Về việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến như: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ Nguyễn Thị Thanh – 2013; Nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MƠ
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TỪ 3-4 TUỔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ GIÁO DỤC HÒA NHẬP SUNFLOWER
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
(Chuyên ngành Giáo dục Đặc biệt)
Hà Nội, tháng 5 năm 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MƠ
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TỪ 3-4 TUỔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ GIÁO DỤC HÒA NHẬP SUNFLOWER
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
(Chuyên ngành Giáo dục Đặc biệt)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS ĐÀO THỊ THU THỦY
Hà Nội, tháng 5 năm 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào mà không có trích dẫn Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mơ
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát và thực nghiệm
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian qua, giúp tôi hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2023
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mơ
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 1
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined 5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
7 Cấu trúc nội dung đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUỔI 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ 7
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về các biện pháp phát triển ngôn ngữ 8
1.2 Trẻ rối loạn phổ tự kỷ 9
1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ 9
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non và trẻ rối loạn phổ tự kỷ 11
1.3 Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 17
1.3.1 Khái niệm về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 17
1.3.2 Khả năng ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 18
1.3.3 Mục tiêu phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 18
1.3.4 Nội dung phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 19
1.4 Cơ sở lý luận về biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 21
1.4.1 Khái niệm biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 21
1.4.2 Ưu điểm và hạn chế của một số các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 23
Trang 71.5.1 Về trẻ 23
1.5.2 Về giáo viên 24
1.5.3 Về cha mẹ 24
1.5.4 Về môi trường xung quanh 25
1.6 Con đường phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 26
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 - 4 TUỔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ GIÁO DỤC HÒA NHẬP SUNFLOWER 28
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 28
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 28
2.1.2 Nội dung khảo sát 28
2.1.3 Phương pháp khảo sát 28
2.1.4 Công cụ khảo sát ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 29
2.1.5 Địa bàn và khách thể khảo sát 29
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 31
2.2.1 Đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 31
2.2.2 Đánh giá thực trạng giáo viên phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 33
2.3 Đánh giá chung về thực trạng 49
2.3.1 Khả năng ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 49
2.3.2 Thực trạng giáo viên phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 49
Kết luận chương 2 50
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3-4 TUỔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ GIÁO DỤC HÒA NHẬP SUNFLOWER 51
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 – 4 tuổi 51
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 51
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và cá biệt hóa 51
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 51
Trang 83.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất và liên tục 51
3.2 Các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 - 4 tuổi 52
3.2.1 Biện pháp 1: Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK thông qua tương tác mắt 52
3.2.2 Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK thông qua bắt chước bằng hành động/ lời nói 53
3.2.3 Biện pháp 3: Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK thông qua âm thanh lời nói được nhấn mạnh 54
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp pháp triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 – 4 tuổi 55
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 – 4 tuổi 56
3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 56
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 57
3.4.3 Một số ý kiến bình luận về 02 trường hợp 63
Kết luận chương 3 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 65
2.1 Về trung tâm 65
2.2 Về giáo viên 66
2.3 Về phụ huynh 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤC LỤC 69
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Cơ cấu độ tuổi giáo viên 30
Bảng 2 2 Trình độ học vấn của giáo viên 30
Bảng 2 3 Kinh nghiệm can thiệp trẻ RLPTK của giáo viên 31
Bảng 2 4 Kết quả đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK 32
Bảng 3 1 Kết quả đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận trước khảo nghiệm của H.M
58
Bảng 3 2 Mục tiêu phát triển ngôn ngữ của H.M 58
Bảng 3 3 Kết quả đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận trước khảo nghiệm của C.H 61
Bảng 3 4 Mục tiêu phát triển ngôn ngữ của C.H 61
Trang 10Biểu đồ 3 1 Kết quả khảo nghiệm của H.M 59 Biểu đồ 3 2 Kết quả khảo nghiệm của C.H 62
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rối loạn phổ tự kỷ( RLPTK) được coi là một dạng rối loạn lan tỏa phức tạp
và phải mất rất nhiều thời gian can thiệp với các liệu pháp khác nhau mới có thể làm giảm được những khó khăn mắc phải ở trẻ
Khi nói đến sự phát triển các lĩnh vực của trẻ RLPTK, chúng ta cần nghĩ đến một trong những vấn đề đáng lo ngại ở trẻ là khả năng tiếp nhận ngôn ngữ, đây có thể coi là một khó khăn của đa số trẻ RLPTK Điều này đã gây cản trở cho trẻ trong việc phát triển ngôn ngữ - giao tiếp, cũng như là kéo theo các lĩnh vực khác
Trên thực tế, số lượng các cơ sở giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập cho trẻ có RLPTK không ngừng gia tăng tại các tỉnh thành Tuy nhiên, tại rất nhiều cơ sở chưa đảm bảo các điều kiện cả về chuyên môn và cơ sở vật chất để can thiệp, hỗ trợ trẻ đạt hiệu quả Tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower cũng không tránh khỏi những khó khăn vì trung tâm còn khá mới Không ít trường hợp trẻ RLPTK chức năng cao( hội chứng Asperger) hay tự kỷ mức trung bình hoặc các trường hợp khác thì các trẻ đều gặp vấn đề về ngôn ngữ tiếp nhận với những mức độ hiểu khác nhau
