1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thơ hàn mặc tử từ lý thuyết phân tâm học của gaston bachelard

148 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard
Tác giả Chung Tú Quỳnh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đề tài Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard chúng tôi hi vọng sẽ phần nào góp thêm kiến thức, tài liệu tham khảo cho bộ môn lý luận văn học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

──────────

CHUNG TÚ QUỲNH

NGHIÊN CỨU THƠ HÀN MẶC TỬ

TỪ LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC CỦA GASTON BACHELARD

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

──────────

CHUNG TÚ QUỲNH

NGHIÊN CỨU THƠ HÀN MẶC TỬ

TỪ LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC CỦA GASTON BACHELARD

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 8220120

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỮU HIẾU Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn văn

công trình chưa được công bố ở bất kì nơi khác Các trích dẫn và nội dung tham khảo đều trung thực và có xuất xứ rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm…

Tác giả luận văn

Chung Tú Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình tham gia học tập và nghiên cứu tại Trường đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn TPHCM, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Văn học đã giảng dạy tận tình tạo điều kiện giúp tôi có một môi trường học tập tốt Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến PGS TS Nguyễn Hữu Hiếu, người thầy đã hướng dẫn khoa học cho luận văn thạc sĩ của tôi Trong quá trình thực hiện đề tài, thầy luôn là người dõi theo từng bước, giúp tôi trau dồi thêm nhiều kiến thức chuyên ngành

và phương pháp nghiên cứu Sự nhiệt tình giúp đỡ của thầy là một phần rất quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm tạ và tri ân đến các anh chị em đồng nghiệp

và gia đình hai bên đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá trình thực hiện luận văn

TPHCM, ngày … tháng… năm…

Chung Tú Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Mục đích nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 16

6 Cấu trúc luận văn 17

Chương 1: GASTON BACHELARD 19

VÀ LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VẬT CHẤT 19

1.1 Đôi nét về Gaston Bachelard 19

1.2 Về lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard 23

1.2.1 Cơ sở khoa học của lý thuyết 23

1.2.2 Những sự tưởng tượng vật chất 29

1.2.3 Các tác phẩm liên quan 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 46

Chương 2: DÒNG NƯỚC TỰ NHIÊN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 48

2.1 Dòng nước thiên nhiên 48

2.1.1 Cảm thức về nước trong thơ Hàn Mặc Tử 48

2.1.2 Ảnh tượng về dòng sông quê hương 52

2.1.3 Ảnh tượng về dòng chảy vô định 57

2.2 Dòng nước đêm 60

2.2.1 Ảnh tượng phản chiếu 60

2.2.2 Ảnh tượng tính dục 64

2.3 Dòng nước chết 72

2.3.1 Ảnh tượng về hành trình siêu thoát 72

2.3.2 Ảnh tượng về cái chết nữ tính 76

Trang 6

2.3.3 Âm thanh tưởng tượng của dòng nước chết 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84

Chương 3: PHỨC HỢP NƯỚC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 85

3.1 Phức hợp nước và lửa 85

3.1.1 Ảnh tượng máu tự nhiên 85

3.1.2 Ảnh tượng máu siêu thực 89

3.2 Phức hợp nước và đất 92

3.2.1 Ảnh tượng thể xác 92

3.2.2 Ảnh tượng mặt trăng 97

3.3 Phức hợp nước và khí 101

3.3.1 Ảnh tượng sương khói 101

3.3.2 Trí tưởng tượng về không khí 106

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 113

KẾT LUẬN 115

THƯ MỤC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU 118

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 128

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn chương vốn dĩ là mảnh đất ươm mầm cho những mộng mơ sâu thẳm trong

vô thức của người nghệ sĩ, vì thế khuynh hướng phê bình phân tâm học đã có ảnh hưởng khá nhiều đến việc nghiên cứu và sáng tác văn học Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều tài liệu nghiên cứu văn, thơ từ góc nhìn phân tâm học, tuy nhiên, khi nói đến phân tâm học, người ta thường nghĩ đến việc giải mã những ẩn ức thời thơ ấu và xung năng tình dục của người nghệ sĩ thông qua lý thuyết của Sigmund Freud mà quên mất lĩnh vực phê bình phân tâm học có rất nhiều trường phái khác nhau, trong số đó có lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard Với lý thuyết của mình, Bachelard

đã khai phá vùng đất mộng tưởng trong văn chương bằng những yếu tố vật chất cơ bản của sự sống như: lửa, nước, đất, không khí, mang đến cho lĩnh vực nghiên cứu văn chương một khuynh hướng khác biệt và độc đáo

Lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard là một lý thuyết có tầm ảnh hưởng trong giới phê bình nghiên cứu văn học thế giới, tuy nhiên lý thuyết này lại chưa được đề cập nhiều trong quá trình nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học tại Việt Nam Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn áp dụng lý thuyết này này cho việc nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử - một thi sĩ tài hoa, nổi bật trong dòng thơ Việt Nam

hiện đại Thực hiện đề tài Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard chúng tôi hi vọng sẽ phần nào góp thêm kiến thức, tài liệu tham

khảo cho bộ môn lý luận văn học dựa trên quá trình nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận

về mối quan hệ giữa văn học và phân tâm học vật chất Với nghiên cứu này chúng tôi không có tham vọng sẽ giải quyết hết các vấn đề thuộc lý thuyết phân tâm học vật chất của Bachelard trong các tác phẩm thơ của Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, thông qua việc thực hiện đề tài chúng tôi mong muốn gợi mở một một góc nhìn mới trong các tác phẩm đã

Trang 8

cũ để khai thác những giá trị còn khuất lấp, đồng thời mở ra một hướng đi mới mẻ trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như tên của đề tài của luận văn: Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Bacherlard, đối tượng nghiên cứu chính yếu mà chúng tôi tập trung là lý

thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard và các tập thơ của Hàn Mặc Tử có nội dung liên quan được nhìn từ góc độ lý thuyết

Phạm vi nghiên cứu lý thuyết bao gồm các tác phẩm của Gaston Bachelard bằng tiếng Pháp và cả tiếng Anh như:

- La psychanalyse du feu (1938) - The Psychoanalysis of Fire (1964)

- L’eau et les rêves Essai sur l’imagination de la matière (1942) - Water and Dreams (1983)

- L’air et les songes Essai sur l’imagination du mouvemen (1943)- Air and Dreams (1988)

- La terre et les rêveries du repos (1948 )- Earth and Reveries of Will (2002)

- La terre et les rêveries de la volonté (1948)- Earth and Reveries of

Trang 9

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình thực hiện đề tài Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard, chúng tôi đã tập trung tìm hiểu hai phương diện nghiên

cứu liên quan đến công trình như sau:

Một là nghiên cứu lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard và việc vận dụng

lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard vào phê bình tác phẩm tại Việt Nam Hai

là các công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử có liên quan, gần gũi với đề tài Tuy nhiên, việc dịch thuật các công trình khoa học của Gaston Bachelard tại Việt Nam có giới hạn, dẫn đến các nghiên cứu liên ngành về Bachelard không có nhiều Để đề tài

Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard được

nghiên cứu chuyên sâu hơn, chúng tôi chủ động mở rộng phạm vi khảo sát là những công trình khoa học luận của Gaston Bachelard nằm ngoài lý thuyết phân tâm học vật chất để cung cấp thêm cái nhìn khách quan về tư tưởng khoa học của Bachelard trong quá trình nghiên cứu, ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử có liên quan đến đề tài của chúng tôi như nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết cổ mẫu, siêu thực, khuynh hướng tượng trưng, giải mã biểu tượng cũng sẽ là những tư liệu giúp ích cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi

3.1 Lịch sử nghiên cứu về Gaston Bachlard tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Gaston Bachelard nổi bật được chúng tôi tìm thấy như:

Năm 1937, tác giả Ngô Bằng Lâm đã dịch thuật công trình Phân tâm học về lửa của Gaston Bachelard Về sau, bản dịch này được in trong Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật do Đỗ Lai Thúy biên soạn, xuất bản năm 2000 Nội dung của lý thuyết này

sẽ được chúng tôi giới thiệu trong chương 1 Mặc dù trong công trình này, bản dịch

Phân tâm học về lửa của Ngô Bằng Lâm được ghi chép vào ngày 11/12/1937, tuy nhiên theo chúng tôi ghi nhận tác phẩm Phân tâm học về lửa của Gaston Bachelard ra

đời vào năm 1938, vì thế việc dịch tác phẩm này sang tiếng Việt vào năm 1937 là

Trang 10

không thể nào Có lẽ do lúc biên soạn, tác giả đã nhầm, dù vậy để mang tính khách quan và có cơ sở, chúng tôi vẫn xin phép đề cập vấn đề này để tránh trường hợp các nhà nghiên cứu về sau nhầm lẫn

Năm 1963 – 1968, trọn bộ sách Lược khảo văn học của tác giả Nguyễn Văn Trung được ấn hành bởi NXB Nam Sơn ra đời Trong tập 3 của bộ Lược khảo văn học, Nguyễn Văn Trung đã có đề cập đến phần: “Những quan niệm phê bình hiện đại, chưa được áp dụng vào văn học Việt Nam”, bao gồm “Tâm phân học vật chất của Gaston Bachelard ” Có thể nói, Nguyễn Văn Trung là người đầu tiên đã sử dụng cụm từ “vật chất” cho lý thuyết phân tâm học độc đáo này, trong đó tác giả nhận định: “Lối phê bình của Gaston Bachelard dựa trên một quan niệm về tưởng tượng, về vai trò tích cực, sáng tạo của mơ màng” (Nguyễn Văn Trung, 1968, tr.267) Thông qua nhận định

này, Nguyễn Văn Trung cũng làm rõ hai khái niệm mơ màng và mơ mộng Sự mơ màng được gắn kết với trí tưởng tượng, thả lỏng của cơ thể, điều đó giúp cho trí não được thư giãn, sáng tạo, còn mơ mộng là những hình ảnh vô thức diễn ra trong lúc con người đang say ngủ Những hình ảnh tưởng tượng trong mơ màng sẽ không tiêu biến

mà nằm lại trong tiềm thức, từ đó, trở thành chất liệu giúp cho nhà thơ mang vào thơ

Trong bài viết này, Nguyễn Văn Trung đã có đề cập đến công trình Nước và những mơ màng ( L’eau et les rêves) và Đất và những mơ màng về yên nghỉ (La terre et les rêveries du repos) Ngoài Nguyễn Văn Trung, chúng tôi chưa tìm thấy bài giới thiệu về

trí tưởng tượng nguyên tố đất về sau

Năm 1971, tác giả Nguyễn Châu tại Đại học Văn Khoa đã có luận án thạc sĩ với

đề tài Ảnh hưởng trong triết học Bachelard, luận án đề cập đến vấn đề của ảnh tượng

trong triết học và có thể được xem là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về Bachelard sớm nhất mà chúng tôi tìm thấy được tính đến nay Vì đây là một công trình trước năm 1975

đã bị mất bìa, nhan đề Ảnh hưởng trong triết học Bachelard được ghi bằng chữ viết tay vào trang đầu luận văn Theo chúng tôi, có lẽ đã có sự nhầm lẫn giữa từ “ảnh hưởng”

và “ảnh tượng” trong quá trình ghi chú, phân loại tài liệu Trong phần 1, luận văn nói

