1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ở đồng nai

389 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Đình Làng Trong Bối Cảnh Đô Thị Hóa Ở Đồng Nai
Tác giả Lê Xuân Hậu
Người hướng dẫn PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại luận án
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 389
Dung lượng 21,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đô thị hóa đã tạo ra những chuyển biếntheo xu hướng tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể và nổibật là nông dân trở thành thị dân, nông nghiệp chuyển th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án Văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ở Đồng Nai là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng

dẫn khoa học của PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng Các tư liệu sử dụng trongLuận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, không có sự sao chép, trùng lắpcủa bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm vềcông trình nghiên cứu này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Tác giả luận án

Lê Xuân Hậu

Trang 4

Luận án này được hoàn thành là kết quả tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân

và sự động viên, giúp đỡ nhiệt thành của Thầy hướng dẫn, các giảng viên Khoavăn hóa học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ ChíMinh, Ban Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố

Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, những nhà nghiên cứu tại Đồng Nai, bạn bè,đồng nghiệp và gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng người đã tận tình hướng dẫn, định hướng nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện luận án

-Tôi xin được tri ân Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giámhiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh,Quý Thầy Cô phòng Sau Đại học, Quý Thầy Cô Khoa Văn hóa học, Quý Thầy

Cô giảng dạy các học phần nghiên cứu sinh và Quý Thầy Cô trong Hội đồng cáccấp đã có những nhận xét, góp ý, định hướng để tôi hoàn thành tốt luận án

Tác giả luận án

Lê Xuân Hậu

Trang 5

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục tiêu, đối tương và pham vi nghiên cứu 15

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 15

3.2 Đối tượng nghiên cứu 16

3.3 Phạm vi nghiên cứu 16

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học 16

4.1 Câu hỏi nghiên cứu 16

4.2 Giả thuyết khoa học 17

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 18

5.1 Phương pháp nghiên cứu 18

5.2 Nguồn tư liệu 21

6 Đóng góp của luận án 21

6.1 Về ý nghĩa khoa học 21

6.2 Về ý nghĩa thực tiễn 22

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 25

1.1 Các khái niệm 25

1.1.1 Các khái niệm liên quan văn hóa 25

1.1.2 Các khái niệm về biến đổi văn hóa 34

1.1.3 Các khái niệm liên quan văn hóa đình làng 37

1.1.4 Các khái niệm về đô thị, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa 45

Trang 6

1.2.1 Quan điểm tiếp cận 49

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu 50

1.3 Khái quát về Đồng Nai và quá trình đô thị hóa 56

1.3.1 Yếu tố địa lý, lịch sử 56

1.3.2 Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội 57

1.3.3 Người Việt ở Đồng Nai 61

1.3.4 Khái quát về quá trình đô thị hóa ở Đồng Nai 62

Tiểu kết chương 1 68

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG ĐỒNG NAI TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN BIẾN ĐỔI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 69

2.1 Những đặc điểm văn hóa truyền thống đình làng ở Đồng Nai 69

2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của đình làng ở Đồng Nai 69

2.1.2 Di sản văn hóa vật thể của đình làng ở Đồng Nai 79

2.1.3 Di sản văn hóa phi vật thể của đình làng ở Đồng Nai 89

2.2 Những đặc điểm biến đổi của văn hóa đình làng ở Đồng Nai 103

2.2.1 Về không gian văn hóa đình làng 103

2.2.2 Về tín ngưỡng, lễ hội 113

2.2.3 Về đối tượng thờ tự 118

2.3 Giá trị tiêu biểu của văn hóa đình làng 119

2.3.1 Giá trị văn hóa 119

2.3.2 Giá trị lịch sử 120

2.3.3 Giá trị khoa học 123

2.3.4 Giá trị giáo dục 124

2.3.5 Giá trị đạo đức, nhân văn 126

Tiểu kết chương 2 128

Trang 7

3.1 Văn hóa đình làng Đồng Nai trong bối cảnh hiện nay 129

3.1.1 Giá trị văn hóa đình làng trước tác động từ quy luật kinh tế - xã hội của đô thị hóa trong toàn vùng 129

3.1.2 Vị thế của văn hóa đình làng trong đời sống văn hóa truyền thống và xu hướng “đình hóa” phổ biến ở các thiết chế tín ngưỡng dân gian 132

3.2 Nhận định nguyên nhân và xu thế biến đổi của văn hóa đình làng ở Đồng Nai trong quá trình đô thị hóa 142

3.2.1 Nhận định đặc điểm, nguyên nhân biến đổi 142

3.2.2 Xu hướng tái cấu trúc văn hóa đình làng 162

3.3 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa đình làng Đồng Nai trong quá trình đô thị hóa 166

3.3.1 Thực trạng và các quan điểm, định hướng bảo tồn gắn với phát huy giá trị văn hóa đình làng ở Đồng Nai 166

3.3.2 Phân tích SWOT đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa đình làng ở Đồng Nai 173

3.3.3 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa đình làng182 Tiểu kết chương 3 194

KẾT LUẬN 195

TÀI LIỆU THAM KHẢO 201

PHỤ LỤC 215

Phụ lục 1: Bản đồ 215

Phụ lục 2: Bảng biểu 216

Phụ lục 3: Sơ đồ 233

Phụ lục 4: Danh sách, biên bản phỏng vấn sâu 247

Phụ lục 5: Bản phiên âm, dịch nghĩa chữ Hán 331

Phụ lục 6: Hình ảnh minh họa 361

Trang 8

CHỮ VIẾT TẮT CHỮ ĐẦY ĐỦ

BVHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ICOMMOS Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Trùng tu

Di sản văn hóaICCROM Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ

QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân

SWOT Điểm mạnh (Strenghs), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc

Trang 9

STT NỘI DUNG SỐ TRANG

Bảng 1.1 Số lượng các phiếu phỏng vấn sâu theo địa bàn 20Bảng 2.1 Tổng hợp đình làng của người Việt ở Đồng Nai 75Bảng 2.2 Số lượng đình ở vùng đất người Việt sinh sống

lâu đời

76

Bảng 2.3 Số lượng đình ở vùng đất người Việt khai phá từ

khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

78

Bảng 2.4 Niên hiệu vua phong sắc, số lượng sắc phong 91

Trang 10

STT NỘI DUNG SỐ TRANG

Hình 2.1 Kiến trúc kiểu chữ nhất (đình Phước Thọ, Nhơn Trạch) 79Hình 2.2 Kiến trúc kiểu chữ nhị (đình Phú Thạnh, Nhơn Trạch) 79Hình 2.3 Kiến trúc kiểu chữ tam (đình Phước Lộc, Long Thành) 79Hình 2.4 Kiến trúc tứ trụ đình Tân Xuân, Thành phố Long Khánh 80Hình 2.5 Kết cấu cột, kèo, xuyên, trính đình Mỹ Khánh, TP Biên Hòa 80Hình 2.6 Vì kèo nối đình Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch 80Hình 2.7 Không gian thờ tự đình Phước Lộc, huyện Long Thành 87Hình 2.8 Hoành phi “Hộ quốc tý dân” đình Phước Lư 101Hình 2.9 Liễn đối đình Bình Kính (Thành phố Biên Hòa) 102Hình 2.10 Đình Tân Đức (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) 107Hình 2.11 Đình Long Tân (xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch) 107Hình 2.12 Đình Long Đức (xã Long Đức, huyện Long Thành) 107Hình 2.13 Liễn đối đắp nổi xi-măng đình Mỹ Khoan 110Hình 2.14 Liễn đối đình Phú Hội (xã Phú Hội, Nhơn Trạch) 110Hình 2.15 Liễn đối chữ Hán chạm âm vào tường xi-măng 110Hình 2.16 Tự khí đình Phú Trạch, huyện Vĩnh Cửu 113Hình 2.17 Mõ thái bình đình Bình Trước, TP Biên Hòa 113Hình 2.18 Khởi chinh cổ trong lễ cúng đình An Hòa, TP Biên Hòa 113Hình 2.19 Khởi đại cổ trong lễ cúng đình An Hòa, TP Biên Hòa 113Hình 3.1 Hoành phi “Lân Thị cố miếu” (TP Biên Hòa) 135Hình 3.2 Hoành phi “Vinh Thạnh cố miếu” (TP Biên Hòa) 135Hình 3.3 Hoành phi “Bình Trước vũ miếu” (TP Biên Hòa) 135

Trang 11

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình vận động và phát triển của xã hội, văn hóa luôn chịu sự tácđộng khiến cho có những biến đổi không ngừng; văn hóa phải thích nghi để phùhợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc,mỗi quốc gia ở những giai đoạn lịch sử khác nhau cũng chịu sự tác động từ quátrình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa…Trong đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hệ quả trực tiếp là đô thị hóa

sẽ là nhân tố tác động phổ biến và trực tiếp lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Đây làquy luật của sự vận động phát triển xã hội mà mỗi nền văn hóa đều phải đối đầu

Sự đan xen giữa giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại với những biến đổi trongmỗi nền văn hóa là một thực tế khách quan mà các quốc gia, dân tộc phải nhìn nhậnnhằm hướng tới sự hài hòa giữa bảo tồn văn hóa và chấp nhận sự biến đổi (mộtphần hoặc hoàn toàn) để phù hợp với thực tiễn của bối cảnh xã hội trong quá trìnhphát triển

Đồng Nai là vùng đất ở khu vực Đông Nam Bộ có quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, toàn diện trên phạm vi toàn tỉnh Đôthị hóa là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển xã hội công nghiệp vốn được hìnhthành từ rất sớm ở Đồng Nai Quá trình đô thị hóa đã tạo ra những chuyển biếntheo xu hướng tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể và nổibật là nông dân trở thành thị dân, nông nghiệp chuyển thành công nghiệp, nôngthôn trở thành thành thị, đô thị được mở rộng, đời sống người dân được cải thiện,

cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội cũng được nâng cao, thay đổiphương thức sản xuất nâng cao hiệu quả lao động… Bên cạnh đó, tác động của đôthị hóa làm biến đổi nhiều hệ giá trị: về nhận thức, lối sống, về gia tăng và biếnđộng dân cư, ô nhiễm môi trường, việc làm…, đặc biệt trong đó có sự mất mát nhấtđịnh những giá trị văn hóa truyền thống

