ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ VĨNH TRƯƠNG CÁC HỌC PHÁI QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĨNH TRƯƠNG
CÁC HỌC PHÁI QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĨNH TRƯƠNG
CÁC HỌC PHÁI QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
Mã số: 8220104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG NGỌC DŨNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2023
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến
sĩ Dương Ngọc Dũng Những nội dung được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Lê Vĩnh Trương
Trang 4Xin chân thành cảm ơn TS Dương Ngọc Dũng đã hướng dẫn
Cảm tạ sâu sắc các thầy cô TS Đoàn Lê Giang, TS Nguyễn Văn Hiệu, TS Nguyễn Công Lý, TS Hồ Quang Minh, TS Huỳnh Vĩnh Phúc, TS Nguyễn Đình Phức, TS Nguyễn Ngọc Quận, TS Đinh Khắc Thuân, TS Vũ Thị Thanh Trâm, TS Nguyễn Đông Triều, TS Lê Quang Trường, TS Phan Thu Vân, TS Nguyễn Thị Thủy Duyên, TS Nguyễn Tiến Lập đã giảng dạy
Trân trọng tri ân ông Nguyễn Bá Dũng, ông Trần Văn Chánh đã cung cấp tài liệu và góp ý
Tôi cam đoan luận văn này là công trình của chính tôi Những thiếu sót của luận văn là của tôi Lê Vĩnh Trương, và tôi xin lắng nghe các đóng góp ý kiến để hoàn thiện đề tài
Trang 5DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Giới thuyết khái niệm: 5
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
1.3 Tiếp cận văn hóa và xã hội 6
CHƯƠNG 2: CÁC HỌC PHÁI QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI8 2.1 Học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại- Nho Gia 8
2.1.1- Khổng Phu Tử (孔子; 孔夫子; 551-479 TCN) 8
2.1.2- Mạnh Tử (孟子; 372- 289 TCN) 26
2.1.3- Tuân Tử (荀子; 330- 227 TCN) 29
2.2 Học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại- Pháp Gia 33
2.2.1- Quản Di Ngô (管仲, 管子; 725- 645 TCN) 33
2.2.2- Thương Ưởng (商鞅; khoảng 390-338 TCN) 40
2.2.3- Hàn Phi Tử: (韩非子/ 韓非子; 280- 233 TCN) 42
Trang 6QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI 46
3.1 Những ảnh hưởng tư tưởng Nho Gia trong quản trị xã hội Trung Quốc đương đại 51
3.2 Những ảnh hưởng tư tưởng Pháp Gia trong quản trị xã hội Trung Quốc đương đại 58
3.3 Những ảnh hưởng tư tưởng Nho Gia, Pháp Gia đến Việt Nam 71
KẾT LUẬN 74
DANH M C T I LI U THAM KHẢO 75
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Năm 2023, Trung Quốc đã củng cố vị trí siêu cường số hai thế giới với các thành công trên lĩnh vực sức mạnh mềm, kinh tế, chánh trị, quân sự, khoa học không gian, khống chế dịch bệnh Sức mạnh của đất nước Trung Quốc, với hàng ngàn năm lịch sử cùng nền văn hóa, khoa học xã hội phong phú, hiện đang có sức ảnh hưởng trên toàn cầu
Người Trung Quốc đã kinh qua thực tiễn hàng ngàn năm để đúc kết thành lý luận từ thời viễn cổ cho đến những triều đại phong kiến trước triều đại Tần, thường gọi là Tiên Tần Các lý thuyết quản trị giới thiên nhiên và xã hội của thời kỳ này do các tác giả Quản Tử, Lão Tử, Khổng Tử, Mặc Tử, Thương Ưởng, Mạnh Tử, Tuân Tử… xác lập và theo đuổi đã được các học giả hiện đại nghiên tập và thực hành
Những lý thuyết của các tác giả cổ đại Trung Quốc đã được nhiều triều đại học tập và vận dụng trong quản lý các mặt của đời sống xã hội, văn hóa, thi cử, lựa chọn nhân tài, tổ chức hành chánh, tỉnh huyện, làng xã và gia đình Những học thuyết ấy có sức sống và được bổ sung, bổ túc theo từng thời kỳ bởi các học trò, người nghiên cứu về sau Những áp dụng, theo từng thời kỳ, từng địa phương của Trung Quốc cũng mang nét khác biệt
Trong những thập kỷ gần đây, sau năm 1978 vốn được coi như cột mốc Trung Quốc mở cửa ra với thế giới, các học thuyết Nho gia, Pháp gia, Mặc gia, Lão gia đã được người Trung Quốc trong và ngoài nước nghiên cứu lại Đặc biệt sau khi Tập Cận Bình trở thành chủ tịch Trung Quốc, ông đã khuyến khích học tập và áp dụng có chọn lọc những lý thuyết quản lý xã hội cổ đại
Về phía các học phái đối ngoại, đối nội của Trung Quốc cũng xuất hiện các tên tuối như Phan Duy, Thôi Lập Như, Diêm Học Thông, Vương Hỗ Ninh, Phòng Ninh… Những học giả này xem xét các học thuyết của thời kỳ gần đây của Karl Marx, Montesquieu, Thomas Hobbes, Jean Bodin… và học hỏi từ di sản của các học thuyết cổ đại Trung Quốc để hình thành những lý thuyết mới Những lý thuyết này bao trùm các mặt văn hóa, xã hội, khoa học, chánh trị đáng quan tâm
Do đó chúng tôi chọn đề tài này
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các tác giả Trung Quốc và ngoài Trung Quốc như Allyn Rickett (2001), Cao Hanh (1974) đã có các nghiên cứu sâu sắc về Quản Tử, Thương Ưởng trong các mối quan hệ với các tư tưởng gia khác Những nghiên cứu này giúp người quan tâm tìm được sự kết nối giữa các học thuyết cổ đại Trung Quốc và các lý thuyết địa chính trị cũng nhưng kinh tế xã hội hiện đại David Shambaugh (2013) đã cô đúc lại thành một chiều dài các tư tưởng cổ đại Trung Quốc song song với lập thành một mối liên kết từ tinh thần quốc gia đến quốc tế của các tư tưởng Trung Quốc Diêm Học Thông (2013) xác lập được các học thuyết quản trị Trung Quốc thời Tiên Tần
và mặc dù ông là một nhà lý thuyết chú trọng chủ nghĩa thực tiễn song cũng chính ông là người tổng thuật được các trường phái của Trung Quốc theo phong cách hiện đại
Hồng Xuân Huy (2019) là một tác giả Đài Loan nhìn các góc độ quản trị của người Hoa hiện đại trong bối cảnh Thương chiến xảy ra giữa Mỹ và Trung Quốc Hứa Như Hanh (2008) đã có cái nhìn sâu về tam chủng chiến pháp của Trung Quốc, đây chính là sự hiện thực hóa chủ nghĩa thực tiễn và vương đạo của lý thuyết Quản
Tử thời Tiên Tần Các trước tác của Lý Minh Tuấn (2011) và học giả Nguyễn Hiến Lê (2021) đã mô tả chi tiết các lý thuyết gia quản trị cổ đại Trung Quốc
Về phương diện báo chí và truyền thông, nhà báo Nguyễn Văn Lập (2014) cũng có các nghiên cứu về “Y pháp trị quốc” của giới lãnh đạo Trung Quốc hiện
đại Các tác giả như Theodore de Bary, Tu Wei-ming, (1999), Trác Tố Quyên (2014),
Triệu Toàn Thắng (2021), Tuyết Quế Phương, Trịnh Khiết (2016), Yuris Pine (2009) … đã mở ra những hướng nghiên cứu mới liên quan các học thuyết Nho gia, Pháp gia, sự khác nhau và giống nhau của khái niệm “vương”, “bá”, “cường”; của khái niệm pháp trị Trung Quốc và phương Tây Có tác giả tập trung vào Quản Tử,
có tác giả nghiên cứu Tuân Tử, có tác giả nghiên cứu Thương chiến Trung Mỹ trên
cơ sở các luận thuyết về quản lý xã hội cổ đại
Luận văn này nghiên cứu các học phái quản trị của Trung Quốc thời cổ đại trước khi thành lập nhà Tần cùng những ảnh hưởng đến các trường phái học thuật
Trang 9quản lý xã hội và chánh trị hiện đại Trung Quốc, từ 1978 đến 2023 Khả năng và sức sống của những học phái lan tỏa đến cách quản trị xã hội Trung Quốc trong tương lai
Bằng tinh thần ôn cố tri tân, bằng lòng biết ơn của một học sinh được truyền thụ kho tàng cổ học, cùng tâm niệm xiển dương việc đọc, học, chiêm nghiệm sức ảnh hưởng của các trước tác cổ đại- vốn là trọng trách mà Khoa học Hán Nôm kiên trì theo đuổi, chúng tôi thực hiện luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các học phái và nhà lý thuyết cổ đại Trung Quốc như Quản Tử, Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Thương Ưởng, Hàn Phi
Tử và có so sánh đến các tác giả Thân Bất Hại, Thận Đáo, Mặc Tử Chủ yếu là hai trường phái lớn là Nho Gia và Pháp gia Chúng tôi làm những so sánh và kết nối các trường phái lớn thời cố đại Trung Quốc đến các trường phái Trung Quốc hiện đại như Phan Duy, Phòng Ninh, Diêm Học Thông, Vương Hỗ Ninh, Vương Tập Tư Về mặt cầm quyền, các lãnh đạo Trung Quốc như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân,
Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình, Vương Hỗ Ninh… những người áp dụng lý thuyết và trong việc cầm quyền cụ thể cũng được đọc, phân tích và đúc kết để làm sáng tỏ mối liên quan giữa các học phái cổ đại và các ứng dụng ngày nay
