1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay

150 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Các Kênh Thông Tin Về Vấn Đề Lựa Chọn Việc Làm Đối Với Sinh Viên Ngành Xã Hội Học Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Hoàng Dương Kha
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Lộc
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG KHA VAI TRÒ CỦA CÁC KÊNH THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN VIỆC LÀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN NG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG KHA

VAI TRÒ CỦA CÁC KÊNH THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ

LỰA CHỌN VIỆC LÀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG KHA

VAI TRÒ CỦA CÁC KÊNH THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ

LỰA CHỌN VIỆC LÀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số chuyên ngành: 8310301

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Đức Lộc

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn

khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Lộc

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa vào kết quả khảo sát thực tế Các tài liệu sơ cấp đều do tôi thu thập Các tài liệu tham khảo đều có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Nếu có vấn đề liên quan đến tính trung thực của luận văn, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tôi đồng ý cho Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng luận văn của tôi cho mục đích tham khảo

Người cam đoan

Nguyễn Hoàng Dương Kha

Trang 4

Tôi cũng xin cảm ơn các tình nguyện viên là những sinh viên, cựu sinh viên, cán

bộ giảng viên của khoa Xã hội học, cán bộ giảng viên nhà trường đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin cho luận văn

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Với tinh thần cầu thị, tôi kính mong sự góp ý của quý thầy, cô để đề tài được hoàn thiện hơn

Người viết luận văn

Nguyễn Hoàng Dương Kha

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)” tập trung vào tìm hiểu và làm rõ vai trò của các kênh thông tin việc làm hiện nay của sinh viên xã hội học, từ đó góp phần làm rõ bức tranh chung thực trạng lựa chọn việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

Đề tài áp dụng quan điểm về “vốn xã hội” của Pierre Bourdieu, và quan điểm của Coleman trong lý thuyết “lựa chọn duy lý” nhằm tìm hiểu và xác định tiêu chí lựa chọn việc làm của sinh viên ngành xã hội học hiện nay, cũng như tính kết nối thông tin trong mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên Từ đó, thông qua nghiên cứu, xác định các vai trò của các kênh thông tin việc làm, đồng thời xem xét tính hiệu quả của từng kênh thông tin trong việc đáp ứng các tiêu chí việc làm mà sinh viên đề ra trong quá trình tìm kiếm và lựa chọn việc làm

Kết quả cho thấy có đa dạng các kênh thông tin việc làm được sinh viên ngành xã hội học tiếp cận Trong đó, kênh thông tin nhà tuyển dụng, kênh thông tin truyền thông đại chúng, và vốn xã hội là những kênh thông tin phổ biến Các kênh thông tin hiện nay không chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin một chiều, mà còn là cầu nối giao tiếp, trao đổi thông tin giữa nhà tuyển dụng và các ứng viên quan tâm một cách nhanh chóng, hiệu quả Đồng thời, các kênh thông tin cũng đảm nhận vai trò định hướng việc làm cho sinh viên, giúp sinh viên xác định lĩnh vực và vị trí công việc mà bản thân sẽ gắn bó sau khi tốt nghiệp Với những đặc điểm, tính chất khác nhau, mỗi kênh thông tin lại thể hiện vai trò truyền thông, định hướng việc làm và kết nối sinh viên – nhà tuyển dụng theo

những phương thức khác nhau

Trang 6

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Câu hỏi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Khung phân tích 5

8 Phương pháp nghiên cứu 5

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7

10 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1.1 Khái quát về thị trường lao động và nguồn lao động 10

1.1.2 Nghiên cứu về việc làm và kênh thông tin việc làm của sinh viên giai đoạn hiện nay 13

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 18

1.2.1 Việc làm 18

1.2.2 Kênh thông tin việc làm 18

1.3 Lý thuyết áp dụng 19

1.3.1 Lý thuyết về vốn xã hội 19

1.3.2 Lý thuyết lựa chọn duy lý 21

1.3.3 Quan điểm về truyền thông đại chúng của Robert Merton 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ QUAN ĐIỂM VỀ LỰA CHỌN VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN XÃ HỘI HỌC 23

2.1 Thực trạng việc làm của sinh viên ngành xã hội học 23

2.1.1 Việc làm của sinh viên xã hội học giai đoạn 2016 - 2019 23

2.1.2 Sinh viên xã hội học tham gia đa dạng lĩnh vực việc làm 26 2.1.2 Sinh viên vận dụng chuyên môn, kỹ năng được đào tạo vào trong lao động….30

Trang 7

2

2.2 Định hướng nghề nghiệp của sinh viên ngành xã hội học 35

2.3 Quan điểm về lựa chọn việc làm của sinh viên xã hội học 38

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC KÊNH THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN VIỆC LÀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC 47

3.1 Sự đa dạng các kênh thông tin việc làm được sinh viên tiếp cận 47

3.1.1 Vốn xã hội 48

3.1.2 Kênh thông tin doanh nghiệp, nhà tuyển dụng 51

3.1.3 Kênh thông tin truyền thông đại chúng 52

3.1.4 Kênh thông tin cơ sở đào tạo 56

3.2 Vai trò của các kênh thông tin việc làm 60

3.2.1 Xem xét vai trò truyền thông hiệu quả của các kênh thông tin việc làm 62

3.2.1.1 Các kênh thông tin việc làm chính thức chứa hàm lượng thông tin cao 62

3.2.1.2 Thông tin việc làm thông qua vốn xã hội cá nhân tập trung vào kinh nghiệm và sự chia sẻ 69

3.2.1.3 Xem xét độ tin cậy của các kênh thông tin việc làm 71

3.2.2 Xem xét vai trò định hướng lĩnh vực việc làm của các kênh thông tin 75

3.2.2.1 Cơ sở đào tạo phát huy hiệu quả vai trò của một đơn vị đào tạo 75

3.2.2.2 Điểm tương đồng trong vai trò định hướng việc làm của mạng xã hội và mạng lưới quan hệ xã hội 79

3.2.3 Vai trò kết nối sinh viên và nhà tuyển dụng 82

3.2.3.1 Khả năng kết nối sinh viên với nhà tuyển dụng thông qua kênh thông tin chính thức 82

3.2.3.2 Vai trò của vốn xã hội trong việc kết nối sinh viên và nhà tuyển dụng 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 8

3

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐHQG-HCM Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chính Minh

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê thời gian sinh viên ngành Xã hội học tìm được việc làm đầu tiên sau khi tốt

nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị: %) 23

Bảng 2.2: Thống kê lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị: %) 24

Bảng 2.3: Kênh thông tin việc làm mà sinh viên ngành xã hội học tiếp cận và lựa chọn công việc sau khi tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị: %) 26

Bảng 2.4: Quan điểm của nhóm sinh viên tốt nghiệp đối với vai trò của chương trình đào tạo (Đơn vị: %) 31

Bảng 2.5: Định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp của nhóm sinh viên năm cuối (Đơn vị: %) 35

Bảng 3.1 Hình thức vận dụng mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên 49

Bảng 3.2: Hình thức tiếp cận kênh thông tin cơ sở đào tạo của sinh viên (Đơn vị: %) 59

Bảng 3.3: Mức độ chi tiết của thông tin việc làm trên các kênh khác nhau 61

Bảng 3.4: Độ tin cậy và mức độ đáp ứng nhu cầu tìm việc của các kênh thông tin 62

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Lĩnh vực việc làm nhóm sinh viên tốt nghiệp tham gia (Đơn vị: %) 27

Biểu đồ 2.2: Các yếu tố lựa chọn việc làm được sinh viên ưu tiên xem xét (Đơn vị: sự lựa chọn) 38

Biểu đồ 2.3: Mức độ quan trọng của các yếu tố lựa chọn việc làm 39

Biểu đồ 3.1: Mức độ ưu tiên tiếp cận các kênh thông tin việc làm của sinh viên (Đơn vị: sự lựa chọn) 48

Biểu đồ 3.2: Độ tin cậy các kênh thông tin 72

Biểu đồ 3.3: Mức độ đồng ý của sinh viên đối với các quan điểm liên quan đến kênh thông tin cơ sở đào tạo 77

Trang 9

có thể nhận thấy “sân chơi lớn đầy tiềm năng” này mang đến cho chúng ta và các nước thành viên nguồn lợi vô cùng lớn về mặt đầu tư kinh tế, xã hội và sự chuyển dịch lao động trình độ chuyên môn cao

Từ những lợi ích và cơ hội về kinh tế, xã hội, chúng ta đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thử thách Một trong số đó là đào tạo nguồn nhân lực năng động, có trình độ cao, kỹ năng tốt, có thể thích nghi với yêu cầu lao động khắt khe của khu vực và thế giới Giáo dục, mà đặt biệt là giáo dục đại học cũng đã có những sự biến đổi phù hợp theo định hướng và chính sách nhà nước Hình thức đào tạo theo tín chỉ tích lũy đã được áp dụng rộng rãi tại các trường đại học, cao đẳng kèm theo các chương trình, nội dung đào tạo được cập nhật phù hợp, lấy người học làm trung tâm đã giúp sinh viên có môi trường học tập, rèn luyện sinh động, tích cực hơn… Cùng với đó, những hoạt động hướng nghiệp, hoạt động tư vấn tâm sinh lý, rèn luyện sức khỏe, kỹ năng cũng dần trở nên phổ biến trong môi trường đại học, giúp các bạn tăng cường những yếu tố cần thiết, đồng thời xây dựng những kế hoạch lâu dài cho tương lai Có nhiều yếu tố tác động đến vấn đề này Trong đó, tôi đặc biệt quan tâm đến vai trò của các kênh thông tin đến vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên hiện nay Theo thống kê từ khảo sát chất lượng sinh viên của đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, phần

Trang 10

2

đông sinh viên xã hội học sau khi tốt nghiệp tham gia vào đa dạng lĩnh vực việc làm Các

cơ hội việc làm được sinh viên tìm kiếm từ nhiều kênh thông tin khác nhau Trong đó, phổ biến nhất là từ các phương tiện truyền thông và thông qua các mối quan hệ bạn bè (lần lượt chiếm 57.9% và 35.8% vào năm 2019)

Có thể nhận thấy, bên cạnh sự trau dồi về kiến thức, trình độ chuyên môn, các kỹ năng cần thiết… tìm hiểu thông tin về việc làm là yếu tố quan trọng giúp sinh viên chuẩn

bị đầy đủ các yêu cầu của công việc và ứng tuyển thành công vào công việc phù hợp với bản thân sau khi tốt nghiệp Các kênh thông tin khác nhau mang những đặc trưng, đồng thời đóng vai trò nhất định đến quyết định định hướng, lựa chọn việc làm cụ thể của sinh viên

Nhằm đi sâu vào tìm hiểu và làm rõ những khía cạnh vấn đề vừa nêu, tôi lựa chọn

nghiên cứu đề tài “Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với

sinh viên ngành xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)”.