Ở tại thời điểm này, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Sunflower có những thuận lợi để phát triển và cũng có khó khăn cần khắc phục ở các giáo viên Về mặt thuận lợi, mỗi giáo viên đều nhận được sự đào tạo và chỉ dạy nhiệt tình từ người quản lý hoặc học hỏi được từ chính những giáo viên khác; ngoài ra, còn có phòng học, thiết bị và đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ đã góp phần quan trọng trong quá trình giảng dạy Tuy nhiên, mỗi giáo viên vẫn gặp phải những khó khăn riêng: từ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn và mức
độ yêu thương, có thể chưa đủ rộng và sâu
Về việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến như: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ( Nguyễn Thị Thanh – 2013); Nghiên cứu phương pháp phát triển kĩ năng đọc hiểu cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ ( Nguyễn Nữ Tâm An – 2012); nhưng các nghiên cứu
Trang 12đó chưa đủ rõ ràng và có thể khắc phục hiệu quả với những khó khăn của trẻ tại trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Sunflower
Trong lĩnh vực chăm sóc và giáo dục trẻ RLPTK ở mỗi giai đoạn lứa tuổi đều có những nét đặc trưng Giai đoạn từ 3 – 4 tuổi là mốc quan trọng để thấy rõ biểu hiện của trẻ Đây là thời điểm quan trọng để nhà giáo dục đưa ra những biện pháp tác động nhằm hình thành, phát triển ngôn ngữ chung và riêng về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ, giúp trẻ khắc phục và sửa chữa những khiếm khuyết ngôn ngữ
- giao tiếp để hòa nhập cộng đồng
Từ những lý do trên, vấn đề “Biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ 3- 4 tuổi tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower” được chọn làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sự phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower để đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển ngôn ngữ tiếp nhận
3.2 Đối tượng của giáo viên với trẻ trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy
học ở trung tâm Tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ, làm cơ sở thực tiễn cho các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 - 4 tuổi
Các biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3 - 4 tuổi và tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả
giáo dục của các biện pháp
Trang 13Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng phối hợp một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá
lý thuyết nhằm:
Thu thập, xử lý, chọn lọc và khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản, những kết quả nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về trẻ RLPTK, phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ
Xây dựng các khái niệm công cụ cốt lõi của đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và cán bộ quản lý trẻ RLPTK nhằm tìm hiểu thực trạng các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK trong lớp học ở địa bàn nghiên cứu làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm
Phỏng vấn sâu với giáo viên can thiệp trực tiếp cho trẻ để làm rõ hơn các nội dung thu thập được từ phiếu hỏi
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK 3- 4 tuổi để kiểm nghiệm tính khoa học và khẳng định tính khả thi của biện pháp đã đề xuất
Trang 146.2.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực tâm lý, giáo dục đặc biệt về các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
6.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu trên 02 trường hợp điển hình nhằm kiểm định kết quả của các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK đã được đề xuất
6.3 Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và kiểm định các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
7 Cấu trúc nội dung đề tài
Mở đầu:
Chương 1: Cơ sở lý luận phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ
tự kỷ 3-4 tuổi
Chương 2: Cơ sở thực tiễn phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn
phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower
Chương 3: Biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự
kỷ 3-4 tuổi tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower
Trang 15CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUỔI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, số lượng trẻ RLPTK ngày càng được phát hiện nhiều tại các nơi khác nhau từ thành phố đến nông thôn Hiện nay, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các vấn của trẻ tự kỷ
Sau đây chúng tôi xin tổng hợp một số nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK từ nguồn tài liệu các nước trên thế giới Những nghiên cứu
về vấn đề này rất đa dạng và được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Theo Hojjati & Khalilkhaneh, 2014 cho rằng ngôn ngữ tiếp nhận bao gồm nhiều kỹ năng được liên kết chặt chẽ Nếu bất kỳ kỹ năng nào yếu hoặc chậm phát triển, điều này sẽ làm giảm kỹ năng ngôn ngữ tổng thể của trẻ hoặc tốc độ phát triển kỹ năng hiểu
Theo Jean Marc Itard (1774 – 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã”
tên là Victor Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu, bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức như trẻ cùng độ tuổi Ngày nay, người ta cho rằng Victor chính là trẻ tự kỷ [10]
Năm 1944, một bác sỹ tâm thần người Áo là Han Asperger (1906 – 1980)
sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai mà ông làm việc Mô tả của ông như sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thường, tuy nhiên trong việc hiểu, diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng đại
từ nhân xưng [10]
Tiếp theo là về nghiên cứu trẻ RLPTK nói chung và việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ nói riêng ở Việt Nam, hầu như mới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX
Đề tài luận văn “Kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ” của tác giả Nguyễn
Phương Thảo, năm 2015 đã nghiên cứu lý luận, thực trạng, mức độ giao tiếp và
Trang 16các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tâm lí giáo dục nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ [9]
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về các biện pháp phát triển ngôn ngữ
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu cách phát hiện, chẩn đoán trẻ tự kỷ, phương pháp dạy kỹ năng giao tiếp trẻ tự kỷ và chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ
tự kỷ
Andrew Bandy (nhà tâm lý Nhi) và Lori Frost (nhà âm ngữ trị liệu) nghiên cứu phương pháp PECS( Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh ảnh) ứng dụng vào can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ Tác giả sử dụng một loạt chiến lược để giúp trẻ có được các kĩ năng giao tiếp
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè
Tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, từ đó giúp trẻ hiểu được bản thân trẻ(tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh
Ở nước ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước
có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã được in ấn, công bố, xuất bản và áp dụng trong chăm sóc, giáo dục, can thiệp cho trẻ em, sinh viên, giáo viên, phụ huynh
Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài “Xây dựng bài tập phát triển