Văn hóa đình làng của người Việt ở Đồng Nai được hình thành gắn liền vớiquá trình khai khẩn, mở mang vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai hơn 300 trăm nămtrước Đến nay, qua bao thăng trầm thời cuộc, trên hầu khắp địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 12

từ vùng thị tứ cho đến nông thôn vẫn hiện hữu hàng trăm ngôi đình Các giá trị vănhóa đình làng được cộng đồng gìn giữ, trao truyền thường xuyên; có sức sốngmạnh mẽ, lan tỏa sâu rộng Trong suốt quá trình định hình và phát triển nơi vùngđất mới, ở mỗi giai đoạn lịch sử đi qua, các giá trị văn hóa đình làng đều có sự biếnđổi dưới nhiều tác động trong đó có quá trình đô thị hóa Sự biến đổi ấy là một quátrình xuyên suốt, đan xen giữa cái cũ - mới, truyền thống - hiện đại, ở mỗi giai đoạnkhác nhau các thành tố văn hóa gắn với đình làng có sự biến đổi khác nhau; cónhững thành tố văn hóa mất đi hoàn toàn (do không phù hợp), có những thành tốbiến đổi một phần, có những thành tố được bảo tồn nhưng dung nạp các giá trị vănhóa mới, nhiều yếu tố văn hóa mới phát sinh… Cứ như vậy, từ giá trị văn hóa đìnhlàng truyền thống ban đầu được người Việt đem vào định hình và phát triển trênvùng đất mới, qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau đều có biến đổi, phát triển khácnhau cho phù hợp với thực tiễn, phù hợp với sự lựa chọn của cộng đồng; và trongthời gian tới nhiều thành tố văn hóa đình làng còn tiếp tục biến đổi dưới những tácđộng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, quá trình giao lưutiếp biến văn hóa… của từng địa phương trong tỉnh Đồng Nai.

Vấn đề biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở trên thế giới cũng nhưViệt Nam được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như:

Đô thị học, Xã hội học, Nhân học, Văn hóa Đây là mảng nghiên cứu mang tínhthời sự, góp phần nhìn nhận, đặt ra vấn đề về những tác động trực tiếp hoặc giántiếp của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đối với các giá trị vănhóa truyền thống Nghiên cứu về văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ởĐồng Nai nhằm nhận diện những giá trị văn hóa đình làng truyền thống và biến đổicủa nó trong quá khứ, hiện tại và tương lai; thấy rõ được vai trò của văn hóa đìnhlàng trong đời sống làng xã xưa cũng như ở các vùng đô thị hiện nay; xác địnhnguyên nhân tạo sự biến đổi, xu hướng biến đổi; đánh giá mức độ biến đổi đến đâu,biến đổi ra sao; từ đó nhìn nhận rõ hơn vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị của văn hóađình làng trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay và trong tương lai Đó là lý do cơ bản

để đề tài “Văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ở Đồng Nai” được chọn

làm đề tài luận án tiến sĩ Văn hóa học

Trang 13

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu của đề tài này, có các vấn đề nổi bật ở nhiều góc độ,gợi mở hướng tiếp cận để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận án như: a) Các côngtrình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng; b) Các công trình nghiêncứu về giá trị văn hóa gắn liền với ngôi đình làng ở Việt Nam; c) Các công trìnhnghiên cứu về biến đổi văn hóa làng xã, đô thị hóa; d) Các công trình nghiên cứu vềvăn hóa đình làng ở Đồng Nai

a) Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng

Trong nội dung này có hai hướng tiếp cận: (1) các công trình nghiên cứu trựctiếp về tín ngưỡng Thành hoàng; (2) nghiên cứu các phong tục tập quán của làng xãtrong mối quan hệ với đình làng

- Các công trình nghiên cứu trực tiếp về tín ngưỡng Thành hoàng ở trongnước, từ trước đến nay đã làm rõ được nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờ ThầnThành hoàng ở Việt Nam, vai trò tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng trong làng xã.Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng có nguồngốc từ Trung Quốc “Thành hoàng - Thần bảo hộ không gian thành hào như tên gọicủa thần, xuất hiện từ năm 826 ở xứ ta tiếp tục tồn tại mãi đến thời nhà Nguyễn”(Huỳnh Ngọc Trảng & Trương Ngọc Tường, 1999, tr.16) Sau khi tín ngưỡng thờThành hoàng từ Trung Quốc vào Việt Nam hình thành nên tín ngưỡng thờ Thànhhoàng trong cộng đồng làng xã Quá trình hình thành, phát triển của tín ngưỡng ởmiền Bắc và lan tỏa vào miền Trung, miền Nam khiến cho có những biến đổi phùhợp với hoàn cảnh thực tế Có thể kể tới các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Trong công trình Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam (1996), Nguyễn Duy

Hinh với 800 trang viết đã đi sâu tìm hiểu nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờThần Thành hoàng ở Việt Nam Thông qua lược khảo lại các công trình nghiên cứucủa Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Huyên các thư tịch cũ như: Lĩnh NamChích Quái, Việt Điện U linh, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Nam Nhất ThốngChí, cùng quá trình nghiên cứu thực địa nhiều năm tìm hiểu về tín ngưỡng Thànhhoàng của tác giả Nguyễn Duy Hinh đã cung cấp số lượng Thành hoàng thờ tự ở

Trang 14

Việt Nam, nguồn gốc, lý do thờ Thần Thành hoàng, sự bền chặt của tín ngưỡng nàytrong đời sống cộng đồng

Tiếp cận tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng ở khía cạnh thờ tự của cộng đồng

cùng sự tích các Thành hoàng được thờ trong nước có công trình Thành hoàng làng

Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh thực hiện năm 2002.

Tác giả Trịnh Cao Tưởng (2005) với công trình Thành hoàng ở Việt Nam và

Shinto ở Nhật Bản một nghiên cứu so sánh Công trình này đã giới thiệu những giá

trị văn hóa đặc sắc của tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng ở Việt Nam so sánh vớithờ Shinto của Nhật Bản

Hai tác giả Nguyễn Vinh Phúc & Nguyễn Duy Hinh trong năm 2009 đã

nghiên cứu công trình Các Thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long Hà Nội với các

nội dung liên quan tới đặc điểm tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng ở Thăng Long,nhận diện những vị Thành hoàng Đặc biệt, trong công trình này đã làm rõ đượcnội dung: “Thành hoàng làng biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên Đó làmột hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư dân nông nghiệp”(Nguyễn Vinh Phúc & Nguyễn Duy Hinh, 2009, tr.82)

Nhận diện rõ đối tượng thờ tự Thành hoàng, tác giả Ngô Đức Thịnh (2012)

trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam cho rằng: “Thờ

cúng Thành hoàng là tín ngưỡng rất phổ biến ở các làng xã của người Việt… có thểnói thờ Thần Thành hoàng là tín ngưỡng chính của cộng đồng làng” (tr.58) Tác giả

đã dành 20 trang để nói về việc thờ Thần Thành hoàng làng, trong đó nêu rõ đượcnguồn gốc và bản chất của Thành hoàng

Cung cấp bức tranh chung về tín ngưỡng của các dân tộc Việt Nam, trong đó

có tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng đã được Ngô Đức Thịnh trình bày trong Tín

ngưỡng của các dân tộc Việt Nam (2016) Với tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng,

tác giả đã nêu được nguồn gốc và bản chất thờ Thần Thành hoàng; diện mạo thờThần Thành hoàng ở đồng bằng Bắc Bộ; đình làng cũng như hoạt động lễ hội gắnvới đình làng

- Nghiên cứu các phong tục tập quán của làng xã trong mối quan hệ với đìnhlàng được nhiều tác giả quan tâm, đã làm rõ được các giá trị văn hóa đình làng bắt

Trang 15

nguồn từ truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, được gìn giữ, trao truyền và quy

định bởi các luật lệ của làng xã Có thể kể tới công trình Gia Định Thành Thông

Chí của Trịnh Hoài Đức đã mô tả về vùng đất Gia Định xưa qua: địa phương chí,

sơn xuyên chí, phong tục chí Trong đó, tác giả có mô tả một ngôi đình ở xứ ĐồngNai - Gia Định: “tế xã: mỗi làng có dựng một ngôi đình, kỳ tế phải trước lựa ngàytốt, đến buổi chiều ngày ấy, lớn nhỏ đều nhóm tại đình, suốt đêm ấy gọi là túc yết,sáng sớm ngày mai áo mão trống chiêng làm lễ chính tế, ngày sau nữa làm lễ dịch

tế, gọi là đại đoàn, lễ xong lui về” (Trịnh Hoài Đức, 2005, tr.10)

Tiếp nối các nghiên cứu về phong tục tập quán lâu đời của người Việt một

cách công phu, đầy đủ vào đầu thế kỷ XX, Phan Kế Bính có công trình Việt Nam

phong tục trích đăng ở Đông Dương tạp chí, từ số 24 đến số 49 (1913 - 1914).

