền cho ‘Global care chain’ là có hạn Ở góc độ văn hóa, việc chăm sóc gia đình và nuôi dạy con cái được coi là nhiệm vụ mà người mẹ phải làm, rất khó giao phó con cái cho phụ nữ di cư Trong khi đó, các quốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đang có tốc độ giảm nhanh chóng về tỷ suất sinh và sự già hóa dân số cùng với sự phát triển kinh tế Do vậy, nhu cầu làm vợ và làm mẹ của phụ nữ châu Á đã dẫn đến tình trạng di cư do hôn nhân ồ ạt (2) Đa văn hóa và hòa nhập văn hóa

Vào giữa thập niên 2000, khi số lượng đàn ông Hàn Quốc kết hôn với phụ nữ nước ngoài và số lượng phụ nữ di cư do hôn nhân vào Hàn Quốc tăng nhanh, việc bắt đầu đề cập đến vấn đề nhân quyền của họ là những công trình nghiên cứu của các đoàn thể nhân dân Do đó, trong giai đoạn đầu, vấn đề phụ nữ di cư do hôn nhân với đàn ông Hàn Quốc được xử lý đặt trọng tâm vào bạo lực và phân biệt đối xử Sau đó, chính phủ dần dần bày tỏ sự quan tâm về chính sách đối với gia đình đa văn hóa, trong cùng một bối cảnh, chính quyền trung ương cũng như chính quyền địa phương đã tiến hành cuộc điều tra tình hình thực tế về gia đình của người di cư do hôn nhân trên toàn quốc.2 Đây

2 Bộ Y tế và Phúc lợi (2005), Điều tra tình hình thực tế về Hôn nhân xuyên quốc gia và Phụ nữ Di cư; Bộ tài nguyên nhân lực giáo dục (2006), Điều tra tình hình thực tế về Giáo dục con cái của Gia đình Đa văn hóa; Bộ Nông lâm (2006), Tình trạng hôn nhân xuyên quốc gia và thực trạng đời sống và vấn đề của phụ nữ di cư do hôn nhân; Ủy ban Cố vấn của Tổng thống để điều

Trang 13

được sử dụng làm dữ liệu cơ bản để hoạch định chính sách Tuy nhiên, nghiên cứu ở cấp chính phủ như trên tập trung vào việc giải quyết các vấn đề trước mắt của người di

cư trong ngắn hạn và xây dựng chính sách làm giải pháp tạm thời Vì vậy, các nghiên cứu như vậy bất cập trong việc đề nghị quan điểm hòa nhập xã hội ở cấp độ chính phủ đối với người di cư đa văn hóa hoặc định hướng chính sách (Kim Tae Won, 2010, tr.400~401)

Lee Hye Kyeong (2010) đã xem các chủ thể quyết định chính sách liên quan đến

di cư chủ yếu là chính phủ, xã hội dân sự và giới học thuật, và trình bày chính sách di

cư của Hàn Quốc đã thay đổi như thế nào trọng tâm ba nhóm này Chỉ đến giữa những năm 2000, Hàn Quốc mới bắt đầu tìm kiếm các chính sách hòa nhập xã hội cho người nước ngoài Với sự gia tăng nhanh chóng của các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia, chính phủ Hàn Quốc đã nhận ra tầm quan trọng của hòa nhập xã hội Theo đó, ‘Đạo luật cơ bản về đối xử với người nước ngoài’ ở Hàn Quốc vào năm 2007, ‘Đạo luật hỗ trợ gia đình đa văn hóa’ vào năm 2008 được thi hành, và chính sách hỗ trợ cho các gia đình đa văn hóa mà các bộ ngành chính phủ đưa ra đã tăng lên nhanh chóng (Lee Hye Kyeong, 2010) Một số thay đổi trong giai đoạn này, có nhiều hội liên quan đến di cư và đa văn hóa được thành lập và phát triển các nghiên cứu và hoạt động liên quan đến di cư và đa văn hóa trong nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau tại Hàn Quốc

Castles & Miller (2013) đã phân loại các loại chính sách hòa nhập người di cư thành ‘Differential exclusion (Loại trừ một cách phân biệt)’, ‘Assimilation (Đồng hóa)’

và ‘Multiculturalism (Chủ nghĩa đa văn hóa)’ Nhìn chung, chính sách hòa nhập xã hội của các quốc gia dân tộc mà huyết thống được coi trọng, chẳng hạn như Hàn Quốc và Đức, bắt đầu từ mô hình ‘Differential exclusion’, thông qua mô hình ‘Assimilation’ rồi, chuyển sang mô hình ‘Multiculturalism’ Năm 2006, chính phủ Hàn Quốc tuyên bố chuyển đổi sang một xã hội đa văn hóa và đa sắc tộc Tuy nhiên, cuộc tranh cãi về chủ nghĩa đa văn hóa ở Hàn Quốc vẫn tiếp tục

chỉnh khoảng cách giàu nghèo và phân biệt đối xử (2006), Điều tra tình hình thực tế về Hỗ trợ Hòa nhập Xã hội cho Gia đình Người di cư do hôn nhân; Bộ Bình đẳng giới và Gia đình (2006), Điều tra tình hình thực tế về Gia đình Người di cư do hôn nhân và Nghiên cứu về phương án chính sách hỗ trợ trung dài hạn

Trang 14

“Nghiên cứu về chính sách di cư của nước ngoài: Tập trung vào cuộc thảo luận gần đây về chính sách đa văn hóa” do Viện nghiên cứu chính sách di cư [IOM] vào năm

2011, thông qua nghiên cứu trường hợp trong một số quốc gia di cư lớn, xem xét các chính sách di cư từ nhiều góc độ khác nhau để giải quyết các xung đột xã hội do dòng người di cư và thảo luận về chủ nghĩa đa văn hóa Trường hợp của mỗi quốc gia được

đề cập trong nghiên cứu này cho thấy rằng định nghĩa về đa văn hóa được lý giải khác nhau tùy theo tính đặc thù của từng quốc gia, do đó, thay đổi nội dung và loại chính sách tương ứng

Theo Hwang Taek Hwan (2012), Bộ Tư pháp và Bộ Bình đẳng giới và Gia đình Hàn Quốc đang thực hiện các chính sách hòa nhập xã hội hoặc chính sách hỗ trợ gia đình đa văn hóa với nội dung gần như giống nhau cho các đối tượng cũng gần như giống nhau thông qua các tổ chức cơ sở và các trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hóa, cho nên ngân sách nhà nước được chấp hành không hiệu quả Trong đó, vấn đề cung cấp dịch

vụ dưới mức với vấn đề cung cấp dịch vụ quá mức đã xuất hiện, ý kiến lo ngại càng ngày càng cao Vì vậy, cần phải thống nhất hệ thống xúc tiến thi hành chính sách

Gu Bon Gyu (2015) chỉ ra rằng trong quá trình chính sách đa văn hóa của chính phủ Hàn Quốc phân loại mục tiêu hỗ trợ, nhóm di cư nhất định được hỗ trợ một cách

có chọn lọc, thì làm cho nhóm di cư đó ngược lại trở thành vấn đề xã hội Nó buộc người di cư trở thành nguồn nhân lực mà nhà nước yêu cầu, hơn nữa, tạo ra kết quả như gạt người di cư ra ngoài lề xã hội như người khác, và phân loại họ theo chủng tộc

Ra So Young & Eom Seok Jin (2019) chỉ ra rằng, yếu tố chính mà bất chấp chính sách về người nước ngoài một cách liên tục và bành trướng của chính phủ Hàn Quốc, tâm lý chống lại người nước ngoài đang lan rộng là vấn đề trong nội dung và thực thi chính sách của chính phủ Sự thiếu triết lý chính sách về người nước ngoài được đưa ra

là căn nguyên sâu xa

(3) Hôn nhân Việt - Hàn

Nghiên cứu về hôn nhân xuyên quốc gia nói chung và hôn nhân Việt - Hàn nói riêng nhận được nhiều quan tâm tại Hàn Quốc và Việt Nam Trong những nghiên cứu bắt đầu nổ ra ở Hàn Quốc vào giữa thập niên 2000, phụ nữ di cư do hôn nhân thường được miêu tả như nạn nhân thụ động bị chuyên chế của người môi giới và chịu đựng

Trang 15

tính gia trưởng của người chồng và gia đình bên chồng Hay là, cũng có những nghiên cứu nhấn mạnh các phương pháp đối ứng khác nhau của phụ nữ di cư, cụ thể là lựa chọn

và thương lượng, nỗi thống khổ và ý chí, và những xung đột trong quá trình này, và cho thấy quá trình thực hiện ý chí của mình ngay cả trong những tình huống khó khăn (Wi Seon Ju, 2009, tr.6)

Tại Hàn Quốc, các bộ ngành trung ương như Bộ Tư pháp, Bộ Bình đẳng giới và Gia đình, Bộ Y tế và Phúc lợi, Bộ Việc làm và Lao động và chính quyền địa phương đang thực hiện các chính sách đối với người nước ngoài Mỗi cơ quan công bố số liệu thống kê và kết quả điều tra về người di cư trong nước định kỳ Hầu hết các nghiên cứu

về phụ nữ di cư do hôn nhân do chính phủ hỗ trợ là các nghiên cứu về tác động của các chính sách và điều tra thực tế của người di cư Những nghiên cứu cũng được thực hiện

về tình hình thực tế và phương thức kinh doanh của môi giới hôn nhân Năm 2005, Ủy ban điều chỉnh khoảng cách giàu nghèo và phân biệt đối xử của Hàn Quốc đã tìm ra cấu trúc nhiều lớp của hệ thống môi giới hôn nhân xuyên quốc gia thông qua công ty môi giới hôn nhân và thiệt hại do hệ thống này gây ra qua cuộc điều tra thực địa ở Việt Nam

và Philippines Năm 2006, Bộ Y tế và Phúc lợi lần đầu tiên điều tra một cách có hệ thống là các hiện trạng như quy mô và công việc của công ty môi giới trong nước, mối quan hệ giữa công ty môi giới trong nước và công ty môi giới địa phương ở nước ngoài,

và quy trình kinh doanh môi giới Các vấn đề được trình bày trong nghiên cứu này đã ảnh hưởng đến việc xây dựng ‘Luật doanh nghiệp môi giới hôn nhân’ vào năm 2007 Ngoài ra, Bộ Bình đẳng giới và Gia đình năm 2010 đã thực hiện cuộc khảo sát quy mô lớn với đối tượng là các công ty môi giới và người sử dụng, và đã đến thăm một số quốc gia nơi mà hôn nhân xuyên quốc gia với người Hàn Quốc trở thành vấn đề xã hội vào thời điểm đó để thu thập ý kiến của từng bên liên quan Dựa trên kết quả đó, phương án cải tiến cho hoạt động môi giới hôn nhân xuyên quốc gia đã được chuẩn bị