Trang 11

3

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng đến tìm hiểu, làm rõ vai trò của các kênh thông tin trong vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên, xuất phát từ góc nhìn và những trải nghiệm thực tế của sinh viên Từ đó, đưa ra các đề xuất cải thiện, nâng cao tính hiệu quả của các kênh thông tin, giúp sinh viên tiếp cận được với thông tin việc làm một cách hiệu quả

Để đạt được điều đó, đề tài hướng đến những mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu về quan điểm, tiêu chí lựa chọn việc làm của sinh viên

- Tìm hiểu các kênh thông tin về việc làm mà sinh viên ngành xã hội học tiếp cận trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích vai trò của các kênh thông tin trong vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên ngành xã hội học trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất các chính sách, giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả của các kênh thông tin đối với sinh viên xã hội học

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của các kênh thông tin đối với vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên ngành xã hội học tại thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

4

vấn đề liên quan đến việc lựa chọn việc làm phù hợp Xét khía cạnh hạn chế, việc thu hẹp phạm vi nghiên cứu tại một cơ sở đào tạo duy nhất so với phạm vi ban đầu (nhóm sinh viên ngành xã hội học tại thành phố Hồ Chí Minh) sẽ không mang lại góc nhìn bao quát

về đối tượng nghiên cứu

Về thời gian, đề tài nghiên cứu sinh viên ngành xã hội học trong giai đoạn hiện nay Cụ thể, đề tài nghiên cứu sinh viên tốt nghiệp tập trung trong giai đoạn 2020 – 2021

và sinh viên năm cuối chuẩn bị tốt nghiệp vào 2022 Đây là khoảng thời gian phù hợp với

kế hoạch cập nhật, điều chỉnh chương trình đào tạo của đơn vị khoa xã hội học Thời gian nghiên cứu vừa đủ giúp thu được những kết quả và phát hiện trong sự tương quan, đối chiếu với nhau trong bối cảnh kinh tế, xã hội mang nhiều nét tương đồng Bên cạnh đó, lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu liền mạch, tiếp nối với các dữ liệu khoa học thứ cấp

mà đề tài tiếp cận được giúp liên kết và gợi mở bức tranh chung về vấn đề việc làm của

sinh viên qua các năm, làm cơ sở tham khảo, đối chiếu cho các nghiên cứu sau này

5 Câu hỏi nghiên cứu

Sinh viên ngành xã hội học hiện nay tiếp cận thông tin việc làm chủ yếu qua các kênh thông tin nào?

Các kênh thông tin đóng vai trò như thế nào đến vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên?

Có những yếu tố nào tác động đến vai trò của các kênh thông tin việc là hiện nay đối với sinh viên xã hội học?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên ngành xã hội học hiện nay ưu tiên tiếp cận thông tin việc làm thông qua mạng lưới quan hệ xã hội bởi vì đây là kênh thông tin gần gũi, dễ tiếp cận và khai thác được nhiều khía cạnh thông tin cùng kinh nghiệm của người chia sẻ với độ tin cậy cao

Cơ sở đào tạo đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng việc làm và kết nối việc làm cho sinh viên ngành xã hội học thông qua mạng lưới liên kết phong phú giữa đơn vị

và doanh nghiệp, cùng đa dạng các hình thức truyền tải thông tin tuyển dụng và kết nối sinh viên với nhà tuyển dụng

Trang 13

5

7 Khung phân tích

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp kết hợp cả định lượng lẫn định tính nhằm làm rõ được mục đích và mục tiêu của đề tài

Phương pháp định lượng

Bằng kỹ thuật thu thập thông tin bản hỏi, thông qua phần mềm xử lý số liệu SPSS,

đề tài mong muốn tìm hiểu thực trạng các kênh thông tin về việc làm hiện nay trong khả năng tiếp cận của sinh viên xã hội học, đồng thời tìm hiểu sự khác biệt trong mức độ tiếp cận thông tin từ các kênh khác nhau của sinh viên, cũng như đặc trưng của từng kênh thông tin Qua đó, đề tài hướng đến việc xác định, phân tích vai trò của các kênh thông tin đối với quyết định lựa chọn việc làm của sinh viên

Đề tài khảo sát bản hỏi hai nhóm sinh viên: (1) nhóm sinh viên năm cuối của hệ đào tạo và (2) nhóm sinh viên tốt nghiệp Mẫu được chọn là mẫu phi xác suất Số lượng bản hỏi hợp lệ đề tài thu về là 100 bản Trong đó, số lượng bản hỏi khảo sát nhóm sinh viên năm cuối là 56 bản (16 nam, 40 nữ), và 44 bản (14 nam, 30 nữ) ở nhóm sinh viên tốt nghiệp Sinh viên tốt nghiệp tham gia khảo sát bản hỏi có năm tốt nghiệp tập trung vào hai năm là 2020 và 2021

(1) Nhóm sinh viên năm cuối Đây là nhóm chuẩn bị tốt nghiệp, bắt đầu tham gia vào thị trường lao động Một bộ phận các bạn sinh viên đã bắt đầu tìm kiếm cho mình

Tiêu chí về thu nhập; năng lực;

chế độ phúc lợi;

môi trường làm việc; phù hợp ngành đào tạo…

Kênh thông tin việc làm

chính thức: Doanh nghiệp,

cơ sở đào tạo, trung tâm

giới thiệu việc làm, truyền

thông đại chúng…

Vốn xã hội:

Huy động nguồn vốn thông

tin từ mạng lưới quan hệ xã

hội thầy cô, bạn bè, đồng

nghiệp, gia đình, người

thân…

Quyết định lựa chọn việc làm của sinh viên

Truyền thông hiệu quả

Định hướng việc làm

Kết nối nhà tuyển dụng

Trang 14

6

những cơ hội việc làm Đây là nhóm có sự chuẩn bị cho kế hoạch tương lai của bản thân, đồng thời có sự quan tâm và tìm hiểu đúng mực các vấn đề liên quan đến lao động và hội nhập, các thông tin tuyển dụng việc làm

(2) Nhóm sinh viên tốt nghiệp ngành xã hội học Đây là nhóm đã tham gia vào thị trường lao động, có kinh nghiệm nhất định về một hoặc một vài lĩnh vực chuyên môn, khả năng chuyển từ việc làm sang nghề nghiệp ổn định Nhóm có nhận thức sâu sắc về các kênh thông tin việc làm, cũng như có vốn thông tin việc làm nhất định thông qua quá trình làm việc (sự mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội, tiếp xúc sâu trong lĩnh vực chuyên môn ) Đồng thời, đây là nhóm có khả năng trở thành một bộ phận của kênh thông tin, cung cấp, kết nối việc làm cho các bạn sinh viên Nghiên cứu nhóm này giúp phản ánh rõ nét vai trò của các kênh thông tin việc làm đến vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên

Phương pháp định tính

Bên cạnh phương pháp định lượng, đề tài còn sử dụng phương pháp định tính nhằm đào sâu, giải thích và làm rõ vấn đề

Đề tài áp dụng kỹ thuật thu thập thông tin phỏng vấn sâu Từ đó tìm hiểu một cách

cụ thể tính chủ động của sinh viên, thái độ của sinh viên trong vấn đề lựa chọn công việc phù hợp Bên cạnh đó, việc đi sâu vào tìm hiểu tác động của các kênh thông tin đến quyết định lựa chọn việc làm của sinh viên sẽ giúp làm rõ được vai trò của kênh thông tin trong vấn đề này Kết hợp với phỏng vấn sâu là kỹ thuật phân tích tư liệu thứ cấp từ các cuộc nghiên cứu có liên quan, thông qua sự so sánh đối chiếu, góp phần tăng tính thuyết phục cho kết quả nghiên cứu

Các khách thể tham gia phỏng vấn sâu được lựa chọn ngẫu nhiên từ mẫu khảo sát định lượng Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính đa thanh cho kết quả nghiên cứu, đề tài cũng thực hiện phỏng vấn sâu với nhóm cán bộ, giảng viên trực thuộc nhà trường và khoa

xã hội học đang đảm nhận công tác đào tạo, hướng nghiệp và kết nối việc làm cho sinh viên Đề tài thực hiện 13 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc đối với nhóm sinh viên năm cuối của hệ đào tạo; nhóm sinh viên tốt nghiệp và nhóm cán bộ, giảng viên phụ trách công tác đào tạo, hướng nghiệp, kết nối việc làm cho sinh viên thuộc khoa xã hội học và nhà

trường

Trang 15

7

Đề tài phỏng vấn sâu bốn trường hợp sinh viên năm cuối, hai nam sinh viên và hai

nữ sinh viên Các trường hợp đều tham gia các hoạt động rèn luyện, câu lạc bộ trực thuộc khoa và nhà trường Trong đó trường hợp nữ sinh viên SV1 đảm nhận vai trò cán bộ Đoàn – Hội của khoa Cả bốn trường hợp đều có những trải nghiệm việc làm bán thời gian và thời vụ, tuy nhiên mức độ trải nghiệm là khác nhau

Đối với nhóm sinh viên tốt nghiệp, nhằm đảm bảo tính đa dạng về mặt thông tin, sáu trường hợp tham gia phỏng vấn sâu (ba nam, ba nữ) tham gia vào đa dạng lĩnh vực việc làm: giáo dục, hành chính quản trị, thương mại điện tử, marketing, logistics, truyền thông – sự kiện Đồng thời, kinh nghiệm làm việc của các trường hợp cũng phong phú, từ dưới một năm kinh nghiệm đến trên bốn năm kinh nghiệm Cả sáu trường hợp đều có sự thay đổi công việc ít nhất một lần từ khi tốt nghiệp, các vị trí mới có thể cùng lĩnh vực hoặc là một lĩnh vực công việc mới