Công trình này là tập hợp những phong tục trong gia tộc, phong tục trong hươngđảng, phong tục xã hội (đề cập đến việc thờ Thần Thành hoàng ở đình, lịch sử thờThần Thành hoàng, việc tế tự Thành hoàng ở đình)

Ở khu vực miền Trung, năm 1995, tác giả Trần Đại Vinh thực hiện công trình

Tín ngưỡng dân gian Huế Công trình này cung cấp góc nhìn tổng quan, chuyên

sâu về tín ngưỡng dân gian ở Huế trên các phương diện: nguồn gốc hình thành tínngưỡng dân gian Huế, thống kê số lượng các nữ thần, nam thần thờ tự trong các tínngưỡng đình, miếu; các đối tượng thờ tự trong tín ngưỡng dân gian Huế Năm

1998, tác giả Huỳnh Đình Kết trong công trình Tục thờ Thần ở Huế đã hệ thống các

vị Thần được thờ tự trong dân gian của Huế Trong đó, có tục thờ Thần Thànhhoàng trong hệ thống tín ngưỡng chung Tác giả cho rằng: ở Huế Thần Thànhhoàng không có hành trạng rõ ràng, coi Thành hoàng là vị thần biểu trưng Ở Huế

là kinh sư nên có miếu thờ “Đô đại Thành hoàng” (tr.27)

Công trình của Trần Ngọc Thêm (1996) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam có

nội dung nói về văn hóa đình làng trên phương diện văn hóa nhận thức, văn hóa tổchức và văn hóa ứng xử

Năm 2003, tác giả Huỳnh Quốc Thắng trong Lễ hội dân gian ở Nam Bộ đã

thông qua nghiên cứu về lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ tìm hiểu về tính

đa dạng, phong phú và những thành tựu mới của văn hóa dân tộc gắn với đặc điểm

Trang 16

sự vận động, phát triển của văn hóa cổ truyền người Việt trong quá trình giao tiếpvới các nền văn hóa khác nhau để góp phần hình thành nên vùng văn hóa Nam Bộ.Đặc thù lễ hội dân gian của người Việt và khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc đượcxem xét trong mối tương quan chung với các lĩnh vực hoạt động văn hóa, xã hộitruyền thống khác ở Nam Bộ.

Tác giả Vũ Ngọc Khánh (2011) trong công trình Văn hóa làng ở Việt Nam đã

cung cấp góc nhìn toàn diện về làng Việt truyền thống (cơ cấu làng Việt, tínngưỡng thờ Thần Thành hoàng, các dòng họ, văn hóa dân gian) Qua công trìnhnày cho thấy: các vị Thành hoàng được thờ ở Bắc, Trung, Nam đều có nguồn gốc,lịch sử; được người dân tin tưởng, trân trọng và thờ tự

Ngoài ra, còn một số bài viết của các tác giả: Trần Phỏng Diều với Tín

ngưỡng thờ Thần Thành hoàng ở Đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Đình Tường, Tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng trong các làng xã Việt Nam…

b) Các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa gắn với đình làng ở Việt Nam

Từ thế kỷ XX, một số học giả người Việt nghiên cứu đình làng viết bằng

tiếng Pháp như: Tác giả Nguyễn Văn Khoan với công trình Essai sur le Dinh et le

culte du génie tutélaire des villages au Tonkin (1930) (Nghiên cứu ngôi đình và

Thành hoàng làng ở Bắc kỳ); Nguyễn Văn Huyên với công trình Contribution à

l’etude d’un génie tutélaire Annamite Lý Phục Man (1938) (Góp phần nghiên cứu

một vị Thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man); Lê Văn Hảo với công trình Introduction

à l’etthnologie du Dinh (1962) (Giới thiệu ngôi đình qua góc nhìn dân tộc học).

Các công trình đều tiếp cận, xem xét ngôi đình ở khía cạnh lịch sử hình thành,đình trong đời sống tổ chức làng xã, tôn giáo, triết lý, tư tưởng dân tộc, văn minhViệt Nam, dân tộc học; làm rõ được tục thờ Thành hoàng Bổn cảnh, các đối tượngthờ tự, không gian bố trí, kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan… Các công trình trên, cókhông gian nghiên cứu chủ yếu ở Bắc Bộ, Trung Bộ với mục đích cung cấp diệnmạo chung về tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng và đình làng miền Bắc, quá trình

du nhập và phát triển tín ngưỡng vào Việt Nam Tuy nhiên, yếu tố tác động làmbiến đổi đình làng chưa được tập trung nghiên cứu chuyên sâu

Trang 17

Tiếp theo các nghiên cứu về đình làng trên phương diện tổng quan, mỹ thuật,kiến trúc (bản vẽ, hình ảnh)… có thể thấy các công trình đó của: Kim Định (1971)

với Triết lý cái đình; Trịnh Cao Tưởng (1994), Đình Phù Lãng - Hà Bắc trong nền

cảnh đình làng Bắc Bộ; Lê Xuân Quảng (1996), Thờ Thần ở Việt Nam; Hà Văn

Tấn & Nguyễn Văn Kự (1998), với Đình Việt Nam; Lê Thanh Đức (2001) với Đình

làng miền Bắc; Nguyễn Thế Long (2005) với Đình và đền Hà Nội (đã xếp hạng di tích lịch sử văn hóa); Trần Lâm Biền (2014) với Đình làng Việt (châu thổ Bắc Bộ);

Viện Bảo tồn Di tích (2017) với công trình Kiến trúc đình làng Việt - qua tư liệu

Viện Bảo tồn Di tích (tập 1); Viện Bảo tồn Di tích (2018) với Kiến trúc đình làng Việt - qua tư liệu Viện Bảo tồn Di tích (tập II).

Từ sau giải phóng đến nay, có một số công trình nghiên cứu đình làng ở Nam

Bộ nhưng mang tính tổng quan, miêu thuật về nguồn gốc đình làng, lịch sử hìnhthành, kiến trúc, lễ hội Ở một số địa phương của Nam Bộ cũng có những côngtrình viết về đình làng nhưng chỉ đề cập tới việc mô tả những ngôi đình cụ thể vềlịch sử xây dựng, trùng tu, các ngày cúng tế trong năm (dưới góc độ quản lý, khảocứu) Các tác giả cũng đề cập tới những tác động từ quá trình phát triển, hội nhậpđối với văn hóa đình làng Tuy nhiên, chỉ dừng ở mức độ nhận định, chưa phân tích,đánh giá một cách tổng quan nhằm làm rõ được xu hướng, những tác nhân khiếncho tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng, văn hóa đình làng có những biến đổi Cáccông trình nghiên cứu đình làng của: nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương

Ngọc Tường & Hồ Tường (1993) với Đình Nam Bộ tín ngưỡng và nghi lễ; Sơn Nam (1994) trong Đình miếu và lễ hội dân gian; Đỗ Văn Rỡ (1994) đã ghi chép lại nghi thức tế lễ ở đình, miếu Nghi thức tế lễ tại cấp Thiên đình, cấp triều đình, cấp

tiểu triều đình, cấp gia đình; Huỳnh Ngọc Trảng & Trương Ngọc Tường (1999)

với Đình Nam Bộ xưa và nay; Hồ Tường & Nguyễn Hữu Thế (2005) với Đình ở

Thành phố Hồ Chí Minh; Tạ Chí Đại Trường (2006) với Thần, người và đất Việt;

Phạm Anh Dũng (2013) với Kiến trúc đình, chùa Nam Bộ; Trần Phỏng Diều (2015) với Đình ở thành phố Cần Thơ; Tiểu luận cao học của tác giả Nguyễn Long Thao (1974) “Nghiên cứu một ngôi đình miền Nam Phú Nhuận đình”; Luận án Phó Tiến

sĩ Khoa học Lịch sử của Lê Sơn (1996) “Hội đình Thông Tây Hội Gò Vấp trong bối

cảnh hội đình làng tại Nam Bộ”; Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử của Quách

Trang 18

Thu Nguyệt (1996) Hội đình của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra,

còn nhiều bài báo của các tác giả đăng trên tạp chí, trang điện tử viết về văn hóa

đình làng như: Trần Thị Ngọc Điệp, 1968 trong bài viết Một ngôi đình miền Nam

Việt Nam khảo cổ Tập san, 5/1968; Hồ Văn Tường trong Ngôi đình trong đời sống văn hóa ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Xã hội số 20 -

1994; Huỳnh Hữu Ích, Văn hóa đình làng Nam bộ (trích từ bộ sưu tập Bùi Văn Quế,

SG 38, số 14/6/1998; Trần Ngọc Khánh Đình thần Nam bộ - một thiết chế văn hóa

cổ truyền; Lã Đăng Bật, Ngôi đình Việt Nam (trích quê 2/1998); Lâm Trần &

Bùi Tiến 2004, Đình Làng Việt - một di sản văn hóa kiến trúc (vài suy nghĩ lại), Tạp chí Di sản Văn hóa, số 8, trang 88; Hồ Văn Tường, Bước đi của ngôi đình

Thành phố Hồ Chí Minh, trang 85- 88, Tạp chí Di sản văn hóa số 3 (32) - 2010…

Một số tác giả nước ngoài có các công trình nghiên cứu về văn hóa đình làngcủa Việt Nam, nhưng chiếm số lượng rất ít Chúng tôi tiếp cận được các công trình

đã nghiên cứu thì chủ yếu về tín ngưỡng Thần Thành hoàng ở Bắc Bộ, giá trị kiếntrúc đình làng, cung cấp góc nhìn khách quan về vai trò đình làng trong đời sốngcộng đồng… Đầu thế kỷ XX, có một số tác giả nghiên cứu về đình làng miền Bắc

như: Paul Grian trong tác phẩm Magie et Religion Annamite (1912) Tác giả Paul

Grian đã viết: “Đình nơi cư trú của vị Thành hoàng của mỗi làng xã, là trung tâmcủa đời sống tập thể, của cộng đồng Chính ở đó các kỳ mục dùng làm nơi nhómhọp, hoạch định các vấn đề hành chính, tố tụng nội bộ, và cũng chính ở đó, người

ta cử hành các nghi lễ tôn giáo, tóm lại là nơi diễn ra tất cả các sinh hoạt của đờisống xã hội” (được trích dẫn bởi Nguyễn Long Thao, 1974, tr.334) Tác giả chorằng đình làng có ảnh hưởng lớn tới đời sống người dân, là biểu tượng của văn

minh Việt Nam Tác giả Pierre Gouron trong công trình Les Payans du Detan

Tonkinoischu1 (1938) chú ý đến cảnh quan và ca ngợi kiến trúc đình của Bắc Bộ.