giao tiếp tổng thể cho trẻ tự kỷ tuổi mầm non” Đề tài đã thiết kế 20 bài tập phát
triển giao tiếp cho trẻ tự kỷ 24 – 36 tháng dành cho phụ huynh [8]
Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương trong công trình “Một số biện pháp
giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi”, trong đó giao tiếp được
Trang 17khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn [10]
Từ kết quả các nghiên cứu được dẫn ra đã giúp khẳng định được một số vấn đề sau:
Yếu tố quan trọng hỗ trợ để phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
là tập trung lắng nghe, vốn từ và môi trường
Ngôn ngữ tiếp nhận là công cụ quan trọng giúp cho trẻ nắm được kiến thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người
Muốn giúp cho trẻ có ngôn ngữ tiếp nhận tốt, cần có biện pháp tác động phù hợp
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận nhưng chưa đủ Do đó, nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK là một yêu cầu khách quan
và cần thiết Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK nhằm khắc phục được những khó khăn của trẻ về khả năng tiếp thu, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ RLPTK
1.2 Trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ
Theo tiêu chí chẩn đoán tự kỷ theo DSM V [3] như sau:
Một cá nhân được chẩn đoán RLPTK khi đủ các tiêu chí A, B, C và D
A Khiếm khuyết trầm trọng về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều hoàn cảnh, không được giải thích bởi sự trì hoãn phát triển thông thường, và biểu hiện ở cả 3 dấu hiệu sau:
1 Khiếm khuyết về sự trao đổi cảm xúc – xã hội; ranh giới từ cách tiếp cận xã hội không bình thường và thiếu khả năng thực hiện hội thoại thông thường do giảm sự chia sẻ, quan tâm, cảm xúc và phản ứng tới sự thiếu hụt hoàn toàn về khả năng bắt chước tương tác xã hội
Trang 182 Khiếm khuyết về hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tương tác
xã hội; ranh giới từ sự hạn chế về khả năng phối hợp giao tiếp có lời và không lời do sự khác thường trong tương tác mắt và ngôn ngữ cơ thể, hoặc thiếu hụt trong việc hiểu và sử dụng giao tiếp có lời, tới sự thiếu hụt hoàn toàn về thể hiện nét mặt và cử chỉ
3 Khiếm khuyết về khả năng phát triển và duy trì quan hệ phù hợp với mức độ phát triển (ngoại trừ người chăm sóc); ranh giới từ khó khăn trong điều chỉnh hành vi để đáp ứng phù hợp với bối cảnh xã hội do khó khăn trong tham gia chơi giả vờ và trong việc kết bạn tới thể hiện sự quan tâm đến sự có mặt của người khác
B Sự giới hạn, rập khuôn về hành vi, sở thích và hoạt động, thể hiện tối thiểu ở
2 biểu hiện sau:
1 Rập khuôn và lặp đi lặp lại lời nói, cử động hoặc hoạt động với đồ vật (như lặp đi lặp lại những cử động đơn giản, nhại lời, lặp đi lặp lại hành động với đồ vật, hoặc cách thể hiện đặc trưng)
2 Duy trì thói quen một cách thái quá, hành vi có lời và không lời theo khuôn mẫu hoặc chống lại sự thay đổi (như cử động theo một nghi thức khuôn mẫu, khăng khăng với lộ trình hoặc thức ăn, lặp đi lặp lại câu hỏi hoặc căng thẳng dữ dội khi có thay đổi nhỏ)
3 Thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ với một số thứ với cảm xúc và sự tập trung cao (như gắn bó một cách mạnh mẽ hoặc bận tâm dai dẳng bởi những đồ vật khác thường, sở thích hạn hẹp và duy trì một cách thái quá)
4 Phản ứng cảm giác đầu vào trên hoặc dưới ngưỡng hoặc quan tâm đến một kích thích từ môi trường ở mức không bình thường (như thờ ơ với cảm giác đau/nóng/lạnh, phản ứng ngược lại với âm thanh và chất liệu cụ thể, nhạy cảm quá mức khi ngửi hoặc sờ vào đồ vật, mê mẩn với ánh đèn hoặc vật quay tròn)
C Những dấu hiệu trên phải được biểu hiện từ khi còn nhỏ (nhưng có thể không thể hiện hoàn toàn rõ nét cho tới khi vượt quá giới hạn)
D Những dấu hiệu phải cùng hạn chế và làm suy giảm chức năng hàng ngày
Trang 19Nhìn chung, Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển, xuất hiện
ngay từ những năm đầu đời, thường là trước 3 tuổi Đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp lại Do vậy, sự phát triển mọi mặt về tâm lý và xã hội đều hạn chế
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non và trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.2.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non trong giai đoạn 3 - 4 tuổi
Giai đoạn 3 - 4 tuổi, trẻ bắt đầu sang lứa tuổi mẫu giáo là khoảng thời gian khá bận rộn với mọi trẻ Dù trẻ đến trường hay ở nhà, sẽ đều có những đặc điểm tâm sinh lý rất đặc trưng của độ tuổi này
Đây cũng là giai đoạn đáng lưu ý trong quá trình phát triển của trẻ, trở thành nền tảng quan trọng, làm tiền đề cho sự phát triển tư duy sau này Đặc điểm tâm sinh lý trẻ 3-4 tuổi có những nét đặc trưng cơ bản như sau:
Khả năng tư duy và suy nghĩ
Trẻ 3-4 tuổi đang ở thời kỳ mà não bộ hoạt động cực mạnh Trẻ thích hỏi han rất nhiều, có thể suy nghĩ và đặt ra nhiều loại câu hỏi cho nhiều vấn đề khác nhau Trẻ bắt đầu thể hiện hoặc đưa ra các ý kiến riêng của bản thân, học hỏi rất nhanh và có thể tập trung vào một công việc hay trò chơi nào đó rất cao độ [10]
Ở giai đoạn này, trẻ cũng bắt đầu có nhận diện về thế giới xung quanh của mình một cách rõ ràng hơn, với sự phức tạp hiện hữu và mối tương quan giữa nhiều sự việc, sự vật Trong trẻ bắt đầu hình thành những sự "liên tưởng" rất thú
vị Và cũng bắt đầu nắm được các khái niệm, suy luận [10]
Khả năng ngôn ngữ
Vốn từ của trẻ đã tăng lên nhiều, trở thành công cụ hữu ích cho trẻ để trẻ hỏi, suy nghĩ và đưa ra các lý lẽ Trẻ có thể một vấn đề nào đó khá cụ thể, chi tiết hơn nhờ vốn từ vựng phong phú của mình so với giai đoạn trước [10]
Cảm xúc
3-4 tuổi là một khoảng thời gian ở trẻ có sự thay đổi về mặt cảm xúc Không chỉ dừng ở "sự tinh tế" về việc nắm bắt cảm xúc của những người xung quanh, trẻ còn bộc lộ rất rõ nét các cảm xúc của bản thân từ giận hờn, ganh tị, sợ hãi, cảnh giác cao độ lẫn vẻ đăm chiêu hoặc hài lòng tự mãn như người lớn vậy [10]
Trang 20Khủng hoảng tâm lý trẻ 3-4 tuổi
Khủng hoảng tâm lý tuổi lên 3 cũng là một phần quan trọng trong đặc điểm tâm lý trẻ 3-4 tuổi mà chúng ta không thể bỏ qua Khác với khủng hoảng tuổi lên
2 trẻ thường giận dữ, hoặc "mè nheo", khủng hoảng tuổi lên 3-4 lại có đặc trưng khá khác Trẻ có vẻ "đằm" hơn ở các tình huống lý ra có thể thành giận dữ Nhưng
sự "đằm" này đi cùng yếu tố bướng bỉnh và rất khó bảo [10]
Cá tính và tính cách
Trẻ thể hiện cái tôi một cách vô cùng rõ ràng, khẳng định bảo vệ ý kiến của mình trước một sự việc nào đó Cá tính thể hiện trong việc con ăn uống, chơi đùa Trẻ chọn những gì mình thích ăn và chơi những món đồ chơi và trò chơi mình thực sự thích Trẻ cũng có khuynh hướng mạnh mẽ trong việc xử lý những việc
cá nhân và thích tự mình làm lấy hơn là để người lớn làm hộ [10]
Giao tiếp xã hội
Về vấn đề giao tiếp xã hội, sự phát triển về tư duy, ngôn ngữ và cảm xúc kéo theo những thay đổi nhất định trong giao tiếp xã hội ở trẻ 3-4 tuổi Trẻ thích giao tiếp với những người xung quanh, thích chơi cùng bạn bè, có khuynh hướng chia sẻ, quan tâm đến người khác nhiều hơn trước [10]