Nhóm cán bộ, giảng viên phụ trách công tác đào tạo, hướng nghiệp, kết nối việc làm cho sinh viên thuộc khoa Xã hội học và nhà trường Đây là nhóm hiểu rõ yêu cầu của thị trường lao động nhằm xây dựng các hoạt động hướng nghiệp, kết nối việc làm phù hợp, hiệu quả Đồng thời góp phần xây dựng định hướng đào tạo của nhà trường trong từng giai đoạn cụ thể Nhóm cũng tham gia giảng dạy, định hướng cho sinh viên theo định hướng chung của nhà trường và xu hướng của thị trường lao động Bên cạnh đó, gắn

bó với sinh viên qua các hoạt động rèn luyện, tình nguyện, hiểu tâm lý và nguyện vọng của sinh viên Đây là nhóm đóng vai trò kết nối sinh viên với nhà tuyển dụng, thị trường lao động

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Trang 16

8

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần làm rõ những khía cạnh khác nhau của các kênh thông tin việc làm trong bức tranh chung thị trường lao động, từ đó giúp các doanh nghiệp, đơn vị kiểm soát, quản lý nguồn thông tin tuyển dụng một cách hiệu quả hơn, thu hút nhóm lao động lý

tưởng Về phía cơ sở đào tạo, đề tài phần nào cung cấp cái nhìn trực quan về thực tế các

kênh thông tin việc làm mà sinh viên xã hội học tiếp cận và tìm kiếm cơ hội việc làm Trên cơ sở đó, nhà trường và khoa có thể xem xét, triển khai thêm đa dạng các hoạt động kết nối việc làm, mở rộng thêm mạng lưới với các kênh thông tin khác, nâng cao cơ hội

tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

10 Kết cấu của luận văn

Ngoài danh mục các từ viết tắt, bảng biểu, tài liệu tham khảo, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 1 tập trung vào tổng hợp các kết quả nghiên cứu khoa học trước đây có liên quan đến đề tài Bên cạnh đó, chương này cũng làm rõ những khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài, bao gồm khái niệm “việc làm” và “kênh thông tin việc làm” Chương cũng trình bày các quan điểm lý thuyết được sử dụng trong đề tài: lý thuyết về vốn xã hội, quan điểm lý thuyết lựa chọn duy lý và quan điểm về truyền thông đại chúng

Chương 2: Thực trạng việc làm và quan điểm về lựa chọn việc làm của sinh viên

xã hội học

Chương này tập trung mô tả tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp xã hội học trong giai đoạn hiện nay Từ đó, kết hợp với dữ liệu khảo sát việc làm của sinh viên xã hội học giai đoạn 2016 – 2019 nhằm xem xét sự biến đổi trong vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên Chương này cũng tìm hiểu định hướng việc làm của nhóm sinh viên năm cuối Đồng thời, các quan điểm về lựa chọn việc làm của hai nhóm sinh viên cũng được khảo sát và phân tích trong chương này

Trang 18

10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Khái quát về thị trường lao động và nguồn lao động

Lê Thúy Hằng (2011), Di động việc làm trong quá trình chuyển đổi việc ở Việt Nam: Nhìn từ những thay đổi trong chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế, Tạp chí Xã hội học và Nguyễn Thị Lan Hương (2014), Những con số về thất nghiệp và việc làm ở

Việt Nam: Hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Xã hội học Bài viết thể hiện xu hướng

chuyển dịch lao động, trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, dưới tác động của chính sách, đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Cụ thể, các địa phương đẩy mạnh chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, đồng thời duy trì và phát triển các ngành thủ công truyền thống, tham gia vào các ngành công nghiệp, thúc đẩy phát triển các mô hình du lịch kết hợp với các ngành dịch vụ liên quan

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2013), Xu hướng chuyển đổi cấu trúc lao động - nghề

nghiệp ở nông thôn nước ta và những hàm ý chính sách, Tạp chí Xã hội học Trong

nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã làm rõ được các yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề Theo đó, bên cạnh chính sách phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; sự tác động của quá trình đô thị hóa; sự chuyển đổi nghề nghiệp do thiếu đất đai canh tác thì yếu tố mạng lưới xã hội cũng được

đề cập và quan tâm

Nguyễn Thị Lan Hương (2014), Những con số về thất nghiệp và việc làm ở Việt Nam: Hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Xã hội học và Nguyễn Phan Lâm và Tô Thị Hồng (2016), Đánh giá của thanh niên về khả năng thích ứng trong hội nhập nghề nghiệp hiện nay, Tạp chí Xã hội học Đặc điểm chung của phần lớn lao động Việt Nam hiện nay là sự

hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao Một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tham gia vào thị trường hàng năm chưa thông qua đào tạo hoặc chỉ được đào tạo cơ bản một công đoạn, quy trình nhất định Với đặc trưng về nguồn nhân lực ở nông thôn: cung có sẵn, cầu theo thời vụ, ở nông thôn xuất hiện tình trạng thiếu việc làm, kết hợp với

Trang 19

Đặng Nguyên Anh (2014), Đổi mới chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm để phát triển bền vững, Tạp chí Xã hội học Từ góc độ quản lý Nhà nước và chính sách, do chưa

có định hướng kinh tế dài hạn nên chuyển dịch cơ cấu diễn ra với tốc độ chậm, các ngành nông nghiệp và kinh tế phi chính thức có năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao Bên cạnh đó, việc mở rộng nhiều ngành nghề nhưng chưa đào sâu về mặt chất lượng cũng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và vấn đề việc làm Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa đạt hiệu quả mong đợi khi chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các kênh truyền thông, trung tâm giới thiệu việc làm, nhà tuyển dụng và người lao động Các chính sách hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ hỗ trợ mà chưa đẩy mạnh phát triển các ngành nghề, tạo việc làm mới Một điểm đáng quan tâm hơn là việc phân phối và đào tạo nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của xã hội Một phát hiện thú vị từ nghiên cứu của Đặng

Trang 20

12

Nguyên Anh: Chỉ số GDP của quốc gia cao không dẫn đến sự chắc chắn rằng cuộc sống người dân đã hạnh phúc hơn Đồng thời, tỷ lệ thấy nghiệp hiện nay có xu hướng tăng, một phần do cấp độ quản lý đã chú trọng vào tăng trưởng GDP mà không tập trung vào vấn đề tạo việc làm phù hợp cho lao động

Trần Thanh Ái (2013), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và

giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Chất lượng lao động thể hiện thông qua đào tạo So sánh đặc

điểm giữa hình thức đào tạo niên chế và đào tạo tín chỉ từ các nghiên cứu, có thể nhận thấy hệ thống đào tạo tín chỉ lấy đối tượng người học làm trung tâm, với thiết kế chương trình một cách linh hoạt, tăng tính chủ động của học viên, sinh viên, đồng thời có sự giao lưu, hỗ trợ kiến thức từ các ngành, các lĩnh vực khác nhau, cung cấp kiến thức liên ngành,

có tính tích cực, toàn diện, và linh hoạt hơn so với hình thức đào tạo theo niên chế trước

đây Nghiên cứu cũng nêu lên những vấn đề bất cập, những yêu cầu của hệ thống đào tạo

tín chỉ Trần Thanh Ái đề cập hệ thống đào tạo tín chỉ mang lại sự chủ động và linh hoạt cho học viên, sinh viên khi chính người học tham gia quyết định tiến độ chương trình giáo dục, nội dung giáo dục cũng như cách tiếp cận, trình bày nội dung bài học… Tuy nhiên,

để đạt được hiệu quả tốt, đòi hỏi tính chủ động và kỹ năng của người học Khi mà tư tưởng truyền thống về hình thức giáo dục một chiều, tiếp thu thụ động, học vẹt, học tủ còn tồn tại, ý thức tự giác, chủ động của người học chưa được nâng cao thì vẫn còn là một

khó khăn, thách thức để đạt đúng hiệu quả vốn có của hệ thống đào tạo này

Bên cạnh đó, sự thiếu hụt giảng viên chuyên ngành, chất lượng cơ sở vật chất còn chưa được đầu tư đúng mực, nội dung chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, chưa phù hợp với hình thức giáo dục mới, đào tạo theo hình thức tín chỉ nhưng không đủ tín chỉ cho sinh viên lựa chọn… cũng khiến người học khó lòng xây dựng, phát huy tính chủ động trong học tập cũng như trong rèn luyện kỹ năng Từ nghiên cứu của Bùi Thị Thanh

Hà (2010), nhóm có trình độ trí thức ngày càng gia tăng trong xã hội Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo Vẫn tồn tại một bộ phận sinh viên tốt nghiệp không tìm được công việc ổn định, không đáp ứng được yêu cầu của tầng lớp trí thức Một vấn đề nữa tồn tại ở khía cạnh phân bố nguồn nhân lực có tri thức cao không đồng đều Hầu hết chất xám trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của nước ta đều tập trung tại

Trang 21

13

hai siêu đô thị là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, dẫn đến vấn đề trong phân bố nguồn lực đào tạo tại các trường, các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước Theo Nguyễn Hoàng Tứ, đào tạo theo hình thức tích lũy tín chỉ cần có thời gian chuyển đổi hoàn tất từ hình thức cũ, đồng thời cần sự gắn kết, hợp tác giữa Nhà nước, Nhà trường, lực lượng đào tạo và học viên, từ đó mới có thể phát huy hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng giáo dục của đất nước, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội (2008)

Tự học là một vấn đề phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học về phương pháp học tập và kỹ năng trong sinh viên Tự học cũng là một biểu hiện của tính chủ động học tập