Tác giả Bazacier trong công trình Releve Les Monuments Ancients du nord Việt

Nam (1938) đã vẽ lại kiến trúc một số ngôi đình làng Bắc Bộ Tác giả Hippolyte Le

Breton với chuyên khảo lịch sử An - Tĩnh cổ lục (Le Vieux An - Tĩnh), năm 1927 đã

đề cập đến nguồn gốc; các đặc điểm trong kiến trúc, thờ tự đình làng khu vực Nghệ

An, Hà Tĩnh; nguồn gốc tục thờ Thần Nông ở đình làng; chức năng đình làng

Trang 19

Nhìn chung, từ trước đến nay có nhiều tác giả trong ngoài nước viết về đìnhlàng trên các phương diện tổng quan, kiến trúc, mỹ thuật trong mối quan hệ với vănhóa làng xã truyền thống Tuy nhiên, cũng ít công trình đề cập, nghiên cứu chuyênsâu về sự biến đổi văn hóa đình làng.

c) Các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng xã, đô thị hóa

Những công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa dưới tác động của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đều tiếp cận sự biến đổi dưới góc độ nhânhọc Các công trình nghiên cứu xem xét nguyên nhân biến đổi dưới những tác động

từ thể chế, chính sách, từ quá trình hội nhập, toàn cầu hóa, đô thị hóa đối với vănhóa ở thành thị và nông thôn; đánh giá những tác động khách quan, chủ quan hìnhthành những biến đổi đối với di sản văn hóa; đặt ra vấn đề bảo tồn văn hóa trongquá trình hội nhập, quá trình đô thị hóa

Các công trình có thể kể tới như: Từ điển Nhân học văn hóa của WinthropRobert H (1991) đặt ra vấn đề nghiên cứu biến đổi văn hóa bao gồm những sự chia

sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn

hóa (tr.65); công trình Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại

Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999) đã nghiên cứu về

chuyển động văn hóa của vùng ven ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh; đề cậpđến những nguyên nhân tác động (chiến tranh, quá trình phát triển đô thị…) ảnhhưởng như thế nào đối với văn hóa, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh Mộtnghiên cứu về biến đổi văn hóa từ góc độ Nhân học văn hóa với những tư liệu thực

địa là Biến đổi văn hóa các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang

Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) của tác giả Nguyễn Thị

Phương Châm (2009) Trong công trình này, tác giả xem xét sự biến đổi trên cácphương diện: kinh tế, văn hóa, xã hội Tác giả cho rằng: “phát triển là quy luật tấtyếu của bất cứ xã hội nào và nó kéo theo những sự biến đổi mà trong đó biến đổivăn hóa là vấn đề cốt lõi” (Nguyễn Thị Phương Châm, 2009, tr.12) Theo NguyễnThị Phương Châm “Biến đổi văn hóa trong xã hội hiện đại hóa là những quá trình

đa chiều, đa dạng phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể với sự chi phốicủa xã hội truyền thống (Nguyễn Thị Phương Châm, 2009, tr.22) Tác giả Trần Thị

Hồng Yến (2013) trong công trình Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê

Trang 20

trong quá trình đô thị hóa tại Hà Nội đã đi sâu tìm hiểu, phân tích thực trạng và các

dạng thức biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê tại Hà Nội

Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa & Tôn Nữ Quỳnh Trân (cb) (2002) trong công

trình Phát triển đô thị bền vững lần đầu tiên đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến

xây dựng và phát triển đô thị bền vững trong quá trình đô thị hóa Các yếu tố gópphần vào việc phát triển đô thị bền vững như: môi trường, cộng đồng dân cư, quyhoạch đô thị, chính sách, thể chế… đã được phân tích chuyên sâu dưới nhiều góc

độ Trần Văn Bính (2010) trong công trình Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi

mới - những thời cơ và thách thức đã đề cập đến vai trò, vị trí của văn hóa trong

việc phát triển đô thị Trần Ngọc Hiên & Trần Văn Chử (1998) trong Đô thị hóa và

chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đã tập

trung phân tích, đánh giá thực trạng đô thị Việt Nam, phát hiện các vấn đề nảy sinh,làm rõ vai trò quan trọng của chính sách tác động đến sự phát triển đô thị ở nước ta

Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (1996) trong công trình Đô thị hóa tại

Việt Nam và Đông Nam Á đề cập đến các vấn đề nảy sinh từ hiện tượng đô thị hóa;

xác định xu hướng đô thị hóa của các nước Đông Nam Á; các vấn đề bức xúc xuấtphát từ quá trình đô thị hóa; các vấn đề môi trường nhân văn, môi trường văn hóacủa con người trong quá trình phát triển đô thị; đưa ra nhu cầu bức thiết phải gìngiữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc trong bước đồng hành với sự pháttriển của thời đại Công trình đã cung cấp những luận điểm, luận cứ quan trọng cóthể kế thừa để giải quyết các vấn đề về tác động, ảnh hưởng của đô thị hóa đối vớivăn hóa đình làng ở Đồng Nai

Trịnh Duy Luân (2004) trong Xã hội học đô thị đề cập tới sự hình thành và

phát triển của xã hội học đô thị, khái niệm về đô thị và các yếu tố cấu thành đô thị;quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và thế giới… Tác giả đã đặt ra vấn đề về cơ cấu xãhội và lối sống của cộng đồng cư dân đô thị, vấn đề nhà ở đô thị, quy hoạch và pháttriển đô thị; đô thị hóa và vấn đề biến đổi xã hội… Công trình góp góc nhìn đachiều, gợi mở cho tìm hiểu các khái niệm về về đô thị, đô thị hóa

Trần Ngọc Khánh (2012) trong công trình Văn hóa đô thị giản yếu đã tập

trung làm rõ các thông tin về lý thuyết văn hóa đô thị, thực tiễn văn hóa đô thị (đô

Trang 21

thị, đô thị hóa, dân số và dân cư, nông thôn và thành thị); tác giả nghiên cứu cácđặc trưng về không gian, thời gian và chủ thể của văn hóa đô thị Công trình đãcung cấp các khái niệm về đô thị, đô thị hóa giúp cho luận án có góc tiếp cận khinghiên cứu về văn hóa đình làng ở Đồng Nai đặt trong bối cảnh đô thị hóa.

Tác giả Ngô Đình Giao (1996) trong công trình Suy nghĩ về công nghiệp hóa,

hiện đại hóa ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề cập tới tiền

đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta; phân tích những thành tựu vàphương hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đề xuất các giải phápnhằm phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa & Đặng Hữu Toàn (2002) trong

Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam lý luận và thực tiễn đã gợi mở nhiều vấn

đề liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và trên thế giới Tác giảcòn đặt ra vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tác giả Ngô Đức Thịnh (2014) trong công trình Giá trị văn hóa Việt Nam

truyền thống và biến đổi, không chỉ nhìn nhận giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam

mà còn còn đặt nó trong bối cảnh văn hóa thế giới Để nhìn nhận, đánh giá sự tácđộng từ các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, quá trình hội nhập quốc tế đối với hoạtđộng lễ hội, năm 2014, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo Khoa học và xuất bản công

trình Lễ hội cộng đồng: truyền thống và biến đổi Tác giả Hoàng Nam (2015) trong công trình Đại cương nhân học văn hóa Việt Nam đã quan niệm: “Văn hóa là đa

dạng mà thống nhất, văn hóa luôn biến đổi, biến đổi là văn hóa” (Hoàng Nam, 2015,

tr.07) Tác giả Nguyễn Văn Kim (2016) với công trình Tiếp biến và hội nhập văn

hóa ở Việt Nam đặt ra vấn đề văn hóa, giao lưu, tiếp xúc, hội nhập, tiếp biến văn

hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình toàn cầu hóa Năm

2016, tác giả Nguyễn Thị Phương Châm & Đỗ Lan Phương có công trình: Làng

ven đô và sự biến đổi văn hóa: Trường hợp làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội Công trình đã nghiên cứu sự biến đổi văn hóa, đánh giá thực trạng

biến đổi của làng cũng như xu hướng biến đổi trong quá trình đô thị hóa, toàn cầu

hóa Năm 2018, tác giả Phạm Thanh Tịnh trong công trình Biến đổi văn hóa

Trang 22

Melayu ở Malaysia trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa thông qua nghiên cứu

trường hợp biến đổi văn hóa của người Melaya để thấy được sự ảnh hưởng của quátình toàn cầu hóa đối với văn hóa của một tộc người; tác giả có liên hệ với ViệtNam Tác giả Phạm Thanh Tịnh (2018) cho rằng: “Đặt biến đổi văn hóa trong sựảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, của những quá trình giao lưu vượt phạm viquốc gia, của những xã hội đang chuyển đổi” (tr.21)

Hai công trình liên quan tới công tác bảo tồn mang tính lý luận và thực tiễn

đáng chú ý là: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà

Nội của tác giả Nguyễn Chí Bền (2010), công trình “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội” của tác giả Võ Quang Trọng

(2010) Hai công trình này nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sảnvật thể và phi vật thể ở Hà Nội dựa trên các kinh nghiệm, quan điểm, lý thuyết bảotồn của nước ngoài

Ngoài ra, còn các bài viết của tác giả: Phan Phương Anh và Đặng HoàngGiang (2017), đăng trong Tạp chí Văn hóa học số 6 (34) - 2017 của Viện Văn hóa

Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, “Biến đổi văn hóa: khái niệm và một số cách tiếp

cận nghiên cứu”; bài viết Lễ hội Việt Nam từ góc nhìn thích ứng và hội nhập văn hóa trong công trình Văn hóa học và một số vấn đề lịch sử, văn hóa của tác giả

Nguyễn Văn Hiệu & Đinh Thị Dung (2017); bài viết Tiếp xúc văn hóa nông thôn

đô thị, vấn đề đối lập và sự tiếp biến - điều chỉnh văn hóa (trường hợp Thành phố

Hồ Chí Minh) của tác giả Huỳnh Ngọc Thu (2002), đăng trong Tạp chí Văn hóa

Nghệ thuật số 328, tháng 10 năm 2011; bài viết Beautiful customs, worthy

traditions: changing state discourse on the role of Vietnamese culture, của tác giả