1.2.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Hình dáng cơ thể
Trẻ RLPTK có bề ngoài như trẻ không RLPTK, các công bố từ trước tới nay chưa có nghiên cứu nào nói đến sự khác thường về thể trạng bề ngoài Theo mô tả của Kanner, trẻ có bề ngoài khôi ngô, đồng thời về cơ bản cũng không có sự bất thường
về giải phẫu trong các bộ phận bên trong cơ thể [10]
Cảm giác
Ngưỡng cảm giác của trẻ RLPTK khác nhau Có một số trẻ có cảm giác dưới ngưỡng( đánh, cấu, đập đầu vào tường không biết đau, ), một số trẻ có cảm giác trên ngưỡng( không muốn ai chạm vào cơ thể, không dám đi trên thảm gai) Một số trẻ quá nhạy cảm với sự kích thích có thể phản ứng mạnh mẽ với kết cấu,
âm thanh to ồn, hoặc với vị và mùi khác lạ…Do đó trong trị liệu người ta cũng
Trang 21quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay còn gọi là điều hòa cảm giác cho trẻ [10]
Tư duy, tưởng tượng
Trẻ RLPTK cũng gặp những khó khăn nhất định trong tưởng tượng Theo
Võ Nguyễn Tinh Vân (2006), trẻ có một số vấn đề về nhận thức như: không nhận biết được những tình huống vui đùa, giả vờ, chơi tưởng tượng, chơi đóng vai, trẻ gặp khó khăn khi thực hiện vai chơi trong các trò chơi tưởng tượng Trẻ tự kỷ rất khó nhìn nhận được ý nghĩa của các sự việc đã trải nghiệm hoặc ít có khả năng rút kinh nghiệm [10]
Trong cuộc sống hằng ngày trẻ gặp khó khăn trong kết hợp các loại thông tin từ những sự kiện nhớ lại và từ những sự kiện hiện tại Theo sự đánh giá của hầu hết những nhà nghiên cứu về tự kỷ, trí nhớ của trẻ rất tốt và sâu sắc, nhưng
độ liên kết giữa các ký ức trong trí nhớ lại rất rời rạc, không bền vững Do đó trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm [10]
Trẻ la hét, giận dữ Có những sở thích, thói quen kỳ lạ không đúng với những chuẩn mực xã hội thông thường Người lớn thấy vậy thường ngăn chặn những sở thích, thói quen bất thường Khi đó trẻ rất khó chịu và có những hành
vi nổi cáu, gây hấn Đồng thời do trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ, không biểu đạt được những ý nghĩ của mình ra ngoài nên người lớn không hiểu trẻ và không làm theo ý muốn của trẻ [10]
Trẻ có hành vi rập khuôn, định hình Theo Kanner, hành vi định hình là biểu hiện điển hình của trẻ Tự kỷ, trẻ có những hành vi rập khuôn, lặp đi lặp lại;
Trang 22thích đi đi lại lại trong phòng, thích xếp các đồ vật thành hàng thẳng; vặn, xoay các ngón tay và bàn tay; nói đi nói lại một vài từ không đúng ngữ cảnh; thích đến những nơi quen thuộc; thích chạy lăng xăng và quay tròn; thích xoay tròn đồ vật; thích chơi các đồ chơi phát ra tiếng động, Những trẻ khác nhau, sở thích về các hành vi rập khuôn, định hình khác nhau [10]
Trẻ thường không thích sự thay đổi Muốn tất cả mọi điều phải quen thuộc, gần gũi, trẻ rất ghét sự thay đổi, xáo trộn: từ những đồ dùng cá nhân, đồ dùng học tập cho đến nơi sinh hoạt hằng ngày Đối với trẻ tự kỷ, sự không quen thuộc đồng nghĩa với sự thiếu an toàn, trẻ sẽ cảm thấy bất an khi có một người lạ, đồ vật lạ hay đến một nơi xa lạ Do đó, việc báo trước cho trẻ chuẩn bị tư tưởng để đón nhận những điều mới lạ là một việc hết sức quan trọng [10]
Ngoài ra, trẻ RLPTK có những hành vi bất thường khác, xuất hiện rối loạn tăng động - giảm chú ý (ADHD), rối loạn lo âu, Những trẻ bị mắc tự kỷ cũng
có thể biểu hiện những hành vi phá phách, tự hành hạ bản thân hay tấn công những người khác [10]
Tập trung- chú ý
Sự tập trung chú ý của trẻ RLPTK chưa cao, phân tán chú ý nhanh Khi thực hiện nhiệm vụ, trẻ chỉ tập trung chú ý được trong một thời gian ngắn, trẻ khó tập trung cao vào các chi tiết, kém bền vững, luôn bị phân tán bởi những tác động bên ngoài Trẻ khó khăn trong việc tuân thủ theo các chỉ dẫn của người lớn đưa
ra, đặc biệt khi tham gia các trò chơi lần lượt và luân phiên, trẻ khó kiên nhẫn đợi đến lợt mình và khó kiềm chế phản ứng [10]
Tính tập trung kém để lại một kết quả không tốt là khi trẻ thực hiện một nhiệm vụ kết quả không cao Ngược lại đối với những gì mà trẻ thích thì trẻ tập trung chú ý rất tốt nhưng đôi khi trẻ lại quan tâm quá nhiều đến sự vật đó Ngoài
ra, trẻ có hành vi gây sự chú ý với người khác, nhằm kéo sự tập trung vào mình hoặc chiếm lĩnh sự quan tâm của người khác đối với bản thân mình bằng những hành động bất thường như khóc, hét, ăn vạ, đập đầu vào tường, tự hành hạ bản thân mình [10]
Cảm xúc
Trang 23Trẻ RLPTK gặp phải trở ngại trong tiến trình kết nối làm bạn với những trẻ khác Trẻ thường mất nhiều thời gian để hiểu được cảm giác của người khác, thể hiện cảm xúc, tạo gắn bó với các cá nhân hoặc bộc lộ sự quan tâm đến người khác
Ngưỡng cảm xúc của trẻ có ranh giới không rõ ràng giữa chuyện buồn,
chuyện vui và dễ thay đổi đột ngột [10]
Giao tiếp - tương tác xã hội
Khả năng tương tác xã hội của trẻ còn hạn chế Điều này làm giảm khả năng giao tiếp của trẻ rất nhiều vì môi trường xã hội là môi trường quan trọng để phát triển các kĩ năng Trẻ ghét, không thích làm theo ý người khác và thường chống đối một cách quyết liệt Trẻ luôn muốn mọi ý thích của mình được đáp ứng ngay lập tức Vì vậy, sự tương tác của trẻ chỉ mang tính yêu cầu chứ không phải là nhằm để bày tỏ cảm xúc hay chia sẻ kinh nghiệm [10]
Trong giao tiếp thông thường hằng ngày, trẻ không quan tâm đến lời nói của đối tượng giao tiếp Trẻ không hề có phản ứng khi gọi tên mình, không quan tâm đến mọi người xung quanh, không làm theo những hướng dẫn của người khác mặc dù trẻ nghe được bình thường Ngoài ra, tư duy ngôn ngữ của trẻ cũng gặp khó khăn như trẻ chỉ hiểu ngôn ngữ mệnh lệnh ngắn gọn, rõ ràng [10]
Mức độ phát triển khả năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp của trẻ rất đa dạng Một số trẻ hiểu ngôn ngữ không lời một cách dễ dàng còn nghe hiểu ngôn ngữ nói lại gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, trong quá trình giao tiếp với trẻ thuộc đối tượng này cần sử dụng ngôn ngữ giao tiếp tổng thể (lời nói kèm theo cử chỉ, ánh mắt, nét mặt) Trong quá trình nghe hiểu thì quá trình xử lý tín hiệu giao tiếp hay xử lý thông tin của trẻ tự kỷ chậm chạp Nghe một lúc trẻ mới hiểu và thực hiện mệnh lệnh theo yêu cầu Bên cạnh đó, trong quá trình nghe hiểu lời nói trong giao tiếp, trẻ còn gặp khó khăn khi đối tượng giao tiếp nói quá nhanh, dùng nhiều những từ lạ, phức tạp Trẻ hiểu những nội dung giao tiếp quen thuộc còn những
gì xa lạ thì trẻ gặp khó khăn [10]
Vốn từ của trẻ nghèo nàn, đơn điệu, cấu trúc ngữ pháp thường bị sai nên đó cũng là nguyên nhân trẻ gặp khó khăn trong nghe hiểu câu nói phức tạp chứa nhiều thông tin Trong quá trình nghe hiểu nội dung giao tiếp, trẻ có tài liệu trực
Trang 24quan, có những hình ảnh minh hoạ thì trẻ có thể dễ dàng hiểu và tư duy, giúp cho quá trình giao tiếp tốt hơn, vì khả năng chụp hình của trẻ tự kỷ rất tốt Trẻ không hiểu được những từ trừu tượng, cách nói ẩn dụ, so sánh, ví von, bóng gió Những
gì trẻ biết được, hiểu được đều cần phải có hình ảnh trực quan Chính vì thế trẻ hạn chế trong nghe hiểu lời nói liên quan đến tư duy trừu tượng và tư duy lôgic [10]