Phần đông sinh viên đều nhận thức được tầm quan trọng của ý thức tự giác, chủ động trong học tập Việc tự học là vô cùng quan trọng đối với sinh viên, đặc biệt với hình thức giáo dục tín chỉ hiện nay, khi mà vai trò của sinh viên được nâng cao và chủ động (Hồ Thị Hải Yến, 2011; Nguyễn Thanh Thủy, 2016; Hoàng Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Ngọc Tuyền & Hoàng Thanh Tuyền, 2017) Có một phát hiện thú vị khi đề cập đến vai trò của giảng viên trong việc định hướng, hỗ trợ, tạo điều kiện, nền tảng giúp sinh viên phát huy tính chủ động, tinh thần tự học

Ngoài ra, các phương thức học tập, các kỹ năng khác như thảo luận nhóm, một cách tổng quát, đều nhận được sự quan tâm của bộ phận sinh viên Đại học, Cao đẳng Tuy nhiên, làm sao để phát huy những phương pháp, kỹ năng một cách hiệu quả, lan tỏa tinh thần chủ động tích lũy “vốn” vẫn còn là khía cạnh cần xem xét cụ thể hơn (Phạm Thị Lan Hương & Trần Triệu Khải, 2010; Đoạn Thị Thanh Minh & Hoàng Thị Quỳnh Nga, 2012;

Võ Bình Nguyên, 2014)

1.1.2 Nghiên cứu về việc làm và kênh thông tin việc làm của sinh viên giai đoạn hiện nay

Việc làm luôn là vấn đề được sinh viên quan tâm Thực trạng hiện nay cho thấy tỷ

lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp có việc làm ngay là khá thấp Hầu hết các công việc chưa thật sự đúng với chuyên ngành mà sinh viên được đào tạo (Đoàn Thị Thùy Dung, 2015; Thân Trung Dũng, 2015) Sinh viên tốt nghiệp do thiếu định hướng nghề nghiệp đúng đắn

từ trước, dẫn đến thiếu hụt kỹ năng cần thiết Từ đó, tình trạng sinh viên ra trường không

Trang 22

14

tìm được việc làm trở nên phổ biến trong những năm gần đây Bên cạnh đó, việc không chấp nhận những công việc trái ngành, thu nhập thấp, đam mê tìm kiếm công việc phù hợp, thu nhập cao trong khi bản thân thiếu hụt kiến thức, kỹ năng càng khiến tỷ lệ thất nghiệp của cử nhân đại học tăng cao (Hiếu Nguyễn, 2012; Phạm Huy Cường, 2014; Công

ty Tư vấn và Quản lý OCD, 2015)

Thân Trung Dũng (2015), Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp - Một vấn đề xã hội nan giải, Bài viết khoa học, Viện nghiên cứu Truyền thống và Phát triển Bài viết cho

thấy một bộ phận sinh viên chấp nhận tham gia lao động giản đơn, các công việc phổ thông không yêu cầu chuyên môn, trình độ nhằm có thu nhập tạm thời duy trì cuộc sống trong quá trình tìm kiếm công việc phù hợp hơn Một biện pháp mang tính an toàn khác là tiếp tục chương trình cao học với hy vọng có một công việc ổn định trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu Vấn đề việc làm mang tính khó khăn hơn đối với sinh viên thuộc các ngành khoa học xã hội khi tỷ lệ tìm được công việc đúng với chuyên môn rất thấp

Tuy nhiên, một phát hiện thú vị trái lại với bức tranh chung về vấn đề việc làm của sinh viên tốt nghiệp, thể hiện trong nghiên cứu “Thực trạng việc làm và khảo sát việc làm sinh viên sau tốt nghiệp của nước ta hiện nay” thực hiện tại Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh Theo đó, phần lớn sinh viên tốt nghiệp đều tìm được công việc phù hợp, đúng với chuyên ngành đào tạo Một bộ phận làm việc trái ngành vì họ yêu thích công việc hiện tại Tình trạng nhảy việc khá phổ biến, một bộ phận sinh viên trong nghiên cứu

có trên hai lần nhảy việc Phần lớn lý do được đưa ra là vì tìm được công việc có điều kiện tốt hơn; thích thử thách bản thân trong nhiều môi trường khác nhau; một phần nhỏ vì không thích công việc đang đảm trách dẫn đến quyết định thay đổi công việc

Hầu hết sinh viên Việt Nam hiện nay có tiêu chí và kế hoạch việc làm từ rất sớm Đặc điểm cá nhân và tính chất ngành nghề là hai tiêu chí thường được xem xét, cân nhắc trong lựa chọn việc làm, trong khi một yếu tố hết sức quan trọng lại ít được xem xét hơn – nhu cầu của xã hội Sinh viên tiếp cận thông tin việc làm thông qua đa dạng các kênh thông tin khác nhau, bao gồm các kênh thông tin từ phía nhà tuyển dụng, nhà trường, trung tâm giới thiệu việc làm, các phương tiện truyền thông như ti vi, báo đài, tờ rơi, áp

Trang 23

15

phích quảng cáo, đặc biệt là internet và mạng xã hội… Bên cạnh đó, mạng lưới quan hệ

xã hội đóng vai trò là một kênh thông tin quan trọng trong vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên Các mối quan hệ thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, họ hàng… kèm theo mạng lưới xã hội thứ cấp của họ trở thành công cụ đắc lực giúp sinh viên chọn lựa công việc phù hợp với nguyện vọng và chuyên môn (Bùi Thanh Hà & Hồ Ngọc Châm, 2014; Phạm Huy Cường, 2014 & 2016; Nguyễn Thị Hiên, 2015; Nguyễn Thị Diện, 2016; Lư Ngọc Liên, Nguyễn Thị Anh Đào, Vũ Đình Quý, Võ Minh Châu, Nguyễn Thanh Phong

& Ngô Thị Thanh Thảo, 2018)

Phạm Huy Cường (2014), Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn và Phạm Huy Cường (2016), Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), Luận án Tiến sĩ Xã hội học Theo các phát hiện của Phạm Huy Cường,

các mối quan hệ xã hội khác nhau mang lại những tác động khác biệt nhau trong vấn đề tiếp cận việc làm Cụ thể, các mối quan hệ thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp giúp sinh viên tìm được công việc nhanh hơn và phù hợp với chuyên ngành đào tạo của sinh viên hơn so với mạng lưới quan hệ gia đình và người thân Thu nhập từ các công việc được giới thiệu bởi các mối quan hệ xã hội bên ngoài có xu hướng cao hơn so với công việc được gia đình, họ hàng giới thiệu

Tuy nhiên, các phát hiện của Phạm Huy Cường trong nghiên cứu năm 2014 và

2016 lại có điểm khác biệt so với nghiên cứu định lượng của Đào Vũ Hương Giang, Đào Ngọc Cảnh, Huỳnh Văn Đà trong bài viết “Nhận thức nghề nghiệp đối với ngành du lịch của sinh viên ngôn ngữ Pháp, trường Đại học Cần Thơ” theo tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ năm 2019 Qua đó, các kênh thông tin được sinh viên sử dụng nhiều nhất để tìm việc làm sau khi tốt nghiệp là internet, tiếp đến là kênh thông tin tuyển dụng của các nhà tuyển dụng, còn về phía bạn bè, người thân, và sinh viên các khóa trước chiếm tỉ lệ thấp Điều này chứng tỏ mạng lưới các mối quan hệ xã hội đang dần được thay thế bằng mạng lưới thông tin internet trong thời đại công nghệ số

Trang 24

16

Trong những năm gần đây, khi các doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng Big Data và IoT vào hoạt động sản xuất kinh doanh, quá trình tuyển dụng nhân sự phần lớn được thực hiện thông qua các kênh tuyển dụng trên internet Hiện nay, sinh viên có sử dụng mạng xã hội như là một công cụ phổ biến để tìm kiếm việc làm (Nguyễn Lan Nguyên, 2020) Hiện nay, vai trò của mạng xã hội đang dần phát triển và có tác động mạnh mẽ đến kênh thông tin việc làm của lao động trẻ

Nguyễn Thị Thu Thanh (2018), Mạng lưới xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục Theo tác

giả, không thể phủ nhận kênh thông tin liên quan đến “vốn quan hệ xã hội” cũng như cần ghi nhận sự tác động mạnh mẽ của kênh thông tin liên quan đến mạng internet khi kết quả nghiên cứu cho thấy những sinh viên đã huy động để tìm kiếm thông tin cho các cơ hội việc làm bao gồm gia đình họ hàng chiếm 38,8%, các trang mạng xã hội chiếm 38,7%, mạng lưới hội nhóm – bạn bè chiếm 29,8%, thầy cô chiếm 12,9% và các đơn vị môi giới việc làm chiếm 2,4%

Tô Hoài Thắng, Phạm Thanh Tuấn, Trần Hoài Bảo (2019), Hợp tác doanh nghiệp

về giới thiệu việc làm, thực tập sinh viên tại trường Đại học Công nghệ TP.HCM thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Công thương Qua các phát hiện từ bài viết, có thể

nói mạng internet đang thực sự là một xu hướng mới mang tính đa dạng và phong phú trong việc giới thiệu và tìm kiếm việc làm của lao động trẻ hiện nay Khi áp dụng nền tảng công nghệ, công tác hợp tác giữa các trường đại học và các doanh nghiệp trở nên cởi

mở và đa dạng hơn Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giới thiệu việc làm đã giúp trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh tăng đáng kể lượng sinh viên có được kết nối tốt với các doanh nghiệp Xu hướng mới trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đang dần mở ra các hướng tiếp cận mới hơn trong việc tiếp cận thông tin việc làm cho lao động trẻ hiện nay

Các kênh thông tin việc làm được đề cập trong các nghiên cứu cũng là đối tượng được quan tâm trong đề tài này Trong bối cảnh hiện đại công nghệ số với lượng thông tin

đồ sộ được truyền tải Việc nắm bắt thông tin và cơ hội việc làm đòi hỏi sinh viên cần có

sự chủ động, linh hoạt và nguồn “vốn thông tin” cũng như “vốn quan hệ xã hội” dồi dào

Trang 26

Cần làm rõ “việc làm” và “nghề nghiệp” khi nghề nghiệp trên cơ sở là việc làm được gắn bó trong thời gian dài, người tham gia lao động có kỹ năng thực hiện thành thạo, tạo nên sản phẩm hiệu quả, có chất lượng (Nguyễn Phan Lâm & Tô Thị Hồng, 2016)

