6 Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh.. Đó là môn học tích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò qu
Trang 11
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THCS …
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ VÀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN KHOA HỌC
LỚP 4”
(Bộ sách CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Năm học 2022-2023
Trang 22
MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu: 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 2
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề 3
2.3 Các biện pháp thực hiện 4
Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu và đồ dùng học tập phục vụ bài học 4
Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản 6
Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh 11
Biện pháp 4: Sử dụng các trò chơi học tập nhằm tạo hứng thú cho học sinh 17
Biện pháp 5: Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại (màn hình, máy chiếu, băng hình ) để học sinh hứng thú với bài học 20
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 22
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 24
3.1 Kết luận 24
3.2 Kiến nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 31
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh, những hiện tượng khoa học, những vấn đề về thiên nhiên là mục tiêu quan trọng đã được
Bộ GD&ĐT đề cập trong chương trình đổi mới GDPT 2018 Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó Đó là môn học tích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của con người Việc dạy môn Khoa học không chỉ nhằm tích lũy kiến thức đơn thuần mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tính khoa học, hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết để thích ứng với thực tế cuộc sống và tiếp tục học tập sau này Chính vì vậy, Khoa học là môn học quan trọng trong nhà trường
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải có những đổi mới trong mục tiêu
và nội dung dạy học Sự đổi mới này đòi hỏi phải có những đổi mới về phương pháp dạy học Theo định hướng đó, phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học
Không những thế, học sinh chỉ học tập đạt kết quả tốt khi yêu thích môn học đồng thời các em cũng tìm được cảm hứng từ môn học đó Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động là một việc làm không phải dễ
và cũng không phải ngày một ngày hai mà làm được Nó đòi hỏi một sự đầu tư lâu dài, một quá trình rèn luyện không ngừng của người giáo viên Mỗi một sự cố gắng dù rất nhỏ trong nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đều là động lực tạo hứng thú học tập cho các em học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
Với những lý do nêu trên, để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Khoa học đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết Vì vậy, tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm khi giảng dạy môn học này
Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực
Trang 42
cho học sinh trong học tập môn Khoa học lớp 4 (Chân trời sáng tạo)."
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của sáng kiến nhằm:
+ Tìm hiểu các nguyên nhân vì sao học sinh chưa hứng thú, chưa tích cực học môn Khoa học
+ Tìm ra các giải pháp nhằm giúp học sinh có hứng thú để các em tích cực hơn trong quá trình học tập môn học nói trên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả của phương châm giáo dục toàn diện cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 4A và lớp 4B - Trường Tiểu học …
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sự hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh
- Phương pháp điều tra: Khảo sát đánh giá thực trạng tính tích cực học tập của học sinh
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủ yếu là cảm tính Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên, ngộ nghĩnh và hiếu động Các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn
"vừa chơi, vừa học" Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi "Chóng nhớ, mau quên" Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và
Trang 54
mà mình chưa hiểu rõ
+ Không khí của lớp rất buồn tẻ, trầm lắng hoặc ít sôi nổi khi học sinh không thực hiện được yêu cầu của giáo viên
+ Học sinh không có thói quen sưu tầm tư liệu phục vụ bài học; nếu có thì số lượng tranh rất ít, chất lượng sưu tầm chưa đúng yêu cầu bài học
Những thực tế nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân mà tôi cho là cơ bản nhất là: chúng ta (bao gồm tôi và các đồng nghiệp) từ trước đến nay chưa tạo được hứng thú hay nói cách khác là chưa làm sao để cho các em học sinh thích thú khi học các tiết Khoa học Do đó các em cũng chưa phát huy được tính tích cực khi học môn học này, vì vậy mà kết quả học tập là chưa cao
Từ thực trạng nói trên, tôi thấy cần phải thay đổi thói quen học tập của học sinh đối với môn học Khoa học Qua quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra được một vài biện pháp giúp học sinh có niềm yêu thích và tích cực học môn Khoa học hơn, tôi xin mạnh dạn trình bày một số biện pháp như sau:
2.3 Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu và đồ dùng học tập phục vụ bài học
Sách giáo khoa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong phần cung cấp kiến thức cho học sinh Tuy nhiên, ở một số bài học, tư liệu sưu tầm lại đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong việc giúp học sinh chủ động, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức bài học, chứ không phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động Một tiết học đạt hiệu quả tùy thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước buổi học đó Vì vậy, giáo viên luôn khuyến khích học sinh chuẩn bị bài cho ngày hôm sau từ việc xem trước bài cho đến việc chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho bài học
sẽ giúp các em có ý thức hơn trong việc học của mình Cách làm này rất phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, giúp các em hứng thú học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên
* Ví dụ bài 15: Ăn, uống khoa học để cơ thể khỏe mạnh (trang 94, Khoa