Năm 2009, luận văn thạc sĩ của Đại học quốc gia Seoul “Nghiên cứu về chính sách của các quốc gia xuất cư trong hệ thống di cư do hôn nhân châu Á: Tập trung vào Philippines, Việt Nam và Mông Cổ” của Wi Seon Ju đề cập đến các chính sách của đất nước quê hương của phụ nữ di cư do hôn nhân Luận văn này không chỉ nghiên cứu về việc di cư do hôn nhân của quốc gia xuất xứ của người di cư mà trước đây chưa được

Trang 16

đề cập đến, mà còn phân tích hiện tượng di cư do hôn nhân giữa các nước châu Á như một hiện tượng toàn cầu một cách có hệ thống

Trong số các nghiên cứu liên quan đến phụ nữ di cư do hôn nhân và hôn nhân xuyên quốc gia, đương nhiên là có nhiều các nghiên cứu về gia đình đa văn hóa Việt - Hàn hoặc phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân Kim Hyeon Jae (2007) đã phân tích bối cảnh và nguyên nhân của sự gia tăng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc rằng: sự giảm kết hôn với đàn ông Đài Loan ở Việt Nam; xu thế tăng nhanh số người phụ nữ kết hôn với người đàn ông Hàn Quốc tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; ảo tưởng và thiện cảm đối với đàn ông Hàn Quốc sau hiện tượng làn sóng Hàn Quốc ở Việt Nam Bà đưa ra các đặc trưng của nó là phần lớn phụ nữ Việt Nam di cư

do hôn nhân ở Hàn Quốc đến từ miền Nam Việt Nam và có trình độ học vấn thấp Nam Bok hyeon (2011) phác thảo lý thuyết về đa văn hóa, cũng như các chính sách và các điểm tranh chấp chính liên quan đến hôn nhân xuyên quốc gia giữa Hàn Quốc và Việt Nam

Kim Kyeong Min (2018), trong nghiên cứu được thực hiện tại một cơ quan phi chính phủ ở Hà Nội dạy tiếng Hàn và văn hóa Hàn Quốc cho phụ nữ di cư trước hôn nhân, mô tả những phụ nữ này thực hiện các hoạt động khác nhau, chẳng hạn như huy động các nguồn lực và chiến lược cần thiết để đạt mục tiêu, chủ động lập kế hoạch cho cuộc sống mà họ mong muốn v.v Nó trái ngược với hình ảnh của họ được tạo ra bởi nhà nước hoặc đoàn thể nhân dân

‘Phụ nữ di cư do hôn nhân’ là một chủ đề được quan tâm của lĩnh vực học thuật Luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ của các trường đại học chủ yếu tập trung vào nghiên cứu kinh nghiệm kết hôn của phụ nữ di cư ở Hàn Quốc Trên trang web Research Information Sharing Service [RISS]3, nhập từ khóa ‘Việt Nam’ và ‘Phụ nữ di cư do hôn nhân’ thì đã thu được 181 kết quả tìm kiếm Đáng chú ý là 18 trong số đó được viết bởi người Việt Nam là người cùng quê với những phụ nữ di cư do hôn nhân Trong số đó, những công trình cho thấy ý nghĩa đáng kể liên quan với đề tài luận văn của chúng tôi

là sau: Bui Thi Thu Hien (2012), Duong Thi Thanh Phuong (2017), Tran Thi My Tien

3

Dịch vụ công cộng do Viện thông tin giáo dục học thuật Hàn Quốc điều hành dành cho việc sử dụng chung các nguồn tài nguyên học thuật do các trường đại học trên toàn quốc sản xuất, sở hữu và đăng ký

Trang 17

(2018), Nguyen Thi Lan Phuong (2021), Than Thi Thuy Hien (2006) Nguyen Thi Hien Trang (2009) và Nguyen Thi Kim Chi (2015) đã xử lý nội dung báo chí Hàn Quốc đưa tin về phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân một cách phê phán Vũ Thị Trang (2017) đã thực hiện cuộc khảo sát và phỏng vấn sâu với đối tượng là những phụ nữ di cư hồi hương và con cái của họ từ Hàn Quốc trở về Việt Nam do sự tan vỡ gia đình đa văn hóa Việt - Hàn Dựa trên kết quả đó, các vấn đề mà họ gặp phải trong quá trình tái định cư được xem xét từ khía cạnh khác nhau như kinh tế, pháp lý và tâm lý Luận văn này có

ý nghĩa ở chỗ, nó mở rộng hơn nữa phạm vi thảo luận về phụ nữ di cư Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng những khó khăn mà phụ nữ di cư gặp phải sau khi trở

về không phải là vấn đề được khởi đầu từ một giai đoạn cụ thể mà là từ vấn đề rải rác trong toàn bộ quá trình di cư

Còn tại Việt Nam, mặc dù hiện tượng hôn nhân Đài - Việt bắt đầu từ những năm

1990, nhưng năm 2004, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiên cứu về hiện tượng hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Đài Loan Trong giai đoạn ban đầu của những nghiên cứu hôn nhân Việt - Hàn, đề cập các yếu tố thu hút hôn nhân xuyên quốc gia là động cơ kinh tế

Năm 2006, hội thảo quốc tế “Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa” tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 4 chuyên đề, trong đó có 2 bài báo cáo trình bày về hôn nhân Việt - Hàn là: “Trình tự của hôn nhân Hàn -Việt thông qua các tổ chức môi giới hôn nhân” của Lưu Thụy Tố Lan, “Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc ở phụ nữ Việt Nam: thực trạng và một vài suy nghĩ” của Trần Văn Phương Trong hội thảo, chúng tôi cần chú ý một số bài báo cáo về hôn nhân xuyên quốc gia của phụ

nữ Việt Nam nói chung

Công trình “Gia đình Hàn Quốc: Truyền thống và hiện đại” của Trần Văn Thắng năm 2007 đã làm rõ quá trình thay đổi hình thái gia đình Hàn Quốc Nghiên cứu này làm rõ quá trình phá vỡ đại gia đình là hình thái gia đình truyền thống ở Hàn Quốc và

sự xuất hiện gia đình hạt nhân do công nghiệp hóa Nghiên cứu cho thấy nguyên nhân gia đình nông thôn bị xé lẻ, các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia đã được xuất hiện trong bối cảnh này

Trang 18

Trong công trình “Hôn nhân Việt - Hàn : Thực trạng và giải pháp” năm 2010, Trần Thị Nhung đề cập đến sự mất cân bằng giới tính đã dẫn tới việc thiếu cô dâu và tình trạng kết hôn với người nước ngoài ở Hàn Quốc Nghiên cứu đưa ra một số đặc điểm của hôn nhân Việt - Hàn gồm sự chênh lệch đáng kể về tuổi tác giữa hai vợ chồng, trình

độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn Đặc điểm này không chỉ là của cô dâu mà còn là của chú rể

Luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu đời sống của các cô dâu Việt ở Hàn Quốc” của tác giả Nguyễn Nữ Nguyệt Anh năm 2010, nghiên cứu thực trạng đời sống của các cô dâu Việt Nam sống ở Hàn Quốc Trong luận văn này, tác giả đi Hàn Quốc, phỏng vấn sâu với các cô dâu Việt và quan sát trực tiếp Hơn nữa, nghiên cứu về những nhân tố liên quan đến hôn nhân Việt - Hàn một cách toàn diện Tác giả phân tích quá trình hình thành hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam nói chung và hôn nhân Việt - Hàn nói riêng Công trình “Phân tích khía cạnh văn hóa xã hội trong hôn nhân xuyên quốc gia - trường hợp phụ nữ ở Đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng Đài Loan / Hàn Quốc” của

Lê Nguyễn Đoan Khôi năm 2013 và “Các yếu tố xã hội liên quan đến hôn nhân xuyên quốc gia” của Trần Thị Phụng Hà, Nguyễn Ngọc Lẹ & Nguyễn Thị Thu Thủy năm

2017 cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo Hai công trình này tập trung vào tình trạng hôn nhân xuyên quốc gia ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Năm 2017, luận văn thạc sĩ “Hôn nhân xuyên quốc gia: động cơ di chuyển và việc gửi tiền về nhà (Nghiên cứu tại huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)” của Ngô Trà My là một công trình nghiên cứu ‘Hôn nhân xuyên quốc gia’ tương đối gần đây Tác giả đặt mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu sự thay đổi trong động cơ kết hôn

và mô tả thực trạng việc gửi tiền về quê của cô dâu Việt Nam trong cuộc hôn nhân với chú rể Hàn Quốc Kết quả nghiên cứu này cho thấy điển hình của hiện tượng hôn nhân Việt - Hàn đang biển đối

Tóm lại, nghiên cứu về phụ nữ di cư do hôn nhân đã được tiến hành trên nhiều lĩnh vực và từ góc độ khác nhau, và không ít kết quả nghiên cứu đã được tích lũy Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu là về các vấn đề hoặc chính sách mà họ đối mặt tại quốc gia đến, và nghiên cứu về quốc gia xuất xứ của phụ nữ di cư vẫn còn thiếu Tính thiên lệch của nghiên cứu như vậy là kết quả dĩ nhiên, khi nhìn khía cạnh như: bản thân di cư