Endres, Kirsten (2002), đăng trong “Internationales Asienforum 33(3&4): 303-22;

bài viết 20 năm đô thị hóa Nam Bộ - Lý luận và thực tiễn, Báo cáo nghiệm thu đề

tài nghiên cứu khoa học (NAFOSTED) của tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (2015); bài

viết Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam của Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương (2002); bài viết Công nghiệp hóa Việt Nam

trong thời đại châu Á Thái Bình Dương của Trần Văn Thọ (1997) Luận văn Thạc

sĩ Văn hóa học Sự biến đổi văn hóa trong tiến trình đô thị hóa ở bốn xã vùng ven

thị xã Vĩnh Long của Trương Thành Đức (2006); luận văn Thạc sĩ Văn hóa học của

Trang 23

Trần Quang Ánh Biến đổi của văn hóa truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở

huyện Hóc Môn - Thành phố Hồ Chí Minh…

Các công trình này được thực hiện ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khácnhau, đã giúp cho luận án những cơ sở lý luận, thực tiễn khi xem xét những tácđộng từ quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đối với vănhóa đình làng ở các địa phương tỉnh Đồng Nai Nội dung của từng công trình giúptác giả có góc nhìn tổng quan trong việc so sánh, đối chiếu những biến đổi văn hóa

ở các địa phương khác nhau Từ đó, có thể hình dung rõ hơn về các nguyên nhân,

xu hướng biến đổi và thấy rõ hơn vai trò của đình làng trong cuộc sống đương đại;giải quyết vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa đình làng ở Đồng Nai trong bốicảnh đô thị hóa

d) Các công trình nghiên cứu về văn hóa đình làng ở Đồng Nai

Những công trình từ trước đến nay viết về văn hóa Đồng Nai đều tập trungvào: (1) Tổng hợp về văn hóa trên nhiều nội dung như: văn hóa tộc người, phongtục tập quán, lễ hội dân gian, nghi thức tế tự… (2) Những công trình nghiên cứuriêng lẻ về từng ngôi đình cụ thể mang tính miêu thuật trên các phương diện tổngquan như: lịch sử hình thành, trùng tu, kiến trúc, lễ hội gắn liền với đình làng…Một trong những công trình ra đời năm 1960 khởi đầu cho những nghiên cứu

chuyên sâu về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai phải kể tới bộ Biên Hòa sử lược toàn

biên của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu Đây là công trình khảo cứu (gồm có 5

tập) giới thiệu về vùng đất, con người Biên Hòa - Đồng Nai sau gần ba thế kỷ hìnhthành và phát triển Công trình này nghiên cứu theo hướng địa văn hóa, thông quađiền dã thực địa, nghiên cứu nhiều vấn đề như: phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễhội, sông núi, sản vật Đề cập tới những giá trị văn hóa làm nên bản sắc văn hóa

Đồng Nai, tác giả Huỳnh Văn Tới (1998) đã hệ thống trong cuốn sách Bản sắc dân

tộc và văn hóa Đồng Nai Năm 2001, tỉnh Đồng Nai xuất bản bộ Địa chí Đồng Nai

gồm 5 tập (tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa) Trong đó, tập 5 tổng thuậtkhá đầy đủ về diện mạo văn hóa, xã hội tỉnh Đồng Nai qua các thời kỳ Sau nhiềunăm điền dã thực địa, nghiên cứu thư tịch cổ, năm 2008, Học giả Lý Việt Dũng

công bố tập bản thảo Thông chí phường An Hòa (làng Bến Gỗ) Công trình này

Trang 24

gồm 443 trang bản thảo khái quát về lịch sử, ranh giới, núi sông, ruộng đồng, nhàcửa, công thự, sản vật, kinh tế, phong tục, tập quán, văn hóa, chính trị, tín ngưỡng,

xã hội, nhân sự của phường An Hòa (Bến Gỗ) - một trong những vùng đất cổ cũng

là điểm dừng chân đầu tiên của người Việt khi vào khai phá vùng đất Biên Hòa

-Gia Định xưa Năm 2009, Trung tâm Văn Miếu Trấn Biên xuất bản sách Cơ sở tín

ngưỡng và lễ hội truyền thống ở Biên Hòa Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt

thực hiện cuốn sách Văn hóa - văn vật Đồng Nai đã giới thiệu một cách tổng quan

văn hóa, văn vật Đồng Nai trên các lĩnh vực: văn hóa khảo cổ, văn hóa qua hiện vật,

di vật, sinh hoạt truyền thống, trang phục, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội

Tác giả Huỳnh Văn Tới & Phan Đình Dũng với công trình Đồng Nai góc nhìn văn

hóa dựa trên nguồn tư liệu thực địa, thư tịch cổ đã cung cấp góc nhìn tổng quan về

địa danh hành chính Đồng Nai qua các thời kỳ (từ thế kỷ XVI đến nay), danh xưngĐồng Nai, các di tích và danh thắng Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt với

công trình Đồng Nai - Nam Bộ với văn hóa phương Đông đã góp phần hệ thống

hóa các giá trị văn hóa (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ) ở Đồng Nai, Nam

Bộ và Việt Nam trong mối quan hệ, gắn kết với văn hóa phương Đông Trong côngtrình này, luận án kế thừa nội dung về tín ngưỡng thờ Thành hoàng và đình làng đểxem xét quá trình hình thành, phát triển của văn hóa đình làng ở Đồng Nai

Ngoài những công trình trên, năm 1991, Nhà Bảo tàng Đồng Nai trong công

trình Đồng Nai di tích văn hóa; đã giới thiệu các di tích được xếp hạng cấp Quốc

gia trong tỉnh (thuộc các loại hình: di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh)

Năm 2004, tác giả Trần Quang Toại chủ biên cuốn sách Đồng Nai di tích lịch sử

văn hóa đã giới thiệu một cách khái quát về giá trị văn hóa, lịch sử của các di tích

được xếp hạng cấp Quốc gia của tỉnh Đồng Nai Trong đó, có việc miêu tả về cácngôi đình tiêu biểu có giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật như: đình TânLân, đình Nguyễn Hữu Cảnh, đình An Hòa, đình Đoàn Văn Cự Đáng chú ý, năm

2013, Bảo tàng Đồng Nai phát hành cuốn sách Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành

phố Biên Hòa, giới thiệu về nguồn gốc của văn cúng tế chữ Hán, các loại văn cúng

tế ở Đồng Nai, nội dung của một bản văn cúng, các nghi thức tế tự trong đình, chú

giải các điển tích, điển cố liên quan Công trình Đình Tân Lân Thành phố Biên Hòa,

tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn giao lưu văn hóa Việt - Hoa của tác giả Nguyễn Viết

Trang 25

Vinh (2016) nghiên cứu chuyên sâu về một đối tượng cụ thể (đình Tân Lân) đã chỉ

ra những biểu hiện của giao lưu văn hóa qua kiến trúc, mỹ thuật, trang trí, hệ thốngtượng thờ, lễ hội; những đặc trưng văn hóa cũng như các biện pháp bảo tồn pháthuy giá trị của di sản Ban Quản lý Di tích Đồng Nai xuất bản sách về: đền thờ(đình) Nguyễn Tri Phương, đền thờ (đình) Nguyễn Hữu Cảnh, đền thờ (đình) ĐoànVăn Cự, đình An Hòa, đình Tân Lân, đình Phú Mỹ đã khái quát được lịch sử hìnhthành các ngôi đình gắn với lịch sử hình thành vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai

Ngoài ra, các Báo cáo đề tài “Giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong

xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Đồng Nai” năm 2017; Báo cáo “Di tích - danh thắng Đồng Nai với việc phát triển văn hóa du lịch” năm 2009; Báo cáo đề tài

“Giải pháp và mô hình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cổ truyền trong nông thôn mới tỉnh Đồng Nai” năm 2012 của Ban Quản lý Di tích Danh thắng Đồng Nai.

Báo cáo đề tài khoa học cấp tỉnh “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đời

sống văn hóa nông thôn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2014 - 2020 định hướng 2030”

của Trường Đại học Đồng Nai thực hiện năm 2020

Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu cho thấy: đến nay, chưa có côngtrình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập, tổng quan về văn hóa đình làng ở ĐồngNai từ truyền thống đến hiện đại trên các phương diện: lịch sử hình thành, các giátrị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể cùng những biến đổi của nó trong quátrình đô thị hóa; cũng như xác định được nguyên nhân, xu hướng biến đổi; công tácbảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đình làng trong bối cảnh hiện nay Điều

này cũng cho thấy đề tài “Văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ở Đồng

Nai” không trùng lấp bất kỳ công trình nào Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên

cứu của các tác giả trước đó, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu các nội dung đặt ra theoyêu cầu đề tài

3 Mục tiêu, đối tương và pham vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nhận diện một cách hệ thống các giá trị truyền thống, những biến đổi củavăn hóa đình làng (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) trong suốt quá trình hìnhthành và phát triển đình làng ở Đồng Nai, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa

Trang 26

- Lý giải về sự biến đổi giá trị văn hóa đình làng là một quá trình xuyên suốt,đan xen từ truyền thống đến hiện đại Ở mỗi giai đoạn tồn tại, phát triển của vănhóa đình làng đều chứa đựng yếu tố biến đổi dưới những tác động từ quá trình pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội Đồng thời chỉ ra các nguyên nhân tác động, xu hướngbiến đổi, đặt văn hóa đình làng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thịhóa để nhận diện những biến đổi Qua đó, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giátrị văn hóa đình làng trong bối cảnh hiện nay.