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu chính yếu là phương pháp so sánh, tổng hợp, quy nạp và định tính Nguồn tư liệu chính yếu là từ các thự tịch cổ của Trung Quốc qua bản dịch của các học giả Việt Nam như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần
Các nguồn tư liệu nước ngoài gồm có các tuyển tập bài nói và viết của chủ tịch Tập Cận Bình (2014), (2022); Allyn Rickett (2001) về Quản Tử; Cao Hanh (1974) về Thương Ưởng; David Shambaugh (2013) về những mâu thuẫn nội tại
Trung Quốc ; Hàn Phi Tử (Phan Ngọc dịch) (2001); Diêm Học Thông (2013) về tư
tưởng cổ đại Trung Quốc; Hạ Minh (夏明) (2015) về các vấn đề Trung Quốc đang đương đầu; Hồng Xuân Huy (2019) viết về công nghệ Trung Quốc và Đài Loan; Hứa Như Hanh ( 許 如亨)(2008) về Tam chủng chiến pháp; các tác phẩm của
Trang 10Nguyễn Hiến Lê về tư tưởng cổ đại Trung Quốc; nhà báo Nguyễn Văn Lập (2014)
về Y pháp trị quốc; Trác Tố Quyên (2014) về đạo đức quan Nho giáo; Triệu Toàn Thắng (2021) về ảnh hưởng của Nho giáo lên chánh trị Trung Quốc hiện đại cùng một số trang web chính thức của nhà nước Trung Quốc
5 Bố cục luận văn
Kết cấu của luận văn gồm ba chương:
Chương Một: Những vấn đề chung
Chương Hai: Các học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại
Chương Ba: Một số ảnh hưởng của các học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại đến dương đại
Trang 11CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Giới thuyết khái niệm:
Theo từ điển Cambridge, học phái hay trường phái tư tưởng là một hệ thống các ý kiến ý tưởng mà một nhóm người chia sẻ cùng nhau về một vấn đề (a set
of ideas or opinions that a group of people share about a matter)1 Đó là những tác giả và tác phẩm chia sẻ với nhau trên căn bản về một vấn đề Tại đây, chúng tôi giới hạn việc chia sẻ đó ở ba mặt chánh yếu là quan niệm về quản trị con người, xã hội
và tự nhiên
Trung Quốc cổ đại được xác định là thời kỳ Hạ (Thế kỷ XI-XVII TCN), Thương (XVI-XI TCN), Chu (1066 -771 TCN), cho đến hết thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc (720-221 TCN)2
Văn hóa Trung Quốc là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất thế giới, bắt nguồn từ hàng ngàn năm trước Nền văn hóa này thịnh hành trên một khu vực địa lý rộng lớn ở Đông Á và vô cùng đa dạng, với các phong tục và truyền thống rất khác nhau giữa các tỉnh, thành phố và thậm chí cả thị trấn Các thuật ngữ 'Trung Quốc' và vùng đất địa lý của 'Trung Quốc' đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, với tên cuối cùng là Đại Thanh, trước khi cái tên 'Trung Quốc' trở nên phổ biến trong thời hiện đại
Nền văn minh Trung Quốc trong lịch sử được coi là nền văn hóa có ảnh hưởng nhất nhì Đông Á, bân cạnh văn minh Ấn Độ, Indonesia Với việc Trung Quốc là một trong những nền văn minh cổ đại sớm nhất, văn hóa Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học, đạo đức, nghi thức và truyền thống của châu Á Chữ Hán, gốm sứ, kiến trúc, âm nhạc, vũ đạo, văn chương, võ thuật, ẩm thực, nghệ thuật tạo hình, triết học, lễ nghi, kinh doanh, tôn giáo, chính trị và lịch sử đã có ảnh hưởng toàn cầu, trong khi các truyền thống và lễ hội của nó được tôn vinh, thấm nhuần và thực hành bởi những người xung quanh
Trang 12“Thời gian Đương đại” của Trung Quốc được xác định là từ khi Trung Quốc
mở cửa năm 1978 sau khi Đặng Tiểu Bình nắm quyền lực và tiến hành các cải cách
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận (theoretical basis) là các giả thuyết đã được kiểm chứng và khẳng định Cơ sở lý luận của các học phái cổ đại Trung Quốc đã được khẳng định qua thời gian dài, khoảng 22 thế kỷ đối với Pháp gia, 30 thế kỷ đối với Nho gia từ Chu Công Những quốc gia chịu ảnh hưởng văn minh, văn hóa Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng của Nho gia (Nho học, Nho giáo), Phật giáo, Đạo giáo (Lão giáo)
và Pháp gia
Về các tác động đến ý thức và thực tiễn ứng dụng của những học phái như Nho, Đạo, Pháp, Phật giáo, trọng nông, trọng thương, trọng kỹ thuật…, nền văn minh văn hóa Trung Quốc đã cho thấy sự xác lập vững chắc các lý thuyết này
Trong xây dựng gia đình, tổ chức, chính quyền, khoa cử, lễ nghi, thờ cúng cũng như quan hệ đối ngoại và trong tư duy triết học và tinh thần, giới thượng tầng Trung Quốc cũng đã có 25 triều đại thực hành Nho, Pháp hoặc tổng hợp Nho-Pháp
như nền tảng cốt lõi
1.3 Tiếp cận văn hóa và xã hội
Các học phái, trường phái tư tưởng một khi đã thành lý thuyết để những vì vua, những tể tướng, những nhà tổ chức từ thời cố đại đến 1911 (Cách mạng Tân Hợi) dùng làm kim chỉ nam để hành động thì hẳn nhiên sẽ có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống cả trong trục thời gian lâu dài và ảnh hưởng đến các địa phương, quốc gia xung quanh Trung Quốc
Những ảnh hưởng ấy dĩ nhiên có tác động đến văn hóa, xã hội và nhiều mặt khác Chúng tôi muốn nêu ra nơi đây những ảnh hưởng và tác động và tiếp cận mang tính văn hóa và xã hội đối với các học phái này
Văn hóa xã hội trong chiều dài cổ xuyên kim, Việt Nam một mặt vừa xây dựng đất nước một mặt chống chọi lại các thế lực ngoại xâm, một mặt khác du nhập
và đồng hóa các làn sóng văn hóa của các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á và đến thế kỷ 14, 15, các phái đoàn truyền giáo Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và rồi là thực dân Pháp, Anh Tuy nhiên, dấu ấn về văn hóa cũng
Trang 13như sức ép về địa chánh trị lớn nhất là đến từ Trung Quốc Bằng nhiều cách khác nhau, tổ tiên Việt Nam đã vượt qua được các thử thách về xâm lược và hấp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa để có một Việt Nam như ngày nay 2023
Văn hóa xã hội trong liên đới các quốc gia Á Đông, Việt Nam đã có sự du nhập từ Phật giáo, Hồi giáo, Bái vật giáo, kiến trúc, nghề làm nông, nghề đi biển từ nhiều nước khác trong khu vực Hiện nay đã có những nghiên cứu về nguồn gốc Mã Lai của người Việt, cũng như ảnh hưởng về các cuộc hợp huyết do di cư, do hôn nhân của người Việt từ tộc Bách Việt đi về phía Nam
Do vậy các tiếp cận văn hóa, xã hội là điều hiển nhiên Các tiếp cận văn hóa
xã hội sẽ còn tiếp diễn Với đà phát triển nhanh và mạnh của Trung Quốc 2023 về các phương diện khoa học, kỹ thuật, chánh trị, quân sự, Việt Nam chắc chắn phải quan tâm và gạn lọc học hỏi Những học giả và nhà chánh trị Trung Quốc sẽ ôn lại lịch sử những điều hay lẽ tốt để giúp cho quá trình phát triển của đất nước họ, và người Việt Nam cũng cần học tập và gạn lọc những di sản cổ xưa của đất nước Trung Quốc to lớn, cũng như ôn lại những di sản mà cha ông người Việt để lại Công việc này cần thiết và đòi hỏi một cái nhìn khoa học và gạn đục khơi trong Mục đích tốt đẹp và hướng thượng này bao gồm nhiều mặt, trong đó không ngoài việc phát triển và bảo vệ hòa bình cho đất nước và khu vực
Trang 14CHƯƠNG 2:
CÁC HỌC PHÁI QUẢN TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Từ trước khi nhà Tần lập quốc cho đến sau này, Trung Quốc có rất nhiều học phái như Nho gia, xuất phát từ Chu Công (nhà Chu) và được tích hợp từ Khổng Tử sau đó là Mạnh Tử, Tuân Tử ; Pháp gia, có Quản Tử, Hàn Phi Tử, Mặc gia với Mặc Địch; Âm dương gia… Các giai đoạn trước Tần đã có Bách gia chư tử, tức nhiều trường phái và lý thuyết Những học phái này truyền thừa về sau cho ra đời nhiều hệ phái, phân nhánh khác biệt, có khi ảnh hưởng qua lại và chống đối nhau đầy màu sắc và tính kế tục Tại luận văn này, chúng tôi cin đề cập đến hai trường phái chánh yếu đó là Nho gia và Pháp gia
2.1 Học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại- Nho Gia
2.1.1- Khổng Phu Tử (孔子; 孔夫子; 551-479 TCN)
Ông còn có tên Khổng Khâu (孔丘), Khổng Tử (孔子) tự cho tiếp nối Chu Công Đán và thành lập đạo Nho, triết gia quan trọng của Châu Á Ông cùng với Đức Phật và Lão Tử là ba tư tưởng gia ảnh hưởng mạnh mẽ cả Châu Á Khổng Khâu sinh trưởng tại nước Lỗ (Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) cuối
thời Xuân Thu Ông từng khiêm tốn nói " Lúc ấu thời khó khăn, ta phải vất vả với
các nghề khác nhau do thế biết được nhiều việc." 3
Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử từ đó sống cảnh bần hàn, ngày ngày dốc công học tập hầu thực hiện được giấc mơ của mẫu thân
Tương truyền do Khổng Tử san định, các sách cốt lõi của đạo Nho bàn đến
và khơi gợi nhiều vấn đề từ lý giải thế giới tự nhiên, xã hội đến sự tu dưỡng cho cá
nhân Tại đây chúng tôi xin phân tích một số đoạn của Thư Kinh (書經) và Luận
Ngữ (論語) được cho là do Khổng Tử san định từ các thư tịch cổ Chúng tôi cũng
3
Theo Britanica https://www.britannica.com/biography/Confucius, đọc 2/2021
Confucius was candid about his family background He said that, because he was “poor and from a lowly station,” he could not enter government service as easily as young men from prominent families and so had to become “skilled in
many menial things” (Analects (論語) ), 9:6
Trang 15đưa ra đánh giá của tác giả về sau để kết nối đến các lý luận quản lý của các mưu sĩ Trung Quốc thời nay Những vấn đề thu thập không hẳn là những điều ông đồng ý tất cả, do vậy, xin hiểu nơi đây rằng nếu không phải là ông xác quyết thì chí ít ông
là người khơi gợi để hậu thế đọc những tư tưởng này
Khổng Tử đưa ra lập luận rằng chánh phủ tốt nhất nên trị nước bằng "Lễ
nghĩa" và đạo đức tự nhiên của con người, chứ không phải bằng võ lực và mua
chuộc Đoạn quan trọng Luận Ngữ (論語), ở thiên Vi Chánh (為政): "Dùng luật,
lệnh chỉ đạo người dân, dùng hình phạt để giám chế bá tánh, thì tuy có thuyên giảm
sự phạm pháp, nhưng kẻ vi phạm không biết ngượng nhục Dùng đức để bảo khuyên, và dùng Lễ để răn dạy họ, thì không chỉ người dân hiểu được nỗi nhục khi
vi phạm pháp luật, mà còn tự mình điều chỉnh sai lạc từ trong tư tưởng."4
子曰:「道之以政,齊之以刑,民免而無恥;道之以德,齊之以禮,有
Việc cảm nhận được nỗi ngượng nhục là sự bắt đầu của tinh thần đảm nhận, khi ấy trừng phạt sẽ đi trước hành động xấu xa, chứ không phải đi sau hành động xấu như trường phái Pháp gia của Thương Ưởng
Tán thành ý tưởng về một đấng quân vương uy quyền tột đỉnh bởi tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc thời Xuân Thu, học thuyết Khổng Tử hạn chế sự lạm quyền của giới cai trị Đấng trị vì phải nhân đức, đặt nhân nghĩa lên đầu và quan tâm đến lợi ích của dân chúng hơn lợi ích bản thân Lời nói phải luôn ngay thật; vì thế trung thực là tiên quyết Sự thành thật có thể làm cảm động lòng người, quy tụ thiên hạ
Ông nói "Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng
chói Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người" 6
4 Theo Britanica https://www.britannica.com/biography/Confucius, đọc 2/2021 Confucius said, “Guide the people with ordinances and statutes and keep them in line with [threats of] punishment, they will try to stay out of trouble but will have no sense of shame If you guide them with exemplary virtue and keep them in line with the practice of the rites, they will have sense of shame and will know to reform themselves” ( Analects , 2:3).[Lunyu 論語]
5
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 32
6Tứ Thư, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 2003, trang 81, 82
Trang 16Thậm chí Khổng Tử còn ca ngợi người lãnh đạo biết nhường quyền lực cho
người tài đức hơn mình Ông nói "Thái Bá là con người thậm đức hạnh Ông nhiều
phen đem thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân chúng biết mà ca ngợi công đức của mình".7
Trong thiên Nghiêu Điển (堯典) thuộc Thư Kinh (書經), có đoạn
“Viết nhược; Kê cổ Đế-Nghiêu viết: phóng huân, Khâm, Minh, Văn, Tứ,
An an, Doãn cung khắc nhượng Quang bị tứ biểu, các vu thượng hạ.(曰若稽古帝
堯,曰放勳,欽、明、文、思、安安,允恭克讓,光被四表,格于上下。) Rằng: xét đời xưa, vua Đế Nghiêu đáng khen (phóng huân), nghĩa là công nghiệp rất to tát Nói về đức tính thì cung kính, thông minh, văn chương rõ rệt,
ý tứ sâu xa, tự nhiên mà không miễn cưỡng Lại hay kính cẩn khiêm nhường, đức trạch khắp bốn cõi, đến cả trên trời, dưới đất Thịnh đức biết là nhường nào!(Khổng, 1972, trang 29)9
Người lãnh đạo xã hội phải có sự quảng đại, minh triết, điềm đạm và thu
7 Tứ Thư, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 2003, trang 259
Trang 17phục quần chúng và „’quang bị tứ biểu’‟ để phát thịnh đức mà phục vụ quần chúng
Khắc minh tuấn đức, dĩ thân cửu tộc Cửu tộc ký mục bình chương bách tánh
Bách tánh chiêu minh, hiệp hòa vạn bang Lê dân ô biến thời ung.(克明俊德,以
親九族。九族既睦,平章百姓。百姓昭明,協和萬邦。黎民於變時雍。)
Tức: Hay tỏ đức tốt để thân với người trong họ chín đời Các người trong
họ 9 đời hòa mục rồi, ngài tỏ đức tốt cho cả trăm họ (dân trong hạt) Trăm họ sáng
tỏ rồi, ngài hòa hợp cả đến muôn nước chư hầu, bấy giờ, nhân dân trong thiên hạ
đều hòa vui, bỏ điều ác mà làm điều thiện.(Khổng, 1972, trang 30)10
Người lãnh đạo không chỉ tỏ quyền uy với bách tánh mà phải mang lại
lợi ích cho muôn dân
Nãi mạnh Hy, Hòa, Khâm nhược hiệu thiên lịch tượng nhật nguyệt tinh
thần, kính thu nhân thời (乃命羲和,欽若昊天,歷象日月星辰,敬授人時)
Tức: Bèn sai ông Hy Bá và ông Hòa Bá (hai ông quan coi làm lịch) kính
theo định luật của trời, xem xét độ số mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao và truyền bá
rất kính cẩn cho dân gian biết những thời hậu cấy gặt sớm, muộn thế nào (Khổng,
1972, trang 31)11
Cũng ở Nghiêu Điển, vào thời nông nghiệp còn thô sơ ấy Đế viết: Tư,
Tứ nhạc! Thang thang hồng thủy phương cát Đãng đãng hoài sơn tương lăng Hạo
hạo thao thiên Hạ dân kỳ tư, Hữu năng tỷ nghệ, Thiêm viết: Ô! Cổn lai! Đế viết:
Hu! Phất tai! Phương mạnh dĩ tộc Nhạc viết: Dĩ tai! Thí khả nãi dí, Đế Viết: vãng
khâm tai! Cửu tải, tích dụng phất thành
(帝曰:「咨!四岳,湯湯洪水方割,蕩蕩懷山襄陵,浩浩滔天。下民
其咨,有能俾乂?」僉曰:「於!鯀哉。」帝曰:「吁!咈哉,方命圮族。
」岳曰:「异哉!試可乃已。」帝曰,「往,欽哉!」九載,績用弗成。)
Tuy nhiên, lý tưởng từ hiếu của Khổng Tử “Người ngay thẳng ở chỗ làng
tôi khác vậy Cha giấu tội cho con, con giấu tội cho cha, sự ngay thẳng là ở chỗ
10 Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 30
11 Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 31
Trang 18đó” (Nguyễn, 2021, tr 73) 12 sẽ không thể đáp ứng được ý muốn tạo sức mạnh hùng
bá của kỷ luật chánh trị Ông bị Mao bài xích cũng dễ hiểu Hai tập trung lớn của Khổng là Lễ và Nhân, tuy nhiên chữ Nhân của ông cao hơn (Nguyễn, 2021, tr 187)13 Và Lễ của ông thiên về nội trị hơn là bành trướng ra ngoài như Tuân Tử
Vua nói rằng: Hỡi quan Tứ-nhạc! Nước lên to, tràn khắp nơi, bọc núi lấp gò, mênh mông đến tận chân trời, Dân gian ta thán Ai có tài trị thủy, nhận được trách nhiệm ấy không? Các quan thua rằng: Có thày Cổn Vua nói rằng: Ô! Không được! Thầy ấy tính ngang trái, không theo lệnh bề trên, đối với mọi người lại quả hợp Quan Tử-nhạc thưa rằng: xin cất lên, thử tài xem sao Vua nói rằng: Thầy Cổn thử đi; nhưng nên kính cẩn đấy Chín năm sau, Bá-Cổn làm không nên công trạng gì (Khổng, 1972, trang 37)14
Tại những trang viết này, công việc của nhà cai trị được xưng tụng, đó chính là vua Nghiêu, đã được định cho những hoạt động có ý nghĩa của giới chấp chánh Hình phạt, uy mệnh đến từ Trời, đến từ nhà vua và ban phát khắp chúng dân
Kim dư dĩ nhĩ hữu chúng, phụng tương thiên phạt Nhĩ chúng sĩ đồng lực vương thất, thượng bật dư, khâm thừa thiên - tử, uy lệnh (今予以爾有眾,奉將天
罰。爾眾士同力王室,尚弼予欽承天子威命。)
Tức: Nay, ta cùng các ngươi, kính cẩn thi hành sự hình phạt của trời Các ngươi đông đủ cả binh sĩ cùng giúp sức nhà vua cố giúp ta để kính vâng uy-lệnh của thiên-tử (Khổng, 1972, trang 117)15
Hình phạt truất phế nhà cai trị được ấn định trong thiên Dận Chinh (胤征)
Hỏa viêm Côn-cương, ngọc thạch câu phần Thiên lại dật đức, liệt vu mãnh hỏa Tiêm quyết cừ - khôi hiếp tòng võng trị Cựu nhiễm ô tục hàm, dữ duy tân.(火炎崑岡
,玉石俱焚。天吏逸德,烈于猛火。殲厥渠魁,脅從罔治,舊染污俗,咸與
維 新。)
12
Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 73
13 Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 187
Trang 19Tức: Lửa cháy ở sườn núi Côn sơn, ngọc và đá đều bị thiêu cả Nếu người thay trời cai trị kém lòng nhân đức, giết cả người lương thiện lẫn kẻ tàn ác, thì cái hại tệ hơn đám lửa hồng Ta đây chỉ giết kẻ nào đứng thủ xưởng thôi, còn kẻ a-tòng không nỡ trị tội Kẻ nào nhiễm phải thói xấu đã lâu, đều tha cho về: đề biết hối mà đổi mới Đề giải: Ngọc ví với người hiền; đá vi với người bất hiền, tức là bất tiếu (Khổng, 1972, trang 117)16