Trang 19

quốc tế là hiện tượng rời quê hương của mình và chuyển đến quốc gia khác theo đuổi nhiều cơ hội hơn, trong quá trình này, chính sách và chế độ của nước đến có ảnh hưởng nhiều hơn, và những vấn đề sau di cư bị lộ rõ hơn Tuy nhiên, những khó khăn mà họ gặp phải bắt nguồn từ toàn bộ quá trình từ quyết định di cư đến định cư ở nơi đến, cho nên cần phải nghiên cứu sâu hơn về bản sắc và văn hóa của họ trước khi di cư Thời điểm hiện tại, đã hơn 20 năm kể từ khi xuất hiện hiện tượng phụ nữ di cư sang Hàn Quốc thông qua kết hôn, cũng cần phải nghiên cứu nguyên nhân và bối cảnh họ quyết định di cư thay đổi như thế nào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(1) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nền tảng văn hóa của cô dâu Việt Nam di cư sang Hàn Quốc và sự chuẩn bị di cư để hòa nhập văn hóa trong xã hội Hàn Quốc của

họ

(2) Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu cô dâu Việt Nam đang chuẩn bị di cư hiện tại Nhưng với hạn chế về không gian, thời gian và ngôn ngữ, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trong những giới hạn sau:

Phạm vi không gian: Phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân đến Hàn Quốc xuất thân

từ các vùng khác nhau, nhưng đa số đến từ miền Nam Việt Nam Nhiều nghiên cứu đi trước cho thấy, nguyên nhân khiến số lượng lớn phụ nữ di cư do hôn nhân đến từ khu vực miền Nam Việt Nam nằm ở đặc điểm trong văn hóa Nam Bộ Chính vì lý do này, phạm vi nghiên cứu giới hạn ở khu vực Nam Bộ Việt Nam

Phạm vi thời gian: Hôn nhân xuyên quốc gia giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới Hàn Quốc bắt đầu từ rất sớm, nhưng trước năm 2000, số lượng phụ nữ Việt Nam di cư

do hôn nhân không đáng kể, thậm chí không có thống kê tại Hàn Quốc Từ giữa những năm 2000, số lượng phụ nữ Việt Nam di cư do hôn nhân sang Hàn Quốc mới thật sự bùng nổ Vì thế, để nghiên cứu nền tảng văn hóa của cô dâu Việt Nam, luận văn giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu từ giữa những năm 2000 đến nay Ngoài ra, để nghiên cứu về việc chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam, phạm vi thời gian giới

Trang 20

hạn từ khi các đối tượng là phụ nữ Việt Nam lên thành phố để xem mắt đến khi xuất cảnh khỏi Việt Nam

Phạm vi chủ thể: Nghiên cứu tập trung vào đối tượng là các cô dâu lấy chồng Hàn Quốc đang chuẩn bị di cư sang Hàn Quốc Tuy nhiên, tại thời điểm khảo sát, nhiều trường hợp phụ nữ chuẩn bị xin Visa F6 mà chưa có chồng đã được xác định Vì việc đàn ông Hàn Quốc không thể nhập cảnh vào Việt Nam vào thời điểm đó do COVID-19 ảnh hưởng toàn cầu, có thể thấy những người phụ nữ này đang chuẩn bị di cư thậm chí chưa chọn một người nào đó để lấy Tuy nhiên, nghe nói rằng họ đang tham gia vào lớp học tiếng Hàn để đạt tiêu chuẩn xin Visa F6, và thỉnh thoảng họ xem mặt với đàn ông

ở Hàn Quốc qua cuộc video người mai mối hoặc người quen giới thiệu Chúng tôi bao gồm họ vào phạm vi nghiên cứu vì họ được thấy rằng có ý chí kết hôn với người Hàn Quốc và di cư sang Hàn Quốc Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam đã di cư sang Hàn Quốc cũng được bao gồm Trong trường hợp này, cuộc khảo sát được thực hiện bằng cách nhớ lại tình hình trước khi di cư và trả lời câu hỏi Ngoài phụ nữ Việt Nam là đương sự chính về di cư, gia đình của họ, người phụ trách chính sách và chuyên gia liên quan đến

di cư do hôn nhân cũng được khảo sát

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

(1) Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu, đầu tiên là phương pháp hệ thống Phương pháp hệ thống trong nghiên cứu khoa học là phương pháp tư duy nhằm tìm kiếm, xác lập hoặc mô phỏng các mối quan hệ qua lại giữa các thành tố của đối tượng tư duy (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr.82) Chúng tôi áp dụng phương pháp hệ thống trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, để đảm bảo tính chỉnh thể, tính cấp hệ và tính tương tác với môi trường cho luận văn

Trong hiện tượng di cư có nhiều thành tố và giữa các thành tố có mối quan hệ chặt chẽ Chúng tôi phân loại các thành tố như di cư do hôn nhân và di cư lao động, nơi xuất

xứ và nơi đến, những nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hôn nhân Việt - Hàn Đó không chỉ là hoàn cảnh của cá nhân mà còn các chính sách nhà nước liên quan

di cư và hôn nhân, hoạt động kinh doanh của công ty môi giới hôn nhân Việt - Hàn,

Trang 21

hoạt động hỗ trợ cho phụ nữ di cư của các tổ chức chẳng hạn Luận văn phân tích những mối quan hệ giữa các thành tố này thể hiện trong không gian và thời gian như thế nào

Do vậy, luận văn sẽ tạo nên một bức tranh đặc thù về hiện tượng di cư do hôn nhân Việt

- Hàn trong bối cảnh văn hóa - xã hội của Hàn Quốc và Việt Nam

Nghiên cứu văn hóa bằng phương pháp hệ thống, bắt buộc phải đặt hiện tượng /

sự kiện văn hóa trong quan hệ với môi trường, với các ngành khoa học cùng quan tâm tới hiện tượng / sự kiện đó Như vậy, tiếp cận liên ngành chính là một phần, một khía cạnh, một bước trong quy trình thực hiện phương pháp hệ thống (Trần Ngọc Thêm,

2014, tr.83) Vấn đề di cư do hôn nhân được quan tâm của nhiều ngành khoa học từ khía cạnh khác nhau Và có nhiều công trình nghiên cứu khoa học dựa trên đó Trong luận văn, chúng tôi kết hợp tri thức và phương pháp nghiên cứu của các ngành liên quan

đề tài như văn hóa học, nhân học, xã hội học, tâm lý học, nhân khẩu học, v.v để giúp cho nghiên cứu đề tài được toàn diện và sâu sắc

Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong luận văn Phương pháp này thường được áp dụng vào phần nêu ra các dẫn chứng và thực trạng xoay quanh vấn đề nghiên cứu, nhằm giúp cho luận văn hấp dẫn và có sức hút hơn vì có tính đối chiếu thực tế và tính cạnh tranh Thông qua so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc, cô dâu và chú rể, cô dâu Việt Nam và cô dâu từ nước khác, tình trạng của hai quốc gia Hàn Quốc và Đài Loan v.v., chúng tôi nhìn thấy những tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng Từ

đó, những đặc trưng về các vấn đề trong nghiên cứu được đưa ra

Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định lượng qua khảo sát và định tính qua phỏng vấn sâu

(2) Nguồn tư liệu

Thu thập tài liệu thứ cấp từ sách vở, ấn phẩm, luận án, luận văn liên quan đề tài, bài nghiên cứu, tạp chí, bài báo, bài thuyết trình hội thảo khác nhau, dữ liệu và thống

kê do chính phủ công bố, báo cáo, luật và quy định liên quan, quy phạm luật quốc tế và báo cáo liên quan đến di cư của tổ chức quốc tế, phỏng vấn chuyên gia trong truyền thông, v.v

Trang 22

Thu thập tài liệu sơ cấp bằng phương pháp khảo sát qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu với các cô dâu, thành viên gia đình của cô dâu, cán bộ cơ quan liên quan di cư do hôn nhân và chuyên gia về đề tài luận văn

Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu tại một số cơ sở dạy tiếng Hàn dành cho đối tượng xin Visa kết hôn (F6) tại 2 địa điểm ở thành phố Hồ Chí Minh được lãnh sự quán Hàn Quốc chỉ định, để khảo sát và phỏng vấn sâu đối với các đối tượng phụ nữ Việt Nam đang chuẩn bị di cư sang Hàn Quốc Với lý do các đối tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc thường đến thành phố học tiếng Hàn trong khoảng ba tháng để đạt tiêu chuẩn xin Visa, nên sẽ tập trung khảo sát và phỏng vấn những đối tượng này Mặc dù,

đa số đến từ khu vực Tây Nam Bộ, nhưng các đối tượng khảo sát đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh trong một thời gian nhất định để chuẩn bị di cư sang Hàn Quốc Một phần trong mục đích của luận văn này là tìm hiểu về tâm trạng của các đối tượng nghiên cứu đang trong quá trình chuẩn bị di cư Ngoài ra, để bổ sung thêm, một cuộc khảo sát

đã được thực hiện tại hai văn phòng cục quản lý xuất nhập cảnh ở Busan và Pohang Văn phòng cục quản lý xuất nhập cảnh Hàn Quốc là nơi mà những phụ nữ di cư do hôn nhân phải đến để gia hạn thời gian lưu trú trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhập cảnh Trong số những phụ nữ Việt Nam đến đây, chúng tôi đã chọn những đối tượng là người nhập cảnh chưa lâu