Đa số trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc nghe hiểu lời nói, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới ngôn ngữ diễn đạt và sự phát triển nhận thức của trẻ Tất cả những điều trên là một lỗ hổng sâu hoắm tồn tại trong não bộ của trẻ, cha mẹ và giáo viên cùng những người tham gia chăm sóc, giáo dục trẻ cần tìm cách lấp dần
lỗ hổng ấy và dạy cho trẻ biết đồng cảm, chia sẻ, giao tiếp với mọi người xung quanh [10]
Sự khiếm khuyết trong khả năng diễn đạt, sử dụng lời nói trong giao tiếp ở trẻ rất phổ biến và thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Phần lớn mốc phát triển ngôn ngữ nói của trẻ đều chậm hơn so với trẻ cùng độ tuổi Một số trẻ có giọng nói đều đều, không biết biểu cảm qua giọng nói, không biết nói thầm, thích độc thoại, không biết hình thành và duy trì cuộc đối thoại Khi trẻ biết nói thì giọng nói của trẻ không được tự nhiên Một số trẻ có giọng cao, không biết thể hiện trầm bổng Trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ biểu cảm, thể hiện cảm xúc giao tiếp ở trẻ bị hạn chế Ranh giới giữa niềm vui và nỗi buồn ở trẻ rất khó phân biệt, khó có thể nhìn thấy hình ảnh thể hiện trên khuôn mặt của trẻ thể hiện niềm vui, hạnh phúc khi cho hoặc tặng cho trẻ một món quà mà trẻ thích [10]
Trí tuệ
Đặc điểm trí tuệ của trẻ rất đa dạng Một số trẻ nặng, sẽ có thoái lùi phát triển Rối loạn này có đặc trưng khởi phát muộn (từ 2 – 10 tuổi) và có biểu hiện như: chậm phát triển ngôn ngữ, chức năng xã hội kém, kiểm soát đại tiểu tiện, kĩ năng vận động kém Chỉ số phát triển trí tuệ của trẻ rất thấp, sự thoái lui ở trẻ xảy
ra rất đột ngột, sự phát triển của trẻ đang phát triển rất tốt sau đó mất đi, thậm chí không biết gì nữa [10]
Trang 25Một số trẻ khác rất thông minh hay còn gọi là tự kỷ chức năng cao (Hội chứng Asperger), trẻ có khả năng vẽ đẹp, đánh đàn giỏi hoặc có một bộ nhớ tuyệt vời, chỉ số phát triển trí tuệ rất cao nhưng có một số khó khăn như giao tiếp bằng mắt, tương tác xã hội, thiếu sự trao đổi qua lại về mặt tình cảm; một số trẻ có biểu hiện vận động lặp đi lặp lại mang tính rập khuôn Trẻ nếu được phát hiện sớm, can thiệp sớm thì có khả năng để phát triển trí tuệ, trẻ có thể có ngôn ngữ, học được kiến thức văn hóa, hòa nhập với mọi người trong cộng đồng [10]
Nhìn chung, trẻ tự kỷ có những đặc điểm riêng về chú ý, trí tuệ, ngôn ngữ, hành vi, cảm giác, tương tác xã hội, giao tiếp…và sẽ có mặt tích cực cũng như mặt hạn chế ở các đặc điểm của trẻ
1.3 Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.3.1 Khái niệm về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Trên thực tế, sẽ có những quan điểm và nhận định khác nhau về ngôn ngữ
và ngôn ngữ tiếp nhận Mỗi tác giả khai thác khái niệm ngôn ngữ dưới góc độ khác nhau Tuy nhiên thông qua những định nghĩa, các tác giả đều đã nêu ra những dấu hiệu cơ bản của ngôn ngữ Đó là:
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu về từ ngữ và âm thanh, là một hiện tượng xã
hội lịch sử hình thành thông qua các hoạt động và lao động của con người Là công cụ tư duy của con người và ngôn ngữ có ý nghĩa khi được thực hiện chức năng trong giao tiếp Ngôn ngữ có một số hình thức như có lời, không lời và thay thế
Ngôn ngữ tiếp nhận là quá trình nhận thức ngôn ngữ - nghe và hiểu nội dung
giao tiếp bằng cách: Não chuyển dịch các tín hiệu âm thanh thành ý nghĩa Chúng có liên quan đến khả năng chú ý và lắng nghe đến vấn đề đang nói, tốc độ xử lý thông điệp và giữ sự chú ý tập trung vào thông điệp, khả năng hiểu ý nghĩa thông điệp được truyền đến (nghĩa đen, nghĩa ẩn dụ, nghĩa hẹp, nghĩa rộng), ghi nhớ thông điệp và liên kết với dữ liệu trước đó để mở rộng sự hiểu [5]
Trang 261.3.2 Khả năng ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Khả năng tiếp nhận – hiểu ngôn ngữ của trẻ RLPTK được thể hiện thông qua 2 hình thức cơ bản, đó là: cử chỉ/ hành động và lời nói, điều đó xảy ra ở những trường hợp như sau:
Trẻ chưa thể hiểu khi không được hỗ trợ: Khi đứng trước thông tin thể hiện
qua cử chỉ/ hành động và lời nói, trẻ chưa tiếp nhận được nội dung thông tin, trẻ
có thể thờ ơ hoặc lúng túng, thực hiện không đúng mục đích
Trẻ hiểu khi được chỉ dẫn từng bước bằng cả lời nói và cử chỉ/hành động:
Khi nhận được sự hỗ trợ toàn phần, chỉ dẫn cụ thể cả 2 hình thức, trẻ có thể hiểu
và thực hiện được theo
Trẻ hiểu khi được chỉ dẫn từng bước bằng lời nói: Khi nhận được sự hỗ trợ
một phần, chỉ dẫn cụ thể bằng hình thức lời nói, trẻ có thể hiểu và thực hiện được theo
Trẻ hiểu khi được chỉ dẫn từng bước bằng cử chỉ/hành động: Khi nhận được
sự hỗ trợ một phần, chỉ dẫn cụ thể bằng hình thức cử chỉ/ hành động, trẻ có thể hiểu và thực hiện được theo
Trẻ hiểu được một số câu nói/ yêu cầu quen thuộc: Ở trường hợp này, trẻ
đã quen và hiểu được một vài câu nói/ yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, cũng như đã xảy ra thường xuyên với trẻ Đối với thông tin trẻ chưa ghi nhớ và liên kết được thì trẻ vẫn còn khó khăn khi hiểu chúng
Trẻ hiểu được tất cả câu nói/ yêu cầu quen thuộc: Điều này thể hiện ở việc
trẻ đã quen và hiểu được hết những câu nói/ yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, cũng như
đã xảy ra thường xuyên với trẻ Trẻ không còn gặp khó khăn để hiểu được ý nghĩa của những thông tin đó
1.3.3 Mục tiêu phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Để phát triển ngôn ngữ tiếp nhận thông qua 2 hình thức cơ bản( cử chỉ/ hành động và lời nói) cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ, cần tập trung cải thiện những yếu tố liên quan như:
Giúp trẻ có những phản ứng nhanh và phù hợp trước thông tin truyền đến, giảm sự thờ ơ hoặc giả vờ “điếc”
Trang 27Tăng khả năng tập trung chú ý - lắng nghe để có thể nắm bắt và thực hiện nhiệm vụ nhanh, hiệu quả
Tăng khả năng ghi nhớ và liên kết dữ liệu giúp cho trẻ có thể hiểu, liên tưởng và gắn kết các ý chính cần nắm được
Giúp trẻ hiểu những cử chỉ/ hành động để có thể thực hiện các chỉ dẫn/ yêu cầu, từ đơn giản đến phức tạp một cách dễ dàng
Mở rộng vốn từ cho trẻ nhằm giúp trẻ cải thiện vấn đề giao tiếp, đặc biệt
là ngôn ngữ tiếp nhận
1.3.4 Nội dung phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Dựa trên những mục đích đã đề ra, sau đây là một số nội dung cụ thể cần
thiết với sự phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ:
Phát triển khả năng phản ứng của trẻ trước thông tin truyền đến
Do quá trình xử lí thông tin chậm chạp, thường có một khoảng thời gian bị trì hoãn giữa lúc thông tin được đưa ra và xử lí nên nhiều lúc trẻ phản ứng lại chậm hơn bình thường Trẻ RLPTK đôi khi cũng có những dấu hiệu “giả điếc” nên không phản ứng lại các yêu cầu
Vì vậy, cần phát triển khả năng phản ứng của trẻ trước thông tin truyền đến, đây là nền tảng giúp trẻ tập trung chú ý và lắng nghe tốt hơn, qua đó bổ trợ cho việc cải thiện vấn đề tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ
Phát triển khả năng tập trung chú ý và lắng nghe