Nghiêu Điển răn đe người cầm quyền và nghiêm khắc với thể chế xã hội
chung Ô hô! Uy khắc quyết ái, doãn tế Ai khắc quyết uy, doãn võng công Kỳ nhĩ
chúng sĩ, mậu giới tai
(嗚呼!威克厥愛,允濟;愛克厥威,允罔功。其爾眾士懋戒哉!」) Tức: Than ôi! Về quân sự, uy-nghiêm hơn từ ái thì việc đuợc thành tựu; từ–
ái mà thắng hơn oai-nghiêm, thi không bao giờ thành công Các ngươi, hết thẩy binh sĩ mạnh bạo lên và biết sợ mới được (Khổng, 1972, trang 118) 17
Chủ tịch Tập thiên về pháp trị, song ở một số các bài diễn văn về chỉnh đảng
Công sản, ông có nhắc đến sự tự giác, tự răn mình của các cán bộ lãnh đạo “Chúng
ta phải hoàn thiện cơ chế kiểm tra và giám sát việc thực thi luật pháp, thông qua nối kết quyền lực và trách nhiệm, giám sát quyền lực…”(Tập, 2014, trg 158) 18
Xin mời tham cứu thiên Hồng Phạm (鴻範), những áng văn tạo lập giềng mối của nước Trung Quốc cổ đại “Phạm vi vĩ đại” bao gồm các lệ định cho xã hội
và nền chánh trị nông nghiệp
Sơ nhất viết ngũ hành Thứ nhị viết: kính dụng ngũ sự Thứ tam viết: công dụng bát chánh Thứ tứ viết: hiệp dụng ngũ kỷ Thứ ngũ viết: kiến dụng hoảng cực Thứ lục viết: nghệ dụng tam đức Thứ thất viết: minh dụng kê nghi Thứ bát viết; niệm dụng thứ trưng Thứ cửu viết: hướng dụng ngũ phúc, uy dung lục cực
(初一曰五行,次二曰敬用五事,次三曰農用八政,次四曰協用五紀,次五曰建用皇極,次六曰乂用三德,次七曰明用稽疑,次八曰念用庶徵,次九曰嚮用五福,威用六極。)
16 Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 117
17 Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 118
18 Tập Cận Bình (2014) 习近平 談 治國 理政, Nhà Xuất bản Ngoại văn, Bắc Kinh, trang 158
Trang 20Tức: Trù thứ nhất gọi là ngũ hành Trù thứ hai gọi là: kính dùng năm việc Trù thứ ba là: dùng cho đầy đủ tám điều chánh yếu Trù thứ tư là: dùng đủ năm điều ghi chép đề định mùa màng Trù thứ năm là: dựng lên những mực thước về đạo làm vua Trù thứ sáu là: cai trị dùng ba đức tốt, Trừ: thứ bảy là: sáng suốt dùng những cách để xét kỹ các việc nghi ngờ Trù thứ tám là: xét dùng những việc trưng nghiệm
về thời tiết Trù thứ chín là: hứa trước và dùng năm điều phúc lành, ra oai trước và dùng sáu điều tai vạ rất cực.(Khổng, 1972, trang 220)19
Các giải thuyết về thế giới tuy thô sơ nhưng xác quyết để hướng dẫn cho bách tánh
Nhất ngũ hành, nhất viết thủy, nhị viết hỏa, tam viết mộc, tứ viếm kim, ngũ viết thổ Thủy viết nhuận hạ Hỏa viết viêm thượng Mộc viết khúc trực, Kim viết tòng cách Thổ viết giá sắc Nhuận hạ tác hàm Viên thượng tác khổ Khúc trực tác toan Tòng cách tác tân Giá sắc tác cam (一、五行:一曰水,二曰火,三曰木
,四曰金,五曰土。水曰潤下,火曰炎上,木曰曲直,金曰從革,土爰稼穡
。潤下作鹹,炎上作苦,曲直作酸,從革作辛,稼穡作甘。)
Tức: Trù thứ nhất là Ngũ hành: Một là nước, hai là cửa, ba là các thứ gỗ, bốn
là các loài kim, năm là đất Nói về tính thì nước thấm xuống dưới, lửa bốc lên trên
gỗ có cong có thẳng, đồ kim khí tùy tay người thợ mà đổi hình, đất để cấy lúa và gặt lúa - Nước thấm xuống dưới, mà mặn Lửa bốc lên trên, mùi đắng, gỗ cong hay thẳng, mùi chua Đồ kim khí tùy tay người thợ đổi hình, mùi cay Lúa cấy gặt, mùi ngọt (Khổng, 1972, trang 223)20
Trù thứ hai là gì? Nhị ngũ sự: Nhất viết mạo nhị viết ngôn, tam viết nhị, tứ
viết thính, ngũ viết tư, mạo viết cung, ngôn viết tòng Thị viết minh thính viết thông
Tư viết duệ Cung tác túc Tòng tác nghệ Minh tác triết Thông tác mưu Duệ tác thánh (二、五事:一曰貌,二曰言,三曰視,四曰聽,五曰思。貌曰恭,言
曰從,視曰明,聽曰聰,思曰睿。恭作肅,從作乂,明作哲,聰作謀,睿作) Tức: Trù thứ hai, ngũ sự: Một là dung mạo bề ngoài hai là lời nói, ba là mắt trông, bốn là tai nghe, năm là Dung mạo nên kính cẩn Lời nói theo lẽ phải Mắt trông sáng
Trang 21suốt Tai nghe có ý tứ Trí nghĩ cho thấu lẽ Dung mạo kính cẩn thì nghiêm chánh
Lời nói theo lý thì rõ ràng Mắt sáng thì khôn Tai nghe có ý thì nhiều mưu kế Trí
nghĩ thông thì là bậc thánh nhân (Khổng, 1972, trang 224)21
Trù thứ ba liên quan đời sống quần chúng, bao gồm đủ từ quân sự, nghi lễ,
ngoại giao đến xây dựng cầu đường Tam bát chánh: Nhất viết thực, nhị viết hóa,
tam viết tự, tử viết tư không, ngũ viết tư đồ, lục viết tư khấu, thất viết tân bát viết sư
(三、八政:一曰食,二曰貨,三曰祀,四曰司空,五曰司徒,六曰司寇,七
曰賓,八曰師)
Tức: Trù thứ ba, bát chánh: Một là sự ăn uống của dân, hai là tiền của, ba là
việc tế tự, bốn là việc công chánh, năm là việc giáo dục, sáu là hình luật, bảy là việc
tiếp tân, tám là việc binh bị.(Khổng, 1972, trang 225)22 Những nhu cầu thiết yếu
cho một cộng đồng được nêu từ thấp đến cao không khác gì bậc thang Maslow của
thời hiện đại 2023
Trù thứ tư là ngũ kỷ:
Tứ ngũ kỷ: Nhất viết tuế, nhị viết nguyệt, tam viết nhật, tứ viết tinh thần, ngũ
viết lịch số.( 四 、 五 紀 : 一 曰 歲 , 二 曰 月 , 三 曰 日 , 四 曰 星 辰 , 五 曰 歷
數。) Trù thứ năm là hoàng cực Ngũ hoàng cực – Hoàng kiến kỳ cực hữu Liễm
thời ngũ phúc, dụng phu tích quyết thứ dân Duy thời quyết thứ dân, vu nhữ cực,
tích nhữ bảo cực (五、皇極:皇建其有極。斂時五福,用敷錫厥庶民。惟時厥
庶民于汝極。錫汝保極:)
Trù thứ năm, hoàng cực – làm vua dựng nên mực thước cho dân bắt chước,
thì hưởng được năm phúc lành, dùng để ban khắp cho thứ dân Các thứ dân theo
mực thước của nhà vua, giúp nhà vua giữ mãi được mực thước ấy.23
Ở đây là vai trò, vai vế của người dân trong xã hội nông nghiệp thời ấy
21
Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 224
22
Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 225
23 Khổng Tử san định, Kinh Thư, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục VNCH, Thẩm Quỳnh dịch, 1972, trang 225
Trang 22Phàm quyết thứ dân, vô hữu dâm bằng nhân vô hữu tị đức Duy hoàng tác cực
(凡厥庶民,無有淫朋,人無有比德,惟皇作極。)
Tức: Phàm những kẻ thứ dân không có ai có bè đảng, người tại chức không
ai có tư ý phụ họa với nhau; chỉ có vựa giữ mực thước làm gương cho họ.24
Phàm quyết thứ dân, hữu du, hửu vi, hữu thủ, nhữ tắc niệm chi Bất hiệp vu cực, bất
la vu cữu, hoàng tác thu chi Nhi khang nhi sắc: viết dư du hiếu đức, nhữ tắc tích chi phúc Thời nhân tư kỳ duy hoàng chi cực
(凡厥庶民,有猷有為有守,汝則念之。不協于極,不罹于咎,皇則受之。而康而色,曰:『予攸好德。』汝則錫之福。時人斯其惟皇之極。)
Tức: Phàm các thứ dân, ai có mưu mô, có thi thố, có thao thủ, nhà vua nên nhớ đến họ đừng quên Ai chưa theo đến điều chí thiện, mà không mắc điều tội lỗi, nhà vua cũng nên thu nhận, đừng cự tuyệt người ta Ai có nét mặt hòa vui, thường nói rằng: Tôi vẫn chưa có đức hạnh tốt, thì nhà vua nên lấy tước lộc mà ban cho Như thế, người ấy sẽ chỉ theo mực thước của nhà vua vậy. 25
Ở thiên Hồng Phạm, giai tầng giữa vua và bách tánh (các quan, các bề tôi
chăn dân) được phân định rõ Nhân chi hữu năng, hữu vi, sử tu kỳ hành nhi bang kỳ
xương Phàm quyết chánh nhân, ký phú phương cốc Nhữ phất năng sử hữu hảo vu nhi gia Thời nhân tư kỳ cô Vu kỳ vô hiếu đức; nhữ tuy tích chu phúc, kỳ tác nhữ dụng cữu
(人之有能有為,使羞其行,而邦其昌。凡厥正人,既富方谷,汝弗能
使有好于而家,時人斯其辜。于其無好德,汝雖錫之福,其作汝用 咎。)
Tức: Các người tại chức có tài năng, làm được việc, nên để đức hạnh họ càng tiến lên, thì trong nước được xương thịnh Phàm các quan đứng đắn, nhà đã phú túc mới khuyên họ làm điều thiện được Nếu nhà vua không biết để cho họ được phú túc, hòa hảo trong gia quyến, thì người ấy tất mắc phải tội lỗi ngay Còn những
Trang 23người không ưa có đức tốt, nhà vua lại lấy bổng lộc ban cho, ấy là nhà vua dùng lầm những người thiện, có lỗi đấy. 26
Vô Dật (無逸) là thiên răn dạy từ vua quan đến dân chúng về sự chăm chỉ làm việc
Chu công viết: Ô hô! Quân tử sở kỳ vô dật
Tuy vậy, tại thiên Vô Dật, có thể thấy sự coi nhẹ lớp thấp, ít học, đáng để
giáo dục cho siêng năng hơn Tướng tiểu nhân, quyết phụ mẫu cần lao giá sắc;
quyết tử nãi bất tri giá sắc chi gian nan nãi dật, nãi ngạn, ký đản Phủ tắc vũ quyết phụ mẫu viết: Tích chi nhân vô văn tri (相小人,厥父母勤勞稼穡,厥子乃不知
稼穡之艱難,乃逸乃諺。既誕,否則侮厥父母曰:『昔之人無聞知。』」) Tức: Xem tiểu dân ở chỗ dân gian, có khi cha mẹ cần lao cấy gặt, con lại không biết cấy gặt gian nan, rong chơi, tục tằn, càn rỡ Không thế, lại khinh cả cha mẹ, chê rằng: người xưa không được nghe biết điều gì. 28
Cách nhìn người dân của Khổng giáo ở giai đoạn này được mang theo đến tận ngày nay, ở các nhà cầm quyền Châu Á
Răn đe những người cầm quyền mà không chăm chỉ! Chu công viết: Ô hô!