Trang 11

về sự hiện diện của ảnh- tượng trong triết học Bachelard thông qua một số ảnh tượng như ảnh tượng chất thể, ảnh tượng mô thể, ảnh tượng thi văn,…, Trong đó, tác giả nhận định yếu tố lửa đã trở thành ảnh tượng mà nhân loại tôn thờ Lửa đóng vai trò quan trọng trong các xã hội sơ khai, là chất thể tạo nên những ảnh tượng thiêng liêng, thần

thánh Sau công trình Ảnh hưởng của triết học Bachelard của tác giả Nguyễn Châu vào

năm 1971 thì dường như việc nghiên cứu về Bachelard bị đứt đoạn Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi nghĩ rằng đây là giai đoạn đất nước chuyển giao, có nhiều biến cố xã hội chính trị, vì thế công việc nghiên cứu về triết gia người Pháp đã diễn ra không mấy thuận lợi Mãi đến sau 1986 đến nay, lĩnh vực phân tâm học mới bắt đầu trở lại và thu hút nhiều tác giả quan tâm

Năm 1997, “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới “ do Jean Chevalier và Alain

Gheerbrant biên soạn đã giúp chúng tôi có thể giải mã một số biểu tượng có liên quan đến các nguyên tố đất, nước, lửa, khí Từ điển cũng có nhắc đến một vài quan điểm của Gaston Bachelard trong việc phân tích ý nghĩa của các nguyên tố

Năm 2000, công trình Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật do Đỗ Lai Thúy biên

soạn được xuất bản Nội dung công trình là những bản dịch các lý thuyết của Sigmund

Freud, Carl Jung, trong đó có bản dịch Phân tâm học về lửa của Ngô Bằng Lâm (Đỗ Lai Thúy hiệu đính), và bản dịch phần mở đầu công trình Nước và những giấc mơ do

Đỗ Lai Thúy dịch từ nguyên bản tiếng Pháp Chúng tôi nhận thấy đây là công trình có giá trị rất lớn, góp phần giúp công việc nghiên cứu văn chương về Bachelard tại Việt Nam trở nên dễ dàng, suôn sẻ và gần gũi hơn

Trong quyển Huyền thoại và văn học của Khoa Báo chí & Ngữ văn, trường Đại

học Khoa học Xã Hội và Nhân văn do nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TPHCM xuất bản năm 2007 đã tổng hợp một số bài viết nghiên cứu về huyền thoại và thi pháp huyền

thoại trong sáng tác văn học, trong đó, bài nghiên cứu: “Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Xuân đã có nhắc tới những quan niệm của

Carl.G.Jung về cổ mẫu và các nguyên tố tự nhiên của Gaston Bachelard Thông qua lý

Trang 12

thuyết cổ mẫu của Carl Jung, tác giả cũng phân tích cổ mẫu Trăng và Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử

Năm 2010, trang web vanchuongviet.org đã đăng tải tiểu luận Lời của thi sĩ tiết lộ điều bí ẩn của tác giả Trần Văn Nam trên tạp chí Tạp chí Văn-Học, Sài Gòn, số 80, tháng 8,1968 Bài viết này cũng được đăng tải lại trên Tạp chí Văn-Học, Nam California, số 236, tháng 3&4 năm 2008 Tiểu luận này thực sự quý giá đối với chúng

tôi bởi tác giả Trần Văn Nam đã có những nhận định, phân tích rất sâu về sự biến đổi

từ bản thể học sang tâm lý học trong thế giới quan của Gaston Bachelard, tác giả còn giới thiệu phương pháp khám phá bản tính qua ngôn từ thi ca mà Bachelard đã đề ra khi tiếp xúc với vật chất Mở đầu bài viết, tác giả nhận định rằng ngôn từ của thơ có thể phơi bày những bản tính tiềm ẩn của thi sĩ và triết gia Gaston Bachelard đã chủ trương

“đi tìm thơ nội tại trong chính từ ngữ thơ” bằng sự tiếp xúc của nhà thơ với các

nguyên tố đất, nước, lửa, gió Bachelard đã gọi sự tiếp xúc vô thức này là phân tâm học vật chất để phân biệt với phân tâm học cổ điển – đi tìm vô thức qua hành vi và ẩn ức tình dục của con người Để làm rõ phương pháp khám phá bản tính qua ngôn từ thi ca,

tác giả Trần Văn Nam đã sử dụng bài thơ Những Hướng Sao Rơi của Đinh Hùng để

phân tích, qua những hình ảnh khốc liệt mà nhà thơ sử dụng, tác giả đã kết luận nhà thơ Đinh Hùng mang trong mình những tâm tình của một bạo chúa Chúng tôi xin phép được trích dẫn một đoạn phân tích của tác giả Trần Văn Nam như sau:

“Vệt dương sa và máu đỏ là màu sắc có cùng một độ ấm nóng, ngược hướng với màu xanh Những vết máu vương vất trên cỏ cây và ánh mặt trời lốm đốm khắp người cho ta thấy một hoạt cảnh thời sơ cổ không hiền hòa, mà

có vẻ dị thường Vài bài thơ khác của Đinh Hùng lai vãng những sắc màu tương tự: “Trăng huyết dụ xuống bên đài kỷ niệm Nét lửa bay dài giấc ngủ mê Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng” Đi đôi với màu sắc chói chang và hực nóng ấy là những quá khích của bạo hành: “Đôi tay vò xé loài hoang thảo Phấn hương nhầu tan tác áo xiêm bay” Vậy dấu hiệu để

Trang 13

cho ta hiểu Đinh Hùng là màu sắc nhức nhối và hành động khốc liệt Từ dấu hiệu này, ta đi đến kết luận về tâm hồn: Đó là tâm tình của một bạo chúa, một hưng phấn say xưa, một tình yêu nồng nàn.”

Có thể nói, tác giả Trần Văn Nam đã sử dụng lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard để nghiên cứu, phân tích thơ Đinh Hùng và rút ra được nhiều kết luân thú vị Tiểu luận này ra đời vào năm 1968, vì thế, chúng tôi xem đây là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu, phê bình một tác phẩm văn học Việt Nam từ lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard

Năm 2014, Nguyễn Quang Huy có bài viết Đọc ‘Giàn thiêu’ của Võ Thị Hảo - chơi với người chơi lửa in trong tạp chí Sông Hương số 308, trang 10-14 đã dùng lý

thuyết phân tâm học về lửa của Gaston Bachelard để phân tích tác phẩm giàn thiêu của

Võ Thị Hảo Tác giả nhận định: “Ngọn lửa trong Giàn thiêu trước hết là ngọn lửa hành hạ và phá hủy” và “Sự mơ mộng của Võ Thị Hảo về “lửa” trong Giàn thiêu là một điểm nhấn.” Ngoài đề cập đến trạng thái mơ mộng trước lửa, ngọn lửa mang ý

nghĩa phá hủy và tái sinh, tác giả Nguyễn Quang Huy còn đề cập đến phức hợp của nguyên tố lửa và nước qua dáng hình của máu

Năm 2017, quyển sách “Sự Hình Thành Tinh Thần Khoa Học, Góp phần phân tâm luận về sự hiểu biết khách quan” của dịch giả Hà Dương Tuấn và Nguyễn Văn

Khoa đã được xuất bản tại NXB Tri Thức Đây là công trình khoa học trọn vẹn của Gaston Bachelard được dịch tại Việt Nam Nội dung công trình được chia thành 12 chương, khái quát quan điểm triết học Bachelard được rút ra từ khoa học tự nhiên và

những chướng ngại trong tư duy khoa học “Sự Hình Thành Tinh Thần Khoa Học, Góp phần phân tâm luận về sự hiểu biết khách quan” là kho kiến thức, dữ liệu nền tảng

trong quá trình tìm hiểu về Bachelard trong đề tài luận văn này Tuy nhiên, vốn dĩ đây

là công trình nghiên cứu khoa học, vì vậy công trình không đề cập nhiều đến phân tâm học vật chất mà chỉ dừng lại ở quá trình tiếp nhận, nghiên cứu khoa học của Bachelard

Trang 14

Năm 2018, chúng tôi cũng tìm thấy bài viết: “Gaston Bachelard” của tác giả Thụy Khuê in trong quyển Phê bình văn học thế kỷ XX, được xuất bản bởi Nhà xuất

bản Nhã Nam với nội dung giới thiệu về tiểu sử Bachelard và các thuyết phân tâm học

về yếu tố lửa, nước Tác giả đã dẫn giải các quan điểm lý thuyết của Bachelard khá chi tiết, bài viết đã bổ sung một nguồn tư liệu cần thiết cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về Bachelard

Cùng năm 2018, tác giả Nhị Linh đã có dịch 1 phần công trình Không khí và những giấc mơ của Gaston Bachelard và đăng tải trên trang cá nhân blogspot.com Tuy

nhiên tác giả chỉ dịch phần I của chương I – “Giấc mơ bay” và bỏ dở giữa chừng Gần đây nhất, năm 2020, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã tổ chức buổi tọa đàm

“Tiếng Kiều đồng vọng: Một mơ tưởng nguyên tố” Nội dung xoay quanh việc tiếp cận Truyện Kiều dưới góc nhìn lý thuyết phân tâm học về nước của Gaston Bachelard Tiếp đó, buổi tọa đàm về Hàn Mặc Tử từ góc nhìn nguyên tố gió mang tên: “Hàn Mặc

Tử - Hồn thơ là hồn thiêng” cũng được ông áp dụng phương pháp phê bình nguyên tố

Dưới hình thức là buổi tọa đàm, việc nhìn một tác phẩm văn học Việt Nam từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã thực sự mở ra một hướng đi mới mẻ cho các nhà nghiên cứu văn học sau này Nhật Chiêu là nhà

nghiên cứu đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phê bình nguyên tố” để chỉ cách thức vận dụng

lý thuyết phân tâm học vật chất của Bachelard vào văn học Có thể nói, qua hai buổi tọa đàm, Nhật Chiêu đã mang lý thuyết của Bachelard đến gần hơn, tạo ra nhiều cảm hứng nghiên cứu với nhiều độc giả Việt Nam, trong đó có chúng tôi Tuy nhiên, với hình thức giao lưu học thuật trực tiếp, không lưu trữ văn bản và hạn chế đăng tải thông tin công khai trên các phương tiện truyền thông nên việc tiếp cận thông tin về hai buổi tọa đàm này cũng rất khó khăn

Trong năm 2020, luận văn thạc sĩ Sự nghiệp phê bình văn học của Lê Tuyên của

tác giả Nguyễn Đình Minh Khuê đã đề cập khá nhiều đến triết gia Gaston Bachelard Mặc dù đối tượng nghiên cứu chính của công trình là sự nghiệp của nhà phê bình văn

Trang 15

học Lê Tuyên và phương pháp thực hành hiện tượng luận của ông, tuy nhiên trước khi bước vào nghiên cứu về hiện tượng luận, Nguyễn Đình Minh Khuê đã có những sơ lược về lý thuyết phân tâm học vật chất – tiền đề cho phê bình hiện tượng luận Bachelard Trong công trình, Nguyễn Đình Minh Khuê đã có những phân biệt rõ ràng giữa phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud và phân tâm học của Bachelard, ngoài

ra, tác giả còn giới thiệu qua hai tác phẩm phân tâm học vật chất của triết gia là Phân tâm luận về lửa và Không khí và những giấc mơ