Sự tập trung chú ý của trẻ RLPTK chưa cao, phân tán chú ý nhanh Khi thực hiện nhiệm vụ, trẻ chỉ tập trung chú ý được trong một thời gian ngắn, trẻ khó tập trung cao vào các chi tiết, kém bền vững, luôn bị phân tán bởi những tác động bên ngoài, trẻ có thể tập trung sâu vào các sự vật chuyển động, tạo âm thanh, ánh sáng, nhằm thỏa mãn kích thích giác quan
Do đó, cần phát triển khả năng tập trung chú ý và lắng nghe, đây là nền tảng giúp trẻ ghi nhớ và liên kết dữ liệu tốt hơn, qua đó bổ trợ cho việc cải thiện vấn
đề tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ
Trang 28Phát triển khả năng ghi nhớ và liên kết dữ liệu
Khi được nghe các lệnh liên tiếp thì trẻ RLPTK tỏ ra khó khăn trong việc ghi nhớ để thực hiện cái gì trước, cái gì sau Trẻ sẽ gặp khó khăn khi ai đó nói quá nhanh, quá chậm hoặc dùng quá nhiều từ, đặc biệt là những từ lạ, phức tạp hoặc nhiều cử chỉ/ hành động như: “Con đứng lên và xếp ghế vào”, “Con ra chỗ cái tủ
ở đằng kia, lấy cho cô cái khối gỗ”,
Do đó, cần phát triển khả năngghi nhớ và liên kết dữ liệu, đây là nền tảng giúp trẻ hiểu các cử chỉ/ hành động và lời nói tốt hơn, qua đó bổ trợ cho việc cải thiện vấn đề tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ
Phát triển khả năng hiểu các cử chỉ, hành động
Trẻ khó khăn trong việc hiểu và thực hiện theo các chỉ dẫn bằng hành động hoặc các gợi ý “chỉ tay”, “đưa tay ra xin”, Trẻ chưa hiểu cử chỉ/ hành động đó mang mục đích ý nghĩa như thế nào
Đây là yếu tố cần thiết để thấy được sự phát triển ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ với hình thức ngôn ngữ không lời
Phát triển khả năng về vốn từ( hiểu lời nói)
Vốn từ của trẻ thường nghèo nàn, cấu trúc ngữ pháp hay bị sai là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gặp khó khăn khi hiểu những câu nói phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin
Khả năng hiểu lời của người khác ở trẻ RLPTK cũng có nhiều mức độ khác nhau Có những trẻ hầu như không hiểu những gì mà người khác nói với chúng Một số trẻ có thể hiểu những hướng dẫn đơn giản, hiểu được tên gọi của những vật đơn giản, gần gũi, như: “Mẹ xin cái cốc”, “Cho mẹ ô tô”, Với những vật có nhiều hơn một tên gọi, trẻ cũng có thể gặp khó khăn trong việc hiểu tên gọi của chúng
Đây là yếu tố cần thiết để thấy được sự phát triển ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ với hình thức ngôn ngữ có lời
Trang 291.4 Cơ sở lý luận về biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.4.1 Khái niệm biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ
tự kỷ
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng”, tác giả Nguyễn
Văn Đạm cho rằng: “Biện pháp là cách làm, cách hành động, đối phó để đi tới một mục đích nhất định”
Như vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách thức, cách làm, cách hành
động để đi tới một mục đích nhất định hay là cách giải quyết vấn đề cụ thể Trước những vấn đề khó khăn của thực tiễn với đối tượng cụ thể đã được xác định, cần đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện tình hình thực tiễn, giúp giải quyết được vấn đề hiện tại được tốt hơn, hiệu quả hơn [10]
Trong nghiên cứu đề tài này tôi chọn khái niệm biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận làm công cụ nghiên cứu: Biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ là những cách thức thực hiện các tác động giáo dục nhằm giúp trẻ có kỹ năng trong quá trình trao đổi thông tin như kỹ năng tập trung chú ý, nghe và nhận thức ngôn ngữ để hiểu được những thông điệp mà người khác muốn truyền tải
1.4.2 Ưu điểm và hạn chế của một số các biện pháp phát triển ngôn ngữ
tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ
tự kỷ
Kế hoạch phát triển ngôn ngữ tiếp nhận là một bản kế hoạch/văn bản được thiết kế cho mỗi trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt giúp giáo viên và các thành viên tham gia có thể định hướng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể về: (1) Phản ứng với thông tin, (2) Tập trung chú ý và lắng nghe, (3) Ghi nhớ và liên kết dữ liệu, (4) Hiểu cử chỉ/ hành động, (5) Vốn từ( Hiểu lời nói)
Trang 30Ưu điểm: Trình bày trên văn bản, giáo viên/ gia đình tham gia dạy trẻ, có thể hiểu cách thực hiện và thấy được khả năng – nhu cầu hiện tại về ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ
Hạn chế: Cần nhiều thời gian để xây dựng và thực hiện; có thể gặp khó khăn khi sử dụng vì văn bản chứa nhiều nội dung, đắn đo trong việc dạy nội dung trước – sau
1.4.2.2 Sử dụng ký hiệu quy ước nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Thông thường việc chúng ta tương tác với trẻ RLPTK cần rất nhiều thời gian
và sự kiên nhẫn Thay vì sử dụng lời nói với trẻ, hãy dùng các kí hiệu và quy ước với trẻ nhằm giúp trẻ dễ dàng hiểu ý nghĩa cho các hành động đang diễn ra
Ưu điểm: Sử dụng hệ thống quy ước thông qua các hành động/ cử chỉ sẽ giúp trẻ hiểu được những yêu cầu quen thuộc
Hạn chế: Có thể không tạo được hứng thú cho trẻ khi chỉ sử dụng hành động, điều đó được thể hiện rõ ở trẻ phản ứng chậm/ không có phản ứng hoặc mất tập trung, dẫn đến việc không tiếp thu và thực hiện những quy ước đó
1.4.2.3 Đưa ra những yêu cầu và giải thích nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Trong quá trình phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ, chúng ta không thể thiếu được những yêu cầu và giải thích đối với trẻ RLPTK Các mệnh lệnh được đưa ra và sau đó là những lời giải thích cho trẻ hiểu
Ưu điểm: Khi thực hiện nhiều lần, trẻ có thể tăng khả năng hiểu và thực hiện các mệnh lệnh
Hạn chế: Biện pháp chưa thể hiện được rõ ràng về cách thức/ mức độ của yêu cầu và giải thích Vì khả năng vốn từ, ghi nhớ và liên kết, tập trung chú ý lắng nghe của trẻ bị hạn chế nên nếu yêu cầu/ giải thích không rõ ràng, ngắn gọn và nhấn mạnh đúng từ khóa, có thể trẻ sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu
1.4.2.4 Sử dụng cách thực hiện nhất quán giữa giáo viên và gia đình nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Trang 31Trong giáo dục, yếu tố nhất quán giữa giáo viên và gia đình là cần thiết đối với các trẻ nói chung và đặc biệt là trẻ RLPTK Trẻ RLPTK khá dập khuôn và khó thích nghi với sự thay đổi Khi giáo viên và gia đình cùng chung một mục đích phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ, khi cùng cách thực hiện, trẻ sẽ không gặp phải lúng túng và kết quả đem lại sẽ cao hơn
Ưu điểm: Giúp trẻ dễ làm quen, phản ứng tốt hơn, ghi nhớ liên kết và hiểu các
cử chỉ/lời nói khi được thực hiện lặp đi lặp lại giữa các môi trường khác nhau
Hạn chế: Thường gia đình sẽ khó thực hiện hơn vì yếu tố sắp xếp môi trường và đồng thời, trẻ đã quá quen thuộc, hiểu được cách yêu thương của gia đình với mình nên thường thiếu hợp tác hơn
1.4.2.5 Thiết kế môi trường dạy phù hợp nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Để có một tiết học hiệu quả thì không thể thiếu môi trường dạy phù hợp với trẻ, giáo viên và gia đình cần phải thiết kế dựa trên các tiêu chí: (1) an toàn, (2) gọn gàng và ít yếu tố gây nhiễu, (3) vị trí trẻ ngồi cần cách xa tầm với để lấy đồ dùng đồ chơi, (4) Tiếp xúc gần và ngang tầm mắt