Đầu tiên, trong cuộc khảo sát được thực hiện tại Trung tâm tiếng Hàn thuộc Tổ chức di dân Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thu thập 80 bộ đáp ứng bảng câu hỏi Trong cuộc khảo sát bổ sung tại Hàn Quốc, 18 bộ được thu thập ở văn phòng cục quản lý xuất nhập cảnh Busan, 14 bộ được thu thập ở văn phòng Pohang Tổng số 112 bộ đáp ứng bảng câu hỏi đã được thu thập Trong số này, 29 người được suy đoán là chưa có chồng vì họ không trả lời câu hỏi thông tin về chồng trong phiếu khảo sát được thu thập tại Thành phố Hồ Chí Minh, 16 người trả lời rằng họ đã có chồng nhưng chưa tổ chức đám cưới Trong luận văn, chúng tôi cũng sử dụng số liệu thống kê trong hai công trình sẵn có để vững chắc tài liệu sơ cấp, bổ sung và so sánh là “Nghiên cứu điều tra tình hình thực tế môi giới hôn nhân năm 2020” và “Nghiên cứu điều tra tình hình thực tế gia đình đa văn hóa toàn quốc năm 2018” do Bộ Bình đẳng giới và Gia đình Hàn Quốc biên soạn

Trang 23

Ngoài ra, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc với 8 phụ nữ Việt Nam sắp di cư, 1 phụ nữ di cư sống ở Hàn Quốc và 2 thành viên gia đình của phụ nữ di cư Trong số đó, 8 người đã được phỏng vấn trực tiếp tại Trung tâm tiếng Hàn thuộc Tổ chức di dân Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 28 tháng 12 năm 2020 Số người còn lại do người quen giới thiệu và được phỏng vấn qua điện thoại Thông tin nhân khẩu học của những người được phỏng vấn như sau

Bảng 1 Thông tin nhân khẩu của các cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu

Số Tuổi Trình độ học vấn Nghề nghiệp Quê quán Tình trạng hôn

nhân

Tuổi người chồng

1 22 Trung học phổ thông Công nhân Cần Thơ Kết hôn 47

2 28 Cao đẳng, đại học Kế toán Tiền Giang Kết hôn 42

3 20 Trung học phổ thông Nghỉ việc Vĩnh Long Kết hôn 40

4 28 Trung học cơ sở Buôn bán Bình Thuận Chưa lấy chồng -

5 30 Trung học cơ sở Ở nhà nội trợ Hậu Giang Kết hôn 44

7 25 Trung học phổ thông Nghỉ việc Sóc Trăng Kết hôn 44

8 43 Trung học cơ sở Công nhân Tây Ninh Kết hôn 46

9 27 Trung học cơ sở Công nhân Hà Nội Kết hôn và đã di

42

Bảng 2 Thông tin nhân khẩu gia đình cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu

Số Tuổi Quan hệ với cô dâu Quê quán Nghề nghiệp Thu nhập 1 tháng

Ngoài những phụ nữ Việt Nam đang chuẩn bị di cư, là khách thể chính của luận văn, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn các chuyên gia liên quan đề tài luận văn như sau:

Trang 24

Bảng 3 Danh sách chuyên gia liên quan hôn nhân Việt - Hàn được phỏng vấn

1 Lãnh sự phòng Visa của Tổng lãnh sự quán Đại Hàn

Dân Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh E-mail

2 Giám đốc Trung tâm chính sách nhân quyền Liên Hợp

3 Trưởng phòng hòa nhập xã hội Văn phòng cục quản lý

4 Giám đốc Trung tâm tiếng Hàn thuộc Tổ chức di dân

Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh E-mail

Những tài liệu được thu thập được xử lý bằng phương pháp phân tích thông tin, và tổng hợp từ các nguồn tài liệu khác để làm sáng tỏ vấn đề dựa trên phương pháp nghiên cứu đề cập trên

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

(1) Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu về hôn nhân xuyên quốc gia là hướng đi cần thiết trong bối cảnh toàn

cầu hóa Đề tài luận văn Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu

Việt Nam di cư sang Hàn Quốc (Thông qua nhận thức của các cô dâu) có ý nghĩa trong

việc làm rõ tình trạng trước khi di cư của phụ nữ Việt Nam Đây là một hướng đi riêng

so với rất nhiều những nghiên cứu về vấn đề hôn nhân Việt - Hàn hiện có trước đó Cho nên nghiên cứu này sẽ mở rộng nền tảng kiến thức khoa học liên quan đến đề tài hôn nhân Việt - Hàn Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau về

đề tài ‘Di cư do hôn nhân’, ‘Hôn nhân xuyên quốc gia’, ‘Hòa nhập xã hội’ v.v Hy vọng rằng luận văn cũng làm phong phú phương pháp luận và hướng tiếp cận trong văn hóa học

(2) Ý nghĩa thực tiễn

Trang 25

Mặc dù phụ nữ Việt Nam bắt đầu di cư sang Hàn Quốc thông qua kết hôn đã lâu, nhưng hầu hết những chính sách hòa nhập xã hội của Hàn Quốc được áp dụng sau khi những phụ nữ này nhập cảnh vào Hàn Quốc Sau nhiều lần thử nghiệm và sai lầm, gần đây, khái niệm hòa nhập xã hội và hiểu biết về văn hóa của đất nước xuất xứ của người phối ngẫu được khuyến cáo cho những người chồng của phụ nữ di cư Trong xu hướng như vậy, luận văn sẽ góp phần làm rõ thực trạng về mặt văn hóa của các phụ nữ Việt Nam trước khi nhập cảnh vào Hàn Quốc cho người Hàn Quốc nói chung và người đàn ông kết hôn với phụ nữ Việt Nam nói riêng Luận văn cũng giúp việc thực hiện chính sách của Hàn Quốc và Việt Nam, hoạt động hỗ trợ của các tổ chức và cộng đồng

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1, “Cơ sở lý luận và thực tiễn” thảo luận các khái niệm cơ bản về thuật ngữ liên quan và hướng tiếp cận, bối cảnh quan hệ Hàn Quốc và Việt Nam, quá trình hình thành và phát triển của hôn nhân Việt - Hàn, nhân tố ảnh hưởng đến hôn nhân Việt

- Hàn trước khi phụ nữ Việt Nam nhập cảnh vào Hàn Quốc và các đặc điểm của hôn nhân Việt - Hàn Chương này sẽ củng cố nội dung của hai chương tiếp theo về mặt lý thuyết

Chương 2, “Nền tảng văn hóa của cô dâu Việt Nam” xem xét nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa sinh hoạt, học vấn và giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, hệ giá trị và tính cách của phụ nữ Việt Nam trước khi di cư và so sánh với nền tảng văn hóa của người Hàn Quốc nói chung và người chồng Hàn Quốc nói riêng Thông qua đó, các yếu tố thúc đẩy di cư đến Hàn Quốc được giải thích và nắm bắt những điểm thực sự giúp ích hoặc cản trở sự hòa nhập xã hội

Chương 3, “Sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu Việt Nam”, cách họ chuẩn

bị cho việc di cư trước khi nhập cảnh vào Hàn Quốc được xem xét dưới góc độ hòa nhập xã hội Hàn Quốc Các chi tiết như sau: Hiểu biết về người chồng Hàn Quốc và gia đình nhà chồng, việc học tiếng Hàn, hiểu biết về văn hóa đời sống Hàn Quốc, tình cảm

Trang 26

đối với người chồng Hàn Quốc và gia đình nhà chồng, tình cảm đối với Hàn Quốc, nhận thức và thái độ đối với yêu cầu hòa nhập văn hóa

Trang 27

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Hôn nhân xuyên quốc gia

Nhà nhân chủng học Claude Lévi-Strauss đã nói, “Gia đình được xây dựng dựa trên sự kết hợp của cặp đôi nam nữ, sau đó sinh ra và nuôi dạy con cái, duy trì liên tục

và được công nhận về mặt xã hội” Ông xem tổ chức cơ bản của xã hội loài người như một mạng lưới được kết nối bởi hôn nhân

Trong Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam, hôn nhân được định nghĩa là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn Nói chung, hôn nhân là việc đàn ông và phụ

nữ trở thành một cặp vợ chồng Việc trở thành vợ chồng là một hành vi có nghĩa là sự kết hợp tình dục, tâm lý và kinh tế giữa hai bên về phương diện cá nhân, nhưng về mặt

xã hội, nó là đầu mối để hình thành gia đình là đơn vị cấu thành cơ bản của xã hội Vì vậy, tất cả mọi xã hội đều chấp thuận hôn nhân và được pháp luật quy định dưới nhiều hình thức khác nhau Theo đó, hôn nhân làm phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ cho cả hai bên Từ quan điểm này, có thể nói rằng hôn nhân là việc có được sự thừa nhận về mặt

xã hội để có thể chung sống, độc quyền về hoạt động tình dục, sinh con đẻ cái Trong mỗi xã hội đều tồn tại chế độ hôn nhân đa dạng tùy theo nền văn hóa với các kiểu hôn nhân, kèm theo quyền lợi và nghĩa vụ, hơn nữa, hình thức hôn nhân cũng đã thay đổi theo thời đại

Hôn nhân xuyên quốc gia hoặc hôn nhân có yếu tố nước ngoài được gọi là

‘국제결혼 (Kết hôn quốc tế)’ theo tiếng Hàn Quốc và được gọi là ‘Cross-border marriage’ bằng tiếng Anh Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam giải thích hôn nhân xuyên quốc gia như sau:

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người ở quốc gia này đang định cư ở một quốc gia khác, ví dụ người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Trang 28

Như thuật ngữ này ngụ ý, nó đề cập đến việc xây dựng mối quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ có quốc tịch khác nhau thông qua kết hôn Trái ngược với quan niệm truyền thống về hôn nhân vốn phổ biến trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ này đã nhận được sự chú ý cùng với hiện tượng di chuyển dân số khắp thế giới gia tăng cùng sự toàn cầu hóa Saenz gọi cuộc hôn nhân xuyên quốc gia phát sinh giữa lính Mỹ và phụ nữ ở nước sở tại trong thời gian Mỹ đóng quân lâu dài ở châu Á là ‘Kết hôn với cô dâu chiến tranh’