Trong giới hạn đề tài, tập trung vào vấn đề lựa chọn việc làm của sinh viên, bao gồm hai nhóm khách thể như đã đề cập ở trên Đây là những công việc chính thức hiện tại của sinh viên sau tốt nghiệp Ở đây, tôi chưa xét đến việc đó có phải nghề nghiệp ổn định, lâu dài của sinh viên hay chưa Đồng thời, thu hẹp phạm vi trong việc xác định điều kiện phải là nghề nghiệp sẽ vô tình trở thành điểm khó khăn trong quá trình nghiên cứu

1.2.2 Kênh thông tin việc làm

Kênh thông tin việc làm đóng vai trò là nguồn cung cấp thông tin liên quan đến vấn đề việc làm mà sinh viên có thể tiếp cận, thu thập thông tin Từ đó, đối chiếu với tiêu chí việc làm cũng như nhu cầu của bản thân đưa đến quyết định lựa chọn công việc phù hợp nhất

Dựa trên hai nghiên cứu của Phạm Huy Cường (2014 & 2016), đề tài tập trung đến hai kênh thông tin việc làm chủ yếu của sinh viên: (1) kênh thông tin chính thức và (2) kênh thông tin mạng lưới xã hội Trong đó, (1) kênh thông tin chính thức bao gồm cơ quan Nhà trường; các trung tâm giới thiệu việc làm; các kênh tuyển dụng chính thức của các công ty, doanh nghiệp, cơ quan…; chuyên mục tuyển dụng trên truyền thông đại chúng… Kênh thông tin chính thức thường gắn liền với hình thức tự ứng tuyển việc làm của sinh viên; Nhà trường, khối ngành đào tạo giới thiệu hoặc phía tuyển dụng chủ động liên hệ tuyển dụng sinh viên Đề cập đến (2) kênh thông tin mạng lưới xã hội là xem xét

Trang 27

1.3 Lý thuyết áp dụng

Đề tài sử dụng một số quan điểm trong lý thuyết về vốn xã hội và lý thuyết lựa chọn duy lý giúp làm rõ và giải thích cho vấn đề Bên cạnh đó, đề tài cũng áp dụng quan điểm của Robert Merton về truyền thông đại chúng vào trong nghiên cứu với hy vọng thu được những phát hiện thú vị liên quan đến vai trò của các kênh thông tin việc làm

1.3.1 Lý thuyết về vốn xã hội

Trong từ điển kinh tế, “vốn” được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hóa đầu

tư được sử dụng vào trong kinh doanh mang lại lợi ích Vốn ở đây là vốn hữu hình (Bùi Quang Bình, 2009)

Được đề cập trong giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Lenin”, “vốn” hay tư bản được hiểu là giá trị hữu hình hay vô hình ban đầu của hoạt động kinh tế, tạo ra các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất Theo Marx, vốn có thể tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị… (bất biến) hoặc tồn tại dưới hình thức lao động (khả biến)

Marx-Một cách khái quát, vốn là những giá trị ban đầu, mang tính tích lũy, tăng trưởng

và hao mòn, thông qua hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc những lợi ích khác

Kế thừa từ khái niệm vốn trong lĩnh vực kinh tế, vốn kinh tế của Pierre Bourdieu cũng mang những tính chất tương tự Rõ nét, vốn kinh tế có thể quy đổi về đơn vị tiền tệ hoặc quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thông qua quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, tạo ra giá trị thặng dư – tiền lãi Cũng theo quan điểm của ông, bản thân vốn kinh tế trở nên rất hạn hẹp khi sử dụng trong nghiên cứu, phân tích các vấn đề xã hội khác (Lê Thu

Hà, 2012)

Trang 28

Vốn xã hội là một trong những khái niệm phổ biến nhất của Pierre Bourdieu được

sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về quan hệ xã hội và mạng lưới xã hội Trong một bài viết của Trần Hữu Quang trong Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử có đề cập vốn

xã hội là “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau… được định chế hóa” Theo Bourdieu, một cá nhân được đánh giá có vốn xã hội nhiều hay

ít phụ thuộc vào mức độ rộng hay hạn chế trong việc huy động và liên hệ với các nguồn vốn kinh tế, văn hóa, vốn biểu tượng của cá nhân đó trong thực tế

Trong một lĩnh vực xã hội cụ thể với các vị trí sẵn có và phải cạnh tranh để đạt được, thì việc liên kết với nhau sẽ mang lại lợi ích cho từng cá nhân trong mạng lưới đó, bên cạnh lợi ích chung của cả nhóm (Lê Thu Hà, 2012) Một cá nhân biết xây dựng và vận dụng các mối quan hệ xã hội một cách hiệu quả, có mạng lưới quan hệ rộng, tức là vốn xã hội nhiều, sẽ dẫn đến khả năng huy động tổng hòa các nguồn vốn kinh tế, văn hóa, biểu tượng của người đó cũng sẽ nâng cao, giúp việc đạt được vị trí cao trong xã hội dễ dàng hơn Ngược lại, cá nhân với vốn xã hội ít ỏi chắc hẳn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thăng tiến và quyền lực Thực tế, cùng một chương trình đào tạo, cùng bằng cấp chứng chỉ, nhưng các cá nhân có vốn xã hội nhiều – mối quan hệ xã hội rộng – sẽ dễ dàng tiếp cận những công việc với thu nhập cao, môi trường làm việc tốt với các chính sách, chế độ phúc lợi đảm bảo hơn so với những cá nhân có vốn xã hội yếu kém

Áp dụng quan điểm này vào trong nghiên cứu, đề tài hướng đến giá trị “vốn xã hội” của sinh viên, biểu hiện thông qua mạng lưới quan hệ xã hội rộng hay hẹp và khả năng tạo lập quan hệ, vận dụng các mối quan hệ xã hội trong quá trình tiếp cận kênh thông tin việc làm và lựa chọn việc làm

Đồng thời, đề tài cũng mong muốn tìm hiểu được khác biệt về vai trò của vốn xã hội trong trường hợp chủ động và thờ ơ trong việc vận dụng vốn xã hội trong quá trình tìm kiếm và lựa chọn việc làm

Trang 29

21

1.3.2 Lý thuyết lựa chọn duy lý

Lý thuyết lựa chọn duy lý được xem là một biến thể của thuyết cá nhân phương pháp luận, như quan điểm của M Weber, G Simmel Lý thuyết nhấn mạnh đến cá nhân con người George Homans, Peter Blau và Jame Coleman là những người đã phát triển lý thuyết lựa chọn duy lý một cách chi tiết và hoàn thiện hơn

Trong đó, theo Coleman, “những quyết định cá nhân khi tập hợp lại với nhau có thể đưa đến những hậu quả không tiên đoán được” (Nguyễn Xuân Nghĩa, n.d) Quyết định tập thể được hình thành từ quá trình đi tìm lợi ích tối đa của các cá nhân, tạo thành những nhóm đồng quan điểm lợi ích Một yếu tố quan trọng được Coleman đề cập, sự tin cậy là

cơ sở quan trọng và vững chắc trong tương tác xã hội Ông cũng nhấn mạnh đến sự trao đổi lợi ích qua lại giữa các bên trong quá trình tương tác, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các yếu tố trung gian trong việc xây dựng độ tin cậy Khác với quan điểm của Homans, Coleman cho rằng chuẩn mực của nhóm hình thành tự nhiên trong quá trình tương tác duy lý giữa các thành viên trong nhóm (Nguyễn Xuân Nghĩa, n.d)

Áp dụng quan điểm của Coleman về lý thuyết lựa chọn duy lý, đề tài mong muốn tìm hiểu độ lý tính của sinh viên đối với các kênh thông tin việc làm trong quá trình cung cấp các thông tin và lựa chọn Đồng thời, trong quá trình tiếp cận thông tin từ nhiều kênh, sinh viên sẽ có sự so sánh và lựa chọn công việc phù hợp với lợi ích, điều kiện, khả năng của bản thân Ngoài ra, đề tài cũng hướng đến xem xét yếu tố độ tin cậy của thông tin việc làm được cung cấp từ các kênh thông tin khác nhau dưới góc độ tiếp cận của sinh viên

Từ đó, tìm hiểu sự phản hồi của sinh viên đối với từng kênh thông tin

1.3.3 Quan điểm về truyền thông đại chúng của Robert Merton

Trong lý thuyết chức năng luận (functionalism), xã hội được xem xét như một tổng thể với nhiều thành tố, bộ phận khác nhau Trong đó, mỗi thành tố, bộ phận đảm nhận một chức năng, vai trò riêng biệt Và truyền thông đại chúng là một bộ phận trong tổng thể xã hội đó Theo Trần Hữu Quang, chức năng của truyền thông đại chúng nhằm giải quyết nhu cầu về tính ổn định và liên tục vận động của một xã hội (2015)

Truyền thông đại chúng, theo quan điểm của Robert Merton, bao gồm những chức năng công khai, có thể chứng kiến, và những hiệu quả khác, những thông điệp mà truyền

Trang 31

23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ QUAN ĐIỂM VỀ LỰA CHỌN VIỆC

LÀM CỦA SINH VIÊN XÃ HỘI HỌC

Chương này tập trung tìm hiểu tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành

xã hội học trong giai đoạn hiện nay Từ đó, đối chiếu với số liệu thứ cấp về việc làm của sinh viên xã hội học tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 nhằm xem xét sự biến đổi về cơ cấu lĩnh vực việc làm qua các năm, bổ sung vào số liệu chung Đồng thời, tìm hiểu quan điểm của hai nhóm sinh viên về tiêu chí lựa chọn việc làm

2.1 Thực trạng việc làm của sinh viên ngành xã hội học

2.1.1 Việc làm của sinh viên xã hội học giai đoạn 2016 - 2019

Trong giới hạn tiếp cận, đề tài tiếp cận và phân tích số liệu khoa học về việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học giai đoạn 2016 – 2019 Đây là kết quả thu được từ khảo sát chất lượng sinh viên hàng năm của đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, thông qua tổng hợp số liệu từ khảo sát các năm, phần lớn sinh viên ngành xã hội học có việc làm đầu tiên trong khoảng thời gian ba tháng sau khi tốt nghiệp, tỷ lệ lần lượt là 74,9% (2016), 80,7% (2017), 83% (2018) và 88,3% (2019) Chi tiết được thể hiện thông qua bảng 2.1