Ưu điểm: Giúp trẻ tập trung chú ý lắng nghe, phản ứng tốt hơn, từ đó việc ghi nhớ liên kết và hiểu các hành động/ lời nói nhanh hơn
Hạn chế: Cần mất nhiều thời gian và khả năng tư duy sắp xếp môi trường
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Trong quá trình phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK có nhiều yếu
tố tác động và ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác can thiệp và giáo dục Những yếu tố như tính tích cực của trẻ, năng lực giáo viên, môi trường gia đình, lớp học…tác động trực tiếp đến phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ
1.5.1 Về trẻ
Khả năng của trẻ bao gồm khả năng hoạt động của não bộ, hệ thống thần kinh phối hợp làm việc cùng nhau giúp cho các phẩm chất tâm lý như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, biểu tượng, tư duy, tưởng tượng,… của trẻ được hình thành và phát triển tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành và phát triển ngôn ngữ tiếp nhận
Trang 321.5.2 Về giáo viên
Năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm của giáo viên là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK Trẻ đến trường nhận được sự đánh giá đúng về điểm mạnh, điểm yếu của trẻ, chỉ ra những nhu của trẻ để trao đổi với gia đình cùng xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ, cùng tổ chức thực hiện, hướng dẫn cho phụ huynh
để phụ huynh biết cách chăm sóc, dạy con ở nhà Đến lớp, trẻ lắng nghe, quan sát
và thực hiện các hoạt động theo yêu cầu để hiểu thêm về ý nghĩa của hành động, lời nói
Ngôn ngữ tiếp nhận của giáo viên là mô hình chuẩn để trẻ học theo Bên cạnh đó, giáo viên cần có sự đồng cảm với phụ huynh có con tự kỷ, không gán mác gọi tên, không phân biệt đối xử với trẻ và gia đình
Quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK được thực hiện từ bên ngoài vào bên trong, giai đoạn đầu có thể mang tính áp đặt sau chuyển dần thành tự nguyện, tự giác Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải có tính kiên trì, nghiêm ngặt trong quá trình luyện tập đồng thời vận dụng những phương pháp
và kĩ thuật đặc thù trong dạy trẻ tự kỷ, để gây hứng thú, khuyến khích trẻ tham gia, phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ để phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ
1.5.3 Về cha mẹ
Gia đình là nơi hình thành và phát triển ngôn ngữ tiếp nhận đầu tiên cho trẻ Nếu cha mẹ hiểu về con, cùng đi đến một sự thống nhất về cách chữa trị cho con, lựa chọn môi trường giáo dục cho con, thì trẻ sẽ nhanh tiến bộ Các thành viên trong gia đình là những người hiểu trẻ nhất vì là người luôn chăm sóc và gần gũi trẻ Hơn ai hết, họ là những người mong đợi sự phát triển của con mình nhất, đặc biệt là sự phát triển về mặt ngôn ngữ và giao tiếp, là những cột mốc phát triển
có thể giúp họ hiểu và tương tác với con mình
Như vậy, gia đình là môi trường đầu tiên của trẻ, có vai trò quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành, phát triển ngôn ngữ tiếp nhận nói riêng và nhân cách của trẻ nói chung Chính gia đình là môi trường nâng đỡ, gắn bó suốt cuộc
Trang 33đời của mỗi trẻ Các thành viên trong gia đình cần có tình đoàn kết, tình yêu thương giữa các thành viên với nhau, đem lại cho trẻ một cảm giác an toàn
Các thành viên trong gia đình cần phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ, rèn cho trẻ sự tập trung chú ý khi tham gia các hoạt động, dạy cho trẻ cách bắt chước, hiểu từng âm thanh, hành động, lời nói của người lớn để trẻ chủ động vận dụng vào các tình huống giao tiếp hằng ngày
1.5.4 Về môi trường xung quanh
1.5.4.1 Môi trường xã hội
Môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển các kỹ năng nói chung và kỹ năng hiểu của trẻ nói riêng Một môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợ cho nhau, hỗ trợ nhau tạo một cơ sở nền tảng cho trẻ được can thiệp kịp thời, được đi học, được hưởng các chính sách
và được hưởng đầy đủ các quyền,
Cần tạo dựng một môi trường xã hội tốt trong chăm sóc, giáo dục trẻ Khi
đi ra ngoài xã hội, trẻ không bị phân biệt đối xử, bị gán mác gọi tên Khi trẻ gặp khó khăn sẽ được mọi người giúp đỡ Tất cả mọi người đều có thể giúp trẻ mở rộng và hiểu biết được các sự vật, biểu tượng, hoạt động thực tế
1.5.4.2 Môi trường tâm lý
Trước khi đi học, trẻ được sống trong môi trường gia đình, được chăm sóc, được dạy dỗ bằng tình cảm yêu thương của mọi người trong gia đình Khi trẻ đi học, ở đó là môi trường khác, trẻ RLPTK sẽ dễ thấy sợ hãi, lo lắng, hồi hộp và bất
an Vì vậy, cần xây dựng môi trường tâm lý mang đặc điểm của môi trường gia đình
Môi trường tâm lý là môi trường được tạo dựng trên cơ sở bầu không khí
sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ tác động qua lại giữa người lớn với trẻ, người lớn với người lớn và giữa trẻ với nhau Môi trường tâm lý cần tạo cho trẻ cảm thấy: được an toàn, có giá trị, được yêu thương, được hiểu, được tôn trọng và được tự do
Như vậy, các yếu tố trên đều có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc phát triển ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK Cần xem xét những yếu tố trên như
Trang 34là những nguyên nhân dẫn đến khó khăn của trẻ về kỹ năng hiểu, để từ đó có các biện pháp phù hợp giúp khắc phục những khiếm khuyết ở trẻ
1.5.4.3 Môi trường tự nhiên
Màu sắc, ánh sáng, âm thanh và tiếng ồn, nhiệt độ và không gian vật lý sẽ tác động đến mức độ căng thẳng của trẻ RLPTK Vì vậy, cũng gây ảnh hưởng đến
sự phát triển nhận thức, học tập và hành vi của trẻ
Các yếu tố môi trường vật chất có thể đóng vai trò trong việc nâng cao sự tiến bộ, khả năng giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo của trẻ, cụ thể là: Độ sáng không gian, đặc biệt là ánh sáng mặt trời hay việc dùng màu sắc ấm áp để trang trí; việc cho trẻ tiếp xúc trực quan với các vật thể có hình dạng cơ bản; cách sử dụng đồ nội thất có chiều cao thấp hoặc không dùng đồ nội thất (nghĩa là cho trẻ ngồi trên sàn nhà),….Tất cả các yếu tố này sẽ tạo ra một môi trường làm cho trẻ cảm thấy an toàn và được bảo vệ
Ngoài ra, việc sử dụng thời gian bao gồm thời gian học tập và thời gian chuyển giao giữa các hoạt động cũng tác động đến khả năng tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ
1.6 Con đường phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
Để phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK cần có các con đường chủ yếu như:
Tổ chức các hoạt động can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập gắn kết nhau, vừa sửa chữa những khiếm khuyết của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được tham gia hòa đồng với các bạn
Tổ chức các hoạt động cho trẻ giao lưu với cộng đồng như đi chợ, công viên, siêu thị, tham quan, dã ngoại để giúp trẻ hiểu thêm về các sự vật xung quanh
Tổ chức các hoạt động tại gia đình để phát triển thêm về khả năng hiểu ngôn ngữ giữa trẻ với các thành viên trong gia đình và trẻ hiểu hơn về các đồ dùng trong gia đình