Từ năm 1970, hiện tượng phụ nữ từ các nước kém phát triển di cư đến một số nước phát triển như Mỹ, Châu Âu để hôn nhân xuyên quốc gia thông qua các cơ quan mai mối đã được thương mại hóa được gọi là ‘Mail-order bride’

Hôn nhân xuyên quốc gia, đã trở thành một hiện tượng cùng với sự ra đời của các thuật ngữ như trên, đi ngược lại với quan niệm truyền thống về hôn nhân như là sự kết hợp giữa nam và nữ dựa trên tình yêu, hoặc hôn nhân không chỉ là việc của cá nhân mà

là sự kết hợp của hai bên gia đình Điều này là do, với tiền đề hôn nhân là sự kết hợp của hai người nam và nữ, hôn nhân xuyên quốc gia chắc chắn song song với sự di cư giữa các quốc gia Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Nữ Nguyệt Anh vào năm

2010, đặc trưng của hôn nhân xuyên quốc gia này được thể hiện rất rõ như sau:

Đối với những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài hay hôn nhân xuyên quốc gia, dường như tính ‘cộng đồng’ nhường chỗ tính ‘cá nhân’ vì gia đình hai bên rất ít có những mối quan hệ thông gia qua lại do cách trở về địa lý, về ngôn ngữ

và về thời gian tìm hiểu (tr.50)

Ngoài ra, hôn nhân xuyên quốc gia song song với di cư được gọi là di cư do hôn nhân Điều đáng chú ý là di cư do hôn nhân không giới hạn trong các vấn đề cá nhân giữa hai bên, mà là lĩnh vực quản lý của chính phủ và pháp luật liên quan đến quốc tịch,

di cư, lao động và quyền công dân (Nam Bok Hyeon, 2011, tr.215) Theo Nguyễn Thị Hồng Xoan (2013), hôn nhân xuyên quốc gia là một trong những hình thức di cư, cuộc hôn nhân vượt ra khỏi ranh giới của một quốc gia khiến một trong hai đối tượng nam

và nữ di chuyển khỏi nơi sinh sống và theo vợ, chồng đến đất nước khác (Ngô Trà My,

2017, tr.1)

Trang 29

Trong luận văn, hôn nhân xuyên quốc gia là hôn nhân giữa nam và nữ có quốc tịch khác nhau, và tập trung vào các trường hợp hai vợ chồng kết hôn qua môi giới và cô dâu nước ngoài di cư đến quốc gia của người chồng

1.1.2 Khái niệm nền tảng văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Trần Ngọc Thêm (2000) định nghĩa văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

UNESCO định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin (UNESCO, 2001)

Giải thích thuật ngữ về di cư IOM xuất bản vào năm 2011 giải thích về văn hóa (Culture): Thuật ngữ dùng để mô tả tổ chức đặc trưng của một nhóm xã hội tự lựa chọn các giá trị của riêng mình so với các nhóm khác Nó cũng có thể đề cập đến việc tập hợp các phong tục tập quán, niềm tin, ngôn ngữ, ý tưởng, thẩm mỹ, kiến thức chuyên môn, các hệ thống giá trị và phong cách sống

Nền tảng có nghĩa là bộ phận vững chắc dựa trên đó các bộ phận khác tồn tại và phát triển Theo đó, nền tảng văn hóa là tổng thể của những trải nghiệm văn hóa mà một người có được theo nhiều cách khác nhau tùy theo dân tộc, chủng tộc, tầng lớp kinh tế

xã hội, giới tính, ngôn ngữ, khu vực, v.v Xã hội di cư là xã hội trong đó những người

di cư có nền tảng văn hóa đa dạng cùng tồn tại Xã hội đa văn hóa là xã hội trong đó tính đa dạng về dân tộc và văn hóa được thể hiện có ý nghĩa, là một xã hội được hình thành bởi sự tham gia của những người di cư có nền tảng văn hóa khác nhau như ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục, hệ giá trị, quốc tịch, chủng tộc và sắc tộc với tư cách là thành viên của xã hội (Jang Ji Pyo, 2008) Vì vậy, nền tảng văn hóa của người di cư rất quan trọng đối với sự hòa nhập văn hóa của xã hội di cư

Trong luận văn này, nền tảng văn hóa của cô dâu Việt Nam có nghĩa là nền tảng văn hóa trước khi di cư, tức là với tư cách là một người Việt Nam Có nghĩa là những kiến thức, hiểu biết cơ bản thuộc về văn hóa của các phụ nữ Việt Nam, ví dụ như: nghề

Trang 30

nghiệp và kinh tế, văn hóa sinh hoạt, học vấn, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, hệ giá trị, tính cách, v.v

1.1.3 Khái niệm sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa

Hòa nhập (Integration) có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo ý nghĩa trong từ điển, hòa nhập có nghĩa là ‘hợp nhất hai hoặc nhiều tổ chức thành một’ Nói chung, hòa nhập đề cập đến sự kết hợp của các bộ phận trong toàn bộ hệ thống, và là một khái niệm đại diện cho mối quan hệ giữa các đơn vị xã hội được tổng hợp hoặc tách biệt, và được định nghĩa là quá trình đạt được sự thống nhất tổng thể của các bộ phận Ngược lại là tách biệt (Segmentation)

Hòa nhập xã hội là quá trình các cá nhân, nhóm, tổ chức, xã hội tạo thành một đơn

vị xã hội và các thành viên cấu thành xã hội kết hợp thành chung một toàn bộ tổng thể thông qua các giá trị chung về cơ bản và các yếu tố có tính quy phạm Giống như tổng thể được hòa nhập có những đặc điểm khác biệt về chất so với tổng hợp các bộ phận của nó, một xã hội hòa nhập cũng vậy

Nói cách khác, hòa nhập xã hội (Social integration) đề cập đến quá trình đưa những người thuộc thành phần chủng tộc, dân tộc và văn hóa khác nhau vào cộng đồng bình đẳng, không bị hạn chế trong một xã hội Điều này phải dựa trên sự giảm thiểu những rạn nứt nảy sinh từ các mối quan hệ lợi ích khác nhau trong xã hội, mang đến cảm giác đồng nhất và sự tiếp nhận đối với kết quả và quy trình thỏa thuận hợp lý Hòa nhập xã hội là quá trình trong đó các nhóm khác nhau hợp lại với nhau thành một nhóm lớn hơn,

và nó đòi hỏi ý chí tự nguyện chứ không phải là sự hợp nhất đơn phương Hòa nhập xã hội là vấn đề của thỏa thuận toàn diện bao gồm mối quan hệ tương hỗ khác với sự đồng hóa, khả năng giao tiếp ngôn ngữ, khả năng chia sẻ văn hóa và khả năng về mặt đoàn kết xã hội (OECD, 2006; Berry, 2012)

Định nghĩa về hội nhập (Integration) trong Giải thích thuật ngữ về di cư (2011) đưa ra giải thích về sự hòa nhập xã hội trong xã hội di cư như sau:

Mặc dù thuật ngữ này được sử dụng và hiểu một cách khác biệt giữa các nước

và trong các bối cảnh khác nhau, nhưng ‘hội nhập’ có thể định nghĩa là quá trình người nhập cư được chấp nhận vào trong xã hội, kể cả như những cá nhân hay những nhóm người Nó đề cập chung đến một quy trình thích nghi 2 chiều của

Trang 31

người di cư và xã hội nước chủ nhà trong khi các yêu cầu cụ thể để được chấp nhận vào xã hội nước chủ nhà khác nhau theo từng quốc gia Hội nhập không hoàn toàn có nghĩa là định cư dài hạn Tuy nhiên nó bao hàm việc xem xét các quyền và nghĩa vụ của người di cư và xã hội nước chủ nhà, việc tiếp cận các dịch

vụ và thị trường lao động, việc tôn trọng một loạt giá trị cơ bản bắt buộc với người di cư và cộng đồng nước chủ nhà vì mục đích chung

Hòa nhập xã hội được hoàn thành thông qua quá trình đa chiều Harmut Esser đã chia các giai đoạn hòa nhập xã hội ở nhiều cấp độ khác nhau thành quá trình hòa nhập văn hóa, hòa nhập cấu trúc, hòa nhập xã hội và đồng nhất cảm xúc Để hình thành bản sắc tập thể thông qua sự hòa nhập xã hội ở các cấp độ khác nhau, cần phải diễn giải các biểu hiện tượng trưng, thông qua kiến thức của xã hội đó và hình thành mối quan hệ tích cực với người di cư Vì người di cư cần có năng lực về mặt văn hóa để hòa nhập vào xã hội, nên trước hết cần phải định cư và hòa nhập về văn hóa (Kim Young Ju, 2013:184)

Kết quả của công trình nghiên cứu Trần Thị Phụng Hà và các tác giả khác (2017) cho thấy cô dâu tự quyết định hôn nhân của mình, sự rủi ro trong hôn nhân xuất phát từ bước đầu thiếu chuẩn bị, liều lĩnh và bất chấp

Theo Nguyễn Thị Hồng Xoan (2005):

Để tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, phải có một sự chuẩn bị Nhưng không phải ai và lúc nào cũng có thể chuẩn bị được Phần lớn, những cô gái Việt Nam lấy chồng nước ngoài, thì hầu như họ không được chuẩn bị cả về ngôn ngữ lẫn văn hóa Do không được chuẩn bị trước như vậy, cho nên họ gặp rất nhiều khó khăn, khi sống trong môi trường có chuẩn mực văn hóa và lối sống khác so với chuẩn mực văn hóa và lối sống đã gắn bó với họ hàng chục năm Việc chưa sẵn sàng tiếp nhận những giá trị văn hóa mới trong điều kiện cụ thể của phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, sẽ là những phiền toái trong quá trình hội nhập của

họ

Cho nên, để hòa nhập văn hóa, hai đối tượng nên dành thời gian tìm hiểu về văn

hóa của hai quốc gia và xây dựng tình cảm với nhau trước Phụ nữ di cư do hôn nhân