Nhìn chung, đến thời điểm 2021, chúng tôi ghi nhận có 3 trường hợp dịch tác

phẩm của Bachelard tại Việt Nam, đó là bản dịch Phân tâm học về lửa của Ngô Bằng Lâm, bản dịch phần mở đầu Nước và những giấc mơ của Đỗ Lai Thúy và bản dịch công trình Sự hình thành tinh thần khoa học của Hà Dương Tuấn và Nguyễn Văn

Khoa Trong quá trình hoàn thành luận văn, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu về các nghiên cứu của học giả về lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard ứng dụng với văn

học

3.2 Lịch sử nghiên cứu về Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là một tác giả quan trọng trong tiến trình văn học tại Việt Nam, vì vậy, đã có rất nhiều ý kiến, bài viết và công trình nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của ông Trong phạm vi khảo sát các công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử có liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi xin trình bày một số công trình tiêu biểu như: Năm 1941, sau khi Hàn Mặc Tử mất, Trần Thanh Mại đã cho ra đời quyển sách:

“Hàn Mặc Tử - Thân thế và thi văn – 1912-1940”, xuất bản bởi NXB Tân Việt Đây

được xem là công trình đầu tiên viết về cuộc đời Hàn Mặc Tử, trong đó, Trần Thanh Mại đã kể về những nỗi thống khổ, dày vò mà thi nhân đã phải chịu đựng cũng như những áng văn Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời

Năm 1942, hợp tuyển nghiên cứu lý luận phê bình “Thi nhân Việt Nam” do Hoài

Thanh – Hoài Chân biên soạn đã ra đời với nội dung ghi nhận, đánh giá, nhìn lại những thành tựu rực rỡ của thơ Mới và văn học Việt Nam giai đoạn 1932-1941 Cuộc hành

Trang 16

trình xúc cảm của Hoài Thanh – Hoài Chân đã du hành qua nhiều miền đất thơ, trong

đó có miền thơ của Hàn Mặc Tử Bằng lối phê bình trực cảm, hai tác giả đã có những nhận định, đánh giá qua từng tập thơ, qua đó tác giả cũng thừa nhận rằng mặc dù có nhiều người không đánh giá cao thơ của Hàn Mặc Tử, tuy nhiên, việc Hàn Mặc Tử đã thổi một luồng gió đặc biệt trên thi đàn văn học Việt Nam là một điều không thể phủ

nhận: “Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hờ hững bỏ quên Bây giờ mất rồi,

ta xúm lại kẻ khen, người chê Chê hay khen tôi thấy có cái gì bất nhẫn” (Hoài Thanh,

Hoài Chân, 2005)

Năm 1960, công trình: “Nhà văn hiện đại” của tác giả Vũ Ngọc Phan được tái

bản, trong nội dung của công trình, tác giả cũng đã nhắc đến Hàn Mặc Tử Vũ Ngọc Phan nhận định, từ khi Hàn Mặc Tử từ trần, chỉ trong vòng 2 năm đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thi sĩ Theo Vũ Ngọc Phan, căn bệnh phong đã tác động

đến tinh thần của thi sĩ rất nhiều: “Người ta thấy bệnh phong đã ảnh hưởng đến tư tưởng Hàn Mặc Tử thế nào Thi sĩ bị rặt những cảnh chết rùng rợn ám ảnh, nên trí não không còn được bình thường nữa” (Vũ Ngọc Phan, 1960, tr 766), tuy nhiên, bằng

niềm tin tôn giáo, Hàn Mặc Tử đã cố gắng vượt qua khỏi những đau đớn thân xác Ông cũng nhận định Hàn Mặc Tử có lẽ là nhà thơ ca ngợi Đức Mẹ Đồng Trinh Marie và Chúa Jesu bằng thơ sớm nhất Từ những nhận định này, việc tiếp cận thơ của Hàn Mặc

Tử dưới những biểu tượng nguyên thủy có trong Kinh Thánh cũng được chúng tôi lưu

ý hơn trong quá trình nghiên cứu

Năm 1961, Quách Tấn có bài viết Ảnh hưởng đạo Phật trong thơ Hàn Mặc Tử,

Trong bài viết, tác giả đã dùng những đạo lý Phật giáo để phân tích, soi chiếu thơ Hàn

Mặc Tử từ đó tác giả khẳng định: “Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu,

mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệụ Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn huơng muôn sắc,…Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát.”( Quách Tấn, 1961) Cũng về khía cạnh soi chiếu thơ Hàn Mặc Tử dưới góc độ tôn giáo, năm 1965, trong Lịch sử

Trang 17

văn học công giáo Việt Nam, tác giả Võ Long Tê đã có nhắc đến nhà thơ Hàn Mặc Tử

với khẳng định Hàn Mặc Tử là một nhà thơ của công giáo bởi lẽ nhà thơ luôn ca tụng đức tin một cách mãnh liệt Những tư liệu này đã giúp chúng tôi có thêm nhiều tư liệu nghiên cứu thơ Hàn từ góc độ tôn giáo

Năm 1968, cuốn Hàn Mặc Tử - thi sĩ tiền chiến của tác giả Hoàng Diệp đã nghiên

cứu khá tỉ mỉ về đời và thơ của Hàn Mặc Tử Tác giả Hoàng Diệp đã phân chia thơ Hàn Mặc Tử trong sự phát triển gồm giai đoạn :

- Giai đoạn 1: Nhà thơ lãng mạn cổ điển 1932 – 1936

- Giai đoạn 2: Nhà thơ tượng trưng 1937 - 1938

- Giai đoạn 3: Thời kỳ đầu từ tượng trưng đến siêu thực với Xuân Như Ý và

Sự phân chia tiến trình thơ Hàn Mặc Tử thông qua ba giai đoạn này đã giúp chúng tôi

có điểm nhìn cụ thể hơn về sự chuyển đổi nội dung, cảm hứng thơ của Hàn Mặc Tử, từ

đó có thể nắm bắt được diễn trình tâm lý cũng như nghiên cứu, lý giải các nguyên tố vật chất trong thơ Hàn Mặc Tử qua từng giai đoạn

Năm 1972, trong công trình Đi tìm tác phẩm văn chương của Huỳnh Phan Anh có

đề cập đến Hàn Mặc Tử thông qua bài viết Hàn Mặc Tử hay là sự hiện hữu của thơ ,

tác giả đã nhận định chất thơ đặc trưng trong thơ Hàn Mặc Tử chính là từ kinh nghiệm đau thương

Năm 1974, bài viết Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử của tác giả Bùi

Xuân Bào, đăng trên tập san Khoa học nhân văn của Hội động Quốc gia khảo cứu khoa

học Sài Gòn, tập II, trang 163-172 Về sau, bài viết này được in lại trong quyển Lý luận phê bình văn học miền Trung thế kỷ XX do nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Mai Quốc Liên,

Trần Đình Sử biên soạn và sưu tầm, xuất bản năm 2001 Trong đó, tác giả Bùi Xuân Bào nhận định những thi ảnh liên quan đến khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử như sau:

“Những hình ảnh ấy có tính cách động, mãnh liệt, và có một động lực hai chiều, và được dùng nhiều nhất trong các đề tài với đời sống vật chất và liên hệ mật thiết với đời

Trang 18

sống của tâm linh.” (Bùi Xuân Bào, 2001,tr.238) Tác giả đã thử ứng dụng lý thuyết

của Gaston Bachelard vào thơ Hàn Mặc Tử, ông cho rằng lý thuyết của Gaston Bachelard hiện tại là những khám phá tân kì và sâu xa nhất để có thể phân tích các thi ảnh và khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử

Năm 1991, tác phẩm Hàn Mặc Tử anh tôi của Nguyễn Bá Tín – em trai của thi

sĩ, được xem là tài liệu quan trọng nhất trong lịch sử nghiên cứu của chúng tôi Đây có thể nói là tác phẩm viết về tiểu sử của Hàn Mặc Tử chi tiết, cụ thể từng giai đoạn và đáng tin cậy nhất trong các tư liệu viết về cuộc đời nhà thơ Tác phẩm bao gồm nội dung nói về tuổi thơ, thời niên thiếu tập tành làm thơ của Hàn Mặc Tử, các mối tình xoay quanh thi sĩ và những ngày cuối đời của Hàn Mặc Tử trong trại phong Tuy Hòa,

Quy Nhơn, Bình Định Tiếp đó, năm 1994, quyển Hàn Mặc Tử trong riêng tư cũng ra

đời được Nguyễn Bá Tín cung cấp thêm những thông tin về dòng họ và hoàn cảnh ra đời của một số bài thơ mà Hàn Mặc Tử cảm tác

Năm 1996, Bài viết Nghệ thuật của Hàn Mặc Tử của tác giả Trần Thanh Mại, in trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, xuất bản tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà

Nội, do Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn đã cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát

về thi pháp, cuộc đời và những ảnh hưởng trong thơ của thi nhân Trong bài nghiên cứu này, ông đã đề cập đến biểu tượng trăng và lý do tại sao trăng lại ám ảnh Hàn Mặc Tử trong suốt cuộc đời làm thơ, tuy nhiên, Trần Thanh Mại cũng chưa lý giải được điều này Đây là một phát hiện cần thiết và rất quan trọng đối với chúng tôi trong quá trình tìm kiếm những biểu tượng ám ảnh Hàn Mặc Tử qua góc nhìn phân tâm học, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ thử tìm hiểu và lý giải sâu hơn

Năm 1997, trong tác phẩm Con mắt thơ, tác giả Đỗ Lai Thúy đã nêu ra một số

đặc trưng tư duy thơ Hàn Mặc Tử như: “tính trữ tình”, “tư duy tôn giáo”, “mô hình sáng tạo” và coi đó là “chiếc chìa khóa vàng” để mở cánh cửa lâu đài nghệ thuật

Cũng trong năm 1997, công trình Hàn Mạc Tử hương thơm và mật đắng của Trần

Thị Huyền Trang được tái bản bởi nhà xuất bản Hội nhà văn (in lần đầu năm 1991)

Trang 19

Tác giả Trần Thị Huyền Trang đã biên soạn, tổng hợp những thông tin về nhà thơ Hàn Mặc Tử khá đầy đủ, bắt đầu từ thuở thơ ấu, cuộc đời và cả những nghi vấn về mộ phần của nhà thơ sau khi mất Công trình này là một trong những tư liệu đã góp phần giúp cho chúng tôi hiểu thêm về cuộc sống và những mối quan hệ của của nhà thơ lúc sinh thời

Năm 2008, bài phê bình “Kinh nghiệm thân xác với kinh nghiệm huyền thoại và Chơi Giữa Mùa Trăng của Hàn Mặc Tử” của Đào Ngọc Chương đăng trên Tạp Chí

Sông Hương - Số 234, tháng 8 – 2008 đã đi tìm cái kinh nghiệm thân xác trong tác

phẩm Hàn Mặc Tử, trong đó tác giả cho rằng: “Yếu tố làm nên hiện tượng trên là thân xác được hiểu như thứ cửa ngõ của con người mở ra vũ trụ Đó là thứ cửa ngõ mà nếu không có nó con người hoàn toàn bị cô lập với tự nhiên”(Đào Ngọc Chương, 2008)