Bảng 2.1 Thống kê thời gian sinh viên ngành xã hội học tìm được việc làm đầu tiên

sau khi tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị:%)

STT Thời gian tìm được việc làm kể

Trang 32

24

Từ số liệu, có thể nhận thấy tỷ lệ có việc làm trong khoảng thời gian dưới ba tháng đầu tiên từ thời điểm tốt nghiệp của sinh viên có xu hướng tăng dần qua các năm Điều này phần nào phản ánh về chất lượng và hiệu quả chương trình đào tạo của khoa và nhà trường giúp sinh viên có thể tiếp cận nhiều cơ hội việc làm và nâng cao khả năng ứng tuyển thành công của sinh viên Bộ phận nhỏ các sinh viên còn lại tìm được việc trong khoảng thời gian từ ba đến dưới sáu tháng sau khi tốt nghiệp Rất ít trường hợp sinh viên mất từ sáu đến dưới 12 tháng để tìm được công việc đầu tiên (1,2% vào năm 2019)

Từ bảng số liệu, tôi đặc biệt chú ý đến tỷ lệ có việc làm ngay của sinh viên khi tốt nghiệp Nếu như tỷ lệ sinh viên có việc trong khoảng thời gian dưới ba tháng tăng qua từng năm, thì tỷ lệ sinh viên có việc làm ngay lại có xu hướng giảm mạnh từ 44,4% vào năm 2016 còn 21,2% vào năm 2019, chỉ trong khoảng thời gian bốn năm Liệu rằng tình trạng này xuất phát từ sự thay đổi định hướng hoạt động kết nối sinh viên của khoa với nhà tuyển dụng hay chính sinh viên có những quyết định riêng trong vấn đề lựa chọn việc làm sau tốt nghiệp?

Về lĩnh vực việc làm, sinh viên tốt nghiệp ngành xã hội học tham gia vào đa dạng lĩnh vực lao động khác nhau sau khi tốt nghiệp

Bảng 2.2 Thống kê lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt

nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị:%)

STT Cơ quan thuộc lĩnh vực nào Năm

2016 2017 2018 2019

(Nguồn: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

Các lĩnh vực việc làm chủ yếu có sự tham gia lao động của sinh viên ngành xã hội học bao gồm lĩnh vực đào tạo – nghiên cứu, văn hóa – xã hội, kinh doanh, truyền thông,

và dịch vụ Trong đó, thông qua khả sát của khoa và trường, lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ

Trang 33

25

cao nhất sinh viên xã hội học và có xu hướng tăng dần qua các năm (25,7% vào năm 2016 tăng đến 33,3% vào năm 2019) Đi kèm với sự phát triển của xã hội, nhiều lĩnh vực, ngành nghề mới xuất hiện tạo cơ hội việc làm cho nhóm người lao động Trong đó, lĩnh vực dịch vụ với đa dạng hình thức việc làm có xu hướng phát triển và thu hút sự tham gia của sinh viên xã hội học Một lĩnh vực việc làm khác cũng có xu hướng tăng mạnh, đó là lĩnh vực truyền thông Số liệu cho thấy tỷ lệ sinh viên xã hội học làm việc trong lĩnh vực này tăng cao từ 5,7% (2016) đến 11,5% (2019) Lý giải cho phát hiện này, có thể kể đến

sự phát triển của internet và ứng dụng internet vào trong đời sống kinh tế - xã hội Trong

xã hội mới, các yếu tố, lĩnh vực được kết nối với nhau thì nguồn thông tin được xem là

“vốn” và “tài sản” có giá trị của cá nhân, tổ chức Nhu cầu về kết nối, chia sẻ thông tin tăng cao, từ đó dẫn đến việc gia tăng cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực này Cũng cần xét đến yếu tố phù hợp về năng lực của sinh viên xã hội học khi tham gia vào lĩnh vực truyền thông Theo đó, với nhãn quan xã hội học cùng các kỹ thuật thu thập và phân tích thông tin được đào tạo bày bản và sâu, dường như lĩnh vực truyền thông sẽ trở thành nơi để sinh viên xã hội học có thể ứng dụng chuyên môn và kỹ năng vào trong thực tiễn, thể hiện năng lực và giá trị của bản thân trên thị trường lao động Với sự chuyển dịch tham gia các lĩnh vực ngành nghề, nhóm kinh doanh có sự giảm nhẹ tỷ lệ tham gia lao động của sinh viên xã hội học (từ 40% vào năm 2016 giảm còn 31% vào năm 2019, giảm 9%) Tuy nhiên, đây vẫn là nhóm có lượng sinh viên xã hội học làm việc cao nhất nhì trong các lĩnh vực

Khảo sát chất lượng sinh viên hàng năm của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng quan tâm đến kênh thông tin việc làm của sinh viên Tổng hợp kết quả khảo sát, các phương tiện truyền thông nói chung đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học khi hơn một nửa sinh viên tìm được việc làm thông qua kênh này (60,4% vào năm 2016, 59,1% vào năm 2017, 71,2% vào năm 2018 và 57,9% vào năm 2019) Bên cạnh đó, các mối quan hệ xã hội, cụ thể là thông qua người thân và bạn bè, sinh viên cũng tìm kiếm được những cơ hội việc làm cho bản thân (dao động từ 31,3% đến 35,8% qua các năm) Các kênh thông tin khác chiếm một tỷ lệ không đáng kể Chi tiết số liệu được thể hiện qua bảng 2.3 bên dưới

Trang 34

26

Bảng 2.3 Kênh thông tin việc làm mà sinh viên ngành xã hội học tiếp cận và lựa chọn

công việc sau khi tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019 (Đơn vị:%)

STT Kênh thông tin tuyển dụng

(Nguồn: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

Tổng hợp số liệu thống kê từ khảo sát chất lượng sinh viên hàng năm, sinh viên tốt nghiệp ngành xã hội học có nhiều cơ hội tham gia đa dạng lĩnh vực việc làm trên thị trường lao động giai đoạn hiện nay Chương trình đào tạo chuyên ngành giúp sinh viên trang bị các kiến thức, phương pháp luận và các kỹ năng phục vụ tốt cho công việc thực tiễn, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho sinh viên trên thị trường lao động Sinh viên ngành

xã hội học cũng có đa dạng kênh thông tin việc làm, trong đó phổ biến nhất là thông qua phương tiện truyền thông đại chúng và sử dụng vốn xã hội của bản thân Thông qua việc khái quát tình hình việc làm của sinh viên xã hội học qua các năm, các số liệu và nhận định này sẽ làm cơ sở cho các phát hiện mới thu được từ nghiên cứu

2.1.2 Sinh viên xã hội học tham gia đa dạng lĩnh vực việc làm

Nhằm tìm hiểu thực trạng việc làm hiện tại của sinh viên xã hội học, đề tài đã tiến hành khảo sát cả hai nhóm sinh viên năm cuối và sinh viên tốt nghiệp Theo đó, ở nhóm sinh viên năm cuối, một bộ phận đã tham gia trải nghiệm môi trường lao động thông qua các công việc bán thời gian, công việc thời vụ, phần đông sinh viên năm cuối vẫn đang tập trung cho việc hoàn thành chương trình đào tạo Ở nhóm sinh viên tốt nghiệp, hầu hết sinh viên đều hiện đang có việc làm, trong đó công việc chính thức chiếm phần lớn

Trang 35

Biểu đồ 2.1: Lĩnh vực việc làm nhóm sinh viên tốt nghiệp tham gia (Đơn vị: %)

(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài)

Biểu đồ cho thấy dịch vụ là lĩnh vực việc làm phổ biến đối với sinh viên xã hội học khi có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tham gia lao động cao nhất (32,5%) Tỷ lệ mang tính ổn định khi so sánh với dữ liệu thứ cấp từ khảo sát chất lượng sinh viên xã hội học hàng năm của nhà trường giai đoạn 2016 – 2019 Bên cạnh đó, lĩnh vực truyền thông – sự kiện cũng nhận được sự quan tâm ứng tuyển của các bạn sinh viên khi có 27,5% số sinh viên tham gia vào lĩnh vực này sau khi tốt nghiệp Đối chiếu với lĩnh vực việc làm của sinh viên xã hội học tốt nghiệp giai đoạn 2016 – 2019, các lĩnh vực việc làm đều mang tính phổ biến đối với sinh viên, không có nhiều sự thay đổi, xuất hiện của những lĩnh vực mới Trong

đó, truyền thông – sự kiện và giáo dục – nghiên cứu là hai lĩnh vực có chiều hướng tăng trưởng về lực lượng lao động là sinh viên ngành xã hội học (từ 11,5% và 12,6% vào năm

2019 tăng lên 27,5% và 25%) Tuy nhiên, cũng cần đề cập đến thành phần mẫu tham gia khảo sát trong đề tài bao gồm sinh viên tốt nghiệp những năm khác nhau, từ 2019 đến

Trang 36

28

2021, không phân chia theo số năm tốt nghiệp như dữ liệu thứ cấp ban đầu Do vậy, các

tỷ lệ phân bố của nhóm sinh viên tốt nghiệp theo lĩnh vực việc làm chỉ mang tính chất tham khảo, củng cố thêm cho cơ sở dữ liệu trước đó

Sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt nghiệp đã tham gia vào đa dạng lĩnh vực ngành nghề Đồng thời, cơ quan làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp cũng mang tính đa dạng hình thức từ cơ quan nhà nước đến công ty tư nhân, công ty có vốn đầu tư nước ngoài… Một số chia sẻ của sinh viên:

“Thì công việc của mình là sẽ làm cách nào đó để tiếp cận với khách hàng và chia

sẻ lại được cho khách hàng nắm được thông tin, cái sản phẩm bên chỗ mình và giúp cho họ hiểu, họ tin tưởng dịch vụ và sử dụng dịch vụ của mình Và bên cạnh

đó mình sẽ giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình mà họ sử dụng hoặc là họ

có thắc mắc gì đó.”