Trang 32

nên chuẩn bị hòa nhập văn hóa của gia đình nhà chồng cũng như là có những hiểu biết

về văn hóa của quốc gia mới

Theo kết quả nghiên cứu năm 2008 của Choi Song Sik, Jang Ik Jin & Kim Hyeon Suk, các hoạt động thông tin của phụ nữ di cư do hôn nhân trước khi di cư không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ ở Hàn Quốc sau khi di cư, mà còn gián tiếp

có tác dụng hữu ích cho cuộc sống ở Hàn Quốc vì nâng cao mức độ thông tin về Hàn Quốc Nói cách khác, có thể nói rằng sự hiểu biết của phụ nữ di cư do hôn nhân về Hàn Quốc trước khi di cư góp phần thích ứng cuộc sống ở Hàn Quốc Mặt khác, phụ nữ di

cư do hôn nhân khác nhau về mức độ và nội dung thông tin họ tiếp nhận tùy theo phương thức hôn nhân (Seol Dong Hun và các tác giả khác, 2005) Như vậy thì, con đường đi đến hôn nhân rất quan trọng trong việc quyết định mức độ thông tin về người chồng và đất nước Hàn Quốc Ngoài ra, thái độ về di cư trước kết hôn có thể ảnh hưởng đến mức

độ thông tin về người chồng và Hàn Quốc Những người dự định di cư trước khi kết hôn dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động thông tin về quốc gia sẽ di cư đến (Kim Hyeon Suk, 2007), và kết quả là mức độ thông tin về người chồng và Hàn Quốc sẽ tăng lên Tuy nhiên, nếu có sự chênh lệch giữa thông tin họ thu thập được trước khi kết hôn

và thực tế do thông tin sai lệch, thì phát sinh vấn đề về việc không thích nghi Do đó, nếu có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về xã hội Hàn Quốc trước khi kết hôn, và thông tin đó đa dạng và được truyền tải một cách chính xác, thì sự hòa nhập xã hội của họ sau khi di cư sẽ dễ dàng hơn (Choi Song Sik và các tác giả khác, 2008, tr.220~221) Vì vậy, không chỉ hai bên đương sự của hôn nhân mà hoạt động của cơ quan nhà nước, công ty môi giới và tổ chức phi chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng

Xu hướng hòa nhập xã hội hướng từ sự đồng hóa vào văn hóa của quốc gia đến sự cùng tồn tại các nền văn hóa đa dạng, cho nên khái niệm chuẩn bị sự hòa nhập văn hóa không có nghĩa là tri thức nhiều hơn về văn hóa của quốc gia đến Theo Kymlicka, việc

có thêm kiến thức về văn hóa khác không dẫn đến tình cảm với nó, chủ nghĩa đa văn hóa có nghĩa là việc thừa nhận niềm tin và sự khác biệt của các dân tộc khác Thông qua quá trình này, người bản địa và người di cư không phải là hiểu sâu sắc nội dung văn hóa lẫn nhau, mà chỉ biết làm thế nào để cùng tồn tại trong khi thừa nhận sự khác biệt bởi vì sự khác biệt văn hóa là rõ ràng (Kim Young Ran, 2013, tr.6)

Trang 33

Dựa vào đó, trong đề tài luận văn, sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của các cô dâu Việt Nam được hiểu qua phân tích quá trình phụ nữ quyết định di cư do hôn nhân, quá trình chuẩn bị cho việc di cư, hiểu biết và thái độ của họ đối với văn hóa Hàn Quốc, v.v

1.2 Các lý thuyết

1.2.1 Chức năng luận

Chức năng luận bao hàm hai trường phái lý luận có những luận điểm có phần khác nhau, đó là ‘Chức năng luận (Functionalism)’ gắn với các ý tưởng của Bronislaw Malinowski và ‘Chức năng luận-cấu trúc (Structural-functionalism)’ gắn với các ý tưởng của Alfred Reginald Radcliffe-Brown Cả chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc đều tập trung vào khám phá và phân tích mối quan hệ của các thiết chế khác nhau

để tìm hiểu xem các thiết chế này có chức năng gì trong việc phục vụ xã hội và cá thể Một điểm quan trọng nữa là cả hai trường phái chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc trong Nhân học xã hội Anh đều lập luận rằng xã hội là một thực thể hài hòa và ổn định.4

Ví dụ, cơ thể của con người được bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan thực hiện chức năng nhất định để duy trì sự sống còn của con người Ngoài ra, mỗi cơ quan đều

có liên quan mật thiết với cơ quan khác, vì vậy nếu một cơ quan nào đó có vấn đề sẽ gây ra những thay đổi ở các cơ quan khác và kết quả là tất cả mọi cơ quan đều hoạt động theo hướng duy trì cân bằng nội môi của cơ thể người

Quan điểm của chức năng luận- cấu trúc nhấn mạnh các khái niệm như cấu trúc (structure), chức năng (function), địa vị (status) và vai trò (role) Hoạt động mà các thành viên thực hiện cho xã hội khác nhau tùy thuộc vào giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp của cá nhân, v.v Gia đình thực hiện chức năng quan trọng đối với sự tồn tại của xã hội Trong xã hội truyền thống, gia đình là đơn vị đa chức năng phụ trách các chức năng kinh tế, chính trị, giáo dục và tôn giáo, còn gia đình hạt nhân hiện đại có chức năng như không gian để nuôi dưỡng con cái và cung cấp sự ổn định về mặt tình cảm cho người

4 Lý thuyết chức năng (n.d.) Trong Bách khoa toàn thư Việt Nam trực tuyến Truy xuất từ https://bktt.vn/Lý_thuyết_chức_năng

Trang 34

lớn trong một xã hội công nghiệp cạnh tranh và phi cá nhân (Nam Bok Hyeon , 2011, tr.44-45)

1.2.2 Quá trình luận

Quá trình luận phù hợp với sự chỉ trích về ‘Góc nhìn người bị hại (Victim perspective)’ là những nghiên cứu hiện có về phụ nữ di cư do hôn nhân chỉ tập trung vào vấn đề bạo lực và vi phạm nhân quyền của nam giới Hàn Quốc đối với vợ là người nước ngoài và khía cạnh mua bán hôn nhân của hôn nhân xuyên quốc gia Xu hướng nghiên cứu này phủ nhận thực tế rằng phụ nữ di cư do hôn nhân là ‘Tác nhân (Agent)’

có thể tự chịu trách nhiệm về hành động của mình và tích cực hành động để thay đổi điều kiện cuộc sống của họ Chúng ta đừng chỉ xem phụ nữ di cư là nạn nhân của nghèo đói và chế độ gia đình gia trưởng, không nên bỏ qua thực tế rằng họ có nền tảng văn hóa xã hội và động cơ rất đa dạng Và họ có thể là con người có thể tích cực hình thành

ý nghĩa, nội dung và các mối quan hệ gia đình trong hôn nhân xuyên quốc gia (Jeong Cheon Seok, 2009, tr.16)

Những người di cư đã vượt qua biên giới quốc gia có thể đối mặt với những thách thức khác nhau mà họ đang gặp phải trong môi trường mới về xã hội, kinh tế và văn hóa, đồng thời có được năng lực và tư chất mà yêu cầu đối với một thành viên của xã hội Đó chính là quá trình hòa nhập xã hội (Kim Yi Seon, Lee A Reum & Lee Eun A,

2013, tr.8) Thay đổi lớn nhất mà người di cư phải đối mặt khi di cư là về môi trường văn hóa, họ đã trải qua quá trình xã hội hóa và văn hóa ở nơi xuất xứ, phải trải qua quá trình ‘Tái văn hóa (Re-culturalization)’ để tiếp thu và phát triển kiến thức và kỹ năng, thái độ và hành vi phù hợp với môi trường văn hóa mới hoàn toàn khác với môi trường văn hóa đã quen Thông qua quá trình này, người di cư có được năng lực tổng thể phù hợp với môi trường mới, đó là ‘Năng lực liên văn hóa (Intercultural competence)’ (Bhagat & London, 1999)

1.2.3 Lý thuyết trao đổi

Lý thuyết trao đổi dựa trên chủ nghĩa công lợi do trường phái kinh tế học cổ điển

đề xuất, hiểu các mối quan hệ giữa con người với nhau như sự trao đổi Chủ nghĩa công lợi giả định rằng con người là sự tồn tại có tính hợp lý, làm tối đa hóa lợi ích vật chất hoặc tác dụng khi giao dịch hoặc trao đổi với người khác trong tình hình thị trường cạnh

Trang 35

tranh tự do Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để giải thích quá trình lựa chọn vợ /chồng, các mối quan hệ quyền lực trong hôn nhân, sự hài lòng trong hôn nhân và ly hôn bằng cách áp dụng quan điểm lý thuyết trao đổi (Nam Bok Hyeon, 2011, tr.51) Lý thuyết trao đổi coi hôn nhân là sự trao đổi trong đó hai người đồng ý về tổng giá mà họ đạt được thông qua việc hình thành cuộc hôn nhân và trừ cho cái mất đi bởi đối phương Các thành viên của nhóm thiểu số kết hôn với các thành viên của một nhóm thống trị

có xu hướng đạt được thành phần dân tộc cao và bù đắp khoảng cách giữa hai nhóm thông qua các đóng góp khác, chẳng hạn như địa vị kinh tế, thu nhập, kinh nghiệm và sức hấp dẫn về thể chất (Gu Cha Sun, 2007, tr.46)

Nhìn từ quan điểm lý thuyết trao đổi, quá trình lựa chọn người bạn đời là hợp lý

và có tính toán Đầu tiên, con người chọn kết hôn hay không bằng cách tính toán phần thưởng có thể nhận được thông qua hôn nhân và chi phí phải trả, sau đó, chọn người có thể cung cấp cho mình phần thưởng tối đa với chi phí tối thiểu, và cuối cùng, chọn làm đối tượng kết hôn khi đánh giá rằng người này tốt hơn người có khả năng xuất hiện trong tương lai (Nam Bok Hyeon , 2011, tr.52 ~ 53)