Nhận định này đã củng cố thêm quan điểm của chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu thơ của Hàn Mặc Tử từ góc nhìn lý thuyết nguyên tố của Gaston Bachelard, bởi lẽ sự kết nối giữa tâm thức của Hàn Mặc Tử với thiên nhiên, vũ trụ rất mạnh mẽ, điều này cho thấy dòng chảy huyền thoại trong thơ của thi sĩ mang rất nhiều sắc màu nguyên thủy như với trăng, ánh sáng, tinh cầu,v.v…

Năm 2010, luận văn Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu

của tác giả Nguyễn Hoàng Khánh Chi đã khẳng định vai trò và vị trí của Hàn Mặc Tử trong tiến trình văn học Việt Nam với tư cách là một nhà thơ có cuộc đời dị biệt và phong cách thơ khá độc đáo Tác giả đã nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử thông qua ba cổ mẫu chính là Trăng, Hồn, và Máu Trong công trình, tác giả đã có nhắc đến Gaston Bachelard ở mục giới thiệu một số cổ mẫu tiêu biểu như: Kim – Mộc – Thủy- Hỏa – Thổ Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc giới thiệu Bachelard đã lấy cảm hứng từ biểu tượng ngũ hành trong văn hóa phương Đông để tiếp cận văn học chứ không nhắc đến lý thuyết phân tâm học của ông Các biểu tượng ngũ hành cũng chỉ được điểm qua

giới hạn từ trang 21 đến trang 23 Trong phạm vi đề tài Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới

Trang 20

lăng kính phê bình cổ mẫu, tác giả giúp chúng tôi có sự khu biệt giữa biểu tượng cổ

mẫu và phân tâm học vật chất trong đề tài của chúng tôi

Nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của thi sĩ Hàn Mặc Tử vào năm 2012, tác

giả Chu Văn Sơn cũng có bài viết với nhan đề “Hàn Mặc Tử - Một định nghĩa bằng máu về thơ” Nội dung bài viết nói về việc giải mã thơ Hàn Mặc Tử qua hình tượng máu, tác giả nhận định diễn trình thơ mới với : “Chặng đầu nghiêng về cái tôi cá thể

và chặng sau chớm đi vào cái tôi bản thể Đây là hai tầm mức của ý thức cá nhân”.

(Chu Văn Sơn, 2012) Thông qua bài viết, chúng tôi có thêm một góc nhìn khách quan hơn trong việc lý giải sự thay đổi tâm lý của Hàn Mặc Tử và phân tích sâu hơn về ảnh tượng máu trong mối quan hệ giữa nước và lửa

Năm 2012, bài viết “Biểu tượng giấc mơ trong thơ Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử” của Hoàng Thị Huế cho rằng:“Biểu tượng giấc mơ xuất hiện như một cách trộn lẫn hiện thực, tạo ra một kiểu không gian trùng phức, nhằm bao hàm trong nó nhiều vật chứa của hiện hữu và tồn tại” (Hoàng Thị Huế, 2012), từ đó rút ra nhận định rằng giấc

mơ trong thơ Hàn là kiểu mơ màng giữa thực và ảo, có nét kì dị như liêu trai, phảng phất chút yêu ma, tinh quái

Cùng năm 2012, tác giả Nguyễn Thanh Tâm đã có bài viết Hàn Mặc Tử trong đời sống văn học miền Nam 1954-1975, bài viết được đăng tải trên website https://toquoc.vn/ đã có những đánh giá, phác thảo về lý luận phê bình miền Nam Việt

Nam trước 1975 với những ưu, nhược điểm, từ đó, tác giả đã tổng hợp những bài nghiên cứu, công trình liên quan đến Hàn Mặc Tử trong suốt khoảng thời gian 1954-

1975 để khẳng định vai trò quan trọng của nhà thơ trong nền văn học Việt Nam

Năm 2017, bài viết Chết cho văn chương: thân thể và thơ ca trong sáng tác của Hàn Mặc Tử của tác giả Lộ Đức Anh, in trong Tạp chí nghiên cứu văn học số 6 đã lí

giải quá trình thân thể chuyển hóa thành ngôn ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử Tác giả đã dẫn giải quan niệm của Jean Luc Nancy, cho rằng thân thể là nhà tù của linh hồn, răng

là song sắt, cửa sổ của nhà tù, từ đó, hình ảnh của lỗ miệng trong thơ Hàn có những

Trang 21

chuỗi hình ảnh rất sát nhau chứ không phải ngẫu nhiên, ví như “khạc hồn ra khỏi miệng”, tác giả cũng phân tích rằng biểu tượng miệng không chỉ gắn với sự tiêu hóa mà

còn gắn với tinh thần, sự nảy nở tinh thần Quan trọng nhất, tác giả đã nhận ra sự khác biệt giữa hình ảnh thân thể trong thơ Hàn Mặc Tử không giống với các thân thể nguyên vẹn của các nhà thơ trước đó mà nó vỡ tung, phân mảnh Đây là một luận điểm quan trọng giúp chúng tôi tiến xa hơn trong việc nghiên cứu ảnh tượng thân thể trong thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn phức hợp nước và đất

Năm 2018, bài viết Biểu tượng màu trắng trong thơ Hàn Mặc Tử của hai tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Hiền, Lê Văn Tấn được in trong Tạp chí khoa học số 22/2018 của trường đại học Thủ Đô Hà Nội đã đề cập đến biểu tượng sắc màu trong thơ Hàn Mặc

Tử Đây là một tham luận nghiên cứu khá độc đáo và có thể phát triển, mở rộng vì ngoài màu trắng, trong thơ Hàn Mặc Tử còn có những ám ảnh về màu sắc khác như màu đỏ của máu, màu đen của đêm tối, màu vàng của nắng xuân,…Ở bài viết, tác giả

lý giải màu trắng trong thơ Hàn Mặc Tử mang đến sự tinh khôi, thanh khiết, màu trắng còn đại diện cho khát vọng thanh tẩy, và cái chết đau thương Qua bài viết này, chúng tôi nhận thấy màu trắng còn liên quan đến các hình ảnh như mặt trăng, linh hồn và không khí, từ đó, chúng tôi mong rằng có thể đối thoại với tác giả bài viết qua phần nghiên cứu nguyên tố không khí trong thơ Hàn Mặc Tử

Ngoài những tư liệu kể trên, chúng tôi cũng mở rộng tham khảo thêm một số lý thuyết, công trình lý luận văn học, tạp chí, các luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu đi trước Việc mở rộng tìm hiểu này cốt yếu để chúng tôi có thể nhìn nhận quan điểm của họ cũng như rút kinh nghiệm và tạo hướng đi mới mẻ cho nghiên cứu của mình

4 Mục đích nghiên cứu

Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như đã nêu, trong luận văn này, chúng tôi mong muốn có thể giải quyết những vấn đề như sau:

Trang 22

- Thứ nhất, góp phần khái quát, hệ thống hóa các quan niệm và lý luận của Gaston Bachelard về nghiên cứu văn học nói chung và lý thuyết phân tâm học vật chất nói riêng

- Thứ hai, trên hệ thống cơ sở lý thuyết đã tiếp nhận, chúng tôi mong muốn có thể ứng dụng lý thuyết phân tâm học vật chất để phân tích, lý giải nội dung của tác phẩm văn học thông qua các sáng tác của nhà thơ Hàn Mặc Tử Từ đó, chúng tôi mong muốn tìm kiếm những giá trị khuất lấp của tác phẩm bằng cách nghiên cứu tác phẩm từ một góc nhìn khác biệt

- Thứ ba, thông qua luận văn này, chúng tôi mong muốn có thể tích lũy thêm cho bản thân những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng trong quá trình nghiên cứu khoa học Đồng thời, luận văn này cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những người đi sau khi muốn nghiên cứu về Bachelard và Hàn Mặc Tử

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học sau đây:

- Phương pháp vận dụng lý thuyết phê bình phân tâm học: ngoài sử dụng phương pháp phê bình phân tâm học của Gaston Bachelard, chúng tôi còn vận dụng lý thuyết nghiên cứu phê bình phân tâm học của Sigmund Freud, Carl Jung để làm rõ một số ảnh tượng trong thơ Hàn Mặc Tử Phương pháp này sẽ được thể hiện rõ ở chương 2 và chương 3

- Phương pháp phê bình tiểu sử: chúng tôi định vị Hàn Mặc Tử trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ tình cảm và bối cảnh lịch sử đương thời Điều này giúp chúng tôi có thể tìm ra những tác động, ảnh hưởng đến trí tưởng tượng và sự nghiệp văn chương của nhà thơ Hàn Mặc Tử

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học: chúng tôi mong muốn ứng dụng phương pháp phê bình văn hóa học để có thể soi chiếu rõ hơn những suy nghĩ,

Trang 23

tâm tư tình cảm, hoạt động trong đời sống hằng ngày của nhà thơ Phương pháp này được thể hiện rõ trong chương 2

Ngoài ra, chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề thông qua việc vận dụng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp loại hình, so sánh đối chiếu, thống kê Các thao tác nghiên cứu cơ bản như đọc sâu, phân tích tổng hợp, so sánh sẽ vận dụng, kết hợp linh hoạt với các phương pháp nghiên cứu khoa học đã đề ra ở trên

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu ( 15 trang), Kết luận ( 3 trang), Thư mục tài liệu tham khảo (9 trang), và Phụ lục (8 trang), luận văn của chúng tôi gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Gaston Bachelard và lý thuyết phân tâm học vật chất (28 trang)

Trong chương 1, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Gaston Bachelard, đồng thời giới thiệu những vấn đề chính của phân tâm học vật chất, coi đó là cơ sở lý thuyết, để từ đó chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử

Chương 2: Dòng nước tự nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử (37 trang)

Trong chương 2, chúng tôi sẽ tìm hiểu biểu tượng nước trong kinh nghiệm văn hóa, từ đó khảo sát, phân tích, chứng minh các ảnh tượng chất nước trong thơ Hàn Mặc

Tử Tại phần này, chúng tôi sẽ đi từ dòng nước trong trẻo của thiên nhiên, đến dòng nước mang những cảm xúc sầu bi thông qua các hình tượng bến Mê Hà, sông Ngân, sông Mê Hà, bến đò, thuyền, dòng sông trong thơ Hàn Mặc Tử

Chương 3: Phức hợp nước trong thơ Hàn Mặc Tử ( 30 trang)

Nước là một nguyên tố có thể dễ dàng kết hợp với các nguyên tố khác như lửa, đất, không khí và được biểu hiện qua các dạng thức và các biến thể khác nhau Trong chương này, chúng tôi chủ trương phân tích các ảnh tượng mang trong mình sự kết hợp của nước như máu, hơi sương, cùng đó là tìm hiểu thêm về trí tưởng tượng chất khí trong thơ Hàn Mặc Tử

Trang 24

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LƯU Ý

1 Do giới hạn về mặt thời gian cũng như trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi

sẽ lựa chọn nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học chất nước của Bachelard Nguyên nhân là do:

- Nguyên tố phù hợp nhất để đại diện cho thơ ca là nguyên tố nước

- Từ kết quả khảo sát 259 bài thơ của Hàn Mặc Tử, chúng tôi nhận thấy nguyên tố nước là nguyên tố có ảnh hưởng và xuất hiện sâu, rộng trong thơ của Hàn Mặc Tử Kết quả khảo sát xin xem chi tiết ở phần Phụ lục trang 128