Trang 65
học 4, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Học sinh sưu tầm các đồ chơi bằng nhựa như: gà, cá, tôm, cua, Mục đích của việc sưu tầm là giúp các em phân loại nhóm thức ăn cần ăn đủ, ăn có mức độ,
ăn ít và ăn hạn chế Đồng thời đó cũng là dụng cụ để các em tham gia trò chơi học tập theo nhóm
* Ví dụ bài 15: Thực vật cần gì để sống và phát triển (trang 58, Khoa học
4, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Học sinh sưu tầm tranh, ảnh, một số cây thật Học sinh sẽ làm việc theo nhóm với các yêu cầu:
- Phân loại các loại cây đã sưu tầm theo 4 nhóm sau đây;
+ Cây chịu được khô hạn
+ Cây sống trên cạn ưa ẩm ướt
+ Cây sống dưới nước
+ Cây vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước
- Nhận xét về điều kiện sống của mỗi loài cây
Sau khi tìm hiểu và phân loại từ những tranh, ảnh, cây đã sưu tầm, học sinh
tự rút ra được kết luận về điều kiện sống và phát triển của mỗi loài cây (Mỗi loài cây có điều kiện sống và phát triển khác nhau)
Trang 76
Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản
Ở lớp 4, chủ đề “Vật chất và năng lượng” giúp học sinh bước đầu làm quen với kiến thức hóa học vô cơ Nội dung này được thể hiện nhiều là qua các thí nghiệm, vì vậy khi giảng dạy, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến việc làm thí nghiệm
* Phương pháp thí nghiệm có tác dụng :
+ Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sự vật
tự nhiên
+ Thí nghiệm được sử dụng như “nguồn” dẫn học sinh đi tìm tri thức mới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu
+ Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: đặt thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm,
* Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theo các bước sau:
a) Xác định mục đích của thí nghiệm:
Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loại chính:
- Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiện tượng kia)
Trang 811
Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh
Dạy học theo nhóm là hình thức giảng dạy học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp Trong nhóm, học sinh được khuyến khích thảo luận và hướng dẫn làm việc hợp tác với nhau
Hoạt động nhóm là một hoạt động học tập tích cực Cụ thể là:
- Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng mà các
em được lĩnh hội và rèn luyện
- Cho phép học sinh diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình
- Mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá )
- Hoạt động nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm với nhau những công việc mà một mình không thể
tự làm được trong một thời gian nhất định
- Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập
- Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm giúp các em học sinh nhút nhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từ đó tự khẳng định mình trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm
- Khi dạy học nhóm, giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sáng tạo của học sinh trong học tập
* Muốn hoạt động nhóm đạt kết quả tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Mỗi thành viên trong nhóm đều biết và hiểu công việc của nhóm, của bản thân
- Mỗi thành viên đều tích cực suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động của nhóm (như phát biểu ý kiến, tranh luận )
Trang 912
- Mọi thành viên đều lắng nghe ý kiến của nhau, thoải mái khi phân tích và nói ra những điều mình suy nghĩ
- Toàn nhóm làm việc hợp tác và đồng lòng với quyết định của cả nhóm
- Mọi người biết rõ việc cần làm, giúp đỡ lẫn nhau, đều lo lắng tới công việc chung
- Vai trò của nhóm trưởng, thư ký, báo cáo viên được thực hiện luân phiên Chính vì thế giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ càng từ việc tự làm thử thí nghiệm trước khi lên lớp đến cách tổ chức, giao việc để tránh gây lộn xộn hoặc học sinh không nắm bắt được yêu cầu kiến thức của tiết học Muốn vậy, giáo viên cần chú ý:
+ Mệnh lệnh đưa ra rõ ràng, ngắn gọn (chia nhóm nhỏ, lớn)
+ Giao việc cụ thể cho từng nhóm
+ Phân công nhiệm vụ cho các em
Trong nhóm thường có các thành phần:
+ Trưởng nhóm: Quản lý chỉ đạo, điều khiển nhóm hoạt động
+ Thư ký nhóm: Ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm sau khi đạt được sự đồng tình của nhóm
+ Báo cáo viên: Trình bày trước lớp kết quả công việc của nhóm
+ Các thành viên khác trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm
Mỗi nhóm chỉ nên có khoảng từ 2 đến 6 em
* Ví dụ bài 1: Một số tính chất và vai trò của nước (trang 6, Khoa học 4, bộ
sách Chân trời sáng tạo)
Hoạt động 1: Quan sát vật thật
Mục tiêu:
Phát hiện màu, mùi, vị của nước
Cách tiến hành:
Bước 1: Tổ chức, hướng dẫn
+ Giáo viên yêu cầu các nhóm đem cốc đựng nước và cốc đựng sữa đã chuẩn
bị ra quan sát và làm theo yêu cầu như đã ghi ở trang 6 sách Chân trời sáng tạo
Trang 1013
+ Giáo viên chỉ yêu cầu học sinh trao đổi trong nhóm ý 1 và 2 theo yêu cầu quan sát ở trang 6 sách Chân trời sáng tạo
Bước 2: Làm việc theo nhóm
+ Nhóm trưởng điều khiển các bạn quan sát và lần lượt trả lời câu hỏi; Cốc nào đựng nước, cốc nào đựng sữa ? (học sinh dễ dàng nhận ra cốc đựng nước và cốc đựng sữa trên vật thật)
+ Làm thế nào để bạn biết điều đó ? (đối với câu hỏi này, giáo viên cần đi tới các nhóm giúp đỡ để học sinh sử dụng các giác quan của mình phát hiện ra cốc nào đựng nước và cốc nào đựng sữa) Cụ thể là:
+ Nhìn vào 2 cốc: Cốc nước thì trong suốt và có thể nhìn thấy rõ cái thìa để trong cốc; cốc sữa có màu trắng đục nên không nhìn rõ cái thìa để trong cốc
● Nếm lần lượt từng cốc: Cốc nước không có vị, cốc sữa có vị ngọt
● Ngửi lần lượt từng cốc: Cốc nước không có mùi, cốc sữa có mùi sữa Bước 3: Làm việc cả lớp
+ Giáo viên gọi đại diện cả nhóm lên trình bày những gì học sinh đã phát hiện ra ở bước 2 Giáo viên ghi các ý kiến của học sinh lên bảng như sau:
Các giác quan cần sử
dụng để quan sát
1 Mắt - nhìn Không có màu, trong
suốt, nhìn rõ chiếc thìa
Trắng đục, không nhìn rõ
chiếc thìa
+ Giáo viên gọi một số học sinh nói về một số tính chất của nước được phát hiện trong hoạt động này
Kết luận: Qua quan sát ta có thể nhận thấy nước trong suốt, không màu, không mùi, không vị