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn hóa đình làng của người Việt ởĐồng Nai trong quá trình từ truyền thống đến hiện đại cùng những biến đổi của nóđặt trong bối cảnh đô thị hóa trên hai bình diện văn hóa vật thể và phi vật thể

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: là địa bàn liên quan tới văn hóa đình làng ở ĐồngNai (gồm 2 thành phố: Biên Hòa và Long Khánh; 7 huyện: Long Thành, NhơnTrạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán)

- Thời gian nghiên cứu: từ 1986 đến nay (gắn liền với quá trình đô thị hóa ởĐồng Nai) Trong quá trình nghiên cứu có mở rộng thời gian trước năm 1986 để cónhững so sánh các giá trị truyền thống và biến đổi của văn hóa đình làng

- Chủ thể nghiên cứu: Văn hóa đình làng, cụ thể ở đây là các giá trị văn hóagắn liền với ngôi đình làng

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính:

- Văn hóa đình làng ở Đồng Nai gồm những đặc điểm truyền thống gì? Trongquá trình từ truyền thống đến hiện đại các đặc điểm văn hóa đó biến đổi ra sao?Nguyên nhân và xu hướng biến đổi của văn hóa đình làng là gì?

Trang 27

- Trong bối cảnh đô thị hóa, văn hóa đình làng ở Đồng Nai có bị mất đi vaitrò, vị thế, chức năng trước sự phát triển của xã hội không? Chúng ta cần làm gì đểbảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đình làng?

4.2 Giả thuyết khoa học

Để có những câu trả lời tương thích với câu hỏi nghiên cứu, đề tài chúng tôihướng tới các giả thuyết khoa học:

- Văn hóa đình làng truyền thống ở Đồng Nai gồm toàn bộ những giá trị vănhóa vật thể (kiến trúc, mỹ thuật, không gian thờ tự…) và văn hóa phi vật thể (tínngưỡng thờ Thần Thành hoàng, lễ hội Kỳ yên, các ngày lễ trong năm, cách thức tổchức, ứng xử của cộng đồng…) gắn với ngôi đình làng, thể hiện tâm thức của cộngđồng làng xã; được người Việt đem vào và gìn giữ, phát triển từ hơn 300 năm qua.Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, bên cạnh việc gìn giữ các giá trị vănhóa truyền thống, thì văn hóa đình làng đã có nhiều biến đổi quan trọng Sự biếnđổi này là một quá trình xuyên suốt, đan xen giữa cái cũ - cái mới, truyền thống -hiện đại trong mỗi đặc điểm văn hóa đình làng truyền thống Sự biến đổi văn hóađình làng do các nguyên nhân: điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa; từ quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; từ chính chủ thể văn hóa là conngười diễn ra xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của đình làng Xuhướng thời gian tới văn hóa đình làng sẽ tái cấu trúc, gìn giữ, chọn lọc các giá trịtruyền thống, thích ứng với quá trình đô thị hóa

- Văn hóa đình làng với tư cách là một thiết chế văn hóa truyền thống; nómang trong mình sức mạnh nội sinh được hun đúc từ truyền thống văn hóa hàngngàn năm của dân tộc; cho nên nó có sức sống mạnh mẽ, bền chặt trong đời sốngcộng đồng Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở Đồng Nai, văn hóa đìnhlàng chỉ là một nhân tố trong tổng thể các nhân tố chịu áp lực từ quá trình phát triểncủa địa phương; tuy vậy, nó sẽ tiếp tục được chọn lọc, gìn giữ, thích nghi, pháttriển trong lòng đô thị hiện đại

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, để bảo tồn và phát huy giá trị củavăn hóa đình làng, chúng ta cần phải nhìn nhận, xác định rõ những điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội, thách thức trong mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di

Trang 28

sản; qua đó có thể thấy rất cần các giải pháp đồng bộ từ cộng đồng, chủ thể di sảnvăn hóa… trong nỗ lực chung hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu thực trạng vănhóa đình làng của người Việt ở Đồng Nai trên góc độ truyền thống và biến đổi dướitác động từ quá trình đô thị hóa; nhận diện nguyên nhân, xu hướng biến đổi; côngtác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đình làng trong bối cảnh hiện nay Dovậy, quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận liênngành chủ yếu từ góc độ Văn hóa học kết hợp với Sử học, Nhân học, Dân tộc học,

Xã hội học…

- Phương pháp so sánh: thông qua việc so sánh các thành tố văn hóa đình

làng ở các địa phương khác nhau trong tỉnh ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhaucủa lịch sử để thấy rõ đặc điểm, sự biến đổi giữa truyền thống và hiện đại như mộtquá trình có sự đan xen, tương hỗ lẫn nhau

- Phương pháp quan sát tham dự: phương pháp này giúp cho tác giả luận án

tiếp xúc trực tiếp, hiểu rõ hơn về đối tượng nghiên cứu, nhằm có những thông tinkhách quan, trung thực nhất Qua 23 năm công tác tại Bảo tàng Đồng Nai, tác giả

đã có nhiều chuyến khảo sát điền dã, nghiên cứu về văn hóa, tham gia trực tiếp, liêntục nhiều ngày tại các lễ hội cúng đình, lập nhiều hồ sơ di tích (trong đó có hồ sơ vềđình làng); gặp gỡ các vị cao niên trong Ban Quý tế đình làng; các cán bộ quản lývăn hóa… giúp có những góc nhìn khách quan, sát với thực tiễn Trong quá trìnhthu thập thông tin, tư liệu cho luận án (từ năm 2017 đến năm 2022) để có thông tinxuyên suốt, khách quan, tác giả có nhiều chuyến điền dã vào các dịp lễ hội Kỳ yên

ở đình làng An Hòa, đình Phước Lộc, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đình Tân Mai…;chọn đình làng ở địa phương có quá trình đô thị hóa nhanh (xã Lộc An, LongThành; xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất; xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, thànhphố Biên Hòa) và đình làng ở địa phương ít đô thị hóa nhất (xã Bình Lợi, huyệnVĩnh Cửu; xã Phú Hữu, Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch; xã Xuân Thọ, huyệnXuân Lộc…) để khảo sát hiện trạng đình làng… nhằm góp thêm thông tin để so

Trang 29

sánh, kiểm chứng với những tư liệu trước đó đã sưu tầm (bản ghi chép, hình ảnh…

từ nguồn thứ cấp) Tác giả vận dụng phương pháp này bằng việc trực tiếp quan sát,tham dự lễ hội cúng đình (03 ngày/lễ hội); quan sát các nghi thức dựng nêu; thỉnhsắc Thần, trình sanh… Với phương pháp nghiên cứu như trên, đảm bảo luận án có

độ tin cậy về nguồn dữ liệu thu thập, cũng như tính đại diện của mẫu nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả luận án sử dụng phỏng vấn bán cấu

trúc (chọn mẫu có chủ đích) với câu hỏi mở, người trả lời trực tiếp có nhiều lựachọn khác nhau, nhằm thu thập các dữ liệu sơ cấp nhanh chóng, hiệu quả Tác giảtrực tiếp phỏng vấn sâu các đối tượng là: (1) Chuyên gia (tháng 1 năm 2021 tác giảphỏng vấn tại Tiền Giang, tháng 6 năm 2021 phỏng vấn tại Đồng Nai, tháng 11năm 2021 phỏng vấn tại TP Hồ Chí Minh); (2) Thành viên Ban Quý tế đình làng,người dân, cán bộ lãnh đạo địa phương, lãnh đạo ngành văn hóa (thời gian phỏngvấn từ năm 2020 đến 02/2022; tháng 6 năm 2022 tác giả có phỏng vấn bổ sung ởhuyện Định Quán, Xuân Lộc) trên tiêu chí về độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ họcvấn, giới tính (xem 4.1 Danh sách phỏng vấn sâu)… nhằm có những thông tinkhách quan, đa dạng, đa chiều khi nhìn nhận về giá trị văn hóa đình làng trongtruyền thống, các biến đổi của nó cũng như vai trò của tín ngưỡng thờ Thần Thànhhoàng trong đời sống cộng đồng; góc nhìn về công tác bảo tồn và phát huy giá trịđình làng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa

Chúng tôi đã cố gắng để có thể chọn các mẫu phỏng vấn sâu mang tính đạidiện; nhưng trong điều kiện nghiên cứu khác nhau chỉ lựa chọn được các mẫuhướng tới sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, vốn hiểu biết về vănhóa đình làng, về địa bàn: (1) với phiếu dành cho chuyên gia (03 phiếu) sẽ chọnnhững chuyên gia có kinh nghiệm, nghiên cứu thực tiễn lâu năm về lĩnh vực di sảnvăn hóa, văn hóa dân gian, đình làng…; (2) với phiếu dành cho Ban Quý tế (12phiếu): ở từng địa bàn sẽ sàng lọc, chọn lựa trong số những ông cả, ông cổ, trưởngBan Quý tế, thành viên Ban Quý tế có hiểu biết về nghi thức tế tự, văn hóa đìnhlàng (ở Thành phố Biên Hòa có số lượng phiếu nhiều hơn các địa bàn khác)…; (3)với phiếu dành cho người dân (09 phiếu) chọn lựa ngẫu nhiên ở địa bàn có đìnhlàng; (4) với phiếu dành cho lãnh đạo địa phương, ngành văn hóa (10 phiếu): đốitượng chọn mẫu là cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã… Qua đó thấy được những góc nhìn

Trang 30

khác nhau về quá trình phát triển đình làng, các giá trị truyền thống gắn với đìnhlàng; công tác quản lý đình làng (dưới góc độ quản lý nhà nước, ngành văn hóa…);công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa.