Trang 352 Trẻ rối loạn phổ tự kỷ gặp khó khăn trong giao tiếp và tương tác, hạn chế về cả ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ diễn đạt Ngoài ra, trẻ còn xuất hiện hành vi rập khuôn, định hình và lặp đi lặp lại Khó khăn lớn nhất của trẻ trong cuộc sống hằng ngày là việc hiểu được lời nói, cử chỉ hành động và các sự vật trước mắt trẻ
3 Phát triển ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ tự kỷ có sự khác biệt so với trẻ cùng độ tuổi ở nhiều khía cạnh như: sự tập trung chú ý( khả năng lắng nghe và quan sát), ghi nhớ và liên kết dữ liệu, vốn từ, cử chỉ hành động Kết quả phát triển ngôn ngữ tiếp nhận ở trẻ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động như: sự tập trung chú ý, mức độ tự kỷ, các hội chứng đi kèm tự kỷ, đặc biệt là yếu tố can thiệp sớm với các hoạt động can thiệp được tổ chức
4 Việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK cần được nghiên cứu một cách cụ thể phù hợp với thực tiễn, tính đến các yếu tố đặc thù của trẻ tự kỷ (mức độ, khả năng, nhu cầu, sở thích,…) và đặc điểm các hoạt động ở lớp học với sự hỗ trợ từ môi trường và các kĩ thuật đặc thù được giáo viên vận dụng trong quá trình tổ chức để giúp trẻ có thể phát triển ngôn ngữ tiếp nhận một cách hiệu quả và nhanh nhất
Trang 36CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 - 4 TUỔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ GIÁO DỤC HÒA NHẬP SUNFLOWER
2.1.2 Nội dung khảo sát
2.1.2.1 Đánh giá thực trạng ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi
Thực trạng ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK 3 – 4 tuổi: Cách phản ứng với thông tin truyền đến, sự tập trung chú ý và lắng nghe, khả năng ghi nhớ và liên kết
dữ liệu, khả năng hiểu các cử chỉ/ hành động, khả năng về vốn từ
2.1.2.2 Đánh giá thực trạng giáo viên(GV) phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi
Thực trạng nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
Thực trạng GV sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
2.1.3 Phương pháp khảo sát
Phiếu quan sát đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK( phục lục 1): Nhằm mục đích mô tả ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK 3 – 4 tuổi để làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho nhóm trẻ này
Phiếu hỏi( phục lục 2): Thu thập thông tin về tầm quan trọng và thuận lợi/ khó khăn của việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận cho trẻ RLPTK
Trang 37Phỏng vấn sâu( phục lục 3): Phỏng vấn sâu GV can thiệp trực tiếp cho trẻ nhằm
bổ trợ tăng phần rõ hơn cho phiếu quan sát và phiếu hỏi
2.1.4 Công cụ khảo sát ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi
Dựa trên Bảng kiểm đánh giá kỹ năng ngôn ngữ và học tập cơ bản – ABLLS của James W Partington and Mark L Sundberg và bảng kiểm đánh giá khả năng ngôn ngữ và giao tiếp – Portage của Hiệp hội Portage Quốc gia (NPA) để đề ra các tiêu chí cho điểm cụ thể chi tiết hơn
Sử dụng thang đo ở tiêu chí 1( cách phản ứng với thông tin truyền đến) là
30 điểm, tiêu chí 2( sự tập trung chú ý và lắng nghe) là 30 điểm, tiêu chí 3( khả năng ghi nhớ và liên kết dữ liệu) là 30 điểm, tiêu chí 4( khả năng hiểu các cử chỉ/hành động) là 25 điểm, tiêu chí 5( khả năng về vốn từ) là 25 điểm
2.1.5 Địa bàn và khách thể khảo sát
2.1.5.1 Địa bàn nghiên cứu:
Khảo sát được thực hiện tại Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập Sunflower Các GV tham gia khảo sát đều hiểu trẻ RLPTK và có kinh nghiệm dạy, trình độ chuyên môn Sư phạm tốt
Khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế Đối với trẻ khá,
có thể hiểu những cử chỉ/ lời nói rõ ràng và đơn giản Còn với trẻ mức độ thấp hơn, có những trường hợp chưa có phản ứng hoặc có nhưng rất chậm và thờ ơ/
“giả điếc”
Đội ngũ giáo viên:
Khảo sát tiến hành trên 20 giáo viên tham gia can thiệp trẻ RLPTK, thông tin về nhóm giáo viên được khảo sát như sau:
Trang 38Bảng 2 1 Cơ cấu độ tuổi giáo viên
Dựa trên bảng 2.1, độ tuổi của GV được khảo sát nằm trong khoảng 20 đến
35 và tập trung nhiều nhất ở độ tuổi từ 25 đến 30 tuổi( có 20 GV nữ và 0 GV nam) Cụ thể: từ 20 đến 24 tuổi có 05 GV chiếm 25%, từ 25 đến 30 tuổi có 10 GV chiếm 50% và từ 31 đến 35 tuổi có 05 GV chiếm 25%
Trong tổng số 20 GV khảo sát: có 09 GV ngành Giáo dục Đặc biệt( 45%),
05 GV ngành Giáo dục mầm non( 25%), 04 GV ngành Tâm lý học ( 20%) và 02
Giáo dục
Công tác xã hội
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Trang 39Học vấn của giáo viên tập trung ở 2 trình độ: đại học và thạc sĩ Trong đó, trình
độ đại học chiếm 90% (18 GV), thạc sĩ chiếm 10% (2 GV)
Bảng 2 3 Kinh nghiệm can thiệp trẻ RLPTK của giáo viên
Từ tất cả số liệu trên cho thấy, đội ngũ GV làm việc trong lĩnh vực can thiệp trẻ RLPTK có tuổi trẻ, trình độ, kinh ngiệm và cả chất lượng
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng
2.2.1 Đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi
Tổng hợp phiếu đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của 15 trẻ RLPTK từ 3 – 4 tuổi ở các tiêu chí đo như: (1) Cách phản ứng với thông tin truyền đến, (2) Sự tập trung chú ý và lắng nghe, (3) Khả năng ghi nhớ và liên kết dữ liệu, (4) Khả năng hiểu các cử chỉ/ hành động, (5) Khả năng về vốn từ Kết quả thu được đã mô tả đặc điểm ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK
Quan sát bảng 2.4, đó là kết quả đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK, dựa trên phiếu quan sát và phỏng vấn sâu:
Trang 40Bảng 2 4 Kết quả đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ RLPTK
Điểm tiêu chí 1 về cách phản ứng với thông tin truyền đến có tổng số điểm
đạt là 300/ 450, giao động từ 15 đến 24 điểm Điểm thấp nhất trẻ đạt được là 15 điểm và cao nhất là 24 điểm Kết quả trên cho thấy cách phản ứng với thông tin
truyền đến của trẻ đạt chủ yếu ở mức 3(Phản ứng chậm)
Điểm tiêu chí 2 về sự tập trung chú ý và lắng nghe có tổng số điểm đạt là
275/ 450, giao động từ 10 đến 22 điểm Điểm thấp nhất trẻ đạt được là 10 điểm
và cao nhất là 22 điểm Kết quả trên cho thấy tập trung chú ý và lắng nghe của trẻ
đạt chủ yếu ở mức 3( Thỉnh thoảng lắng nghe)
Điểm tiêu chí 3 về khả năng ghi nhớ và liên kết dữ liệu có tổng số điểm đạt
là 250/ 450, giao động từ 10 đến 20 điểm Điểm thấp nhất trẻ đạt được là 10 điểm
và cao nhất là 20 điểm Kết quả trên cho thấy ghi nhớ và liên kết dữ liệu của trẻ
đạt chủ yếu ở mức 3( Ghi nhớ và liên kết hạn chế)
Điểm tiêu chí 4 về khả năng hiểu các cử chỉ/ hành động có tổng số điểm
đạt là 223/ 375, giao động từ 9 đến 21 điểm Điểm thấp nhất trẻ đạt được là 9 điểm
và cao nhất là 21 điểm Kết quả trên cho thấy hiểu các cử chỉ/ hành động của trẻ
đạt chủ yếu ở mức 3( Hiểu ít cử chỉ/ hành động)
Điểm tiêu chí 5 về khả năng vốn từ có tổng số điểm đạt là 209/ 375, giao
động từ 8 đến 17 điểm Điểm thấp nhất trẻ đạt được là 8 điểm và cao nhất là 17
điểm Kết quả trên cho thấy vốn từ của trẻ đạt chủ yếu ở mức 2( Rất ít vốn từ)