(SVTN2, nữ, 23 tuổi, một năm kinh nghiệm, lĩnh vực giáo dục)

“Thời sinh viên em có đi làm nhân viên bán hàng ở chuỗi cửa hàng tiện lợi Sau đó thì em có làm giám sát ca cho một chuỗi quán cà phê Rồi em có đi làm điều tra viên Công việc gần đây nhất của em là làm nhân viên điều phối của công ty Giao Hàng Tiết Kiệm.”

(SVTN3, nam, 24 tuổi, hai năm kinh nghiệm, lĩnh vực logistics) Một chia sẻ khác của sinh viên có kinh nghiệm làm việc tại cơ quan nhà nước:

“Mình có làm khoảng hơn một năm với công việc ở phòng công tác xã hội ở bệnh viện Sau hơn một năm mình có suy nghĩ chuyển hướng công việc, chuyển sang làm ở một công ty khác […] Mình chuyển hướng sang làm việc cho một doanh nghiệp tư nhân Sau đó mình có hơn một năm rưỡi nữa ở một doanh nghiệp tư nhân trong mảng hành chính, quản trị văn phòng […] Và công việc gần nhất mình làm cũng liên quan đến khối hành chính quản trị cho một doanh nghiệp tư nhân khác.”

(SVTN5, nữ, 26 tuổi, bốn năm kinh nghiệm, lĩnh vực hành chính quản trị)

Từ các chia sẻ, có thể nhận thấy sinh viên có sự chuyển đổi việc làm trong giai đoạn một đến hai năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp, chính thức tham gia vào thị trường lao

Trang 37

29

động Qua tìm hiểu thông tin từ nhóm sinh viên tốt nghiệp các năm tham gia phỏng vấn sâu, tất cả các trường hợp đều có ít nhất một lần chuyển đổi công việc kể từ công việc chính thức đầu tiên sau khi hoàn thành chương trình đào tạo đại học Một số lựa chọn thay đổi cơ sở làm việc, thay đổi môi trường làm việc sang một cơ quan, một doanh nghiệp khác:

“Thì em làm marketing ở một công ty đó được khoảng chín tháng, thì tới dịch vừa rồi, tháng bảy vừa rồi thì em nghỉ, em mới chuyển sang công ty mới và làm tới hiện giờ là làm marketing luôn, làm ở mảng marketing digital.”

(SVTN4, nam, 24 tuổi, trên một năm kinh nghiệm, lĩnh vực marketing) Một số sinh viên khác đã có sự chuyển đồi cả về tính chất, lĩnh vực việc làm và cơ

sở làm việc Điển hình như trường hợp của SVTN3, sinh viên đã làm việc tại nhiều vị trí thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trước khi gắn bó với vị trí thuộc lĩnh vực logistics như hiện tại Từ trường hợp trên, có thể nhận thấy một hạn chế đối với việc sinh viên chuyển đổi việc làm liên tục trong một khoảng thời gian ngắn, thuộc nhiều lĩnh vực công việc khác nhau, đó là sinh viên không có đủ thời gian để tích lũy kinh nghiệm làm việc thực tế tại vị trí cụ thể Điều đó không giúp sinh viên nâng cao giá trị bản thân cũng như vốn con người tích lũy Đồng thời, việc làm mới thuộc một lĩnh vực mới mang theo nguy cơ buộc sinh viên phải chấp nhận bắt đầu lại từ đầu trong hệ thống thăng tiến, phát triển công việc tại doanh nghiệp Từ đó, các quyền lợi, phúc lợi mà sinh viên nhận được cũng chịu ảnh hưởng nhất định Một trường hợp khác chia sẻ:

“Mình đã từng làm qua vị trí marketing tại một công ty cà phê hoà tan được nửa năm Sau đó mình chuyển qua làm agency tổ chức sự kiện, ở đó mình làm được hai năm Tiếp đó, mình chuyển qua một công ty thuộc tập đoàn truyền thông Golden Communication Group và mình ở trong công ty thành viên của tập đoàn đó là Golden Event và mình cũng làm ở đó được hơn hai năm rồi sau đó mình có sự thay đổi công việc tính tới thời điểm hiện tại là chuyên viên gắn kết nội bộ của công ty Shopee.”

(SVTN6, nam, 26 tuổi, trên bốn năm kinh nghiệm, lĩnh vực truyền thông – sự kiện)

Trang 38

30

Khác với trường hợp SVTN3, tìm hiểu chi tiết hơn trường hợp SVTN6, việc sinh viên chấp nhận chuyển đổi việc làm nhằm phát triển kinh nghiệm của bản thân sau một giai đoạn nhất định Đồng thời, sinh viên cũng định hướng tham gia vào các vị trí công việc cao hơn, tại những môi trường làm việc tốt hơn Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức, yêu cầu sinh viên cần trau dồi, tích lũy đủ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm cho bản thân trong suốt một quá trình làm việc trước đó

Như vậy, qua việc phân tích các trường hợp, sinh viên ngành xã hội học có nhiều

cơ hội ứng tuyển vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau sau khi tốt nghiệp Bên cạnh

đó, cần quan tâm đến yếu tố chuyển đổi việc làm của nhóm sinh viên tốt nghiệp, đặc biệt

là sự chuyển đổi việc làm trong giai đoạn từ một đến hai năm đầu tiên tham gia chính thức vào thị trường lao động Nguyên nhân, như đã đề cập, có thể đến từ việc tìm kiếm một môi trường lao động phù hợp với nguyện vọng phát triển bản thân; hoặc việc chuyển đổi đó chỉ đơn giản là giúp trải nghiệm làm việc của sinh viên thêm phong phú, từ đó sinh viên có thể xác định rõ ràng hơn về lĩnh vực công việc mà bản thân muốn gắn bó

2.1.3 Sinh viên vận dụng chuyên môn, kỹ năng được đào tạo vào trong lao động

Khi được hỏi về quan điểm “Chương trình đào tạo giúp tôi có lợi thế về chuyên môn và kỹ năng trong quá trình tìm việc” , một bộ phận không nhỏ sinh viên tốt nghiệp thể hiện sự đồng tình Cụ thể, có 52,3% sinh viên đồng ý và hoàn toàn đồng ý rằng chương trình đào tạo tại khoa xã hội học cung cấp cho họ những kiến thức chuyên môn cùng các công cụ, kỹ năng mang tính thực dụng cao Từ đó, khi tham gia thị trường lao động, nhóm sinh viên có thể vận dụng nguồn “vốn” tích lũy đó một cách hiệu quả trong quá trình tìm việc và ứng tuyển Một bộ phận sinh viên đã tốt nghiệp thể hiện sự không chắc chắn đối với quan điểm trên (27,3%), và 20,4% nhóm sinh viên không đồng ý

Trang 39

31

Bảng 2.4: Quan điểm của nhóm sinh viên tốt nghiệp đối với vai trò của chương trình

đào tạo (Đơn vị: %)

(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài)

Xoay quanh việc tìm hiểu về lợi thế cạnh tranh của sinh viên tốt nghiệp ngành xã hội học khi tham gia vào thị trường lao động, các thông tin thu được từ phỏng vấn sâu nhóm sinh viên tốt nghiệp tập trung phổ biến vào “góc nhìn đa chiều, khách quan”, “tiếp cận, nắm bắt tâm lý”, “giao tiếp, chia sẻ”, “kỹ năng phân tích, tổng hợp thông tin”… Đây được xem là những kỹ năng mà sinh viên tiếp thu từ quá trình đào tạo, đồng thời, qua chia

sẻ, đóng vai trò thế mạnh cho sinh viên của ngành xã hội học khi ứng tuyển vào một vị trí công việc nhất định

Cụ thể, qua đào tạo, sinh viên ngành xã hội học có xu hướng tiếp cận và nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau để xác định bản chất, nguyên nhân của vấn đề Từ đó, sinh viên lựa chọn và xây dựng các giải pháp hiệu quả đối với vấn đề, đồng thời phù hợp với bối cảnh và năng lực của bản thân Áp dụng vào trong quá trình làm việc, sinh viên cảm thấy nhãn quan xã hội học giúp họ nhìn nhận

và thực hiện công việc một cách hiệu quả, hệ thống, đồng thời, các vấn đề phát sinh trong công việc cũng như các mối quan hệ đồng nghiệp cũng được nhìn nhận rõ ràng và can thiệp, xử lý kịp thời Minh chứng cho phát hiện này là một chia sẻ từ nhóm sinh viên:

“Tâm đắc nhất của mình là xã hội học giúp mình có cái nhìn khách quan nhất, nhìn tất cả các sự việc đều dưới chiều hướng khách quan trên mọi mặt của vấn đề

và không cảm tính khi xử lý hoặc nhìn nhận một vấn đề nào, điều này cực kỳ cần thiết trong tất cả mọi lĩnh vực công việc

Trang 40

32

(SVTN5, nữ, 26 tuổi, bốn năm kinh nghiệm, lĩnh vực hành chính quản trị) Bên cạnh đó, kỹ năng nắm bắt tâm lý và kỹ năng giao tiếp cũng được xem là một thế mạnh của sinh viên ngành xã hội học khi cạnh tranh với các ứng viên khác trong thị trường lao động Một trường hợp sinh viên tốt nghiệp đề cập đến kỹ năng nắm bắt tâm lý

và giao tiếp hiệu quả giúp ích rất nhiều trong quá trình ứng tuyển công việc:

“Cái mà khiến mình tâm đắc và cảm thấy đã giúp ích nhiều cho mình trong công việc cũng như những lần phỏng vấn, đó chính là cách nắm bắt được nhu cầu, xu thế, tâm lý của người phỏng vấn mình đang muốn tìm vị trí này là gì và vị trí đó sẽ giúp ích được gì cho công ty.”

(SVTN6, nam, 26 tuổi, trên bốn năm kinh nghiệm, lĩnh vực truyền thông – sự kiện) Qua chia sẻ, có thể nhận thấy việc hiểu biết và nắm bắt tâm lý của nhà tuyển dụng cùng khả năng ứng xử, giao tiếp linh hoạt, thuyết phục sẽ giúp sinh viên đến gần hơn với

vị trí việc làm mà bản thân mong muốn Một trường hợp khác cũng khẳng định sinh viên

Xã hội học được đào tạo các nhóm kỹ năng phân tích, giao tiếp và quản lý rất chi tiết và bày bản Theo đó, khi tốt nghiệp, sinh viên có nhiều cơ hội ứng tuyển vào các vị trí việc làm thuộc mảng hành chính, quản trị văn phòng hay mảng truyền thông Chia sẻ từ trường hợp nữ sinh viên đang làm việc trong lĩnh vực hành chính – quản trị văn phòng:

“Mảng hành chính, quản trị văn phòng Nhóm công việc sẽ cần những kĩ năng như

kĩ năng giao tiếp, kĩ năng quản lý, kĩ năng phân tích phán đoán tình hình Những

kĩ năng này hầu như các sinh viên Xã hội học được đào tạo rất kĩ… Những công việc như Báo chí truyền thông thì sinh viên Xã hội học cũng có thể làm vì nó cũng

là công việc có liên quan đến kĩ năng giao tiếp, kĩ năng phân tích, phán đoán tình hình.”

(SVTN5, nữ, 26 tuổi, bốn năm kinh nghiệm, lĩnh vực hành chính - quản trị) Đồng thời, trong quá trình làm việc, yêu cầu về giao tiếp hiệu quả luôn đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả và năng suất công việc của một cá nhân Cụ thể:

“Khả năng em tiếp cận với công việc nó khá là nhanh hơn so với những người khác Giống như là mình hiểu được những cái tâm lý của con người như thế nào…

kỹ năng mà mình nắm bắt được tâm lý của khách hàng và mình khai thác được nhu

Ngày đăng: 13/11/2023, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Bình (2009), Vốn con người và đầu tư vào vốn con người. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn con người và đầu tư vào vốn con người
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2009
2. Bùi Thanh Hà & Hồ Ngọc Châm (2014), Lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học Phổ thông hiện nay, Tạp chí Xã hội học, 1, trang 20-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học Phổ thông hiện nay
Tác giả: Bùi Thanh Hà & Hồ Ngọc Châm
Năm: 2014
3. Bùi Thị Thanh Hà (2010), Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kì đổi mới, Tạp chí Xã hội học, 4, trang 36-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kì đổi mới
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2010
4. Công ty Tư vấn và Quản lý OCD (2015), Báo cáo khảo sát về Định hướng nghề nghiệp của sinh viên, Truy xuất từ https://www.slideshare.net/ThuyHong6/nghin-cu-th-trng-kho-st-nh-hng-ngh-nghip-cho-sinh-vin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát về Định hướng nghề nghiệp của sinh viên
Tác giả: Công ty Tư vấn và Quản lý OCD
Năm: 2015
5. Đào Vũ Hương Giang, Đào Ngọc Cảnh & Huỳnh Văn Đà (2019), Nhận thức nghề nghiệp đối với ngành du lịch của sinh viên ngôn ngữ Pháp, trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức nghề nghiệp đối với ngành du lịch của sinh viên ngôn ngữ Pháp, trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Đào Vũ Hương Giang, Đào Ngọc Cảnh & Huỳnh Văn Đà
Năm: 2019
6. Đặng Nguyên Anh (2014), Đổi mới chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm để phát triển bền vững, Tạp chí Xã hội học, 3, trang 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm để phát triển bền vững
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2014
7. Đoàn Thị Thùy Dung (2015), Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường, Nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
Tác giả: Đoàn Thị Thùy Dung
Năm: 2015
8. Đoạn Thị Thanh Minh & Hoàng Thị Quỳnh Nga (2012), Nâng cao hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên bộ môn kế toán – tin học theo hệ thống đào tạo tín chỉ, Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên bộ môn kế toán – tin học theo hệ thống đào tạo tín chỉ
Tác giả: Đoạn Thị Thanh Minh & Hoàng Thị Quỳnh Nga
Năm: 2012
9. Đỗ Phú Hải (2014), Chính sách lao động - việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Xã hội học, 2, trang 29-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách lao động - việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
11. Hiếu Nguyễn (2012), Sinh viên và định hướng nghề nghiệp: vấn đề nan giải, Truy xuất từ https://baomoi.com/sinh-vien-va-dinh-huong-nghe-nghiep-van-de-nan-giai/c/9811041.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên và định hướng nghề nghiệp: vấn đề nan giải
Tác giả: Hiếu Nguyễn
Năm: 2012
12. Hoàng Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Ngọc Tuyền & Hoàng Thanh Tuyền (2017) Thực trạng động lực học tập của sinh viên khối ngành Kinh tế, trường Đại học Đại Nam, Nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng động lực học tập của sinh viên khối ngành Kinh tế, trường Đại học Đại Nam
13. Hồ Thị Hải Yến (2011), Nâng cao hiệu quả chất lượng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn cho sinh viên trong trường Đại học hiện nay, Nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả chất lượng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn cho sinh viên trong trường Đại học hiện nay
Tác giả: Hồ Thị Hải Yến
Năm: 2011
14. Lê Thu Hà (2012), Vận dụng lý thuyết Vốn xã hội của Pierre Bourdieu vào phân tích vai trò của xã hội dân sự, Tạp chí Xã hội học, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết Vốn xã hội của Pierre Bourdieu vào phân tích vai trò của xã hội dân sự
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2012
15. Lê Thúy Hằng (2011), Di động việc làm trong quá trình chuyển đổi việc ở Việt Nam: Nhìn từ những thay đổi trong chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế, Tạp chí Xã hội học, 3, trang 83-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di động việc làm trong quá trình chuyển đổi việc ở Việt Nam: "Nhìn từ những thay đổi trong chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế
Tác giả: Lê Thúy Hằng
Năm: 2011
16. Lư Ngọc Liên, Nguyễn Thị Anh Đào, Vũ Đình Quý, Võ Minh Châu, Nguyễn Thanh Phong & Ngô Thị Thanh Thảo (2018), Sinh viên và công việc làm thêm: Thực trạng và giải pháp. Nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên và công việc làm thêm: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lư Ngọc Liên, Nguyễn Thị Anh Đào, Vũ Đình Quý, Võ Minh Châu, Nguyễn Thanh Phong & Ngô Thị Thanh Thảo
Năm: 2018
17. Ngô Thị Kim Dung (2011), Tham gia hoạt động kinh tế của người di cư tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Xã hội học, 4, trang 80-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia hoạt động kinh tế của người di cư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Thị Kim Dung
Năm: 2011
18. Nguyễn Lan Nguyên (2020), Vai trò của mạng xã hội Facebook đối với vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay và đề xuất chính sách, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của mạng xã hội Facebook đối với vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay và đề xuất chính sách
Tác giả: Nguyễn Lan Nguyên
Năm: 2020
19. Nguyễn Phan Lâm và Tô Thị Hồng (2016), Đánh giá của thanh niên về khả năng thích ứng trong hội nhập nghề nghiệp hiện nay, Tạp chí Xã hội học, 4, trang 100-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá của thanh niên về khả năng thích ứng trong hội nhập nghề nghiệp hiện nay
Tác giả: Nguyễn Phan Lâm và Tô Thị Hồng
Năm: 2016
20. Nguyễn Thanh Thùy (2014), Các hình thức trợ giúp đào tạo nghề đảm bảo an sinh việc làm cho lao động trẻ hiện nay, Tạp chí Xã hội học, 1, trang 53-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức trợ giúp đào tạo nghề đảm bảo an sinh việc làm cho lao động trẻ hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Thùy
Năm: 2014
21. Nguyễn Thanh Thủy (2016), Kích thích tính tự giác học tập, nghiên cứu cho sinh viên trong quá trình đào tạo nhà giáo tương lai, Tạp chí Khoa học - Đại học Đồng Nai, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kích thích tính tự giác học tập, nghiên cứu cho sinh viên trong quá trình đào tạo nhà giáo tương lai
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Thống kê thời gian sinh viên ngành xã hội học tìm được việc làm đầu tiên - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1 Thống kê thời gian sinh viên ngành xã hội học tìm được việc làm đầu tiên (Trang 31)
Bảng 2.2 Thống kê lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2 Thống kê lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt (Trang 32)
Bảng 2.3 Kênh thông tin việc làm mà sinh viên ngành xã hội học tiếp cận và lựa chọn - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.3 Kênh thông tin việc làm mà sinh viên ngành xã hội học tiếp cận và lựa chọn (Trang 34)
Bảng 2.4: Quan điểm của nhóm sinh viên tốt nghiệp đối với vai trò của chương trình - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.4 Quan điểm của nhóm sinh viên tốt nghiệp đối với vai trò của chương trình (Trang 39)
Bảng 2.5: Định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp của nhóm sinh viên năm cuối - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.5 Định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp của nhóm sinh viên năm cuối (Trang 43)
Bảng 3.1 Hình thức vận dụng mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.1 Hình thức vận dụng mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên (Trang 57)
Bảng 3.2: Hình thức tiếp cận kênh thông tin cơ sở đào tạo của sinh viên (Đơn vị: %) - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.2 Hình thức tiếp cận kênh thông tin cơ sở đào tạo của sinh viên (Đơn vị: %) (Trang 67)
Bảng 3.3: Mức độ chi tiết của thông tin việc làm trên các kênh khác nhau - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.3 Mức độ chi tiết của thông tin việc làm trên các kênh khác nhau (Trang 69)
Bảng 3.4: Độ tin cậy và mức độ đáp ứng nhu cầu tìm việc của các kênh thông tin - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.4 Độ tin cậy và mức độ đáp ứng nhu cầu tìm việc của các kênh thông tin (Trang 70)
16. Hình thức tiếp cận kênh thông tin doanh nghiệp, nhà tuyển dụng của sinh viên - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
16. Hình thức tiếp cận kênh thông tin doanh nghiệp, nhà tuyển dụng của sinh viên (Trang 106)
17. Hình thức tiếp cận kênh thông tin cơ sở đào tạo của sinh viên - Vai trò của các kênh thông tin về vấn đề lựa chọn việc làm đối với sinh viên ngành xã hội học tại thành phố hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay
17. Hình thức tiếp cận kênh thông tin cơ sở đào tạo của sinh viên (Trang 107)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w