Ngã văn viết: Tình tại Ân vương Trung tông, nghiêm cung dần úy Thiên mệnh tự
độ Trị dân chi cụ, bất cảm hoang ninh Tứ Trung tông chi hưởng quốc thất thập hữu ngũ niên (周公曰:「嗚呼!我聞曰:昔在殷王中宗,嚴恭寅畏,天命自
Trang 24trời; trị dân, có lòng kính sợ; không dám lười biếng, hoang toàng Cho nên tông ở ngôi 75 năm. 29
Trung-Tương tự, những lời nhắc nhở cho bậc trên ngôi cao phải biết hạn chế xa
hoa, vui thú Kỳ tại cao thông thời, cựu lao vu ngoại viên kỵ tiểu nhân Tác kỳ tức
vị Nãi hoặc Lượng âm, tam niên bất ngôn, ngôn nãi ung bất cảm hoang ninh Gia tĩnh Ân bang, chì vu tiểu đại vô thời hoặc oán Tứ Cao tông chi hưởng quốc, ngũ thập hữu cữu niên
(其在高宗,時舊勞于外,爰暨小人。作其即位,乃或亮陰,三年不言
。其惟不言,言乃雍。不敢荒寧,嘉靖殷邦。至于小大,無時或怨。肆高宗之享國五十年有九年。)
Tức: Ở đời vua Cao tông (Vũ Đinh), trước khó nhọc ở ngoài hương thôn, cùng kẻ tiểu dân cùng làm việc Sau thay vua Tiều Ất lên ngôi Có khi ở nhà Lượng
âm (nơi cư tang vua Tiều Ất) ba năm, không nói đến việc chánh trị trong nước Trong lúc không nói, hễ nói thì hòa nhã, hợp lý, không dám lười biếng, chơi bời Cai trị nước Ân được thịnh vượng; đến cả người nhỏ, người lớn, không lúc nào không oán hận cả Cho nên vua Cao tông ở ngôi được 59 năm Đề giải - Khi vua Cao Tông còn làm thái tử, hoàng phụ là vua Tiều Ất bắt ra ở nơi dân chúng, để biết tình trạng nhà nông. 30
Lần lượt các minh chứng được đưa ra mạnh mẽ Kỳ tại Tổ giáp, bất nghĩa
duy vương Cựu vi tiểu nhân, tác kỳ tức vị, viên tri tiểu nhân chi y Năng bảo huệ vu thứ dân, bất cảm vũ quan quả Tứ Tổ Giáp chì hưởng quốc tam thập hữu tam niên
(其在祖甲,不義惟王,舊為小人。作其即位,爰知小人之依,能保惠于庶 民,不敢侮鰥寡。肆祖甲之享國三十有三年。)
Tức: Vua Tổ Giáp cho ngôi vua là bất nghĩa, trước trốn ra ở nơi thôn dã, cùng với kẻ tiểu dân, sau lên làm vua, biết rõ cách sinh nhai của dân chúng Tính hay săn sóc, làm ơn cho dân chúng, không dám khinh nhờn người góa vợ, kẻ góa chồng Cho nên vua Tổ Giáp ở ngôi được 33 năm Đề giải: Tổ Giáp là em vua Tổ Canh, con thứ vua Cao-Tông Vua Cao-Tông muốn phế Tổ Canh, lập Tổ Giáp lên
Trang 25nối ngôi Tổ Giáp cho là bất nghĩa, trốn ra ở chỗ dân gian Bảy năm sau, Tổ Canh thăng hà, Tổ Giáp mới về lên ngôi thiên tử. 31
Ở thiên Vô Dật, độc giả thấy nhiều khuyến dụ răn đe đến sự ham nhân dật, hưởng thụ của nhà cầm quyền
Tự thời quyết hậu lập vương, sinh dật; sinh tắc dật, bất tri giá sắc chi gian nan, bất văn tiểu nhân chi lao, duy đam lạc chi tong Tự thời quyết hậu, diệc võng hoặc khắc thọ, hoặc thập niên, hoặc thất bát niên, hoặc ngũ lục niên, hoặc tứ tam niên
(自時厥後立王,生則逸,生則逸,不知稼穡之艱難,不聞小人之勞,惟耽樂之從。自時厥後,亦罔或克壽。或十年,或七八年,或五六年,或四三年。」)
Tức: Từ đây về sau, các vua nối ngôi, sống thì vui chơi, Sống thì vui chơi, không biết cấy gặt gian nan, không nghe nói kẻ tiểu dân khó nhọc, chỉ mê về sự vui sướng Rồi sau, cũng không được thọ, hoặc 10 năm, hoặc 7, 8 năm, hoặc 5, 6 năm, hoặc 4, 3 năm. 32
Cùng với sự so sánh với Văn Vương Chu công viết: Ô hô! Quyết diệc duy ngã
Chu Thái vương, Vương quý, khắc tự ức ủy
Trang 26(徽柔懿恭,懷保小民,惠鮮鰥寡。自朝至于日中昃,不遑暇食,用咸和萬民。)
Tức: Mềm mỏng, kính cần, cưu mang các dân chúng, rộng ơn với người góa
vợ, kẻ góa chồng Từ lúc sớm đến trưa, đến chiều, bữa ăn không lúc nào rồi, bụng chỉ muốn cho muôn dân được hòa hợp. 34
Nếu ở Thư Kinh (書經) với các thiên Nghiêu Điển, Hồng Phạm, Dận Chinh
và Vô Dật là các bức tranh giềng mối của sự vận hành xã hội , thì ở Luận Ngữ nơi đây, chúng tôi thấy và luận ra con người nhận thức, tìm hiểu mình, tu dưỡng mình trong các mối quan hệ xung quanh Lời đầu tiên của Luận Ngữ, Khổng Tử khuyên
học để tu dưỡng cá nhân Học từ bạn hữu, “Bằng tự viễn phương”, học từ những tương tác giữa người với người “nhân bất tri nhi bất uấn” (子曰:「學而時習之,
不亦說乎?有朋自遠方來,不亦樂乎?人不知而不慍,不亦君子乎?」)
Tử viết: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất
Khổng Tử cho rằng giềng mối xã hội bắt đầu từ cá nhân, đến gia đình, do vậy ông đề ra mối luân thường từ trong ứng xử với cha mẹ, với tổ tông, luận ra cũng chánh là cộng đồng, đất nước của mỗi con người
有子曰:「其為人也孝弟,而好犯上者,鮮矣;不好犯上,而好作亂者,未之有也。君子務本,本立而道生。孝弟也者,其為仁之本與!」
Hữu tử viết: “Kì vi nhân dã hiếu đễ, nhi hiếu phạm thượng giả, tiển hĩ Bất hiếu phạm thượng, nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu dã Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh Hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dư” (Lý, 2011,trang 33)36
36
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 33
Trang 27Chữ quân tử ở đây chỉ người có trọng trách, có nắm trách nhiệm, vươn lên nắm quyền.Tính ngay thẳng, chánh trực được đề cao và sự giả tạo bị phê phán (子
曰:「巧言令色,鮮矣仁!」 Tử viết: “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ nhân”.37)
Nhìn lại những gì diễn ra trong hiện tình thế giới ngày nay, các chánh khách, chánh đảng dân túy, dân chủ giả hiệu đều mắc phải sự tô vẽ bề ngoài này Sự học và
tu dưỡng đến từ cá nhân, tổ chức và đến các cộng đồng có lẽ lớn hơn
Ông chú ý đến kiểm tra, đôn đốc Trong tổ chức nhà nước, hành chánh, kinh doanh hiện đại, thật sự rất cần các học tập này
曾子曰:「吾日三省吾身: 為人謀而不忠乎?與朋友交而不信乎?傳不習乎?」
Tăng tử viết: “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: Vị nhân mưu nhi bất trung hồ?
Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ? Truyền bất tập hồ?” 39
Cái thực này chẳng phải là điều mà các chánh quyền chống tham nhũng đang hướng đến? Từ Tập Cận Bình đến Nguyễn Phú Trọng đều hướng đến thực chất này
Từ những quy tắc hành xử của cá nhân đến rộng lớn hơn, ông nêu bật việc rèn luyện đức “tín” Có tín thì sẽ có uy
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 33
39 Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 15
Trang 28dân dĩ thời”.40 Và 子曰:「弟子,入則孝,出則弟,謹而信,凡愛眾,而親
仁。行有餘力,則以學文。」Tử viết: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi
tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân; hành hữu dư lực tắc dĩ học văn”.41 ]
Khi chúng tôi đọc những dòng này, thì thấy quả thật Khổng Phu Tử đã nêu cao chữ học ở sự hàm dưỡng của cả xã hội Tuy ông khuyên hãy hiếu để ở đoạn trên nhưng ông chống lại bệnh hình thức ở đoạn này
曾子曰:「慎終,追遠,民德歸厚矣。」Tăng Tử viết: “Thận chung truy viễn, dân đức qui hậu hĩ”.42
Tại đoạn dưới này, Khổng Tử cho thấy do ông chú trọng đến ôn hòa, lương thiện, cung kính, kiệm ước, khiêm nhượng Có thể chính vì vậy mà ông không được các vua thời ấy trọng dụng Trong thời hiện đại, có hai cách trị quốc chủ yếu là chủ nghĩa hiện thực, tức thực dụng đến cùng vì lợi ích của đất nước Và cách thứ hai là chủ nghĩa tự do, tức điều tiết lợi ích đất nước và lợi ích thế giới sao cho phù hợp pháp luật và lẽ công bằng Có lẽ Khổng Tử đã thuộc trường phái thứ hai trong giai đoạn các quốc gia cổ đại cần đến chủ nghĩa thực dụng nhiều hơn
子禽問於子貢曰:「夫子至於是邦也,必聞其政,求之與?抑與之與?」子貢曰:「夫子溫﹑良﹑恭﹑儉﹑讓以得之。夫子之求之也,其諸異乎人之求之與?」
Tử Cầm vấn ư Tử Cống viết: “Phu tử chí ư thị bang dã, tất văn kì chánh, cầu chi dư, ức dữ chi dư” Tử Cống viết: “Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng dĩ đắc chi Phu tử chi cầu chi dã, kì chư dị hồ nhân chi cầu chi dư?” (Lý, 2011,trang 33)43
Ở phần nói về chí hướng người cha, tạm coi như đây là lề lối của gia đình, chúng ta có thể nhận thấy những điều đáng lưu ý trong việc học tập và hàm dưỡng như thế nào?
42 Tăng tử nói: “Thận trọng trong tang lễ cha mẹ, truy niệm và tế tự tổ tiên xa, thì đức của dân sẽ thuần hậu”
43
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 33
Trang 29矣。Tử viết: “Phụ tại, quan kì chí; phụ một, quan kì hành; tam niên vô cải ư phụ
chi đạo, khả vị hiếu hĩ”44
Tác giả dùng chữ đạo Thiết nghĩ “đạo” là chỉ điều tích cực và tốt đẹp, có tốt
đẹp thì con mới nên giữ đúng; hễ ba năm hết tang mà còn giữ được thì tất sẽ giữ được hoài Còn điều chưa hoàn thiện của cha (và gia đình nói chung) thì không thể gọi là đạo được, có thể tu sửa Có lẽ cổ nhân có người hiểu khác: dù cha bình sinh
có làm điều trái đạo thì người con có hiếu sẽ không nỡ sửa đổi ngay, mà đợi hết tang cha đã
Với đoạn bên dưới, cách Khổng Tử đề nghị hậu thế giữ đức có thể nói không khác cách tổ chức một tổ chức quần chúng Tất cả phải có những mức độ lễ nghi và
“hòa” nhất định
有子曰:「禮之用,和為貴。先王之道,斯為美;小大由之。有所不
行,知和而和,不以禮節之,亦不可行也。」Hữu tử viết: “Lễ chi dụng, hòa vi
quí Tiên vương chi đạo tư vi mĩ, tiểu đại do chi Hữu sở bất hành, tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã” (Lý, 2011,trang 23)45
Ý bài này có phần giống “hoà nhi bất lưu” (hoà mà không phóng túng) trong Trung Dung và “Lạc nhi bất dâm”
Đoạn này có những ý nghĩa răn mình
有子曰:「信近於義,言可複也。恭近於禮,遠恥辱也。因不失其親,
亦可宗也。」Hữu tử viết: “Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã Cung cận ư lễ,
viễn sỉ nhục dã Nhân bất thất kì thân, diệc khả tôn dã” (Lý, 2011,trang 24)46
44 Khổng tử nói: “Cha còn thì xét chí hướng của người, cha mất rồi thì xét hành vi của người, ba năm sau mà không thay đổi điều tốt đẹp của cha thì có thể gọi là có hiếu”
45 Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 23
Hữu tử nói: “Công dụng của lễ nghi, quí nhất là điều hoà (cho phù hợp, hoà hợp) Phép trị nước của vua trước do vậy
mà hoàn mĩ, các việc lớn nhỏ đều theo lễ mà làm Tuy nhiên, có điều này vua trước không làm: biết công dụng của lễ là hoà, mà chỉ trọng hoà khí, không dùng lễ để tiết chế (thì sẽ phóng đãng) Đó là việc không nên làm
46Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 24
Hữu tử nói: “Lời ước hẹn phải hợp nghĩa thì mới giữ được Cung kính phải hợp lễ thì mới tránh được nhục Thân cận với người đáng cho mình thân cận (tức người có đức nhân) thì người đó mình có thể tôn kính được (hoặc nương nhờ người
Trang 30Trong giao tiếp, đã hứa phải thành tâm và thực hiện Điều có ý nghĩa là sự báo đáp qua lại giữa hai bên với nhau, bạn bè, vợ chồng, đồng bào trong cùng một quốc gia
Điều hứa hẹn phải hợp nghĩa, không trái đạo Nếu vì cao hứng hay hám lợi
vậy mới có khả năng duy trì một dòng dõi tốt đẹp mai sau (diệc khả tôn giả)
Ở đoạn dưới „‟Thực vô cầu bão, cư vô cầu an” thì không nên hiểu theo nghĩa
từng chữ Khổng Tử muốn nói: nên thận trọng đến sự sửa mình hơn cái ăn cái ở 子曰:「君子食無求飽,居無求安,敏於事而慎於言,就有道而正焉,可謂
好學也已。」Tử viết: “Quân tử, thực vô cầu bảo, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận
ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chánh yên, khả vị hiếu học dã dĩ” (Lý, 2011,trang 25)47
Phần đối đáp giữa Khổng Tử và Tử Cống cho thấy sự ứng dụng có được hay không của việc thực hiện học làm người mà Khổng Tử đã truyền đạt
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 25
Khổng tử nói: “Người quân tử ăn không cầu được đầy đủ, ở không cầu được yên vui, làm việc siêng năng mà thận trọng lời nói, tìm người đạo đức để (thụ giáo) sửa mình; như vậy có thể gọi là người ham học”
Trang 31Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như? Tử viết: “Khả dã;
vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã” Tử Cống viết: “Thi vân: “Như thiết như tha, như trác như ma” - Kì tư chi vị dư?” Tử viết: “Tứ dã, thủy khả dữ ngôn
“Nghèo mà không nịnh, giàu mà không kiêu, hạng người đó ra sao? Khổng
tử đáp: “Điều đó tốt; nhưng chưa bằng nghèo mà vui, giàu mà thích giữ lễ”
Thực chất của việc tu dưỡng ở đây liên quan phát triển bản thân, phát triển
xã hội Một cá nhân đã có đủ kiên nhẫn và tự răn mình sẽ có thể diễn ra ở nhiều cấp
độ Ở cấp độ Khổng Tử nêu thì cái vui và tự tại đã có mặt ở cả hai giới giàu và nghèo trong xã hội
Đoạn cuối trong thiên Học Nhi, Khổng Tử bàn về một định hướng tương lai
cho người học 子曰:「不患人之不己知,患不知人也。」Tử viết: “Bất hoạn
nhân chi bất kỉ tri, hoạn bất tri nhân dã” (Lý, 2011,trang 28) 49
“Lo mình không biết người (Bất hoạn nhân chi bất kỉ tri)” là lo không biết
người nào hiền để theo, người xấu để tránh
Nên so sánh “bất hoạn nhân chi bất kỉ tri” trong bài này với “nhân bất tri nhi
bất uấn” trong phần đầu “Nhưng nếu không ai biết tới mình mà mình không hờn
giận thì chẳng cũng quân tử ư?”
Ở đây là một sự định hướng tương lai ở một phong cách rất Nho Gia và hoàn toàn khác với cách nhập thế của hiện đại ngày nay với phần nào Tây hóa Nếu nói theo một hướng mới tức là đức khiêm tốn đã thành thụ động
Triệu Toàn Thắng trong tạp chí Nghiên Cứu Âu Á đã có nhận định về sự hòa
trộn của các phạm trù Nho Giáo với các hành xử của giới cầm quyền Trung Quốc hiện nay Các trước tác Nho giáo bị phá bỏ và Nho học từng bị coi là học thuyết của
48Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 26
Tử Cống hỏi: “Nghèo mà không nịnh, giàu mà không kiêu, hạng người đó ra sao?
Khổng tử đáp: “Điều đó tốt; nhưng chưa bằng nghèo mà vui, giàu mà thích giữ lễ”
Tử Cống thưa: “Kinh Thi có câu: Như cắt sừng bò, như giũa ngà voi, như đẽo ngọc đẹp, như mài đá quí” Ý nghĩa như vậy chăng?”
Khổng tử khen: “Tứ, như anh mới đáng cho ta giảng Kinh Thi cho Vì bảo cho điều trước mà anh hiểu được điều sau”
49
Lý Minh Tuấn (2011) Tứ Thư Bình Giải-Luận Ngữ- Mạnh Tử- Đại Học- Trung Dung, Nhà Xuất bản Tôn giáo, trang 28
Khổng tử nói: “Đừng lo người không biết mình, chỉ lo mình không biết người”
Trang 32giai cấp bóc lột Ý tưởng hòa hợp được coi là chống lại nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Nhưng Nho giáo đã giành lại được sự ủng hộ của học giới và chánh giới
Trung Quốc cận đại Đề tựa cho sách Confucianism In Human Rights (Nho giáo về
quyền con người)50, De Bary cảm nhận một sự mỉa mai, bởi ngay cả trong những năm 1960 và 1970, chánh phủ vẫn bác bỏ Nho giáo Đây không phải là lần đầu tiên các nhà cầm quyền Trung Quốc sử dụng Nho giáo để thực hiện trật tự xã hội và đạo đức xã hội Khi ngày càng có nhiều mệnh đề Nho Khổng được dẫn ở các phát biểu
và báo cáo, các xử thế Nho giáo thậm chí đã len vào các quy tắc nội bộ của Cộng đảng Đây là một phần của phong trào phục hưng gồm văn hóa và truyền thống nhằm khôi phục bản sắc dân tộc của Trung Quốc.(Triệu, 2021, tr 15)51
Cho rằng sự suy giảm nhận thức về đạo đức đã nghiêm trọng ở Trung Quốc, chánh phủ đưa ra các giải pháp quay về hệ giá trị truyền thống nhằm giải quyết các vấn đề của Trung Quốc và ứng phó với phương Tây Sự phục hưng của Nho giáo một lần nữa kết nối Trung Quốc hiện đại với tiền bối lịch sử, củng cố tính chánh thống của Trung Quốc, nâng cao lòng tự hào dân tộc và thể hiện các giá trị cốt lõi của Trung Quốc trước áp lực ngày càng tăng đối với quá trình phương Tây hóa (Triệu, 2021, tr 15)52
Trang 33tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiện rồi nhân chi sơ tính bản
thiện, đối lập với tư tưởng của Tuân Tử rằng nhân chi sơ tính bản ác Ông cho rằng
"kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị" Ông đem học thuyết của mình đi truyền bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương, Đằng Văn Công, Lương Huệ Vương nhưng không được trọng dụng Sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo
Tử Dư đề xuất tư tưởng người quân tử phải có "Hạo nhiên chánh khí", cần
"Lấy Đức thu phục người khác", "Người nhân từ khắp thiên hạ không có kẻ thù nào".Ông cho rằng bản tính Thiện, Đức của một người là quà tặng của thiên thượng (Trời), và được liên thông với thiên thượng, và nếu một người thủ đức và nỗ lực tu thân, anh ta có thể trở thành người giống như các vị vua Nghiêu, vua Thuấn Mạnh
Tử chỉ ra rằng để trở thành một con người có lý niệm, người đó cần phải giữ được bốn tiêu chuẩn, "lòng trắc ẩn, thuộc về lòng nhân từ; sự hổ thẹn, thuộc về nghĩa khí; tâm khiêm nhường, thuộc về lễ nghi; tâm thị phi, thuộc về trí tuệ" Bốn đặc tính của con người này cùng các hành vi tương ứng của họ trở thành nền tảng tạo thành bốn đức tính của lòng nhân từ, nghĩa khí, lễ nghi, và trí tuệ
Tư tưởng quan trọng Mạnh Tử là Dân bản, tức tư tưởng lấy dân làm gốc Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ
xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản
Mạnh phản bác điều lợi: nếu lấy điều lợi làm mục đích, thì mọi người ai cũng chỉ biết theo đuổi lợi ích của bản thân mình, dòng tộc mình, tất sẽ tạo loạn trong nước Ông cho rằng khắc phục tình trạng đó thì nhà cầm quyền trước phải là tấm gương cho dân chúng noi theo, họ không được lấy lợi ích làm mục tiêu của đường lối đất nước
Mạnh Kha nhấn mạnh rằng, trong chánh trị, muốn thu được thiên hạ, được dân chúng, được lòng dân chỉ có một phương cách là nhà cầm quyền phải thi hành nền chánh trị nhân nghĩa Với nhãn quan sâu sắc của một nhà tư tưởng, Mạnh Tử thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân Sự sống còn, thịnh suy của một chế độ xã hội, của một triều đại đều là do nhân dân quyết định Khi được nhân dân ủng hộ thì nhà nước tồn tại, xã hội ổn định Khi không được nhân dân ủng hộ, sớm hay muộn,
Trang 34tất yếu chế độ ấy cũng sẽ bị lật đổ Do vậy, ông nhắc nhở việc cai trị phải biết dựa vào nhân dân và phát huy sức mạnh của nhân dân
Mạnh Tử cho rằng việc trị nước không khó, vấn đề là ở chỗ không để cho dân khiển trách mình và phải làm thế nào đó cho dân ái mộ, đi theo ủng hộ
Dù Mạnh Tử không hề phủ nhận việc dùng võ lực để khuất phục người khác nhằm đạt mục đích, nhưng ông cho rằng võ lực chỉ có thể khuất phục được những hành vi chống đối, chứ không thể thật sự thu phục nhân tâm Muốn thu phục được nhân tâm, củng cố nền chánh trị bền vững, nhà cầm quyền phải thi hành nhân đức
Trong thời Chiến quốc, Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra khái niệm lương tâm, lương năng, lương tri Theo Tử Dư, nhà vua không chỉ chịu trách nhiệm trước lương tri của mình, mà còn phải chịu trách nhiệm trước dân chúng Vì vậy, vua phải biết tồn tâm, dưỡng tính, phát triển nhân, nghĩa, lễ, trí, tín: “Người quân tử … biết giữ lòng mình” Mạnh luôn chủ trương nhà cầm quyền phải ở chỗ rộng rãi trong thiên hạ (đức nhân) mà dung nạp người, đứng ở chỗ chánh đáng trong thiên hạ (đức lễ), noi theo con đường lớn trong thiên hạ (đức nghĩa); hễ đắc chí thì cùng với dân
mà hành đạo, bất đắc chí thì riêng mình hành đạo
Tử Dư luôn nhấn mạnh, sự tu thân, dưỡng tính của con người, nhất là của nhà cầm quyền là một đòi hỏi, một tiêu chuẩn rất cao Nhà cầm quyền, các “quan chức” phải là bậc đại nhân không ngừng tu thân, sửa mình Để tu thân, sửa mình,
Tử Dư đòi hỏi nhà cầm quyền phải giữ mình, khiêm cung, sinh hoạt tiết kiệm, gia huệ với dân, và thu thuế của dân có chừng mực Đây là một tư tưởng khoan dân rất tiến bộ so với đương thời Theo ông, một trong những phẩm chất quan trọng của nhà cầm quyền là phải dũng cảm đi vào đời sống xã hội, đảm nhận việc nước, việc dân Mặt khác, còn phải tỏ rõ tinh thần trách nhiệm trước dân, dám nhận lỗi trước nhân dân 53
53 Theo http://philosophy.vass.gov.vn/phuong-dong/Tu-tuong-dan-ban-trong-hoc-thuyet-nhan-chinh-cua-Manh-Tu-77.0 đọc 1/2021
Trang 35Thái độ kiên định “ai không giết người thì thống nhất được thiên hạ” và tinh thần tôn Chu của Mạnh Tử đã khiến học thuyết của ông không cầm quyền được và
do vậy không có cơ hội xiển dương quang đại. 54
Nhân đức và hòa ái của Khổng Mạnh được các viện Khổng Tử nhấn mạnh như một phần của công cuộc chinh phục quyến rũ và Sức mạnh mềm của Trung
Quốc hiện đại
“nhân chi sơ tính bản ác” Học thuyết tính ác của Tuân Tử có nghĩa rằng, con người sinh ra vốn dĩ là ác, có được thiện là do quá trình bồi dưỡng, giáo dục mà có .55
Tuân Tử nhận xét: “Nhà nho dùng văn để làm loạn pháp luật còn kẻ du hiệp dùng võ để phạm vào điều cấm” Đến khi phái Pháp gia lên cầm quyền thì Nho gia
và du hiệp đều bị cấm đoán Các thiên của Tuân Tử là Khuyến Học (勸學), Tu Thân(修身), Bất Cẩu(不苟), Vinh Nhục (榮辱), Phi Tướng (非相), Phi Thập Nhị
Tử (非十二子), Trọng Ni (仲尼), Nho Hiệu (儒效), Vương Chế (王制), Phú Quốc(富 國), Vương Bá (王霸), Quân Đạo (君道), Thần Đạo(臣道), Trí Sĩ (致士), Nghị Binh (議兵), Cường Quốc(彊國), Chánh Luận (正論), Lễ Luận (禮論), Nhạc Luận(樂論), Giải Tế (解蔽), Chánh Danh (正名), Tính Ác(性 惡), Quân Tử (君子)
54
Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 67
55 Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 10,11; trang 85-91
Trang 36, Thành Tướng (成相), Phú Thiên(賦篇), Đại Lược (大略), Hựu Tọa (宥坐), Tử Đạo(子道), Pháp Hành (法行), Ai Công (哀公), Nghiêu Vấn(堯問), Tuân Khanh Tân Thư (荀卿新書) (Nguyễn, 2021, tr 10-91)56
Tuân Tử nhận thấy cần có thánh vương biết tận luân (nắm đầy đủ vật lý) và tận chế (nắm đầy đủ pháp chế) thi hành vương chánh thì mới có thể giúp quốc gia,
xã hội toàn diện Để có nghiệp bá thì cần chăm lo thực lực, khéo dùng kẻ sĩ, nghiêm việc thưởng phạt và biết thủ tín đối với dân chúng cũng như đối với nước bạn.57
Ở thiên Nghị Binh, Tuân Tử nhìn thấy sức mạnh quân sự khác với các binh gia thời ấy Phải có thực lực kinh tế và khí giới bén tiện (Nguyễn, 2021, tr 162)58Mạnh Tử vì chủ trương khinh vua, quý dân, nên bị đế quyền Tần Hán nghi kỵ, song Tuân Tử luôn đề cao nhà lãnh đạo.(Nguyễn, 2021, tr 234)59
Đây cũng chính là lý do mà Diêm Học Thông nhấn mạnh trong bài nói
”Quyết định vận mệnh của một quốc gia là do ở nhà lãnh đạo, chứ không do ở chánh thể‟‟(阎学通:制度决定不了大国兴衰,领导力能【演讲精选】) (Yan,
2020, trg 12) 60
Diêm Học Thông tin rằng lý thuyết ổn định quyền của Bá bỏ qua mối quan
hệ giữa bản chất và sự ổn định của hệ thống liên nhà nước Ông nêu Tuân Tử để thấy quyền của Bá có thể mang lại một môi trường ổn định, trong khi các quốc gia dựa vào sức mạnh quân sự sẽ xa lánh các quốc gia khác và thiết lập những kẻ thù tiềm tàng, từ đó mang lại sự bất ổn tiềm tàng cho hệ thống quốc tế (阎认为,当代霸权稳定论忽略了霸权本质与国家间体系稳定性之间的关 系。他引用荀子的实例展示了王权国家如何带来稳定的国际环境,而依靠 军事实力的国家则会
56 Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 10 đến 91
57 Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 10,11; trang 131
58
Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 162
59 Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2021, trang 234
60
Yan Xuetong (2020) The Rise and Fall of Great Powers are determined by Leadership, not by political system
Trang 37使其他国家疏远并树立潜在的敌人,从而给国际体系 带来不稳定的潜在影 响
。) (Uy & Khắc, 2012, tr 140)61
Tiêu đề chương viết của Tuân Tử cũng đã được sửa lại "Vương Chế " từ
"chế độ của Vương " thành "nhân trị", và "Vương Bá" cũng được diễn giải từ "sự bảo vệ của vương và lãnh chúa" thành "Nhân Chánh" 62
Phong cách lãnh đạo thứ ba của Tuân Tử, "Cường", ban đầu được dịch là
"sức mạnh", nhưng nay được sửa đổi thành "Bạo Chánh", có lẽ để làm cho nó trông
dễ chấp nhận hơn Mặc dù những thay đổi ngôn ngữ này là nhỏ và một số người sẽ nghĩ rằng chúng chỉ là sự khác biệt về ngữ nghĩa, nhưng những thay đổi này thực sự
có ý nghĩa vì chúng thay đổi giọng điệu và ấn tượng tổng thể của cuốn sách Ngoài những khác biệt trong bản dịch, Diêm Học Thông cũng giải thích lại một số khái niệm quan trọng thời Tiên Tần để làm cho chúng dễ chấp nhận hơn đối với độc giả phương Tây Ví dụ, Diêm đã đi sâu vào quan điểm của Tuân Tử rằng hệ thống phân cấp là cần thiết cho sự ổn định của hệ thống quốc tế Nhưng ông ngay lập tức phủ nhận mọi khả năng quay trở lại hệ thống triều cống Ông đề xuất không áp dụng hệ thống phân cấp như Tuân Tử đã nói, mà thay thế nó bằng các trách nhiệm khác biệt trong hệ thống quốc tế trong bối cảnh hiện đại Diêm thích sự công bằng hơn là bình đẳng, và ông tin rằng việc phân công trách nhiệm dựa trên quyền lực (nghĩa là các nước lớn hơn hoặc mạnh hơn nên chịu nhiều trách nhiệm hơn các nước nhỏ hơn và yếu hơn) sẽ làm cho thế giới ổn định hơn (Uy & Khắc, 2012, tr 159)63
Bá quyền của thời Xuân Thu Chiến Quốc
63
Uy Liêm, Khắc Lạc Tư, Quyền lực Trung Quốc cổ đại và Tư tưởng Trung Quốc đương đại, 古代中国权力与当代中
国思想, 2012, trang 159
Trang 38Tuy nhiên, Tuân Tử thì tin "Một quốc gia an hay nguy, tốt hay xấu, hoàn toàn phụ thuộc vào người cai trị đất nước, không phải người khác." (Uy Liêm, Khắc Lạc Tư, 2012, tr 141)64
“Nhà Nho quân tử” (Quân tử Nho) coi trọng điều gì một Nho sinh không chỉ cần có chuyên môn, nghiệp vụ mà quan trọng hơn là phải tu tập đức tính bên trong, những đức tính này bao gồm: lấy chánh nghĩa làm nòng cốt, khiêm tốn và đáng tin cậy, biết lễ nghĩa khi đối nhân xử thế Ngoài ra, Tuân Tử còn mô tả Quân tử Nho trong “Nho Hiệu”: nhà Nho coi Pháp làm đầu, lễ nghĩa chánh trực Yêu cầu của Tuân Tử đối với "Quân tử Nho" không chỉ là kế thừa Đạo và chú ý đến việc rèn luyện phẩm hạnh bên trong Vì vậy, để giữ được đạo đức của mình, “dĩ hòa vi quý” thì dù ở trong ngõ hẻm cũng có thể bằng lòng Tuân Tử gọi những "Quân tử Nho”này" là "Đại Nho", và cũng đặc biệt nêu gương hai nhân vật của Khổng giáo,
đó là Khổng Tử và đệ tử của ông là Trọng Cung (Trác, 2014, tr.5)65
Tuân Tử cho rằng Đại Nho có thể vượt qua những ràng buộc của danh vọng
và sự giàu có của thế gian Mặc dù họ không đạt được danh vọng nhân gian vào thời điểm đó, nhưng nhân cách xuất sắc của họ được ngưỡng mộ đời đời (Trác, 2014, tr.7)66
Tuân Tử là một nhân vật quá đặc biệt bởi ông Nho mà phản biện và bổ túc cho Nho, bởi ông mở rộng các vấn đề tâm lý con người, bởi ông theo Nho gia mà đào tạo các học trò khai sáng Pháp gia, và do vậy mà bị bài xích và khai trừ khỏi Nho hàng ngàn năm Ông như một bản lề giữa Nho và Pháp gia, giống Mặc mà khác Mặc ở chỗ dám phản bác và đặt lại hầu như tất cả vấn đề của Nho
Nhà nghiên cứu Yuri Pines đánh giá Tuân Tử là nhân vật quan trọng nhất trong việc hình thành đế chế Trung Quốc về sau (Pines, 2009, tr 82) 67
Trác Tố Quyên, 先秦儒家道德觀對現代問題的啟示, Các khải thị về Đạo đức quan Nho gia thời Tiên Tần lên các vấn
đề hiện tại, Đại học Quốc Lập Trung Hưng, 2014, trang7
67
Yuri Pines, Envisioning eternal empire, University of Hawai'i Press, 2009, trang 82 (Xunzi is certainly the single most
important architect of the imperial political culture.)
Trang 392.2 Học phái quản trị xã hội Trung Quốc cổ đại- Pháp Gia
2.2.1- Quản Di Ngô (管仲, 管子; 725- 645 TCN)
Quản Di Ngô (Quản Trọng), nhà chánh trị và nhà tư tưởng của nước Tề, chủ trương không đánh mà thắng, như Tôn Tử, dùng mưu công, trừng phạt và dùng văn hóa kinh tế để phủ dụ
Quản Trọng đã cải tổ sâu sắc nước Tề Ông tập trung quyền lực và phân chia nước thành nhiều khu vực, mỗi nơi chuyên sâu vào một lĩnh vực kinh doanh riêng Không lấy giai cấp lãnh chúa làm nền tảng như trước đó, ông đánh thuế thẳng các đơn vị làng xã Quản Tử lựa chọn nhân tài theo cách mới và hiệu quả hơn Dưới thời Quản Trọng, nước Tề chuyển từ chế độ quan liêu quý tộc sang chế độ quan liêu chuyên nghiệp Ông tiến hành cải cách kinh tế quan trọng, áp dụng bảng thuế từ trên xuống và dùng sức mạnh nhà nước khuyến khích sản xuất sắt và muối, tạo ra
sự độc quyền của nhà nước trong hai ngành này Thời gian Quản Trọng làm Tướng quốc, nước Tề vươn lên đứng đầu và Tề Hoàn Công (齊桓公) là minh chủ Ngũ Bá a- Tư tưởng căn bản của Quản Trọng thứ nhất là xây dựng thịnh vượng bắt đầu
từ con người, né tránh chiến tranh
Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc;
chung thân chi kế, mạc như thụ nhân Nhất thu nhât hoạch giả, cốc dã Nhất thụ thập hoạch giả, mộc dã Nhất thụ bách hoạch giả, nhân dã Ngã cấu chủng chi, như thần dụng chi Cử sự như thần, duy vương chi môn
(一年之計,莫如樹穀;十年之計,莫如樹木;終身之計,莫如樹人。一樹一穫者,穀也;一樹十穫者,木也;一樹百穫者,人也。我苟種之,如
Mưu bách niên chi kế, chủng bách hoạch chi thụ
Dạy người tốt sẽ có được lợi ích trăm năm, trồng cây tốt sẽ có vụ mùa bội thu cho giai đoạn mười năm.69
68 Đường Kỳ (2004), Trung Quốc Thành ngữ Cố sự Tổng tập, Tập 1, Thời đại Văn nghệ Xuất bản xã, trang 3
69 Chu Thiếu Hoa (2016) Quản Tử mưu lược tung hoành, Nhà Xuấn bản Thanh Hóa, trang 249
Trang 40Dụng nhân cẩu đại ý đắc, bất dĩ tiểu khuyết vi thương (Trụ Hợp 宙
合)70
Điểu phi chuẩn thằng Thử ngôn đại nhân chi nghĩa dã Phù điểu chi phi
dã Tất hoàn sơn tập cốc Bất hoàn sơn tắc khốn Bất tập cốc tắc tử Sơn dữ cốc chi
xứ dã Bất tất chính trực Nhi hoàn sơn tập cốc Khúc tắc khúc hĩ Nhi danh thằng yên Dĩ vi điểu khởi ư bắc Ý nam nhi chí ư nam Khởi ư nam Ý bắc nhi chí ư bắc Cẩu đại ý đắc Bất dĩ tiểu khuyết vi thương Cố thánh nhân mỹ nhi trước chi Thiên
lý chi lộ Bất khả phù dĩ thằng Vạn gia chi đô Bất khả bình dĩ chuẩn Ngôn đại nhân chi hành Bất tất dĩ tiên đế Thường nghĩa lập chi vị hiền Cố vi thượng giả chi luận kỳ hạ dã Bất khả dĩ thất thử thuật dã
「鳥飛准繩」,此言大人之義也。夫鳥之飛也,必還山集谷;不還山則困,不集谷則死。山與谷之處也,不必正直,而還山集谷,曲則曲矣,而名繩焉。以為鳥起于北,意南而至于南。起于南,意北而至于北。苟大意得
,不以小缺為傷。故聖人美而著之,曰:千里之路,不可扶以繩。萬家之都
,不可平以准。言大人之行,不必以先帝,常義立之謂賢。故為上者之論其
Điểu phi chuẩn thằng Tức: Con chim bay về núi đường xa khúc khuỷu, do
vậy không nên câu chấp khi sử dụng tài nguyên con người
Các thuận kỳ tự, các tư kỳ chức (Quân Thần Thượng- 君臣上) 72
Tức: Trên dưới có trật tự thì mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió Ai nấy tự lo tròn việc của chính mình thì trăm họ sẽ an vui
Đối với tư tưởng gia sớm nhất của thời Chiến Quốc, con người là động lực của phát triển Khi Tề Hoàn Công giết công tử Củ, bề tôi Triệu Hốt tự sát còn Quản Trọng giữ mình Tử Lộ hỏi: “Quản Trọng vậy không được coi là người có nhân chăng?” Khổng Tử đáp: “Tề Hoàn Công nhiều lần họp chư hầu,
70 Đường Kỳ (2004), Trung Quốc Thành ngữ Cố sự Tổng tập, Tập 1, Thời đại Văn nghệ Xuất bản xã, trang 4
71
Đường Kỳ (2004), Trung Quốc Thành ngữ Cố sự Tổng tập, Tập 1, Thời đại Văn nghệ Xuất bản xã, trang 6
72 Chu Thiếu Hoa, Quản Tử mưu lược tung hoành, Nhà Xuất bản Thanh Hóa, 2016, trang 269