Từ những đặc tính của nguyên tố nước, chúng tôi sẽ từng bước khám phá những ảnh tượng và trạng thái tâm lý sáng tạo mà Bachelard đã đề xuất, đây sẽ là một kho dữ liệu vô cùng to lớn giúp chúng tôi khám phá nội tâm của nhà thơ trong quá trình sáng tác

2 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung vào các công trình của Bachelard được viết bằng tiếng Pháp, lẫn tiếng Anh, tuy nhiên để người đi sau có cái nhìn khách quan, chính xác và cũng như để bày tỏ thái độ tôn trọng nguyên tác trong nghiên cứu văn chương, chúng tôi sẽ trích dẫn nguyên văn tiếng Pháp

Trang 25

Chương 1: GASTON BACHELARDVÀ LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VẬT

CHẤT

1.1 Đôi nét về Gaston Bachelard

Đầu thế kỉ XX, sự tường minh, khúc chiết trong khoa học cùng với tinh thần duy

lý của người phương Tây đã tác động đến tư duy triết học và các quan điểm nghệ thuật Năm 1914, chiến tranh thế giới đã gây ra những thiệt hại thảm khốc về tinh thần lẫn vật chất toàn của nhân loại, những cuộc phát minh vĩ đại từng là niềm kiêu hãnh của người phương Tây giờ đây là phương tiện tiếp tay cho chiến tranh Tinh thần phản duy lý bắt đầu nảy sinh trong tư tưởng của trí thức thời đại, để giải thoát khỏi sự khủng hoảng đó, con người bắt đầu nhìn nhận lại các thành tựu đã qua Những nghiên cứu phản duy lý được hình thành như một cách để lấp đầy các câu hỏi mà khoa học không thể giải đáp Những khái niệm, lý thuyết được lật lại trong sự dò xét, khởi đầu bằng sự khủng hoảng toán học với trường phái phi Euclipe do nhà toán học Lobachevsky, tiếp đó là hàng loạt công trình phản duy lý được công bố; trong trào lưu tìm kiếm tri thức mới đó có Gaston Bachelard

Gaston Bachelard (1884 - 1962) là một nhà triết học, phân tâm học sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống đóng giày tại Champagne, Bar-sur-Aube, phía đông thành phố Paris, Pháp Trưởng thành trong thời đại khoa học kĩ thuật đã tạo điều kiện giúp cho chàng thanh niên Gaston Bachelard khởi đầu mơ ước của mình với những đam mê về lĩnh vực toán học và vật lý Năm 1896, Gaston Bachelard thi đỗ vào trường cao đẳng Bar-sur-Aube Sau khi ra trường vào năm 1902, Bachelard dạy học tại trường cao đẳng Sézanne, tuy nhiên sau đó ông đã bỏ công việc giáo viên và chuyển sang làm nhân viên điện toán tại bưu điện Bar-sur-Aube vào năm 1903 Trong thời gian này, các phát minh vĩ đại về sóng, điện từ trong ngành bưu chính viễn thông đã thu hút Bachelard, điều đó thôi thúc ông tự học và nghiên cứu các lĩnh vực về toán học, vật lý, hóa học, triết học Từ năm 1909 đến năm 1913, Bachelard tiến hành nghiên cứu sâu

Trang 26

hơn về lĩnh vực toán, triết, vật lý và hóa học, ông dự thi kì thi tuyển sinh kỹ sư viễn thông, tuy nhiên, Bachelard xếp hạng ba trong khi chỉ có hai suất học bổng Bachelard đành phải chờ đợi hai năm sau để thi lại

Tháng 7, năm 1914, Bachelard kết hôn cùng với một người giáo viên tên Jeanne Rossi và trong khoảng thời gian vợ bị ốm, Bachelard đã đứng lớp thay cho vợ mình Tháng 8 năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, Bachelard buộc phải tham gia cuộc chiến, điều này đã khiến con đường giảng dạy và học tập của ông bị gián đoạn Tháng 3 năm 1919, ông xuất ngũ và bắt đầu một cuộc sống mới với công việc giáo viên dạy môn vật lý và hóa học tại trường cao đẳng Bar-sur-Aube Trong thời gian làm giáo viên, Bachelard lần lượt đạt được các học vị cử nhân, thạc sĩ triết học và tiến sĩ văn chương Có thể tóm lược con đường học vấn của ông như sau:

- Năm 1920 tốt nghiệp cử nhân triết học

- Năm 1922 tốt nghiệp thạc sĩ triết và chọn ở lại Bar-sur-Aube để dạy triết học và khoa học

- Năm 1927, ông hoàn thành hai luận án tiến sĩ tại Đại học Sorbonne

- Năm 1930, ông chuyển sang dạy triết tại Đại học Dijon

- Năm 1940 được bổ nhiệm làm giáo sư bộ môn lịch sử và triết học khoa học tại Đại học Sorbonne

- Năm 1955 – 1960, Bachelard được bầu vào Viện Hàn Lâm Pháp, bổ nhiệm làm

Tư lệnh của Huân chương Bưu điện ,Tư lệnh Quân đoàn Danh dự

- Năm 1961, ông được giải thưởng Grand Prix National des Lettres

- Ngày 16 tháng 10 năm 1962 , Bachelard qua đời tại Paris và được an táng tại Bar-sur-Aube Hưởng thọ 78 tuổi

Nhìn chung, có thể thấy cuộc đời của Bachelard là những ngày tháng nỗ lực học tập và nghiên cứu không ngừng nghỉ Cùng với những điều kiện chủ quan trong đam

mê về khoa học kĩ thuật, Bachelard còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi bối cảnh thời đại và

các tư tưởng lớn trên thế giới Trong công trình Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý

Trang 27

thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard, chúng tôi xin được điểm qua một số tác

phẩm khoa học của ông bởi trong những công trình này có chứa đựng nhiều quan điểm khoa học của Bachelard, những quan điểm này sẽ trở thành nền tảng vững chắc để từ

đó ông phát triển lý thuyết phân tâm học vật chất về sau

Nếu như Ferdinand Gonseth đã khuấy động sự khủng hoảng của nền toán học thế kỉ XX khi chủ trương liên kết toán học và triết học lại với nhau thì Bachelard lại

đưa khoa học vật lý liên kết với triết học Công trình nghiên cứu mang tên La valeur inductive de la relativite (tạm dịch: Giá trị quy nạp của thuyết tương đối) được xuất

bản năm 1929 là một công trình nghiên cứu về vật lý, trong đó, ông đã đề cập đến tiến triển của sự tương đối hóa, đặc tính hình thức của các nguyên lý tương đối tính, quy nạp toán học trong học thuyết tương đối

Một trong những công trình mang cốt lõi tinh thần khoa học luận

Bachelard đó là Le nouvel esprit scientifique (tạm dịch: Tinh thần khoa học mới) xuất

bản năm 1934 Trong công trình này, Bachelard đã thể hiện rõ tính phức tạp của bản chất triết học, ông đưa ra quan điểm của mình trong cuộc khủng hoảng tư duy toán học

về mệnh đề Euclipe và phi Euclipe của nhà toán học Lobachevsky Từ đó, ông nhận định các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau sẽ đưa ra nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau, điều này đã làm cho khoa học có cái nhìn khách quan Theo

Bachelard, để nghiên cứu khoa học một cách cụ thể và công bằng nhất, thì: “Không có chủ nghĩa hiện thực tuyệt đối cũng không có chủ nghĩa duy lý tuyệt đối và không nên bắt đầu từ một thái độ triết học chung chung để đánh giá kiến thức khoa học”1 - tạm dịch (Gaston Bachelard,1934,tr.8)

Trong công trình La philosophie du non (tạm dịch: Triết lý của chữ phi) xuất

bản năm 1940, ông đã vạch ra giới hạn trong việc nghiên cứu triết học Các nhà triết học nghiên cứu các nguyên tắc, tiền đề khoa học quá chung chung, còn các nhà khoa

1

Nguyên văn tiếng Pháp: “il n'y a ni réalisme ni rationalisme absolus et qu'il ne faut pas partir d'une attitude

philosophique générale pour juger la pen sée scientifique”, Gaston Bachelard (1934) Le Nouvel Esprit

Scientifique,tr 8

Trang 28

học thì lại nghiên cứu các kết quả quá cụ thể, điều đó làm người nghiên cứu vô tình bỏ qua những chuyển biến của các giá trị nhận thức luận, điều mà khoa học triết lý cần hướng tới Từ đó, Bachelard hướng tới việc gắn kết chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý bởi hai chủ nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong việc nghiên cứu Một lý thuyết duy lý nếu không áp dụng được vào thực tế thì sẽ không thuyết phục và ngược lại, nếu lý thuyết kinh nghiệm mà chỉ dựa vào sự suy diễn mà không có

cơ sở, căn cứ thì cũng sẽ không thể đi đến kết quả Bachelard đã sử dụng phương pháp chứng minh giá trị của một định luật thực nghiệm bằng cách tạo ra cơ sở lý luận vững chắc, đây cũng là một tiền đề quan trọng giúp Bachelard hoàn thiện cơ sở lý luận cho

các công trình phân tâm học vật chất về sau Trong Triết lý của chữ phi, Bachelard đã

tiến hành nghiên cứu và đưa ra các quan điểm về logic học phi Aristole, chủ nghĩa phi thực chất, tính phi phân tích trong các kết nối không gian

Trong lĩnh vực khoa học luận, khoa học của Bachelard ra đời mang tinh thần nhận thức luận và phản thực chứng cực đoan, ông đã thể hiện rõ tinh thần này trong tác

phẩm La formation de l'esprit scientifique (tạm dịch: Sự hình thành tinh thần khoa học – Hà Dương Tuấn dịch) Đối lập với chủ nghĩa thực chứng của Auguste Comte về sự

tiến bộ trong khoa học, Bachelard cho rằng đó là kết quả của một cuộc đấu tranh không ngừng giữa lý trí và hiện thực Lý trí không ngừng đặt ra cho hiện thực những câu hỏi

và buộc hiện thực phải đi tìm hiểu, tư duy khoa học là không ngừng đấu tranh với

chính nó để ngày càng tiến bộ hơn chứ không phải sự tích lũy về kiến thức: “Với một đầu óc khoa học thì hiểu biết nào cũng là câu trả lời cho câu hỏi Nếu đã không có câu hỏi thì cũng không thể có hiểu biết khoa học” 2 (Gaston Bachelard,1938, tr.14) Lấy cảm hứng luận đề ba trạng thái của Auguste Comte, Bachelard đã chỉ ra sự tiến hóa của tinh thần khoa học được chia làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Thực trạng tiền khoa học diễn ra vào thời cổ đại và phục hưng

2

Hà Dương Tuấn dịch

Trang 29

- Giai đoạn 2: Thực trạng khoa học manh nha diễn ra vào cuối thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20

- Giai đoạn 3: Kỉ nguyên tinh thần khoa học mới, bắt đầu từ năm 1905, khi thuyết tương đối của Einstein xuất hiện, kể từ dấu mốc này, khoa học phát triển vượt bậc

Từ ba giai đoạn của lịch sử, ông đưa ra quy luật ba trạng thái của tinh thần khoa học gồm trạng thái cụ thể và trạng thái cụ thể trừu tượng Trong đó, trạng thái trừu tượng gắn với ba trạng thái tâm lý về sự kiên nhẫn khi nghiên cứu khoa học đó là tâm

lý ấu trĩ thông tục, tâm trạng mô phạm, và tâm trạng khát khao trừu tượng hóa khi soi tìm cái tinh túy trong khoa học (Gaston Bachelard,1938) Trong quá trình đấu tranh chống lại những sai lầm khoa học, Bachelard đã mạnh dạn đưa ra các các chướng ngại

trong quá trình nghiên cứu Ông cho rằng : “Trong một đời nghề đã dài và đa dạng, tôi chưa thấy một nhà sư phạm nào thay đổi phương pháp sư phạm cả Một người thầy thì không có ý thức về thất bại, chính bởi người ấy tự cho mình là thầy” (Gaston

Bachelard,1938, tr.51)

Với Bachelard, một tinh thần khoa học tiến bộ đó là tự nhìn nhận và đúc kết lại những sai lầm mà khoa học đã mắc phải, nêu lên những quan điểm cá nhân và cách thức vượt qua những chướng ngại trong các công trình khoa học luận Khi đưa ra chướng ngại về nhận thức luận thông qua các trạng thái tinh thần khoa học, Bachelard

đã có đóng góp to lớn trong lĩnh vực khoa học luận và cả giáo dục Các công trình của ông đã giúp các nhà khoa học có thể vượt qua trở ngại của tri thức trong quá trình nghiên cứu, mặt khác, đó là nguồn tư liệu và kiến thức đã có ảnh hưởng to lớn đến các thế hệ đi sau ông như Michel Foucault (1926-1984), Georges Canguilhem (1904-1995), Pierre Bourdieu (1930-2002),…

1.2 Về lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard

1.2.1 Cơ sở khoa học của lý thuyết

Tác phẩm của Gaston Bachelard được chia thành hai hướng đó là triết học khoa học và triết học văn chương, hai dòng tác phẩm này đều hòa trộn vào nhau và có mối

Trang 30

quan hệ khá mật thiết Trong việc nghiên cứu kết hợp triết học và văn chương,

Bachelard đã áp dụng phương pháp Phân tâm học vật chất (Psychanalyse de l'imagination matérielle), tức là sử dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu sâu về bản

chất, cấu trúc, đặc điểm của vật chất, từ đó phân tích thơ thông qua hình ảnh của vật chất và trí tưởng tượng của tác giả trước vật chất đó Nói cách khác, nếu như Carl Gustav Jung tìm kiếm những cổ mẫu, kí hiệu, biểu tượng văn hóa nguyên thủy trong vô thức tập thể của loài người, thì Gaston Bachelard cũng trở về cội nguồn nguyên thủy,

nhưng ông lại tập trung vào những ảnh tượng đến từ vật chất nguyên sơ gồm: Đất, Nước, Lửa, Khí Để đi sâu vào tìm hiểu lý thuyết phân tâm học vật chất của Gaston

Bachelard, chúng tôi cho rằng nên bắt đầu từ lý thuyết phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud

Phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud ra đời dựa trên các nghiên cứu về những bệnh nhân mắc triệu chứng rối loạn thần kinh, cuồng loạn (Hysteri) Lý giải căn nguyên của những căn bệnh này, ông cho rằng các triệu chứng rối loạn tâm thần đều bắt nguồn từ những kí ức bị tổn thương trong thời thơ ấu và những ẩn ức tình dục bị dồn nén (Libido), điều đó dẫn đến việc bệnh nhân không thể tự chủ về mặt cảm xúc, luôn kịch tính hóa các vấn đề xung quanh Trong quá trình nghiên cứu vô thức của con người thông qua những giấc mơ (rêves), Freud đã tách cấu trúc tâm lí (thần kinh bộ) của con người thành 3 phần gồm:

- Cái ấy (Id): được hiểu là vô thức, phần bản năng nguyên thủy của con người

- Cái tôi (Ego): được hiểu là ý thức bản ngã, là phần Id bị ảnh hưởng bởi các tác nhân xã hội bên ngoài

- Cái siêu tôi (Super Ego): được hiểu là sự lý tưởng, thăng hoa của cái tôi

Đối với văn học nghệ thuật, Freud chủ trương nghiên cứu văn bản và xem những hình tượng ẩn dụ trong thơ là một cách để người nghệ sĩ bộc phát những ẩn ức kiềm

nén của mình:“Với Freud, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ Nó phản ánh ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe” (Đỗ Lai Thúy,

Trang 31

2000,tr.12-13) Ông đã đồng nhất sự sáng tạo và vô thức, vì thế khi quan sát một tác phẩm nghệ thuật, Freud thường chú ý những hình ảnh, biểu tượng trong tác phẩm, từ những hình ảnh, biểu tượng đó ông tìm kiếm ngôn ngữ vô thức và những ẩn ức bị dồn nén Phương pháp này đã giúp ích cho việc nghiên cứu tiểu sử của tác giả, mặc khác,

nó cũng là nền tảng cho phương pháp liên văn bản Tuy nhiên, nếu nhìn nhận tác phẩm nghệ thuật và các hình ảnh ẩn dụ như một văn bản bệnh án để chẩn đoán theo phương pháp y học thì sẽ trở nên phiến diện và võ đoán, vì thế, lý thuyết phân tâm học của Carl Gustav Jung ra đời

“Nếu Freud không tin vào khả tính của một đời sống tâm linh rạng rỡ thì trái lại đó là đích nhắm của Carl Jung” (Remo Bodei ,2011, tr 56-57) Trong bài tham luận “Về quan hệ của tâm lý học phân tích và sáng tạo trong nghệ thuật” tại cuộc họp

của Hội ngôn ngữ Đức vào năm 1922, Carl Jung đã chia sẻ quan điểm của mình về ranh giới giữa tâm lý học và nghệ thuật Ông cho rằng:

“Để đánh giá đúng sáng tạo nghệ thuật, tâm lý học phân tích cần phải đoạn tuyệt với thiên kiến y học, bởi vì sáng tạo nghệ thuật không phải là căn bệnh và

do đó đòi hỏi phải có một định hướng hoàn toàn khác chứ không phải theo lối

y học chữa bệnh” (Đỗ Lai Thúy dịch,2000,tr.61)

Từ đó, Carl Jung đã đề ra hai khuynh hướng tâm lý trong sáng tạo nghệ thuật, đó là tâm

lý hướng nội và tâm lý hướng ngoại Người nghệ sĩ can thiệp một cách có ý thức vào quá trình sáng tạo ra tác phẩm, chủ động lựa chọn chất liệu, ngôn từ được xem là kiểu tâm lý hướng nội Kiểu tâm lý sáng tạo này cho ra một tác phẩm có khuôn khổ đúng với ý định sáng tạo ban đầu của người nghệ sĩ, phù hợp với nhãn quan thời đại của độc giả, thường sẽ được độc giả đón nhận Kiểu tâm lý còn lại là tâm lý hướng ngoại Tác giả không thể làm chủ được ý thức của mình, đồng nhất bản thân với quá trình sáng tạo, vô thức tác động mạnh đến chủ thể và cho ra những tác phẩm vượt ngoài khả năng kiểm soát của tác giả Hiện tượng này được Carl Jung gọi là mặc cảm tự trị, theo ông:

Trang 32

“Mặc cảm tự trị vốn nó không phải là cái gì bệnh hoạn”, “Mặc cảm tự trị lớn lên bằng năng lượng tước đoạt ở hành vi cá nhân có ý thức” (Đỗ Lai Thúy dịch,2000, tr.69-77)

Với Carl Jung sự sáng tạo phải được ươm mầm từ rất lâu trong tâm thức tác giả, đến một lúc nào đó, nguồn cảm hứng sáng tạo bắt đầu xuất hiện và nó có thể khiến tác giả từ bỏ mọi sinh hoạt cá nhân như ăn, ngủ để chỉ viết Từ vô thức trong sáng tạo cá nhân, Carl Gustav Jung tìm ra khái niệm vô thức tập thể qua các biểu tượng có cội nguồn từ nguyên thủy Trong quá trình nghiên cứu, ông nhận ra có những biểu tượng được lặp lại trong suốt chiều dài lịch sử loài người từ khi chúng ta bắt đầu có nhận thức

và biết tưởng tượng, Jung gọi những biểu tượng này là “cổ mẫu” hay “nguyên mẫu” (archetype) Và như thế, bằng các nghiên cứu về vô thức tập thể và các biểu tượng nguyên sơ, Carl Jung đã mở ra con đường nghiên cứu văn học theo tinh thần khảo cổ học, tìm kiếm những nguyên mẫu in hằn trong kí ức của nhân loại trong văn chương Cùng nghiên cứu về vô thức, nhưng Carl Gustav Jung lại chọn cách nhìn nhận vô thức của con người từ góc độ nguyên thủy thay vì thời thơ ấu như Freud Khuynh hướng nghiên cứu phân tâm học kết hợp khảo cổ học của ông đã mở ra lối đi mới cho rất nhiều nhà nghiên cứu sau này, trong đó có Gaston Bacherlard

Đối với Gaston Bachelard, ông cũng chọn cách quay về tư duy nguyên thủy và lựa chọn ra bốn nguyên tố chính cấu thành nên vũ trụ: Đất, Nước, Lửa, Không khí để làm nền tảng phát triển lý thuyết Ông cho rằng những hình ảnh mơ màng, tưởng tượng trước các nguyên tố không hề mất đi mà sẽ hằn sâu vào vô thức, đến một lúc nào đó, những hình ảnh này sẽ phát ra, hòa cùng sự sáng tạo của nhà thơ để làm nên những tác phẩm văn học để đời Gaston Bachelard đã chủ trương gắn thơ với những tiềm thức sâu

xa từ nguyên thủy và nhìn khoa học dưới con mắt thơ ngây của người tối cổ Những người nguyên thủy ấy đã từng mơ màng trước vật chất, những ảnh tượng mà họ tạo ra

sẽ được truyền từ đời này, sang đời khác dần dà trở thành một nguyên mẫu in hằn trong

kí ức nhân loại Dựa trên những thực tại đang xảy ra với tác giả, Bachelard đã đi sâu

Trang 33

vào tìm hiểu nguồn gốc và giải mã ảnh tượng, điều này đi ngược lại với phân tâm học

cổ điển (dùng hình ảnh để giải mã ẩn ức của tác giả)

Bachelard cho rằng những phát minh khoa học kĩ thuật hầu hết không phải do nhu cầu của con người mà đa phần đều xuất phát từ trí tưởng tượng và tinh thần mong muốn hão huyền Chúng ta chế tạo ra máy bay không phải vì nhu cầu đi lại trên không,

mà là vì trong mỗi chúng ta đều luôn có ước mơ được tung cánh bay lượn trên bầu trời như loài chim Nhờ có trí tưởng tượng, loài người có thể nhận thức được thế giới, có được năng lượng kích thích sáng tạo cho những phát minh tiến hóa, đồng thời, trí tưởng tượng cũng xoa dịu tinh thần con người bằng những mơ mộng lãng mạn Bachelard nhìn thấy được tầm quan trọng và chức năng của trí tưởng tượng, vì thế, lý thuyết phân tâm học của ông không dựa trên vô thức nữa mà dựa trên siêu vô thức (le sur ça), tức là những thứ không bắt nguồn từ những ẩn ức mà nó bắt nguồn từ thần thoại, từ tâm linh, tín ngưỡng của dân tộc hòa mình cùng các vật chất nguyên sơ của vũ

trụ:

“Ông xem tượng trưng như một ngôn ngữ nguyên sơ chứ không phải là sản

phẩm tất yếu của ức chế Sự mới lạ này đã làm cho phân tâm học vật chất của Bachelard thành một khám phá kì diệu, đưa vào những lãnh vực thâm sâu của bản vị nhân loại xuyên qua những “dục tính của lửa”, “nước trinh bạch”, “đất mẹ”, “cây tinh thần” (Nguyễn Châu, 1971,tr.59)

Trí tưởng tượng vật chất (hay trí tưởng tượng chất thể) là trí tưởng tượng được tạo ra khi chủ thể có sự tác động, hoặc có mối liên hệ nào đó với các nguyên tố vật chất Đất, Nước, Lửa, Khí Từ trí tưởng tượng vật chất, chủ thể sẽ tạo ra ảnh tượng vật chất, tức là những hình ảnh tưởng tượng có liên quan đến vật chất mà chủ thể đã tiếp xúc trước đó Chúng ta cần phân biệt ảnh tượng, cổ mẫu và những biểu tượng như sau: Biểu tượng (symbol) là những kí hiệu, hình ảnh được sử dụng để đại diện cho một ý nghĩa nào đó, ví dụ như biểu tượng của Hội chữ thập đỏ là dấu cộng màu đỏ, biểu tượng nước Mỹ là linh vật chim ưng,…

Trang 34

Đối với cổ mẫu (nguyên mẫu), theo Từ điển văn học, đó là “khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại; vô thức tập thể này là một yếu tố đặc trưng cho tất cả các vô thức cá nhân” (Nhiều tác giả, 2005,tr

972) Một ví dụ về cổ mẫu như: mặc dù không liên hệ đến nhau nhưng các dân tộc, tôn giáo trên thế giới đều xem “mặt trời” là đại diện cho sự sống Nguyên nhân sâu xa là vì dựa trên kinh nghiệm người nguyên thủy truyền tai nhau từ đời này sang đời khác, họ xem mặt trời chính là nguồn sáng đem đến sự sống cho vạn vật, vì thế từ thuở sơ khai đến nay, mặt trời là sự sống đã in hằn trong tiềm thức nhân loại

Còn ảnh tượng vật chất là những hình ảnh do trí tưởng tượng dựng lên bằng các chất liệu vật chất Giả dụ khi chúng ta đọc lên những dòng thơ sau đây:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

(Bếp lửa – Bằng Việt)

Chúng ta có thể hình dung ra việc tác giả đang ngồi trước một cái bếp lửa vào buổi sáng tinh mơ, hoặc anh ta có thể đi đâu đó và bắt gặp hình ảnh bếp lửa đang bập bùng cháy Những điều này khiến anh ta mơ màng nhớ đến những kí ức xa xăm in hằn trong tâm trí, đó là những hình ảnh về kỉ niệm, quá khứ, có thời gian, không gian, có hoạt động, có cảm xúc, có người mà anh ta thương quý Anh ta nhớ lại vào một sớm mùa đông giá rét nào đó, anh ta cũng ngồi cạnh bếp lửa và người bà của mình Những hình ảnh tưởng tượng lúc này chỉ là một viễn cảnh không có thực mà tâm trí ta tưởng tượng ra, và ta gọi đó là những hình ảnh tưởng tượng đến từ nguyên tố lửa bởi chính ngọn lửa đã góp phần tham gia tạo nên những hình ảnh tưởng tượng của tác giả Ngoài Bằng Việt, hình ảnh một sớm mùa đông ngồi cạnh bếp lửa, lò sưởi, hay đống lửa và mơ màng nhớ về kí ức xa xăm cũng đã xuất hiện rất nhiều lần trong kho tàng văn học, điện ảnh, âm nhạc,… trên thế giới từ rất xa xưa Lúc này, ta nói “bếp lửa” là một cổ mẫu, vì

Trang 35

“cái bếp lửa” có ý nghĩa riêng của nó, nó có thể gắn với tín ngưỡng, tôn giáo hoặc văn hóa của từng dân tộc khác nhau Còn lại, hình ảnh người ngồi trước đống lửa mơ màng

là một ảnh tượng chất lửa, ảnh tượng này có thể xuất hiện trong nhiều nền văn hóa, dân tộc khác nhau, nhưng với mỗi người, mỗi kinh nghiệm, môi trường sống, tuổi thơ, gia đình khác nhau thì nó sẽ tạo ra những trí tưởng tượng khác nhau Đứa trẻ hạnh phúc sẽ tưởng tượng ra sự ấm áp của cái bếp lửa vào mùa đông, nhưng một đứa trẻ bất hạnh thì

sẽ chỉ cảm thấy cô độc trước cái bếp lửa vào mùa đông Nói cách khác, phân tâm học vật chất của Gaston Bachelard lấy trí tưởng tượng vật chất làm cơ sở khoa học, từ đó giải mã các ảnh tượng trong thơ ca

Nhìn chung, lý thuyết phân tâm học của Bachelard được kế thừa từ nền tảng phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud, tuy nhiên, Bachelard cũng giống như Carl Jung, đã rẽ hướng sang một ngoại vi khác của phân tâm học cổ điển Lý thuyết của Bachelard tập hợp những vô thức cộng đồng từ Carl Jung, những tư duy nghiên cứu nguyên thủy của Levy Bruhl, James George Frazer, và cả những kiến thức về giả kim thuật, chiêm tinh học Ông đã thổi một làn gió mới vào thực trạng phê bình lý tính khô khan của nền văn học Pháp nói riêng và sau đó là của nhiều nền phê bình văn học khác

1.2.2 Những sự tưởng tượng vật chất

Từ xa xưa, quan niệm vật chất hình thành nên thế giới đã đi sâu vào hệ tư tưởng triết học cổ đại phương Tây Đứng trước vũ trụ bao la và bí ẩn, các triết gia đã giải thích rằng thế giới có khởi nguyên từ vật chất Bắt đầu từ Thalès de Milet với quan

niệm vạn vật đều có khởi nguyên từ nước khi cho rằng:“Đại dương là tổ tiên của mọi thứ”, tiếp đến là Anaximene đã tuyên bố: “Không khí là bản nguyên của mọi sự vật hiện tồn” vì hơi thở và không khí luôn bao trùm vũ trụ Anaximene còn cho rằng

không khí chính là bản nguyên của linh hồn, của thần linh, Thượng Đế Về sau, nhà triết học Heraclite lại cho rằng lửa mới chính là khởi nguyên của thế giới bởi vì lửa

không chỉ là hiện thân từ sức mạnh vũ trụ mà còn là hiện thân của sức mạnh lý trí:“Thế giới chỉ là một ngọn lửa bập bùng cháy suốt ngày đêm” (Nguyễn Tiến Dũng, 2006,

Trang 36

tr.16- 23) Ở những nền văn hóa khác nhau, các nhà triết học luôn có những cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của thế giới dựa trên thuộc tính của các nguyên tố mà họ quan sát Những nhà triết học cổ đại thuộc trường phái Milet luôn tìm tòi, nghiên cứu

và giải thích thế giới thông qua bốn nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Khí riêng biệt, còn ở phương Đông, sự kết hợp của các yếu tố này mới là nền tảng tạo nên vũ trụ

Theo triết học cổ đại Trung Hoa, vạn vật trên trái đất đều được phát sinh ra từ năm yếu tố cơ bản Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Cả năm yếu tố này đều tồn tại song hành và tương tác lẫn nhau, chúng được đặt trong mối quan hệ tương sinh, tương khắc, phản sinh, phản khắc và không thể tách rời yếu tố nào Đối với người Châu Á, ngũ hành không đơn thuần chỉ là năm nguyên tố vật chất trong tự nhiên mà còn được ứng dụng trong y học, phong thủy, ẩm thực Ví dụ như các bộ phận trong cơ thể con người được ứng với ngũ hành , gọi là ngũ tạng (can, tâm, tỳ, phế, thận), ngũ quan (mắt, lưỡi, miệng, mũi, tai), trong ẩm thực gọi là ngũ vị (chua, đắng, ngọt, cay, mặn), trong mùa màng gọi là ngũ thời (xuân, hạ, cuối hạ, thu, đông), trong phong thủy là ngũ phương (đông, nam, trung ương, tây, bắc)

Tại sao Bachelard lại chọn nguyên tố vật chất tự nhiên? – Chúng tôi đã đặt ra

câu hỏi ấy và nhận thấy rằng Bachelard có một mối quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực vật

lý, hóa học Bốn nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Khí là các nguyên tố cơ bản nhất trong hóa học, và dù ở văn hóa phương Tây hay phương Đông thì các nguyên tố này cũng là những gì cơ bản nhất của vũ trụ từ thuở sơ khai Khi tiếp cận nghiên cứu khoa học văn chương bằng góc nhìn tư duy nguyên thủy, Bachelard bắt buộc phải tìm về những nguyên tố này để có thể thấu hiểu được trí tưởng tượng của người nguyên thủy Từ trí tưởng tượng nguyên thủy đó, ông có thể giải thích tín ngưỡng, huyền thoại, truyền thuyết, những ảnh tượng và mặc cảm tâm lý trước vật chất

Nguyên nhân thứ hai mang Bachelard đến với trí tưởng tượng gắn với tự nhiên, chúng tôi cho rằng việc sinh ra, trưởng thành tại Champagne, Bar-sur-Aube cũng đã góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy của Bachelard trong khi nghiên cứu lý

Trang 37

thuyết phân tâm học vật chất Vùng đất Bar-sur-Aube là một nơi ngoại vi thành phố Paris, thay vì hòa nhập với cuộc sống thành thị hiện đại hóa thì Bachelard lại được đắm mình trong không gian thơ mộng có dòng sông Aube chảy ngang qua thành phố đã một

phần nào đã giúp Bachelard nuôi nấng những tưởng tượng, mơ mộng Trong L'Eau et les rêves (tạm dịch: Nước và những giấc mơ), ông đã viết rằng “Tôi sinh ra trong một

xứ sở nhiều suối, nước, sông ngòi, ở một trời vùng Champagne nhiều thung lũng tại Làng Thung”, “quê cha đất mẹ là một chất liệu hơn là một khoảng đất (Gaston

Bachelard, 1942) Thiên nhiên và những kỉ niệm ấu thơ luôn được trải đầy trong các công trình của ông, chính thiên nhiên cũng đã đem đến cho Bachelard những cái nhìn đầy cảm hứng trong việc nghiên cứu trí tưởng tượng

1.2.2.1 Phân tâm học về lửa

Năm 1938, Bachelard ra đời công trình phân tâm học về lửa, đây là một công trình mang tinh thần phản duy lý cực đoan được kết hợp giữa khoa học, phân tâm học, vật lý và văn chương Trong tác phẩm, Bachelard cho rằng nền khoa học thực chứng đã không tìm ra được nguồn gốc và bản chất của ngọn lửa mà thay vào đó là những công

thức mang tính hời hợt và đại khái: “Những lời giải thích khoa học đó thực hành một chủ nghĩa duy lý khô khan và vội vã” (Gaston Bachelard, 1938) Câu hỏi đầu tiên mà Bachelard đặt ra khi phân tích lửa đó là “Lửa là cái gì?” Ông không chấp nhận câu trả

lời mà khoa học thực chứng đã đưa ra khi nói lửa là một hiện tượng sinh nhiệt chung chung, bởi người nguyên thủy không hề biết đến hiện tượng sinh nhiệt, không tự nhiên

mà họ biết cách tạo ra lửa bởi vì lửa trong tự nhiên (cháy rừng, sấm sét, núi lửa) đều là những hiện tượng khiến họ hoảng sợ thay vì khám phá Nếu sự giải thích lý tính không thể cắt nghĩa thì Bachelard đã dùng đến phân tâm học để phân tích tâm lý của người nguyên thủy trước lửa Họ khám phá ra lửa là nhờ vào sự cọ xát trong các hoạt động tình dục, nhiệt được sản sinh trong quá trình giao phối, từ những ham muốn bản năng,

họ nảy ra ý nghĩ cọ xát hai mẩu gỗ vào nhau để sinh nhiệt và tìm ra ngọn lửa.Trong công trình này, Bachelard đã đưa ra các mặc cảm lớn nhất trong tâm lý của con người

Trang 38

về lửa là mặc cảm Promethee, mặc cảm Emperdocle, mặc cảm Novalis Ngoài ra, còn

có mặc cảm Holderlin, mặc cảm Hoffman và mặc cảm Goeth được ông giải thích, chứng minh trong từng luận điểm nhỏ

Theo ông, đối với con người thì lửa là một bản thể xã hội, tự ngàn xưa lửa đã được con người nguyên thủy tôn vinh và thờ phụng, cái nhìn của người nguyên thủy đối với lửa là một thứ rất thiêng liêng và không thể chạm tới, qua những lời răn dạy, cảnh báo của lớp người đi trước về lửa, hầu như không còn chỗ cho những suy tư Người ta không thể biết lửa có từ đâu, bản chất của lửa là gì vì mỗi khi nhìn thấy nó, trong vô thức con người lại hiện lên những lời cảnh báo về sự hủy diệt của lửa Những

gì không thể chạm đến khiến con người nảy sinh ra tâm lý tò mò, như một đứa trẻ thường giấu cha mẹ chúng để tìm hiểu về que diêm hay những trò chơi nấu ăn, đánh lửa trong thời thơ ấu Sự khám phá lén lút này được ông gợi nhớ đến hành động Promethee ăn cắp lửa của thiên đình, mang ánh sáng xuống cho loài người, ông gọi là mặc cảm Promethee - mặc cảm con muốn vượt cha

Nói về mặc cảm Empedocle, ông giải thích rằng lửa trong nguyên thủy được xem là thứ vật chất thuần khiết để thanh tẩy và tái sinh Lửa có thể sản sinh ra những thức ăn ngon, có thể dùng lửa để rèn công cụ kim loại nhưng lửa cũng có thể hủy diệt bất cứ thứ gì Đứng trước lửa và mơ màng trước lửa đã làm cho con người nảy sinh nhiều xúc cảm, từ lòng ham muốn được chiếm lấy ánh sáng, con người hướng đến tâm

lý muốn lao vào ngọn lửa đang cháy để chết đi, để được tái sinh, đó là tiếng gọi của giàn hỏa thiêu từ trong tâm thức nguyên thủy Mặc cảm Empedocle còn được gọi là mặc cảm tự thiêu

Ngoài ra, lửa còn là thứ trần tục nhất, lửa có thể làm người ta khiếp sợ, cũng có thể làm người ta hạnh phúc Trong mặc cảm Novalis, Bachelard tìm hiểu về cách con người tạo ra lửa và chinh phục ngọn lửa Ông đi đến kết luận rằng lửa đều có trong mỗi người, mỗi sự vật Việc cọ xát sẽ giúp cho lửa được sinh ra, một ngọn lửa nhỏ sắp tàn khi được gộp với ngọn lửa khác sẽ tái sinh và bùng cháy to hơn Hai thanh gỗ bị cọ xát

Trang 39

sẽ sản sinh ra lửa, hai con người cọ xát lẫn nhau trong các hoạt động tình dục cũng sẽ giúp cho lửa được sản sinh, lửa từ người nam truyền qua người nữ, từ đó duy trì nòi giống của loài người qua hàng ngàn thế kỉ Phân tâm học về lửa được Bachelard sử dụng tên nhà thơ, nhân vật để đặt tên cho mặc cảm Ví dụ như vị thần trộm lửa Promethee được đại diện cho mặc cảm lén lút muốn khám phá ngọn lửa, triết gia lỗi lạc Empedocle đã lao mình xuống ngọn núi lửa cũng được Bachelard đặt tên đại diện cho mặc cảm tự thiêu và cuối cùng, nhà thơ Novalis đại diện cho mặc cảm khao khát, tính dục của lửa

Công trình Phân tâm luận về lửa suy cho cùng vẫn là một công trình nghiên cứu

phân tâm học về lửa theo phong cách ngôn ngữ văn chương chứ chưa thực sự được Bachelard đề cập nhiều đến văn chương Mãi đến năm 1961, sau khi đã hoàn thành các công trình văn chương về nước, không khí và đất thì Bachelard mới quay lại yếu tố lửa

qua tác phẩm La Flamme D’une Chandelle (tạm dịch: Ngọn lửa nến) Công trình ra đời

đã góp phần hoàn thiện nhiều lý thuyết về lửa liên quan đến các hình ảnh văn học Trong đó, ông bổ sung hình tượng ngọn lửa cô độc được gắn kết với người nghệ sĩ Ngọn lửa là cội nguồn của những sáng tạo giúp cho người nghệ sĩ thăng hoa, việc ngắm nhìn ngọn lửa sẽ giúp con người có thể rũ bỏ thực tại và chìm vào thế giới tưởng tượng Ngọn lửa sẽ phóng chiếu những suy nghĩ của người thơ trở nên to lớn, vĩ đại hơn, và bất kì ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ khi đứng trước một ánh lửa bập bùng trong đêm đông giá rét Tuy nhiên, Bachelard cũng phân biệt rằng ngọn lửa của một ngọn nến thì khác hẳn với ngọn lửa cháy trong bếp lò hay lò sưởi, nó là ngọn lửa cô độc được minh họa cho người nghệ sĩ, soi rọi quá trình làm việc và làm bật lên nỗi cô đơn của họ, có những ngọn lửa ấm áp, những ngọn lửa cô đơn và cả những ngọn lửa

mang sức hủy diệt mà chúng ta không ngờ tới Trong Ngọn lửa nến, Bachelard cũng

nêu ra sự khác nhau của mơ mộng và giấc mơ Trong mơ, lửa có thể đem đến cho chúng ta những ánh sáng tuyệt vời, tuy nhiên nó chỉ là thứ ánh sáng ảo, còn trong trí

Trang 40

tưởng tượng, ánh sáng của lửa mang đến cho ta đó là kí ức, là tiềm thức nguyên thủy

xa xôi được kết hợp cùng sự mơ mộng của riêng mỗi nhà thơ

1.2.2.2 Nước và những giấc mơ

Năm 1942, nguyên tố quan trọng thứ hai trong vũ trụ: Nước, được Bachelard

nghiên cứu và xuất bản thành quyển sách L’eau Et Les Rêves- Essai Sur L’imagination

de la matière (tạm dịch: Nước và những giấc mơ – tiểu luận về trí tưởng tượng của vật chất) Công trình đề ra các khái niệm về sự tưởng tượng, mơ mộng của người nghệ sĩ

trước yếu tố nước, đây là những khái niệm cần thiết trong việc nghiên cứu triết học trong thơ Trong công trình này, Bachelard đã đề ra hai trục tưởng tượng khác nhau trong trí óc con người, đó là trí tưởng tượng hình thức (bên ngoài) và trí tưởng tượng vật liệu (bên trong) Nói một cách dễ hiểu, khi đặt nhà thơ vào trong một khung cảnh của mùa xuân, trí tưởng tượng hình thức sẽ giúp cho nhà thơ hình dung ra bức tranh đẹp đẽ với ngàn hoa đang nở rộ, còn trí tưởng tượng vật liệu sẽ khơi gợi cho nhà thơ tìm về bản thể của mùa màng, thiên nhiên, lịch sử và những câu chuyện, hình ảnh liên quan đến mùa xuân huyền thoại trong kí ức của nền văn minh nhân loại Từ hình thức

và vật liệu, Bachelard đã kết luận rằng tất cả những yếu tố đều mang tính hai mặt:

“Khi ca ngợi những yếu tố đó, ta tưởng là trung thành với hình tượng ta hằng yêu quí; nhưng thực ra ta đã trung thành với một tình cảm nhân tạo nguyên thủy, với một thực tiễn hữu cơ tiên thiên, với một khí chất trong mơ cơ bản” (Đỗ Lai Thúy dịch, 2000, tr.271)

Chúng tôi thử chọn ngẫu nhiên hình ảnh hoa hướng dương để minh họa cho kết luận

trên của Bachelard và đã phân tích như sau:

 Trí tưởng tượng hình thức: Hoa hướng dương là loài hoa có thân to thẳng, cao, các cánh hoa hình lưỡi xếp cùng nhau tạo nên bông hoa lớn hình tròn màu vàng

 Trí tưởng tượng vật liệu: Bản thể của hoa hướng dương được xem như là ánh sáng bởi đặc tính của loài hoa luôn hướng về mặt trời, điền này dẫn đến sự liên tưởng

về bản tính của Chúa trời, Đức Mẹ Đồng Trinh Tiếp đến, loài hoa hướng dương cũng

Ngày đăng: 13/11/2023, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1    Trong tập  Gái Quê, dòng sông, bến nước dưới ánh nắng buổi mai đã dần được - Nghiên cứu thơ hàn mặc tử từ lý thuyết phân tâm học của gaston bachelard
Bảng 1 Trong tập Gái Quê, dòng sông, bến nước dưới ánh nắng buổi mai đã dần được (Trang 76)
Bảng 2. Thời điểm quan hệ tình dục trong ngày    Trong bài khảo sát, tác giả giải thích rằng do nhịp độ sinh học của con người và  một số loài vật khác có trình tự giống nhau, ban đêm là thời gian nghỉ ngơi, thư giãn  sau một ngày dài kiếm thức ăn, thời đ - Nghiên cứu thơ hàn mặc tử từ lý thuyết phân tâm học của gaston bachelard
Bảng 2. Thời điểm quan hệ tình dục trong ngày Trong bài khảo sát, tác giả giải thích rằng do nhịp độ sinh học của con người và một số loài vật khác có trình tự giống nhau, ban đêm là thời gian nghỉ ngơi, thư giãn sau một ngày dài kiếm thức ăn, thời đ (Trang 77)
BẢNG KHẢO SÁT HÌNH ẢNH NƯỚC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ - Nghiên cứu thơ hàn mặc tử từ lý thuyết phân tâm học của gaston bachelard
BẢNG KHẢO SÁT HÌNH ẢNH NƯỚC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ (Trang 135)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w