Số lượng các phiếu phỏng vấn sâu có sự phân chia theo không gian là các địa bàn

cụ thể của tỉnh Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang theo bảng sau:

Bảng 1.1: Số lượng các phiếu phỏng vấn sâu theo địa bàn

S

SỐ LƯỢNG

Chuyêngia

Ban Quýtế

Ngườidân

Lãnh đạođịa phương,ngành vănhóa

Trang 31

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này giúp lựa chọn, tổng

hợp, phân tích, đối chiếu, phân loại các thông tin, số liệu, tư liệu sơ cấp, thứ cấp…nhằm hệ thống hóa nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu các nội dung của luận án.Bên cạnh đó, chúng tôi có tham khảo, sử dụng kết quả nghiên cứu, khảo sát của cáctác giả, cơ quan quản lý văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai, Bảotàng Đồng Nai, Ban Quản lý Di tích Đồng Nai (trước khi sáp nhập về Bảo tàngĐồng Nai năm 2019)

- Thao tác nghiên cứu: kỹ thuật phân tích SWOT nhằm nhận diện, đánh giá

điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, thực trạng văn hóa đình làng ở Đồng Nai.Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận mang tính khái quát cả về phương diện lý luận

và thực tiễn thể hiện tính mới của công trình nghiên cứu

5.2 Nguồn tư liệu

Nguồn tài liệu tham khảo của luận án chủ yếu bằng tiếng Việt, bao gồm cáccông trình nghiên cứu (sách, luận án, luận văn), các bài viết trên báo, tạp chí, trênInternet về lĩnh vực Văn hóa học, Nhân học, từ điển tiếng Việt…; các báo cáo, bàiviết của ngành văn hóa tỉnh Đồng Nai về công tác bảo tồn di sản văn hóa Ngoài ra,còn có nguồn tư liệu điền dã do tác giả trực tiếp sưu tầm gồm: hình ảnh, ghi âmphỏng vấn sâu, bản vẽ sơ đồ phân bố các hạng mục trong đình làng…

6 Đóng góp của luận án

6.1 Về ý nghĩa khoa học

- Luận án có thể xem như một công trình nghiên cứu có hệ thống, khoa học,chuyên sâu về văn hóa đình làng (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) trong suốtquá trình hình thành và phát triển ở phương diện giá trị truyền thống và những biếnđổi của nó đặt trong bối cảnh đô thị hóa

- Thông qua việc xem xét văn hóa đình làng như một hệ thống với một cấutrúc chặt chẽ của hai thành tố: (1) văn hóa vật thể, (2) văn hóa phi vật thể sẽ thấy rõmối quan hệ biện chứng giữa các thành tố trên; qua đó, đã bổ sung hướng tiếp cậncho nghiên cứu các đặc điểm truyền thống, những đặc điểm biến đổi của văn hóađình làng trong bối cảnh đô thị hóa Luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu,

Trang 32

phương pháp luận khoa học cho nghiên cứu văn hóa nói chung, văn hóa đình làngnói riêng theo hướng nghiên cứu văn hóa ứng dụng.

- Quá trình nghiên cứu, luận án đã đưa ra những đánh giá, kết luận, kiến giảilàm tiền đề cho các định hướng hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy giá trịvăn hóa đình làng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa

6.2 Về ý nghĩa thực tiễn

- Thực hiện đề tài nghiên cứu Văn hóa đình làng trong bối cảnh đô thị hóa ở

Đồng Nai nhằm góp phần nhận diện các giá trị, đặc điểm văn hóa đình làng truyền

thống (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể), cùng những đặc điểm biến đổi của

nó trong bối cảnh đô thị hóa ở Đồng Nai Trên cơ sở đó, xác định những tác nhân,

xu hướng biến đổi của văn hóa đình làng trong truyền thống cũng như giai đoạnhiện nay; dự báo xu hướng biến đổi trong giai đoạn tiếp theo

- Luận án góp phần cung cấp những cơ sở khoa học nhằm đề xuất những giảipháp mang tính thực tế cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đìnhlàng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Các thông tin của luận án có thể tham khảo cho quy hoạch, phát triển vănhóa ở địa phương; tìm kiếm giải pháp cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa đình làng trong giai đoạn hiện nay; là nguồn tài liệu để nghiên cứu, học tập về

di sản văn hóa

7 Kết cấu và quy cách trình bày của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Lý luận là công cụ quan trọng, là cơ sở giúp định hướng thao tác trong quátrình nghiên cứu; cho nên trong chương này, chúng tôi trình bày các cơ sở lý thuyếtvận dụng trong luận án, những khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống, disản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, biến đổi văn hóa, đô thị hóa, đìnhlàng và văn hóa đình làng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Ngoài ra,các yếu tố mang tính nền tảng về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội có vai trò quantrọng giúp nhận diện quá trình hình thành văn hóa đình làng Đồng Nai Một phần

Trang 33

của chương một sẽ khái quát về quá trình đô thị hóa ở Đồng Nai Thông qua đóthấy rằng sự thay đổi của các yếu tố trên sẽ có ảnh hưởng cơ bản tới những biến đổitrong văn hóa đình làng của người Việt ở Đồng Nai.

Chương 2: Văn hóa đình làng Đồng Nai từ truyền thống đến biến đổi trong quá trình đô thị hóa

Trong chương này sẽ tiến hành nghiên cứu những đặc điểm văn hóa truyềnthống, nhận diện những đặc điểm biến đổi của văn hóa đình làng trên hai phươngdiện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; các giá trị tiêu biểu của văn hóa đìnhlàng về khía cạnh văn hóa, lịch sử, khoa học… Qua đó, để thấy được văn hóa đìnhlàng ở Đồng Nai từ truyền thống đến hiện đại là một quá trình xuyên suốt, đan xengiữa truyền thống và những biến đổi Trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay, văn hóađình làng luôn chịu những áp lực rất lớn; nhưng vẫn được cộng đồng gìn giữ, pháthuy, trao truyền, có tính kế thừa và là nguồn mạch văn hóa, là một phần không thểthiếu trong đời sống người Việt

Chương 3: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đình làng Đồng Nai trong bối cảnh đô thị hóa

Từ thực tế nghiên cứu ở hai chương trên, chương 3 sẽ xem xét văn hóa đìnhlàng trong bối cảnh đô thị hóa nhằm nhận diện những tác động từ quy luật kinh tế -

xã hội đối với văn hóa đình làng Qua đó, thấy được vai trò, vị thế văn hóa đìnhlàng trong đời sống văn hóa truyền thống qua xu hướng “đình hóa” phổ biến ở cácthiết chế tín ngưỡng dân gian, phong tục làng xã Trên cơ sở đó xác định đượcnguyên nhân, xu hướng biến đổi của văn hóa đình làng (biến đổi hoàn toàn hoặcbiến đổi một phần) Một phần của chương 3 trên cơ sở phân tích SWOT nhằm lýgiải thực trạng, nguyên nhân, những cơ hội, thách thức của văn hóa đình làng ĐồngNai; vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đình làng trong đời sống đương đại

Từ thực tế nghiên cứu cũng nhận diện được: biến đổi giá trị văn hóa đình làngtruyền thống như một quá trình mang tính tiếp nối và liên tục với sự đan xen giữacái cũ, cái mới; truyền thống và hiện đại; thấy rõ được trong mỗi giá trị văn hóađình làng truyền thống đã hàm chứa sự biến đổi trong đó Biến đổi văn hóa nóichung và biến đổi văn hóa đình làng là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển

Trang 34

Phần tài liệu tham khảo gồm có 198 tài liệu tham khảo (trong đó, tiếng Việt:

176, tiếng nước ngoài: 11 và 11 tài liệu Internet)

Phần phụ lục, gồm:

- Phụ lục 1: Bản đồ (bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai);

- Phụ lục 2: Bảng biểu (ngày lễ Kỳ yên (AL) đình làng Đồng Nai; danh sáchđình làng được Nhà nước xếp hạng; đối tượng thờ tự ở một số ngôi đình; danh sáchđình phục chế sắc Thần);

- Phụ lục 3: Sơ đồ (sơ đồ mặt bằng tổng thể đình làng; sơ đồ bố trí khônggian thờ tự);

- Phụ lục 4: Danh sách, biên bản phỏng vấn sâu (danh sách phỏng vấn sâu,trích biên bản phỏng vấn sâu);

- Phụ lục 5: Bản phiên âm, dịch nghĩa chữ Hán (sắc Thần, hoành phi, liễn đối;bia đá chữ Hán, nghi cúng đình, văn cúng, văn tế)

- Phụ lục 6: Hình ảnh minh họa (gồm 38 hình ảnh được đánh số thứ tự riêng

từ 01 đến 38)

Các thuật ngữ dùng trong luận án thuộc chuyên ngành Văn hóa học, Văn hóadân gian… Các đoạn trích dẫn mở rộng trong nội dung luận án được chú thích ởphần footnote; phần trích dẫn nguồn và lập danh mục tài liệu tham khảo được trìnhbày theo đúng quy cách, quy định tại Quyết định 02/QĐ-XHNV-TTPC-SHTT ngày

20 tháng 01 năm 2020 về việc ban hành Quy định trích dẫn và chống đạo văn củaTrường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố HồChí Minh

Trang 35

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Các khái niệm liên quan văn hóa

* Văn hóa

Văn hóa là sản phẩm được tạo ra, gắn liền với quá trình sinh sống, lao độngcủa con người và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Chính vì vậy, conngười vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là sản phẩm, đối tượng của văn hóacộng đồng Văn hóa được phát triển trong quá trình tương tác xã hội của con người;văn hóa cũng thể hiện được trình độ phát triển của xã hội qua các giá trị vật chất,tinh thần do con người tạo ra Khái niệm văn hóa có nội hàm rất phong phú, đadạng; tùy vào cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu mà cónhững định nghĩa khác nhau

Trên thế giới có nhiều học giả với hàng trăm định nghĩa khác nhau khi nghiên

cứu về văn hóa Theo các học giả Trung Quốc trong Trung Quốc văn hóa sử Tam

Bách đề - 中国文化史三百题 (Ba trăm vấn đề của lịch sử văn hóa Trung Quốc),

cho rằng: “văn hóa (文化) là một từ vựng trong hệ thống ngôn ngữ Trung Quốc cổđại”1(tr.11)

từ chữ cultus với nghĩa là trồng trọt, giữ gìn, chăm sóc; và sau đó biến đổi thành

cultura, culture… Định nghĩa về văn hóa của E.B Taylor (năm 1871) được xem là

định nghĩa đầu tiên mang tính liệt kê các thành tố văn hóa; gồm cả những yếu tố

Trang 36

văn hóa vật thể và phi vật thể Tác giả E.B Tylor đã đồng nhất văn hóa với vănminh Trong công trình nghiên cứu văn hóa nguyên thủy, E.B Tylor đã định nghĩa:Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểubiết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khảnăng, tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của

xã hội (E.B Tylor, 2001, tr.4)