Lý thuyết tân cổ điển, là cơ sở của lý thuyết trao đổi, là lý thuyết có ảnh hưởng nhiều nhất cho đến những năm 1970, và nó nắm bắt các quyết định di cư của cá nhân

do kết quả của các yếu tố đẩy - kéo (push - pull) Di cư là kết quả của quyết định hợp

lý của các cá nhân chứ không phải của đơn vị xã hội, và các cá nhân chọn di cư theo cách tối đa hóa lợi ích kinh tế bằng cách cân nhắc giữa lãi và lỗ Sự gia tăng dân số ở quốc gia xuất xứ, mức sống thấp, thiếu cơ hội kinh tế và áp bức chính trị là những yếu

tố đẩy, và nhu cầu lao động ở quốc gia đến, đất đai sẵn có, cơ hội kinh tế tốt và tự do chính trị được đưa ra là những yếu tố kéo (Castles & Miller, 2003)

1.2.4 Lý thuyết về sự hòa nhập văn hóa của người di cư

Berry giải thích tình hình thích ứng văn hóa của người di cư bằng cách chia thành bốn phạm trù, dựa trên hai khía cạnh là duy trì bản sắc văn hóa vốn có và chấp nhận văn hóa xã hội của nước đến (J W Berry, 1997) Thứ nhất, nếu người di cư vừa duy trì đặc trưng văn hóa mang lại từ quê hương và bản sắc văn hóa của mình vừa chấp nhận

và tiêu hóa văn hóa của nước đến thì nó thuộc loại ‘Hòa nhập (Integration)’, nếu họ không được làm cả hai khía cạnh thì thuộc loại ‘Ngoài lề (Marginalization)’ Mặt khác,

Trang 36

nếu người di cư không duy trì bản sắc văn hóa của mình và đắm chìm trong các vấn đề

xã hội của nước đến thì thuộc loại ‘Đồng hóa (Assimilation)’ Nếu họ không chấp nhận văn hóa của nước đến và chỉ giữ vững bản sắc văn hóa của mình thì thuộc loại ‘Phân ly (Segregation)’ Bốn phạm trù này sẽ được quyết định tùy theo hoàn cảnh của người di

cư, thời gian di cư và môi trường của khu vực họ di cư, nhưng chủ yếu người di cư có

vẻ thích loại ‘Hòa nhập (Integration)’ nhất

Mức độ hòa nhập vào xã hội nước xuất xứ hoặc nước đến của người di cư, mối quan hệ xã hội mà người di cư đối mặt, mức độ hòa nhập thể chế của xã hội nước xuất

xứ hoặc nước đến và mức độ hòa nhập vào những chế độ và tổ chức trong xã hội sẽ được xem xét Trong trường hợp này, hòa nhập xã hội có thể tiến hành như sau: Trước hết, đó là ‘Thích ứng (Accommodation)’, là quá trình tiếp thu những thông tin và kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống trong xã hội di cư Ở đây, sự hiểu biết về các quy định về ngôn ngữ và thể chế có thể được đề cập là ví dụ tiêu biểu của thông tin và công nghệ ‘Tiếp biến văn hóa (Acculturation)’ là việc truyền tải và nội tại hóa một cách bộ phần các giá trị, chuẩn mực, thái độ và suy nghĩ văn hóa được sử dụng trong xã hội nước đến ‘Đồng hóa (Assimilation)’ là trạng thái trong đó người di cư từ bỏ tất cả các đặc điểm liên quan đến xã hội xuất xứ và đạt được sự đồng nhất hoàn toàn với xã hội nước đến Và là trạng thái mà tất cả các bản sắc của dân tộc vốn có biến mất và thiết lập bản sắc giống với thành viên của xã hội nước đến Mặc dù có xu hướng sự đồng hóa bị tránh về mặt chính trị, tuy nhiên, thuật ngữ này bộc lộ rõ thực tế của cách tiếp cận đa văn hóa trong hầu hết xã hội Trên thực tế, sự đồng hóa cũng là kết quả của sự tiếp xúc văn hóa thường xuyên giữa người di cư với xã hội nước đến ‘Sự sáp nhập (Incorporation)’ là việc đưa các tổ chức cá nhân dựa trên văn hóa bản địa của người di

cư vào xã hội di cư Ví dụ, hệ thống trường học hoặc hình thức tổ chức tôn giáo dựa trên văn hóa bản địa của người di cư vẫn được duy trì trong xã hội di cư Và đó là một hiện tượng mà chế độ xã hội đặc trưng dành cho nhóm di cư thiểu số được hình thành

và khuyến khích, dựa vào đó, cộng đồng chính trị của những người di cư được phép tổ chức (Kim Tae Won, 2010, tr.397)

Castles & Miller (2003) phân loại hòa nhập xã hội theo sự khác biệt trong nhận thức về việc chấp nhận người di cư, tức là loại trừ hoặc chấp nhận người di cư, thành

Trang 37

‘Loại trừ một cách phân biệt (Differential exclusion)’, ‘Đồng hóa (Assimilation)’ và

‘Chủ nghĩa đa văn hóa (Multiculturalism)’ Chủ nghĩa loại trừ một cách phân biệt là loại hình ít quan tâm nhất đến dân tộc thiểu số về mặt chính sách Các quốc gia chọn lập trường về chính sách này đa phần khá hạn chế trong việc chấp nhận người di cư và

họ chỉ chấp nhận người di cư trong các lĩnh vực mà quốc gia yêu cầu, ví dụ như các ngành nghề không phổ biến trên thị trường lao động và không muốn họ định cư ở đó

Đó là quan điểm không thừa nhận sự đa dạng về văn hóa và sắc tộc vì chủ nghĩa văn hóa dân tộc thuần nhất của quốc gia được nhấn mạnh (Kim Yong Sin, 2008) Quốc gia chọn chủ nghĩa đồng hóa muốn dân số di cư, là thiểu số, được đồng hóa vào xã hội nước đến và thay đổi Đó là lập trường mà quốc gia hoặc xã hội thực hiện để duy trì bản sắc đồng nhất Do đó, chính sách di cư theo chủ nghĩa đồng hóa hướng mục tiêu là, người

di cư gạt bỏ tính độc đáo của họ và tham gia vào xã hội nước đến, hơn là duy trì ngôn ngữ hoặc văn hóa của quốc gia xuất xứ của họ (Han Geon Su & Seol Dong Hun, 2006) Cuối cùng, chủ nghĩa đa văn hóa tìm cách bảo tồn và công nhận ngôn ngữ và các đặc điểm văn hóa xã hội độc đáo của các nhóm dân tộc khác nhau Đây được hiểu là chính sách hòa nhập xã hội có thể tối thiểu hóa những xung đột hay chia rẽ xảy ra trong xã hội vì tính đa dạng được thừa nhận Được biết, ở các nước tiên tiến về chính sách di cư như Canada, Úc và Mỹ, đã từ bỏ chủ nghĩa đồng hóa và áp dụng chủ nghĩa đa văn hóa

để đạt được sự hòa nhập xã hội của người di cư (Lee Jun Gyu, 2012) Chủ nghĩa loại trừ một cách phân biệt là loại hình mà tránh xung đột xã hội bằng cách loại trừ hoặc tối thiểu hóa tiếp xúc với nhóm thiểu số, có ít quốc gia theo đuổi, hầu hết các quốc gia đều hướng tới chủ nghĩa đồng hóa hoặc chủ nghĩa đa văn hóa (Hwang Taek Hwan, 2012, tr.67)

Những cuộc tranh luận về chủ thể hay xu hướng chủ đạo của hòa nhập xã hội trong thời gian qua cũng được chia thành hai phe là quan điểm cho rằng hòa nhập xã hội có nghĩa là đồng hóa và quan điểm cho rằng hòa nhập xã hội có nghĩa là đa văn hóa Theo quan điểm bảo vệ lập trường chủ nghĩa đồng hóa, người di cư nước ngoài đồng hóa hoặc thích nghi với văn hóa của xã hội nước đến là điều đương nhiên, và chỉ bằng cách này, họ mới có thể sống mà không xung đột với xã hội nước đến Ngược lại, chủ nghĩa

đa văn hóa cho rằng việc đơn phương đồng hóa người di cư nước ngoài vào xã hội nước

Trang 38

đến là không đúng đắn và xã hội nước đến cũng nên cố gắng hiểu và biết văn hóa của người di cư nước ngoài Tuy nhiên, trên thực tế, cần phải xem xét rằng không có quốc gia nào ở cực đoan của hai quan điểm này, vì vậy mỗi quốc gia đã thực hiện các chính sách kết hợp hai quan điểm giữa chủ nghĩa đồng hóa và chủ nghĩa đa văn hóa, tùy theo tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của họ (Hwang Taek Hwan, 2012, tr.66 ~ 67)

Choi Yeon Sil (2009) nhận thấy rằng cuộc thảo luận về hòa nhập xã hội đang dần phát triển từ chủ nghĩa đồng hóa sang chủ nghĩa đa văn hóa Theo Hobsbawm (2011), luồng di cư hiện đại đang được tổ chức hóa bằng mạng lưới người di cư, và việc tìm kiếm việc làm (Job-finding) và di cư xuyên biên giới quốc gia không phải là sự kiện xảy ra chỉ một lần trong đời (Once-in-a lifetime) Nó hình thành nên chiến lược của cuộc sống Vì vậy, di cư không có nghĩa là đoạn tuyệt với quá khứ, và mọi người có thể tiếp tục cuộc sống của họ ở hai- ba thế giới cùng một lúc, hoặc ở những nơi khác nhau trong một quốc gia Di cư với xu thế toàn cầu hóa gần đây nói chung là làm suy yếu ý chí đồng hóa vào văn hóa chủ yếu của những người di cư

Gần đây, đặc biệt là ở châu Âu, người ta chỉ trích rằng mặc dù chủ nghĩa đa văn hóa không có ý đồ, nhưng đã dẫn dắt sự cô lập của nhóm dân tộc thiểu số cuối cùng, không dẫn đến hòa nhập xã hội thực sự Và ‘Chủ nghĩa văn hóa tương hỗ (Interculturalism)’ được đề xuất như giải pháp thay thế Chủ nghĩa văn hóa tương hỗ (Interculturalism) tương tự như chủ nghĩa đa văn hóa ở chỗ nó nhấn mạnh đến tính đa dạng và chủ nghĩa đa nguyên, nhưng nó khác với chủ nghĩa đa văn hóa ở chỗ nó nhấn mạnh tính thế tục, hòa nhập và sự cởi mở lẫn nhau Chủ nghĩa văn hóa tương hỗ nhấn mạnh đến ngôn ngữ chung riêng biệt của xã hội nước đến và yêu cầu những người di

cư mới phải tự nguyện và tích cực hòa nhập vào văn hóa của nước đến Cụ thế, nó khuyến khích tác dụng tương hỗ giữa các văn hóa và hoạt động chung giữa các cộng đồng (Council of Europe, 2009) Carolyn Medel-Anonuevo, Phó giám đốc Viện Học tập suốt đời của UNESCO, cho rằng chủ nghĩa đa văn hóa ép buộc nền văn hóa của nước mình là chính sách thất bại và chủ nghĩa đa văn hóa nên được thay thế bằng chủ nghĩa văn hóa tương hỗ Theo bà, chủ nghĩa đa văn hóa thường đề cập đến tình trạng

mà các nhóm khác nhau trong một xã hội có quyền và cơ hội bình đẳng và không ai bị

Trang 39

khinh thường, nhưng khi định nghĩa này được áp dụng trong chính sách thực tế, nó lại

có nghĩa là người di cư cuối cùng nên chấp nhận nền văn hóa nước sở tại Bà giải thích, trong một xã hội hoặc quốc gia tồn tại nhiều nền văn hóa, sự giao tiếp với nhau trong khi tôn trọng sự đa dạng, đó chính là ‘Chủ nghĩa văn hóa tương hỗ’.5 Năm 2003, Ủy hội Châu Âu (Council of Europe) nhấn mạnh rằng “Hòa nhập là quá trình hai chiều, trong

đó người di cư và nước đến đều có quyền lợi và nghĩa vụ của họ” Trong khi nước đến

có trách nhiệm đảm bảo để người di cư tham gia đầy đủ vào chế độ trong xã hội, đồng thời người di cư có nghĩa vụ tôn trọng các chuẩn mực và hệ giá trị của nước sở tại và tích cực tham gia vào quá trình hòa nhập Ủy hội Châu Âu đề nghị bốn nguyên tắc của hòa nhập xã hội, đó là thứ nhất, tôn trọng hệ tư tưởng cơ bản về chủ nghĩa dân chủ, thứ hai, quyền của người di cư được duy trì bản sắc độc đáo của họ (tôn trọng sự đa dạng), thứ ba, quyền tham gia thể chế, thứ tư, việc thực hiện tích cực các nghĩa vụ đi kèm với

nó (Council of Europe, 2009)

Castles & Miller đã phân loại mức độ hòa nhập xã hội của Hàn Quốc thuộc chủ nghĩa loại trừ một cách phân biệt trong cuốn sách năm 2003 của mình Tuy nhiên, tình hình xã hội như luật pháp liên quan về đa văn hóa và mức độ nhận thức của công chúng

ở Hàn Quốc đã thay đổi liên tục kể từ đó, cho nên không thể nói rằng nó là chủ nghĩa loại trừ một cách phân biệt như phân loại bởi Castles & Miller ngay cả vào thời điểm này Các nghiên cứu phân tích chính sách gần đây được thực hiện ở Hàn Quốc kết luận chủ yếu rằng chính sách đa văn hóa của Hàn Quốc cho thấy đặc trưng của chủ nghĩa đồng hóa và chủ nghĩa đa văn hóa (Byeon Su Jeong và các tác giả khác, 2014, tr.27~28)

1.3 Khái quát thực tiễn hôn nhân Việt - Hàn

1.3.1 Bối cảnh quan hệ Việt - Hàn

Trần Ngọc Thêm (2014) cho rằng “Trong số toàn bộ các dân tộc / quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam là dân tộc / quốc gia duy nhất có quan hệ rất lâu đời và mật thiết với Hàn Quốc” (tr.349)

5 31/5/2011, báo Hankyoreh

Trang 40

Cổ xưa nhất là trong triều đại Cao Ly (918~1392, ngày nay là Hàn Quốc), Lý Long Tường, con thứ 7 của vua Lý Anh Tông là hoàng đế thứ 6 triều Lý nước Đại Việt, đã lưu vong đến Cao Ly và trở thành ông tổ của dòng họ Lý Hoa Sơn (화산 이씨) Ngoài

ra, Lý Dương Côn là hoàng tử thứ 3 của Lý Nhân Tông, vị hoàng đế thứ tư của nhà Lý, cũng là em trai của Lý Dương Hoán, hoàng đế thứ 5, bị đày đến Cao Ly vào năm 1127

và lập nên dòng họ Lý Tinh Thiện (정선 이씨) Ngoài ra, Mạc Đĩnh Chi, một học giả Nho giáo, đã đến thăm Cao Ly theo lời mời của vị sứ thần Cao Ly mà ông đã gặp vào thời nhà Nguyên Mặc dù không có quan hệ ngoại giao chính thức giữa triều đại Triều Tiên và Việt Nam, nhưng có những ghi chép lịch sử về trao đổi giữa các sứ thần Triều Tiên đi sứ nhà Minh và nhà Thanh và sứ thần Việt Nam cũng đến Trung Quốc

Năm 1992, Hàn Quốc và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết lập lại quan

hệ ngoại giao Ngày 20/4/1992, song phương đã ký thỏa thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước Ngày 19/11/1993 Hàn Quốc đã mở văn phòng Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ Cùng ngày, Hàn Quốc mở văn phòng Đại sứ quán tại Hà Nội Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khoảng 30 năm cho đến nay, quan hệ hai nước ngày càng phát triển trên tất cả mọi phương diện với sự quan tâm của cả chính phủ và nhân dân

Về mặt kinh tế, kim ngạch thương mại giữa Hàn Quốc và Việt Nam đạt khoảng 88

tỷ đô la trong năm 2022 Kể từ khi bắt đầu quan hệ ngoại giao năm 1992, kim ngạch thương mại đã tăng trưởng hơn 100 lần, dẫn đầu việc mở rộng thương mại với ASEAN Đối với Hàn Quốc, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 3, và đối với Việt Nam, Hàn Quốc cũng là đối tác thương mại lớn thứ 3

Bảng 1.1 Tình hình giao dịch thương mại Hàn Quốc - Việt Nam 6

(Đơn vị: Trăm triệu usd)

6

Hiệp hội thương mại Hàn Quốc [KITA]

Ngày đăng: 14/11/2023, 12:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của các cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của các cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu (Trang 23)
Bảng 2. Thông tin nhân khẩu gia đình cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 2. Thông tin nhân khẩu gia đình cô dâu Việt tham gia cuộc phỏng vấn sâu (Trang 23)
Bảng 3. Danh sách chuyên gia liên quan hôn nhân Việt - Hàn được phỏng vấn - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3. Danh sách chuyên gia liên quan hôn nhân Việt - Hàn được phỏng vấn (Trang 24)
Bảng 1.2. Người giới thiệu cho cô dâu lấy chồng Hàn Quốc - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 1.2. Người giới thiệu cho cô dâu lấy chồng Hàn Quốc (Trang 49)
Bảng 2.2. Thu nhập 1 tháng của người trả lời - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 2.2. Thu nhập 1 tháng của người trả lời (Trang 68)
Bảng 2.4. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Vì sao chị quyết định lấy chồng nước ngoài?” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 2.4. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Vì sao chị quyết định lấy chồng nước ngoài?” (Trang 70)
Bảng 2.6. Các ngày lễ lớn ở Hàn Quốc và Việt Nam - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 2.6. Các ngày lễ lớn ở Hàn Quốc và Việt Nam (Trang 85)
Bảng 3.2. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có khả năng nói tiếng Hàn ở mức độ  nào?” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.2. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có khả năng nói tiếng Hàn ở mức độ nào?” (Trang 99)
Bảng 3.4. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có thường xuyên tìm kiếm thông tin về  Hàn Quốc trên mạng Internet không?” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.4. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị có thường xuyên tìm kiếm thông tin về Hàn Quốc trên mạng Internet không?” (Trang 102)
Bảng 3.3. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Trước khi lấy chồng Hàn Quốc chị có biết gì - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.3. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Trước khi lấy chồng Hàn Quốc chị có biết gì (Trang 102)
Bảng 3.7. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị nói chuyện với chồng về điều gì? (có thể  chọn nhiều đáp án)” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.7. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị nói chuyện với chồng về điều gì? (có thể chọn nhiều đáp án)” (Trang 109)
Bảng 3.8. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Tại sao chị chọn lấy chồng Hàn Quốc? (có  thể chọn nhiều đáp án)” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.8. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Tại sao chị chọn lấy chồng Hàn Quốc? (có thể chọn nhiều đáp án)” (Trang 114)
Bảng 3.9. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị lo lắng gì trước khi sang Hàn Quốc kết  hôn? (có thể chọn nhiều đáp án)” - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
Bảng 3.9. Tỷ lệ người trả lời câu hỏi “Chị lo lắng gì trước khi sang Hàn Quốc kết hôn? (có thể chọn nhiều đáp án)” (Trang 120)
Hình ảnh đàn ông Hàn Quốc trên báo đài  1 - Nền tảng văn hóa và sự chuẩn bị hòa nhập văn hóa của cô dâu việt nam di cư sang hàn quốc (thông qua nhận thức của các cô dâu)
nh ảnh đàn ông Hàn Quốc trên báo đài 1 (Trang 165)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w