Tác giả Chris Barker (2011), trong công trình Nghiên cứu văn hóa - Lý thuyết

và thực hành đã tập trung làm rõ các khái niệm văn hóa và nghiên cứu văn hóa, bối

cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa, các vấn đề của nghiên cứu văn hóa Tác giả

đã nêu ra các khái niệm về văn hóa của: E.B Tylor, F Boas, Steward, Julian,Malinowski Theo đó, các định nghĩa về văn hóa trước Chris Barker đều coi vănhóa là do con người tạo nên gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luậtpháp, tập quán… gồm các giá trị được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác;

“văn hóa” là kết quả của hành vi được học hỏi chứ không phải do tiến hóa sinh họchay do một thế lực siêu nhiên nào mang đến cho con người

Xem văn hóa như một quá trình, tác giả Malinowski cho rằng: văn hóa baogồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị Tác giảBonemaison (2000) cho rằng: văn hóa là một quá trình liên tục, vì nó kéo theo mộtloạt phản ứng dây chuyền Xã hội càng tân tiến, văn hóa càng trở nên phức tạp,không thuần nhất và quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng

Đoàn Văn Chúc (1997) cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất tại” (nghĩa là: Văn hóa

- không nơi nào không có) Tác giả đã nhìn nhận văn hóa dưới góc độ như đời sốngcủa con người; nó mang tính thực tế, đời thường; con người là chủ thể sáng tạo và

là sản phẩm của văn hóa; nơi nào có con người, nơi đó có văn hóa Đồng quan

điểm này, tác giả Nguyễn Đức Từ Chi (2003) trong công trình Góp phần nghiên

cứu văn hóa và tộc người, cho rằng: “Văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống - cả

vật chất, xã hội, tinh thần - của từng cộng đồng” (tr.570)

Clifford Geertz (1973) từ góc độ xã hội học văn hóa, đã định nghĩa văn hóa:

“Một hệ thống các khái niệm nối tiếp được biểu diễn thông qua các hình thức biểu

Trang 37

tượng bằng các phương tiện mà người ta dùng để liên lạc, ghi nhớ và phát triểnkiến thức về và thái độ đối với cuộc sống” (tr.89).

Theo UNESCO cho rằng:

Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ vàtrong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một

hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặctính riêng của mỗi dân tộc (được trích dẫn bởi Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.78)

Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa được Đào Duy Anh tiếp cận đầu tiên (năm

1938) trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã nêu ra định nghĩa rất sâu sắc, có giá trị khái quát cao về văn hóa như sau:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo vàphát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa(Hồ Chí Minh, 2021, tr.458)

Phan Ngọc (1998) cho rằng: “Văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất là biểuhiện thành một kiểu lựa chọn riêng của các cá nhân hay tộc người khác” (tr.07).Ngoài ra, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Việt Nam như: Phạm Văn Đồng,Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Ngô Đức Thịnh… cũng đã đưa ra các địnhnghĩa khác nhau về văn hóa Trong đó, định nghĩa được sử dụng nhiều, phổ biếnnhất là định nghĩa của Trần Ngọc Thêm Tác giả cho rằng:

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữacon người với môi trường tự nhiên và xã hội (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.27)

* Văn hóa truyền thống

Theo gốc nghĩa La-tinh thì truyền thống được hiểu là: truyền lại, giao lại, lưulại, nhường lại, phân phát Theo tiếng Hán thì truyền thống (傳統) cũng có nghĩa là:

Trang 38

truyền lại từ đời này sang đời khác (phong tục, đạo đức, tập quán, tín ngưỡng, tưtưởng…)2.

Theo Trần Văn Giàu (1980) trong công trình Giá trị tinh thần truyền thống

của dân tộc Việt Nam đã nhìn nhận truyền thống có 2 mặt biện chứng: tích cực và

tiêu cực Ông cho rằng: “Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéodài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng; tác dụng đó có thểtích cực, cũng có thể tiêu cực” (Trần Văn Giàu, 1980, tr.72)

Từ điển Từ Hải cho rằng:

Truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử

Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ (chế độ xã hội), tư tưởng, văn hóa, đạo đức.Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của conngười Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử (được trích dẫn bởiNgô Đức Thịnh, 2014, tr.18)

Nguyễn Trọng Chuẩn (2002) cho rằng:

Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống đó là những yếu tố của di tồn vănhóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán,thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thànhtrong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác vàđược lưu giữ lâu dài (tr.368)

Theo William Sweet (2013) cho rằng: “Truyền thống là một kiểu mẫu theophong tục đã được thiết lập, kế thừa về tư duy, hành động hay hành vi cư xử (nhưnghi lễ tôn giáo hay tập quán xã hội) và sự tiếp nối văn hóa về những quan điểm,tập tục và thể chế xã hội” Đồng thời tác giả cũng giải thích: “Truyền thống là quákhứ nhưng nó lại không giới hạn ở đó Nó khẳng định có sự tiếp nối, truyền thốngtồn tại trong suốt một thời gian dài, truyền thống có một hiện tại và cũng có thể cómột tương lai” (tr.514)

Tác giả Nguyễn Thị Phương Châm (2009) cho rằng:

2 Từ điển Hán Nôm.https://hvdic.thivien.net/hv/truy%E1%BB%81n%20th%E1%BB%91ng Truy cập lúc 22h44’ngày 02/7/2022.

Trang 39

Có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội,được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nềnvăn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhómngười, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung (tr.113).

Nhìn nhận dưới góc độ biến đổi, sáng tạo truyền thống, tác giả Lương Văn Hy

& Trương Huyền Chi (2012) cho rằng: “Truyền thống là tiến trình sáng tạo khôngngừng” và “truyền thống không phải là nếp nghĩ và phong tục cổ xưa, không phải

là hệ thống chuẩn mực và giá trị có thể truyền từ đời này sang thế hệ khác như một

di sản” mà “truyền thống như một quá trình chọn lọc có chủ ý của nguồn năngđộng và từng đóng vai trò dẫn dắt trong việc tạo dựng quá khứ, nối quá khứ và hiệntại, mà vì thế tạo dựng tương lai” (tr.272-273) Qua nghiên cứu trường hợp lễ hộilàng Hoài Thị (Bắc Ninh), tác giả đã đặt ra vấn đề thương thảo, sáng tạo truyềnthống và tái cấu trúc lễ hội cộng đồng

Như vậy, truyền thống là yếu tố tương đối ổn định, là di tồn văn hóa, xã hộiđược lưu truyền và tồn tại từ đời này sang đời khác Bản thân truyền thống cũngluôn chứa đựng sự vận động, phát triển Trong yếu tố truyền thống tồn tại 2 dạng:cái lỗi thời, lạc hậu (tiêu cực) cần phải khắc phục, loại bỏ; và các giá trị truyềnthống tạo nên bản sắc cộng đồng (tích cực) cần phải gìn giữ, phát huy

Bàn về văn hóa truyền thống, Ngô Đức Thịnh (2014) cho rằng:

Văn hóa truyền thống (Tradition Cuture) được hiểu là văn hóa gắn với xã hộitiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa hiện đại (Modern Culture) của thờiđại công nghiệp hóa Khái niệm văn hóa truyền thống để chỉ những hiệntượng, những giá trị đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và đượctrao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (tr.19-20)

Theo đó, “văn hóa truyền thống” là những giá trị văn hóa tốt đẹp do conngười sáng tạo, tích lũy, chắt lọc và được lưu truyền lại từ thế hệ này sang thế hệkhác Nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tương đối ổn định, cácgiá trị đó đã trải qua quá trình dài thử thách, chọn lọc tự nhiên và cả những chọnlựa của cộng đồng để trở thành bản sắc riêng có Tuy nhiên, văn hóa truyền thốngcũng luôn hàm chứa sự biến đổi; sự biến đổi đó nhanh hay chậm, nhiều hay ít,

Trang 40

phạm vi và mức độ ra sao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là tácđộng từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội… và cả ý chí chủ quan của con người.

* Di sản văn hóa vật thể

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm sáng tạo và tích lũy của con người, đượctồn tại trong dạng vật chất cụ thể; hình thức tồn tại trên chất liệu, kỹ thuật; nó làminh chứng cho nền văn hóa, văn minh cụ thể; nó có khả năng tồn tại lâu dài, chịu

sự biến đổi dưới những tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội; người sở hữu di sảnvăn hóa vật thể không đồng thời là người sáng lập; nó có giá trị về lịch sử, văn hóa,khoa học…

Nguyễn Thịnh (2012) phát biểu rằng:

Di sản văn hóa vật thể tồn tại dưới dạng vật chất, hữu hình, chứa đựng nhữnghồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa,văn minh trong quá khứ nhân loại Nó gắn liền với địa điểm tạo ra di sản,không di chuyển Vì thế, di sản văn hóa vật thể mang tính xác thực và giá trị

sử liệu Người sáng tạo ra di sản không còn tồn tại với di sản (thuộc về quákhứ) Chủ thể sáng tạo di sản có khi thuộc về cá nhân, có khi là cộng đồng.Trong bản thân các di sản ấy ngoài giá trị vật chất, nó còn chứa đựng yếu tốthời gian, được kiểm chứng bởi thời gian Chúng có khả năng tồn tại lâu dàidưới tác động của nhiều yếu tố thời gian, thiên nhiên Tiêu chuẩn đánh giá là

kỹ thuật, vật liệu, công năng và niên đại xuất hiện (tr.48)

Điều 4, Luật Di sản văn hóa 2001 xác định: “Di sản văn hóa vật thể là sảnphẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” (tr.13) Định nghĩa này được

sử dụng rộng rãi tại Việt Nam trong quản lý nhà nước về lĩnh vực di sản văn hóa,trong nghiên cứu; bởi nó giúp nhận diện chính xác về đặc điểm, hình thức tồn tại,tính chất, biểu hiện… của di sản văn hóa vật thể

* Di sản văn hóa phi vật thể

Cùng với di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể là hai bộ phậnkhông thể tách rời góp phần cấu thành hệ thống di sản văn hóa của dân tộc Trong

Ngày đăng: 13/11/2023, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm