Với thực trạng trên và sự hiểu biết về tầm quan trọng của mảng xanh đô thị, tiếp nối những nghiên cứu của các tác giả, cần thiết có nghiên cứu sâu về thực trạng cấu trúc KGXCC để vui chơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠI CHUNG CƯ TÁI ĐỊNH CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2 TS Phạm Thanh Duy PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
2 TS Võ Công Nguyện PHẢN BIỆN:
2 PGS.TS Lâm Nhân
3 PGS.TS Nguyễn Đức Lộc
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Võ Thanh Tuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Ðể hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Quý Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp và những nguời có liên quan trong cuộc nghiên cứu cũng như sự ủng
hộ của gia đình trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Huỳnh Ngọc Thu, cùng Quý Thầy
Cô Khoa Nhân học đã giúp tôi định hướng đề tài nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Phan Thị Hồng Xuân và TS Phạm Thanh Duy đã tận tình hướng dẫn về nội dung, kỹ thuật nghiên cứu, và hình thức luận án trong suốt thời gian qua
Để thực hiện được công trình nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nghiên cứu của Quý Anh, Chị, Cô, Chú đang làm việc tại Ban quản lý/ Ban quản trị và cư dân tham gia nghiên cứu tại chung cư Phạm Viết Chánh, chung cư Nguyễn Trãi, chung cư Tân Mỹ và chung cư Vĩnh Lộc B Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu từ Quý Anh, Chị đang công tác tại Sở Xây dựng TP HCM, Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP HCM và đại diện các phòng Quản lý đô thị đã tham gia phỏng vấn Xin cảm ơn đội ngũ điều tra viên hỗ trợ phát bảng hỏi, cùng nhiều người bạn nhiệt tình
hỗ trợ tôi khi thu thập thông tin nghiên cứu trong suốt thời gian dài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, góp ý của Quý Thầy Cô Khoa Đô thị học nhằm giúp luận án được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận án
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu tổng quát 3
3 Mục tiêu cụ thể 3
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích của đề tài 5
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 5
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 5
6.3 Khung phân tích 7
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 16
9 Bố cục của luận án 17
PHẦN NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 18
1.1 Cơ sở lý luận 18
1.1.1 Các khái niệm 18
1.1.2 Quan điểm tiếp cận nghiên cứu 37
1.1.3 Các lý thuyết và cơ sở lý luận 38
1.1.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 48
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 62
1.2.1 Không gian xanh công cộng ở các chung cư tái định cư TP HCM 62
1.2.2 Các trường hợp nghiên cứu điển hình 64
1.2.3 Đặc điểm cộng đồng cư dân sống ở các chung cư tái định cư 67
Tiểu kết chương 1 69
CHƯƠNG 2: NHU CẦU VUI CHƠI GIẢI TRÍ Ở KHÔNG GIAN XANH CÔNG CỘNG VÀ SỰ ĐÁP ỨNG CỦA KHÔNG GIAN XANH CÔNG CỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TẠI CHUNG CƯ TÁI ĐỊNH CƯ 71
Nhu cầu và những yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng không gian xanh công cộng để
Trang 62.1.1 Nhu cầu sử dụng không gian xanh công cộng để vui chơi giải trí 71
2.1.2 Những yếu tố tác động đến nhu cầu vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng của người dân 74
2.2 Thực trạng không gian xanh công cộng tại các chung cư tái định cư 96
2.2.1 Thực trạng cấu trúc không gian xanh công cộng ngoài chung cư 96
2.2.2 Thực trạng cấu trúc không gian xanh công cộng trong chung cư 99
2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế của không gian xanh công cộng trong chung cư nghiên cứu điển hình 107
2.3 Hoạt động và những yếu tố tác động đến hoạt động vui chơi giải trí tại không gian xanh công cộng 111
2.3.1 Hoạt động vui chơi giải trí tại không gian xanh công cộng 111
2.3.2 Những yếu tố tác động hoạt động vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng của người dân 114
2.4 Đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của các không gian xanh công cộng ở chung cư tái định cư 135
Tiểu kết chương 2 141
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG KHÔNG GIAN XANH CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC CHUNG CƯ TÁI ĐỊNH CƯ 143
3.1 Xu hướng nhu cầu vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng của người dân sống tại chung cư tái định cư 143
3.2 Nhu cầu vui chơi giải trí và sử dụng không gian xanh công cộng từ góc độ chính sách 150
3.3 Các nhóm giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng không gian xanh công cộng đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân sống tại các chung cư tái định cư 159
3.3.1 Giải pháp chung trong việc tổ chức không gian xanh công cộng tại các chung cư tái định cư 159
3.3.2 Khuyến nghị đến các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng không gian xanh công cộng 164
Tiểu kết chương 3 174
KẾT LUẬN 176
TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2 1 Yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí 75
Biểu đồ 2 2 Mong muốn sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí và Quan điểm về KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí của nhóm người không có nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC trong chung cư 77
Biểu đồ 2 3 Nhu cầu sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí theo độ tuổi 81
Biểu đồ 2 4 Mong muốn sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí của nam 84
Biểu đồ 2 5 Mong muốn sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí của nữ 84
DANH MỤC BẢNG Trang Bảng 1 1 Các nguyên tắc thiết kế để đảm bảo chất lượng KGXCC 26
Bảng 2 1 Mong muốn sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí 71
Bảng 2 2 Nhu cầu vui chơi giải trí cụ thể tại KGXCC được chia theo nhóm hoạt động cơ bản 72 Bảng 2 3 Lợi ích của vui chơi giải trí ở KGXCC theo quan điểm người dân 73
Bảng 2 4 Đặc điểm hoạt động giải trí ưu tiên hằng ngày của nhóm không có nhu cầu sử dụng KGXCC 74
Bảng 2 5 Mong muốn sử dụng KGXCC tại nơi ở để vui chơi giải trí nếu KGXCC đẹp, có cơ sở hạ tầng tốt 78
Bảng 2 6 Tổng quan cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí ở TP HCM 79
Bảng 2 7 Thống kê nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí cụ thể theo nhóm tuổi và giới tính 82
Bảng 2 8 Thời điểm mong muốn sử dụng KGXCC trong ngày 85
Bảng 2 9 Thời điểm mong muốn sử dụng KGXCC để giải trí trong tuần 85
Bảng 2 10 Tương quan tình trạng hôn nhân và nhu cầu sử dụng KGXCC để giải trí 91
Bảng 2 11 Mong muốn sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí và Thực trạng sử dụng KGXCC trong chung cư để vui chơi giải trí 111
Bảng 2 12 Mức độ đến giải trí ở KGXCC trong và ngoài chung cư 111
Bảng 2 13 Nơi vui chơi giải trí hàng ngày 112
Bảng 2 14 Nơi vui chơi giải trí hàng tuần 112
Bảng 2 15 Tác động của người sống chung đến quyết định lựa chọn hình thức giải trí của cá nhân ở KGXCC 115
Bảng 2 16 Tương quan Vui chơi giải trí tại KGXCC trong chung cư và KGXCC trong chung cư 117
Bảng 2 17 Quan điểm ưu tiên giải trí ở KGXCC tại nơi sống nếu đẹp, đa dạng, tiện nghi 119
Bảng 2 18 Sự lựa chọn hình thức giải trí nếu không gian sống không đáp ứng được nhu cầu 121 Bảng 2 19 Tương quan hoạt động giải trí ở KGXCC với độ tuổi 125
Bảng 2 20 Mức độ thường xuyên sử dụng nếu chung cư có KGXCC vui chơi giải trí 126
Bảng 2 21 Nơi giải trí hàng ngày của nhóm người không có hoặc rất ít thời gian rảnh 127
Bảng 2 22 Quan điểm về ưu tiên chọn hình thức giải trí 133
Bảng 2 23 Mức độ đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của KGXCC trong và ngoài chung cư 136
Bảng 2 24 Tương quan mức độ đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của KGXCC và trình độ học vấn tại mỗi chung cư 136
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1 1 KGXCC bao gồm khối màu xanh và màu xám 23
Hình 1 2 Đường nội bộ trong khu dân cư Mega Ruby Khang Điền (Quận 9 cũ) 23
Hình 1 3 Đường nội bộ trong khu dân cư Hưng Phú (Quận 9 cũ) 23
Hình 1 4 Công viên trong khu dân cư Gia Hòa (Quận 9 cũ) 24
Hình 1 5 Công viên trong chung cư Homyland 2 (Quận 2 cũ) 24
Hình 1 6 Sân chơi thể thao trong khu tái định cư Vĩnh Lộc B (Huyện Bình Chánh) 24
Hình 1 7 Sân chơi thể thao trong khu dân cư Phước Bình (Quận 9 cũ) 24
Hình 1 8 Vị trí và tổng thể cấu trúc chung cư Nguyễn Trãi 65
Hình 1 9 Vị trí và tổng thể cấu trúc chung cư Tân Mỹ 65
Hình 1 10 Vị trí và tổng thể cấu trúc chung cư Phạm Viết Chánh 66
Hình 1 11 Vị trí và tổng thể khu tái định cư Vĩnh Lộc B 67
Hình 1 12 Một phần cấu trúc cụm chung cư Phạm Viết Chánh thuộc khu tái định cư 67
Hình 2 1 Quãng đường từ Công viên 23/9 đến chung cư Nguyễn Trãi 96
Hình 3 1 Không gian phía trong tòa nhà D chung cư Phạm Viết Chánh 146
Hình 3 2 Không gian phía trong chung cư Tân Mỹ 146
Hình 3 1 Không gian phía trong chung cư tái định cư Vĩnh Lộc B 146
Trang 10DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, con người có nhiều nhu cầu để tồn tại và phát triển, trong đó có vui chơi giải trí Để đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, con người có nhiều phương thức khác nhau, trong đó bao gồm những hoạt động vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng (KGXCC) Trong công tác quản lý đô thị, việc nghiên cứu nhu cầu của người dân rất quan trọng, không chỉ giúp các cơ quan hữu quan có định hướng, chính sách đúng đắn, đảm bảo
đô thị phát triển bền vững, mà còn hài hòa cho các lợi ích của cộng đồng cư dân, đặc biệt
là những cộng đồng yếu thế trong xã hội
Trong các đô thị hiện nay, “kiến trúc cao tầng là quy luật phát triển tất yếu của một thành phố lớn” (Lưu Trọng Hải, 2006, tr.15) Theo đó, trong các loại hình nhà ở, nhà ở chung cư tại các đô thị đang được chú trọng nhằm tận dụng mặt đất dành cho mảng xanh
và các hạ tầng khác để phục vụ đời sống cư dân Tại TP HCM, theo đề án về phát triển nhà ở của thành phố giai đoạn 2021 – 2030, nhà ở chung cư “tiếp tục phát triển mạnh” (UBND TP.HCM, 2020), cho thấy xu hướng phát triển của loại hình nhà ở này Do vậy, khi nghiên cứu về nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC của người dân trong đô thị, việc nghiên cứu nhu cầu người dân sống tại các chung cư là cần thiết, để chính quyền thành phố có định hướng thiết thực hơn cho những chính sách về nhà ở nhằm đảm bảo môi trường sống tốt cho người dân
Theo nghiên cứu của Phan Huy Xu tại TP HCM, đặc thù loại hình chung cư tái định
cư khác với loại hình chung cư thương mại Nếu như nhà ở thương mại được các nhà đầu
tư rất quan tâm về các tiện nghi, thẩm mỹ, chất lượng để thu hút khách hàng tiềm năng, cũng như đủ kinh phí để duy trì, bảo dưỡng, nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất thường xuyên qua phí quản lý cao, thì chung cư tái định cư được cho rằng còn nhiều vấn đề bất cập như: thiếu thốn tiện nghi; thiếu kinh phí để nâng cấp, bảo dưỡng, duy trì chất lượng các không gian chung Nghiên cứu cũng cho thấy, người dân sống tại các chung cư tái định
cư phần lớn có thu nhập trung bình và thấp (Phan Huy Xu, 2005) Do vậy, việc chú trọng quan tâm mong muốn của cộng đồng cư dân sống tại các chung cư tái định cư là cần thiết, nhằm giúp các cơ quan hữu quan có chính sách hiệu quả về nhà ở, góp phần tạo nên môi trường sống tốt và phù hợp cho mọi tầng lớp cư dân, đặc biệt là nhóm cư dân có thu nhập
Trang 11Bên cạnh đó, ở khía cạnh tổ chức không gian đô thị hướng đến phát triển bền vững, mảng xanh có vai trò quan trọng, từ giá trị sinh thái đến giá trị thẩm mĩ Những báo cáo hiện trạng mảng xanh tại TP HCM những năm gần đây cho thấy, diện tích mảng xanh trên đầu người chưa đáp ứng được theo quy hoạch, chất lượng mảng xanh dành cho khu vực công cộng không đồng đều (Sở Xây dựng TP HCM, 2019) Đặc biệt trong nghiên cứu của Phan Huy Xu vào năm 2005, các chung cư tái định cư ở TP HCM đang thiếu công viên, không gian công cộng bị thu hẹp dần diện tích hay bị sử dụng sai mục đích Với thực trạng trên và sự hiểu biết về tầm quan trọng của mảng xanh đô thị, tiếp nối những nghiên cứu của các tác giả, cần thiết có nghiên cứu sâu về thực trạng cấu trúc KGXCC để vui chơi giải trí cho người dân đang sống ở các chung cư tái định cư, đánh giá chất lượng KGXCC
để vui chơi giải trí theo các yếu tố đảm bảo chất lượng không gian công cộng như: tính liên kết, tính tiện nghi, tính an toàn và an ninh, tính thẩm mỹ, để có những nhìn nhận về thực trạng chất lượng KGXCC phù hợp cho người dân vui chơi giải trí
Từ những lý do trên, trong bối cảnh TP.HCM có nhiều dự án tái định cư với các hoạt động chỉnh trang đô thị, cùng với mục tiêu phát triển nhà ở giai đoạn 2021 - 2025 “phấn đấu phát triển nhà ở xã hội” giá thấp cho cộng đồng cư dân có thu nhập trung bình hoặc thu nhập thấp có thể tiếp cận (UBND TP.HCM, 2021), chính quyền thành phố đang nỗ lực từng ngày để nâng cao chất lượng sống tốt hơn cho mọi tầng lớp người dân, nên NCS chọn
thực hiện đề tài “Nhu cầu sử dụng không gian xanh công cộng phục vụ vui chơi giải trí của người dân tại chung cư tái định cư ở TP HCM” Bằng các phương pháp thu
thập thông tin định tính và định lượng, từ nền tảng cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu
có liên quan, NCS kỳ vọng rằng, kết quả nghiên cứu thực trạng tại các chung cư tái định
cư ở TP HCM có thể tìm ra các đặc điểm cơ bản của nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC của người dân, cũng như có các phương án để khuyến khích hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC, vốn được biết là những hoạt động mang lại sức khỏe thể chất và tinh thần cho
cư dân đô thị Từ đó, đảm bảo nhu cầu thụ hưởng các lợi ích từ KGXCC cho mọi tầng lớp
cư dân, đặc biệt là nhóm người ít có điều kiện để được thỏa mãn các nhu cầu về không gian sống chất lượng cao, đóng góp cho sự phát triển của các chung cư tái định cư ở TP HCM, góp phần hiện thực hóa nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP HCM lần thứ XI, hoàn thành mục tiêu đến năm 2025 giúp người dân có được môi trường sống tốt (Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ XI, tr.304)
Trang 122 Mục tiêu tổng quát
Luận án hướng đến mục tiêu tổng quát là phân tích thực trạng, dự báo xu hướng về nhu cầu sử dụng KGXCC phục vụ vui chơi giải trí và đề xuất khuyến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng KGXCC phục vụ vui chơi giải trí của người dân đang sống tại các chung
cư tái định cư ở TP.HCM
3 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, NCS đề ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận làm nền tảng nghiên cứu thực trạng như: thao tác hóa các khái niệm liên quan đề tài, phân tích quan điểm tiếp cận và các lý thuyết áp dụng trong đề tài, hình thành các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu, thiết kế được khung phân tích
- Diễn giải, làm rõ các thông tin về địa bàn nghiên cứu như: đặc điểm chung về KGXCC ở các chung cư tái định cư trên địa bàn TP HCM, giới thiệu thông tin cơ bản của các chung cư nghiên cứu điển hình (chủ đầu tư, đơn vị quản lý trực tiếp, diện tích, số lượng căn hộ, kiến trúc sơ bộ), mô tả sơ bộ về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người dân ở chung
cư tái định cư
- Làm rõ được nhu cầu sử dụng KGXCC cụ thể tại chung cư để vui chơi giải trí
- Phân tích tương quan giữa nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC với các yếu tố chủ quan và khách quan theo khung phân tích Kết luận được các yếu tố có thể tác động đến nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí
- Phân tích các đặc điểm cơ bản của KGXCC ngoài chung cư trong phạm vi đi bộ phù hợp
- Phân tích các đặc điểm KGXCC tại các chung cư nghiên cứu về các phương diện như: tính tiếp cận và kết nối, tính an toàn và an ninh, tính tiện nghi, tính thẩm mĩ Nêu được các nguyên nhân cơ bản tác động đến thực trạng chất lượng không gian để vui chơi giải trí ở chung cư nghiên cứu Mô tả được mức độ đáp ứng của KGXCC hiện nay đối với nhu cầu giải trí cho người dân
- Diễn giải, làm rõ thực trạng hoạt động sử dụng KGXCC cụ thể tại chung cư để vui chơi giải trí
- Phân tích sự tương quan giữa hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC với các yếu tố chủ quan và khách quan theo khung phân tích Kết luận được các yếu tố có thể tác động đến việc lựa chọn hành động sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí
Trang 13- Rút ra các đặc điểm về nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí, làm cơ sở cho đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng KGXCC để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân
- Xây dựng được các khuyến nghị chung trong công tác hoạch định chính sách, quy hoạch, xây dựng và vận hành KGXCC trong đô thị để các cơ quan hữu quan các cấp có thể tham khảo
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
Với mục tiêu trên, đối tượng nghiên cứu của luận án là nhu cầu sử dụng KGXCC và
sự đáp ứng nhu cầu sử dụng KGXCC phục vụ vui chơi giải trí của người dân đang sống tại các chung cư tái định cư Khách thể nghiên cứu là người dân đang sống tại các chung
cư tái định cư và KGXCC trong và ngoài chung cư tái định cư 1
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu tại TP HCM Trong quá trình quy hoạch phát triển, chỉnh trang đô thị, nhiều khu tái định cư đã và sẽ tiếp tục được xây dựng tại TP HCM Các nghiên cứu trước đã cho thấy thực trạng các khu tái định cư gặp phải nhiều bất cập về chất lượng cơ sở hạ tầng, trong đó bao gồm không gian chung để vui chơi giải trí Do vậy, NCS chọn nghiên cứu KGXCC ở các chung cư tái định cư
NCS nghiên cứu tổng quan các chung cư được xây dựng từ năm 2008 (gồm 11 chung
cư2) Do đây là năm Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam mới được áp dụng, thay thế Quy chuẩn năm 1996
Trong giới hạn hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC, đề tài chỉ đề cập các hoạt động giải trí mang lại lợi ích về sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân, những cuộc vui chơi giải trí không được pháp luật cho phép không nằm trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài này
1 Theo các nghiên cứu về chung cư tái định cư cho thấy, nhóm người sống tại các chung cư tái định cư có đặc điểm
là thu nhập thấp và trung bình, sống trong môi trường có cơ sở hạ tầng kém, họ là nhóm người ít có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu KGXCC chất lượng cao Ở góc độ tiếp cận cộng đồng cư dân yếu thế là nhóm người ít có điều kiện
để được thỏa mãn các nhu cầu về không gian sống chất lượng cao, do vậy, trong luận án, NCS không nghiên cứu đặc
Trang 146 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích của đề tài
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, NCS đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
- Nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân đang sống tại các chung
cư tái định cư ở TP HCM như thế nào?
- KGXCC trong và ngoài chung cư tái định cư đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của
người dân ra sao?
- Trong bối cảnh đô thị hiện đại có rất nhiều hình thức để vui chơi giải trí ngoài hình
thức giải trí ở KGXCC, yếu tố nào có thể tác động người dân tại các chung cư tái định cư
sử dụng KGXCC để giải trí?
- Giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân đang sống tại các chung cư tái định cư ở TP HCM?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các khái niệm, vận dụng các lý thuyết và quan điểm để định hướng nghiên cứu được trình bày ở Chương 1, NCS xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu chính như sau:
Giả thuyết 1: Nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân gồm các
nhóm hoạt động đi/ chạy, đứng, ngồi và vận động khác với đa dạng các hoạt động theo sở thích Người dân có nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC để rèn luyện thể chất, thư giãn tinh thần và giao tiếp Nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC có thể được hình thành bởi sự tác động của điều kiện chủ quan (các đặc trưng nhân khẩu xã hội, mạng lưới xã hội, thời gian rảnh, ý thức về lợi ích của KGXCC) và khách quan (thói quen giải trí của người sống chung, chất lượng KGXCC, các tiện nghi vui chơi giải trí khác) vô cùng đa dạng của con người
Giả thuyết 2: Khả năng thỏa mãn nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của
người dân phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của KGXCC tại các chung cư Chất lượng KGXCC tốt sẽ có nhiều hoạt động vui chơi giải trí Do đó, nâng cao chất lượng KGXCC (đảm bảo tính liên kết, an toàn, tiện nghi và thẩm mỹ) ở các khu dân cư là một trong những phương án thích hợp để tạo động lực thu hút người dân vui chơi giải trí ở KGXCC
Giả thuyết 3: Người dân có nhiều hình thức khác để vui chơi giải trí, bên cạnh hình
Trang 15nhắc chọn lựa các loại hình vui chơi giải trí ở KGXCC hay các loại hình vui chơi giải trí khác Để hành động vui chơi giải trí ở KGXCC diễn ra như mong muốn, còn phải phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan tại thời điểm người dân đưa ra quyết định lựa chọn hành động, sao cho đạt lợi ích cao nhất Nếu nhu cầu vui chơi giải trí tại KGXCC ở chung cư của người dân chưa được đáp ứng, người dân có thể sẽ chọn các loại
hình vui chơi giải trí khác thuận tiện hơn mà họ có thể tiếp cận Bên cạnh đó, thông qua
các thói quen thực hành lâu dài của người sống chung, thói quen vui chơi giải trí ở KGXCC của người sống chung có thể tác động đến sự chọn lựa hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC của chủ thể
Giả thuyết 4: Giải pháp giúp nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu sử dụng KGXCC
để vui chơi giải trí đó là dựa trên ý kiến của cộng đồng, bên cạnh việc áp dụng các nguyên tắc thiết kế KGXCC phù hợp hoạt động của con người Theo đó, các giải pháp về tổ chức không gian cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học về nguyên tắc thiết kế để đảm bảo chất lượng KGXCC trong đô thị, đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC của người dân sống tại các chung cư tái định cư Bên cạnh đó, do nhu cầu mỗi người rất đa dạng và có tính tương đối, nên trong công tác quản lý đô thị hướng đến con người, việc tổ chức KGXCC chỉ chú trọng đáp ứng một số nhu cầu vui chơi giải trí của đa số người dân trong kết quả nghiên cứu thực trạng (dựa theo nhóm hoạt động cơ bản của con người gồm: đi/ chạy, đứng/ dừng chân; ngồi và các hình thức vận động tự do khác) Ngoài ra, để đảm bảo KGXCC tại khu ở đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí cho người dân có tính bền vững, cần thiết được can thiệp từ công tác quản lý đô thị vĩ mô, với vai trò quan trọng của chủ thể quản lý gồm hệ thống chính trị quốc gia (Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội); công cụ quản lý gồm nhiều yếu tố, trong đó có hệ thống các văn bản chính sách, pháp luật Đặc biệt là sự tham gia của cả Nhà nước và các cộng đồng xã hội
để cùng chung tay nâng cao chất lượng KGXCC Một số bên liên quan điển hình như: tổ chức chính quyền, người dân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, các cơ quan truyền thông, các doanh nghiệp có liên quan
Trang 166.3 Khung phân tích
Tổng hợp các nội dung chi tiết từ kết quả phân tích khái niệm, phân tích các lý thuyết nền tảng ở Chương 1, căn cứ theo giả thuyết đã xây dựng, NCS sơ đồ hóa, xây dựng khung phân tích như sau:
Sơ đồ 1: Khung phân tích
Từ thuật ngữ “vui chơi giải trí” đã phân tích, có thể thấy các hoạt động vui chơi giải trí của người dân hàm chứa nhiều nhu cầu cơ bản của con người theo tháp nhu cầu của Maslow Do vậy, vui chơi giải trí có thể được xem là nhu cầu khách quan của người dân Cùng với bối cảnh TP HCM, báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội của thành phố cho thấy
Học vấn
Mạng lưới xã hộiTình trạng hôn nhân
Chất lượng KGXCC tại khu ở
Các đặc trưng nhân khẩu – xã hội
Chuẩn mực xã hội
Trang 17người dân cơ bản được đảm bảo nhu cầu về sinh tồn Vì vậy, NCS giả định cư dân tại TP.HCM đa số có nhu cầu vui chơi giải trí Trong nội dung phân tích về nhu cầu giải trí tại mục 1.1.1.1, có nhiều hình thức để thỏa mãn nhu cầu giải trí, trong đó hình thức vui chơi giải trí ở KGXCC
Luận án tìm hiểu thực trạng nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí, hay nói cách khác là nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC Luận án cũng đi sâu phân tích yếu tố có thể tác động đến nhu cầu sử dụng các KGXCC để vui chơi giải trí của cư dân, cũng nhằm tìm ra một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân Từ kết quả tổng hợp, phân tích các khái niệm, áp dụng các quan điểm, lý thuyết đã
có, NCS đề xuất các yếu tố để nghiên cứu sự tác động đến nhu cầu sử dụng KGXCC để giải trí gồm các biến thuộc nhóm yếu tố khách quan và chủ quan Cụ thể:
- Nhóm yếu tố khách quan: thói quen vui chơi giải trí ở KGXCC của thành viên sống
chung, chất lượng KGXCC tại khu ở, sự đáp ứng của xã hội về các tiện nghi vui chơi giải trí khác
- Nhóm yếu tố chủ quan: độ tuổi, giới, thời gian rảnh, tình trạng nghề nghiệp, mức
sống, trình độ học vấn, mạng lưới xã hội, tình trạng hôn nhân, ý thức về lợi ích của vui chơi giải trí tại KGXCC
Việc nghiên cứu yếu tố tác động nhằm giúp NCS có cơ sở đề ra giải pháp phù hợp, giúp khuyến khích người dân hình thành nhu cầu sử dụng KGXCC vui chơi giải trí, vốn được xem là hoạt động giải trí mang nhiều lợi ích về sức khỏe thể chất, tinh thần và gắn kết cộng đồng
Luận án cũng nghiên cứu thực trạng chất lượng KGXCC đã đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân ra sao NCS kế thừa quan điểm về mối quan hệ giữa cấu trúc không gian và hành động của con người Từ đây, NCS cho rằng yếu tố “chất lượng KGXCC tại khu ở” thuộc nhóm yếu tố khách quan sẽ có thể tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu này của người dân Do đó, cải tạo chất lượng KGXCC cũng là giải pháp phù hợp
Kết quả phân tích lý thuyết nhu cầu đã cho thấy, trong thực tế, con người chưa hẳn
sẽ hành động theo nhu cầu Bởi ngoài nhu cầu là động lực để có các hành động có chủ đích, hành động của con người còn được quyết định bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau Trong môi trường đô thị hiện đại, con người có rất nhiều hoạt
Trang 18quyết định lựa chọn hình thức vui chơi giải trí có sử dụng KGXCC phụ thuộc vào các yếu tố nào? NCS kế thừa quan điểm chính của Max Weber về các kiểu hành động, quan điểm Jan Gehl về mối liên hệ giữa cấu trúc không gian vật lý với hành vi con người để giải thích cho sự khác nhau trong việc lựa chọn các hình thức vui chơi giải trí
Do sự liên quan mật thiết giữa nhu cầu và hành động có chủ đích, vì vậy, NCS xem xét yếu tố tác động đến hoạt động sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí như các biến của các yếu tố tác động đến nhu cầu (gồm các nhóm yếu tố khách quan và chủ quan), có bổ sung thêm yếu tố “chuẩn mực xã hội” vào nhóm yếu tố khách quan để nghiên cứu một khía cạnh nhỏ trong hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC tại thời điểm dịch Covid-19 diễn
ra, cũng nhằm tìm ra một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu hoạt động sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân Việc nghiên cứu thực trạng hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC (là biểu hiện của nhu cầu) nhằm giúp NCS có cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp, giúp khuyến khích người dân sử dụng KGXCC vui chơi giải trí
Như vậy, từ cơ sở lý luận ban đầu, qua điều tra bảng hỏi năm 2021, phỏng vấn và quan sát từ năm 2019 đến 2022 nhằm thu thập các thông tin định lượng và định tính, qua quá trình phân tích và kiểm chứng kết luận, NCS kỳ vọng rằng, kết quả nghiên cứu của đề tài mang lại giá trị khoa học cao đối với vấn đề nghiên cứu cụ thể Từ đó, có những khuyến nghị nhằm đáp ứng mong muốn thiết thực của cộng đồng cư dân, góp phần khuyến khích hoạt động vui chơi giải trí tích cực, góp phần đảm bảo nhu cầu thụ hưởng các lợi ích từ KGXCC cho mọi tầng lớp cư dân
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu định lượng:
Phương pháp điều tra bảng hỏi: thu thập các dữ liệu sơ cấp, nhằm thu thập thông
tin với số lượng mẫu lớn, giúp tiết kiệm thời gian và nhân lực mà vẫn đảm bảo thông tin định lượng và định tính mong muốn Cùng với kiểm định thống kê, phân tích dữ liệu đủ
độ tin cậy, các thông tin thu thập được sẽ có ý nghĩa khoa học cao
Để chọn mẫu đại diện của các chung cư tái định cư tại TP HCM, NCS sử dụng hình
thức chọn mẫu xác suất, theo phương pháp ngẫu nhiên phần tầng kết hợp với quota như
sau:
Trang 19Trong 11 chung cư đã quan sát tổng quan (Bảng 1.1, Phụ lục 1), NCS chọn nghiên
cứu 4 chung cư điển hình bằng hình thức chia nhóm và bốc thăm (được mô tả chi tiết tại
Phụ lục 6 của luận án) Các chung cư được chia thành 4 nhóm theo các tiêu chí sau:
+ Chất lượng KGXCC:
Nhóm chung cư có KGXCC thích hợp để vui chơi giải trí, xét trên các yếu tố đảm bảo chất lượng KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí cơ bản, theo nhận định tương đối ban đầu, không gian khảo sát cần đảm bảo các tiêu chí như: có cây xanh che bóng mát, có không gian trống để người dân vui chơi, có khu vực vui chơi được tách biệt với đường xe chạy, hệ thống đường liên kết từ chung cư đến KGXCC tốt, có một số cơ sở vật chất để vui chơi (tối thiểu phải có dụng cụ tập thể dục)
Nhóm chung cư không có KGXCC thích hợp để vui chơi giải trí Cũng dựa trên các yếu tố đảm bảo chất lượng KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí cơ bản, các không gian đối lặp như: không có hoặc rất ít cây xanh, không có không gian trống phù hợp để người dân vui chơi tự do, hoặc khu vực vui chơi đang sử dụng cho mục đích khác, không có cơ
sở vật chất cơ bản để vui chơi giải trí (dụng cụ tập thể dục)
+ Vị trí:
Trong 2 nhóm trên, mỗi nhóm được chia thành:
Nhóm chung cư ở khu vực đô thị cũ hiện hữu
Nhóm chung cư ở khu vực đô thị mới. 3
Kết quả đã chọn được 4 chung cư với tính chất đại diện phù hợp như sau:
- Chung cư Nguyễn Trãi (Quận 1), đại diện chung cư không có KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí, ở khu vực đô thị cũ hiện hữu
- Chung cư Tân Mỹ (Quận 7), đại diện chung cư không có KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí, ở khu vực đô thị mới4
- Chung cư Phạm Viết Chánh (Quận Bình Thạnh), đại diện chung cư có KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí, ở khu vực đô thị cũ hiện hữu
- Chung cư Vĩnh Lộc B (Huyện Bình Chánh), đại diện chung cư có KGXCC phù hợp
để vui chơi giải trí, ở khu vực đô thị mới
3 Khu đô thị hiện hữu và đô thị mới được chia theo quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị chung TP.HCM
4 Tại thời điểm khảo sát đầu năm 2019, sân chung của chung cư Tân Mỹ được dùng làm nơi đỗ xe, đường cho xe di chuyển và buôn bán, bồn trồng cây giữa sân mới được trồng một số cây nhỏ, không có dụng cụ tập thể dục Do vậy,
Trang 20Với 2 tiêu chí KGXCC đối lặp nhau: chung cư có KGXCC và không có KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí, nhằm giúp NCS nghiên cứu sâu hơn về yếu tố “chất lượng KGXCC
để vui chơi giải trí” có tác động đến nhu cầu và hành động sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí hay không
Lựa chọn 2 vị trí đối lặp nhau: khu vực đô thị cũ hiện hữu và khu vực đô thị mới, do khu vực đô thị cũ hiện hữu và khu vực đô thị mới có những quy chế quản lý quy hoạch không gian riêng, có những đặc điểm cơ bản khác nhau trong quy hoạch như: việc phân
bổ chỉ tiêu đất xây dựng đô thị, đất cây xanh, đất dành cho công trình công cộng theo đầu người (UBND TP Hồ Chí Minh, 2014a, 2014b) Theo đó, khu vực nội thành có tính chất nén trong xây dựng rất cao, tỷ lệ đất dành cho cây xanh, công trình công cộng ít hơn khu vực ngoại thành Thực trạng kết quả quan sát 11 chung cư cũng cho thấy rõ, khu chung cư tái định cư ngoại thành có KGXCC rộng nhất trong các chung cư, trái ngược với khu nội thành cũ Quá trình quan sát tổng quan khu vực nội thành và vùng ven cho NCS nhận thấy
rõ, khu vực nội thành có hệ thống hạ tầng kỹ thuật được đầu tư tốt hơn về chất lượng, thẩm
mĩ, sự đa dạng của cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của thị dân
Như vậy, với tính chất có hay không có KGXCC phục vụ vui chơi giải trí và ở khu vực trung tâm hay vùng ven, 4 chung cư được lựa chọn đủ khả năng làm trường hợp nghiên cứu điển hình trong 11 chung cư tái định cư tại TP HCM
Về quy mô mẫu: để xác định quy mô mẫu, NCS căn cứ vào:
- Tham khảo công thức tính cỡ mẫu của Krejcie và Morgan (H Russel Bernard, 2007, tr.82) Từ tổng số lượng cư dân do Ban quản lý của 4 chung cư cung cấp (7.680 người), áp dụng công thức tính cỡ mẫu để xác định quy mô mẫu ước lượng ít nhất 366 người Để thuận tiện đối sánh 4 chung cư nghiên cứu điển hình, NCS chọn quy mô mẫu là 400 người, chia đều mỗi chung cư 100 người
- Qua kết quả tham khảo các luận án tiến sĩ có sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi, NCS nhận thấy phần lớn quy mô mẫu dao động từ 200 đến 500 người Bên cạnh đó, trong khả năng về thời gian và nguồn lực (nhân lực và tài chính), NCS chọn quy mô mẫu phù hợp là 400 người
Vì những lý do trên, NCS quyết định quy mô mẫu của luận án là 400 người (chia đều mỗi chung cư nghiên cứu điển hình là 100 người)5
Trang 21
Về phương pháp chọn mẫu và phát phiếu khảo sát:
NCS chọn mẫu điều tra bảng hỏi theo các bước thực hiện như sau:
- Bước 1: Thống kê danh sách các tòa nhà ở mỗi chung cư tái định cư được chọn nghiên cứu điển hình
- Bước 2: Bốc thăm chọn ra 1 tòa nhà trong mỗi chung cư nghiên cứu
- Bước 3: Khảo sát, tìm hiểu và thống kê số lượng tầng và số lượng căn hộ trên 1 tầng trong tòa nhà được bốc thăm trúng Ước lượng số lượng tầng cần bốc thăm, sao cho khả năng khảo sát được 100 người
- Bước 4: Bốc thăm tầng theo số lượng được tính toán, mỗi tòa nhà bốc dư thêm 2 tầng để dự trù, phòng trường hợp không tiếp cận đủ người dân Chi tiết kết quả chọn mẫu
điều tra bảng hỏi được trình bày tại Phụ lục 6 của luận án
- Bước 5: Phát bảng hỏi cho tất cả người dân trong căn hộ thuộc các tầng được bốc thăm trúng Trong bước này, NCS phối hợp với các điều tra viên và người đại diện chung
cư (Ban quản lý, Ban quản trị chung cư, người giữ xe có quen biết rộng với các hộ dân) Ngoài ra, do số lượng phiếu khảo sát thu thập chưa đủ số lượng theo chỉ tiêu, nên NCS tiếp tục phát phiếu bổ sung tại các căn hộ thuộc các tầng được bốc thăm (bao gồm các tầng được bốc thăm dự trù)
Nội dung bảng hỏi:
Nội dung bảng hỏi được đính kèm ở Phụ lục của luận án này
Phương pháp xử lý kết quả điều tra bảng hỏi:
Kết quả khảo sát chủ yếu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, phân tích số liệu, thống kê dữ liệu, kiểm định/ phân tích tương quan (Chi – square, Cramer’s V) để có cơ sở kết luận khoa học Trong quá trình xử lý dữ liệu, NCS có mã hóa lại biến (recode) đối với các trường hợp có tần số nhỏ hơn 5, để số liệu mang ý nghĩa thống kê, giúp việc kiểm định
có ý nghĩa chính xác
7.2 Các phương pháp nghiên cứu định tính:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Tham khảo các thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề KGXCC, vui chơi giải trí, nhu cầu giải trí, lối sống đô thị, chung cư, đơn
Trang 22vị ở, mức sống, thời gian rỗi, các lý thuyết nghiên cứu, thực trạng chung cư tái định cư và
cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí tại TP HCM, những vấn đề liên quan khác
Mục đích sử dụng công cụ nghiên cứu:
+ Dựa trên thông tin liên quan đề tài để hoàn thành cơ bản cấu trúc đề tài
+ Kết hợp nhiều thông tin để xây dựng kết quả tổng hợp cơ sở lý luận của đề tài + Là một trong những cơ sở để xây dựng các bảng hỏi, câu hỏi phỏng vấn sâu, bảng quan sát tham dự
+ Bổ sung thêm các thông tin về thực trạng không gian nghiên cứu không thể tìm được bằng phương pháp khác
- Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Để thu thập các dữ liệu sơ cấp, luận án sử dụng các phương pháp như sau:
+ Phương pháp quan sát:
Quan sát tổng quan:
Nhằm ghi nhận tổng thể thực trạng KGXCC ở 11 chung cư tái định cư trên địa bàn
TP HCM Các tiêu chí quan sát cơ bản gồm: tính liên kết (đường nội bộ), tính an toàn (đường dành cho đi bộ, đường dành cho các phương tiện giao thông, chiếu sáng), tính tiện nghi (trang thiết bị để tập thể dục, dụng cụ chơi thể thao, không gian trống để vui chơi, cây xanh, trang thiết bị hỗ trợ khác), tính thẩm mĩ (vật thể trang trí, cây xanh trang trí) Quá trình quan sát tổng quan được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2019
Quan sát chi tiết:
Quan sát chi tiết cấu trúc KGXCC trong và ngoài 4 chung cư nghiên cứu điển hình Đối với KGXCC ngoài chung cư, quan sát tập trung các tiêu chí chất lượng gồm: tính liên kết (đường nội bộ phù hợp đi bộ/ xe đạp/ xe lăn, đường liên kết từ chung cư đến KGXCC thông thoáng), tính an toàn (đường dành riêng cho đi bộ, đường dành cho các phương tiện giao thông, khu vực vui chơi được bảo vệ an toàn, chiếu sáng đủ, không quá ồn, không ô nhiễm), tính tiện nghi (trang thiết bị để tập thể dục, dụng cụ chơi thể thao, chỗ ngồi và chỗ đứng có thể quan sát tốt, không gian trống để vui chơi tự do, cây xanh che mát, trang thiết
bị hỗ trợ khác, phù hợp để nhiều độ tuổi vui chơi), tính thẩm mĩ (vật thể trang trí, cây xanh trang trí, cảnh quan đẹp)
Đối với KGXCC trong chung cư, đánh giá chi tiết chất lượng KGXCC phù hợp để vui chơi giải trí, dựa trên các yếu tố đảm bảo chất lượng KGXCC gồm: tính tiếp cận và kết nối (khả năng liên kết từ căn hộ đến KGXCC, đường nội bộ phù hợp đi bộ/ xe đạp/ xe
Trang 23lăn, đường nội bộ phù hợp cho mọi độ tuổi, khoảng cách từ căn hộ đến KGXCC phù hợp
để đi bộ), tính an toàn và an ninh (người dân vui chơi được bảo vệ khỏi xe cộ và tai nạn, không ô nhiễm), tính tiện nghi (phục vụ được đa dạng các hoạt động của người dân như
đi: mặt đường bằng phẳng, thông thoáng, khô ráo, chiếu sáng đủ, ngang tầm mắt khi đi có cảnh quan thú vị; đứng: khu vực chỗ đứng không bị ô nhiễm, không quá ồn ào, có đường
biên không gian sau lưng, ngang tầm mắt khi dừng chân có cảnh quan thú vị, thuận tiện
quan sát; ngồi: khu vực chỗ ngồi không bị ô nhiễm, không quá ồn ào, có đường biên không gian ở sau lưng, ngang tầm mắt khi ngồi có cảnh quan thú vị, thuận tiện quan sát; vận động khác: không gian trống để hoạt động tự do, có các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt
động đa dạng theo nhu cầu của các độ tuổi), tính thẩm mĩ (tập trung vào sự phối hợp màu sắc, hình dạng của cây xanh bóng mát và cây trang trí) Ngoài ra, quan sát để ghi nhận các hoạt động vui chơi giải trí cụ thể diễn ra tại KGXCC ở 4 chung cư
Thời gian quan sát chi tiết kéo dài liên tục từ tháng 5/ 2019 đến tháng 12/ 2021
+ Phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm tập trung:
Luận án đã thực hiện 19 cuộc phỏng vấn sâu, với các đối tượng như sau:
Đối tượng: phỏng vấn 4 đại diện thuộc ban quản lý của 4 chung cư
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn sâu
Nội dung chính: sau khi xử lý kết quả điều tra bảng hỏi, NCS tiến hành phỏng vấn sâu đại diện 4 chung cư để tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề thực trạng liên quan KGXCC ở chung cư mà điều tra bảng hỏi chưa rõ, nguyên nhân của những vấn đề KGXCC ở đây đang gặp phải, các phương án cải tạo KGXCC
ở chung cư, các tổ chức chính trị - xã hội ở chung cư, khả năng huy động nguồn lực để cải tạo KGXCC, thực trạng hoạt động vui chơi giải trí của người dân ở chung cư
Đối tượng: 1 chuyên gia tâm lý
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn sâu
Nội dung chính: lý giải chuyên sâu ở góc độ tâm lý học, hành động vui chơi giải trí của con người chịu tác động bởi những yếu tố nào (căn cứ từ lý thuyết Hành động xã hội của Weber)
Đối tượng: 2 chuyên gia về kiến trúc quy hoạch và mỹ thuật đô thị
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn sâu
Trang 24 Nội dung chính: xin ý kiến đánh giá của chuyên gia về thực trạng KGXCC nói chung ở các chung cư tái định cư trên địa bàn TP HCM, và đánh giá chi tiết về KGXCC ở 4 chung cư nghiên cứu điển hình Xin ý kiến của chuyên gia
về giải pháp đối với tổ chức KGXCC nói chung ở các chung cư tái định cư trên địa bàn TP HCM, và góp ý chi tiết về KGXCC ở 4 chung cư nghiên cứu điển hình
Đối tượng: 4 người dân sống tại 4 chung cư
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn sâu
Nội dung chính: sau khi xử lý kết quả điều tra bảng hỏi, các nội dung chưa rõ được đưa vào câu hỏi để phỏng vấn sâu người dân Các chủ đề cần làm rõ như: nhu cầu vui chơi giải trí ở KGXCC trong bối cảnh đô thị có nhiều tiện ích khác để giải trí, thói quen vui chơi giải trí ở KGXCC với không gian sống trước đây của người dân, lý do sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí, nhu cầu giải trí ở KGXCC khi dịch Covid-19 bùng phát, sự tác động của người xung quanh đối với thói quen giải trí ở KGXCC
Đối tượng: 5 người đại diện cơ quan quản lý nhà nước
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn sâu
Nội dung chính: Tìm hiểu những vấn đề khó khăn khi thực thi chính sách ở
TP HCM, để có kiến nghị hợp lý cho các cơ quan hữu quan trong công tác quản lý đô thị vĩ mô, NCS có phỏng vấn sâu đại diện các cơ quan có liên quan công tác quản lý công viên cây xanh trên địa bàn TP HCM như: Phòng Quản
lý đô thị, Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP HCM, Sở Xây dựng TP HCM.6
Luận án còn thực hiện 4 cuộc phỏng vấn nhóm tập trung (tương ứng 4 chung cư), với các đối tượng như sau:
Đối tượng: mỗi chung cư nghiên cứu phỏng vấn 9 đến 11 đại diện gồm Ban quản
lý/ Ban quản trị chung cư và cư dân, đảm bảo nhóm phỏng vấn có đa dạng độ tuổi (trẻ em, thanh niên, trung niên, người cao tuổi), có nam và nữ, mức sống tương đối đa dạng (cao, trung bình, kém), đặc thù công việc đa dạng
Loại phỏng vấn: Phỏng vấn nhóm tập trung
6 Do yêu cầu của người được phỏng vấn, không được cung cấp đơn vị chủ quản Do vậy, NCS không công bố cơ
Trang 25 Nội dung chính: sau khi xử lý kết quả điều tra bảng hỏi, NCS tiến hành phỏng vấn để tìm hiểu sâu hơn một số quan điểm trái ngược trong nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí, quan điểm về sự lựa chọn hình thức vui chơi giải trí nếu KGXCC tại chung cư chưa đáp ứng được nhu cầu, các phương án cải tạo KGXCC ở chung cư, khả năng huy động nguồn lực từ cộng đồng cư dân
và hành động sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí của người dân, nhằm củng cố hơn nữa
cơ sở khoa học về vui chơi giải trí của cộng đồng cư dân trong đô thị Kết quả nghiên cứu còn giúp bổ sung thêm các lý thuyết trong nghiên cứu toàn diện về KGXCC phục vụ cộng đồng cư dân
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng tại TP HCM nói chung và 4 chung cư nghiên cứu điển hình nói riêng, luận án là tài liệu tham khảo phù hợp cho chính quyền TP HCM và những cơ quan hữu quan thực hiện nhiệm vụ chăm sóc công viên cây xanh đô thị, trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng, cải tạo chất lượng không gian sống tại địa phương Các đơn vị điển hình như: Đảng bộ TP HCM, UBND
TP HCM các cấp (Sở Quy hoạch – Kiến trúc, Sở Xây dựng, UBND Quận/ Huyện, UBND Phường/ Xã), Công ty trực tiếp chăm sóc cây xanh tại các địa phương và Ban quản lý tại các chung cư tái định cư
Ngoài ra, luận án này còn có thể là tài liệu cho các nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên có quan tâm đến lĩnh vực dân tộc học, nhân học, nhân học đô thị, đô thị học, quy hoạch, quản lý
Kết quả luận án nếu được sử dụng sẽ góp phần chỉnh trang đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân trong các chung cư tái định cư, khẳng định chủ trương đúng đắn của chính quyền thành phố về nhà ở cho người có thu nhập thấp
Trang 269 Bố cục của luận án
Luận án gồm 3 phần chính:
- Dẫn luận: Lý do thực hiện đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục tiêu và nhiệm vụ
nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi và giả thuyết
nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Nội dung gồm 3 chương: Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu; Nhu cầu
vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng và sự đáp ứng của không gian xanh công
cộng tại chung cư tái định cư ở TP.HCM; Nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu sử dụng
không gian xanh của người dân tại các chung cư tái định cư
- Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Ngoài phần chính văn, luận án còn đính kèm Phụ lục gồm các nội dung sau: bảng phân
tích kết quả điều tra bảng hỏi, hình ảnh khảo sát, biên bản rã băng phỏng vấn sâu và phỏng
vấn nhóm, biên bản quan sát và nhật ký điền dã, bảng hỏi, mô tả phương pháp chọn mẫu
Trang 27PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Maslow gọi nhu cầu là “động lực có ý thức” (Maslow, 1943, tr.390) Theo triết học Mác – Lênin (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2004), ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc
xã hội Với nguồn gốc xã hội, ý thức có thể chịu sự tác động của xã hội trong hoạt động sống của con người Bản chất của ý thức chính là sự “phản ánh hiện thực khách quan vào
bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo” (tr.192-195) Với bản chất này, ý thức mỗi người mỗi khác bởi tính “sáng tạo” đó Ý thức con người có thể chịu tác động bởi môi trường sống khách quan của họ và cả đặc điểm chủ quan của cá nhân Bên cạnh đó, trong hoạt động sống, con người luôn tự nhận thức, tiếp thu kiến thức từ thực tiễn Theo quan điểm Mác – Lênin, “nhận thức là quá trình phản ảnh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ sở thực tiễn” (tr.294) Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thể không có ý thức hay hoạt động nhận thức Với bản chất “sáng tạo thế giới khách quan”, nhận thức mỗi người cũng rất đa dạng Xét về nhu cầu là hoạt động diễn ra trong ý thức của mỗi con người, với những đặc điểm chủ quan và khách quan khác nhau của mỗi chủ thể, nhu cầu mỗi cá nhân có thể khác nhau Tương đồng với quan điểm của Maslow cho rằng, mỗi người có nhu cầu cơ bản khác nhau, tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống hay các đặc điểm tâm sinh lý khác (1943,
Trang 28Theo đó, con người có nhu cầu rất đa dạng, nhu cầu có thể được tác động bởi các yếu tố chủ quan và khách quan qua quá trình nhận thức của con người
- Nhu cầu vui chơi giải trí
Khái niệm nhu cầu vui chơi giải trí cũng được trình bày ở nhiều tác phẩm, điển hình như định nghĩa của tác giả Trần Văn Bính: “Nhu cầu giải trí hay còn gọi là nhu cầu vui chơi giải trí là các hoạt động vui chơi, thư giãn về thể chất và cân bằng về tinh thần trong lúc nghỉ ngơi” (Phạm Duy Đức, 2004, tr.45) Nếu như “nhu cầu” là sự đòi hỏi thì “nhu cầu vui chơi giải trí” là sự đòi hỏi hay mong muốn của con người về hoạt động thư giãn thể chất và tinh thần trong thời gian rảnh
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Đinh Thị Vân Chi đã xây dựng cơ cấu nhu cầu
giải trí gồm các nhu cầu hoạt động như Sơ đồ 1 (Đinh Thị Vân Chi, 2001b, tr.53) Trong
các nhu cầu được Đinh Thị Vân Chi mô tả, một số nhu cầu vui chơi giải trí có thể sử dụng không gian ngoài trời thường diễn ra ở các khu ở như: giao tiếp, hoạt động thể thao/ giải trí, tham gia trò chơi
Sơ đồ 1 Cơ cấu của nhu cầu tinh thần và nhu cầu giải trí
(Nguồn: Đinh Thị Vân Chi, 2001b, tr.53) Nhu cầu vui chơi giải trí được thể hiện qua các hoạt động vui chơi giải trí Vì vậy, khi nghiên cứu nhu cầu giải trí, các tác giả đều có nghiên cứu thực trạng hoạt động giải trí Do vậy, trong luận án này, bên cạnh nghiên cứu về nhu cầu, thực trạng hoạt động giải trí ở KGXCC cũng được nghiên cứu Trong nghiên cứu của Lê Thị Hương Xuân về nhu cầu vui chơi giải trí, tác giả đã kết luận rằng để thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí, con người có
Trang 29nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác nhau tùy vào sở thích và mục đích cá nhân, từ giải trí trong nhà đến giải trí ngoài xã hội (Lê Thị Hương Xuân, 2012, tr.26)
Lý giải cho sự khác nhau trong nhu cầu vui chơi giải trí của mỗi người, nghiên cứu của tác giả Đồng Thị Hồng Nhạn (2011) đã chỉ ra các nhân tố có thể tác động đến nhu cầu vui chơi giải trí gồm: nhóm yếu tố chủ quan (các đặc điểm nhân khẩu xã hội, thời gian rảnh), nhóm yếu tố khách quan (liên quan đến địa điểm và sự tổ chức quản lý các hoạt động vui chơi giải trí), nhóm yếu tố về chính sách của nhà nước, các quan niệm xã hội và sự đầu
tư của xã hội được tác giả xếp riêng vào nhóm sự định hướng của xã hội Tác giả cũng nhấn mạnh đến yếu tố “mức sống” có tác động đến cách sử dụng thời gian rảnh của người dân7
(Đồng Thị Hồng Nhạn, 2011, tr.75)
Nghiên cứu của tác giả Phan Khanh nhấn mạnh về yếu tố “độ tuổi” Theo tác giả, các nhóm tuổi như: nhóm trước khi đi nhà trẻ và mẫu giáo; nhóm tuổi đi học, nhóm tuổi đi làm/ lao động, nhóm tuổi nghỉ ngơi/ về hưu, mỗi nhóm tuổi có những đặc trưng khác nhau thì
có những nhu cầu vui chơi giải trí khác nhau (Phạm Duy Đức, 2004, tr 48) Tác giả Đinh Thị Vân Chi (2001b, tr.12) cũng nhấn mạnh trong luận án tiến sĩ rằng, “những đặc trưng nhân khẩu xã hội trong cơ cấu dân số là những biến số quan trọng giúp chúng ta lý giải sự khác biệt về nhu cầu giải trí giữa các lứa tuổi, giới tính, dân tộc” bên cạnh rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác mà tác giả đưa ra
Từ những nghiên cứu về nhu cầu vui chơi giải trí nói chung, từ lập luận về thuật ngữ
“nhu cầu” và mối liên hệ chặt chẽ với ý thức khác nhau ở mỗi người, các yếu tố có thể tác động đến nhu cầu vui chơi giải trí của con người rất đa dạng Trong giới hạn nghiên cứu về nhu cầu sử dụng KGXCC để vui chơi giải trí, NCS kế thừa một số yếu tố do các tác giả đã trình bày, bổ sung thêm một số yếu tố có liên quan đến đặc thù vui chơi giải trí ở KGXCC (được phân tích ở các khái niệm khác, ở các lý thuyết áp dụng trong phần sau), các yếu tố được đưa ra để nghiên cứu như sau: nhóm điều kiện chủ quan (độ tuổi, giới, công việc, trình
độ, tình trạng hôn nhân, mức sống, mạng lưới xã hội, thời gian rảnh, ý thức về lợi ích của giải trí ở KGXCC), nhóm yếu tố khách quan (thói quen vui chơi giải trí của người sống
Trang 30
chung, chất lượng KGXCC tại khu ở, sự đáp ứng của xã hội về các tiện nghi vui chơi giải trí khác)
1.1.1.2 Không gian xanh công cộng
- Không gian công cộng:
Do mối liên hệ mật thiết giữa thuật ngữ không gian công cộng và KGXCC, nên NCS trình bày khái niệm “không gian công cộng” trước khi phân tích khái niệm “không gian xanh công cộng”
Theo nhóm tác giả Matthew Carmona, Tim Heath, Taner Oc và Steve Tiesdell, “không gian công cộng” được định nghĩa là “môi trường tự do”, nơi tất cả mọi người được tự do
sử dụng và có quyền lựa chọn sử dụng nơi này hay nơi khác (2003, tr.100) Theo Stéphane Tonnelat, ông đề cập đến khái niệm không gian công cộng là không gian vật thể, nơi tương tác hàng ngày của người dân Bài viết của Stéphane Tonnelat cho thấy không gian công cộng không chỉ là “không gian mở (“open space”) như: đường phố, công viên, khu vực giải trí, quảng trường, các không gian ngoài trời khác nơi mà chúng được quản lý và sở hữu công cộng, đối lập với không gian sở hữu riêng tư như nhà ở hay nơi làm việc”, mà còn là các không gian nơi bất cứ ai cũng có thể ra vào tự do như: ga xe lửa, tàu điện ngầm, sân bay, bãi đậu xe, trung tâm mua sắm (Stéphane Tonnelat, 2010) Các tác giả trên tiếp cận thuật ngữ không gian công cộng ở góc độ quy hoạch đô thị, không gian công cộng ở đây là không gian vật thể (khác với một số quan điểm khác cho rằng không gian công cộng còn bao gồm không gian phi vật thể như: diễn đàn trên mạng, trang nhật ký trực tuyến, các trang mạng xã hội (Trần Đăng Linh, 2009; Trần Thị Ngọc Nhờ, 2015))
Như vậy, từ các giải thích trên có thể hiểu, không gian công cộng là không gian chung, nơi tất cả mọi người có thể tự do đến và đi, tự do hoạt động để đáp ứng nhu cầu của mình, bao gồm cả không gian ngoài trời và không gian trong nhà Với ý nghĩa này, KGXCC là một phần của không gian công cộng Thuật ngữ KGXCC được sử dụng với mục đích nhấn mạnh có yếu tố mảng xanh trong không gian Cụ thể được NCS làm rõ ở nội dung tiếp theo
- Không gian xanh công cộng:
“Không gian xanh công cộng” đã được sử dụng phổ biến trên thế giới với thuật ngữ tiếng Anh là “public urban green spaces” Trong các nghiên cứu đã được công bố, gần nhất
Trang 31là bài viết của nhóm tác giả Hongzan Jiao, Chengcong Li, Yang Yu và Zhenghong Peng (2020), định nghĩa KGXCC là các loại công viên chức năng như: công viên vui chơi giải trí tổng hợp (comprehensive park), công viên cộng đồng (community park), công viên chuyên ngành (specialized park), công viên vành đai (belt park), và công viên ven đường hay lối đi bộ dọc hai bên đường (roadside park) Nếu như nhóm tác giả này định nghĩa KGXCC là những công viên (park), thì nhóm tác giả Wolch, Jason và Newell (2014) có quan điểm rộng hơn, KGXCC không chỉ là những công viên, mà còn bao trùm các không gian công cộng có yếu tố tự nhiên khác như: sân thể thao, khu bảo tồn, đường xanh, đường mòn, vườn cộng đồng, khu cây xanh đường phố, ngõ hẻm hay cả nghĩa trang Quan điểm này tương đương quan điểm của nhóm tác giả B Tuzin, E Leeuwen, C Rodenburg và N Peter được trích dẫn bởi Shah Md Atiqul Haq (2011), KGXCC được hiểu là những không gian mở, được bao phủ bởi yếu tố tự nhiên như thảm thực vật Nhiều tác giả đồng nhất quan điểm về không gian xanh là những không gian có thực vật tự nhiên hay nhân tạo, hay mở rộng hơn là không gian mở có yếu tố thiên nhiên mà con người được tự do sử dụng
Tại Việt Nam, thuật ngữ KGXCC được tác giả Đoàn Khánh Huyền (2017) sử dụng với định nghĩa rằng KGXCC là “các không gian công cộng ngoài trời”, như quảng trường, công viên, vườn hoa, sân chơi, được sử dụng để “thể dục thể thao, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn” Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2017, tr.62) cũng nêu quan điểm về không gian xanh là “không gian mặt đất, mặt nước” “được tự nhiên hóa” bởi thực vật hay động vật Các định nghĩa trên có chung quan điểm rằng, đó là các không gian ngoài trời gắn liền yếu tố thiên nhiên như cây xanh, mặt nước, mặt đất, trái với các không gian bên trong nhà Tổng hợp từ các quan điểm trong và ngoài nước, xét trong bối cảnh các không gian ngoài trời được người dân sử dụng để vui chơi giải trí ở nước ta, NCS có xây dựng lại định nghĩa KGXCC như sau: KGXCC là những không gian công cộng ngoài trời, có gắn với yếu tố thiên nhiên như cây xanh, mặt đất, mặt nước, gió, ánh sáng tự nhiên và các điều kiện khí hậu khác, nơi người dân được tự do tiếp cận và hoạt động theo sở thích
Xét trong cấu trúc không gian đô thị, KGXCC là những không gian bên ngoài các tòa nhà Xét trong khu ở, các không gian công cộng có gắn liền yếu tố thiên nhiên như: khu đất trồng cây xanh, khu chơi thể thao, tuyến đường nội bộ (Khương Văn Mười và Nguyễn
Trang 32Thanh Hà, 2006, tr.140) Trong giới hạn nghiên cứu, xét trong nội bộ các khu chung cư, KGXCC bao gồm: hệ thống các đường nội bộ (trong quy hoạch xây dựng gọi là “đường cấp nội bộ”), công viên, sân chơi thể thao Các không gian này đều miễn phí cho cư dân sử dụng, người dân có thể tự do tiếp cận và hoạt động theo sở thích của mình KGXCC có thể
mô phỏng qua hình thiết kế không gian như sau (Hình 1.1):
Hình 1 1 KGXCC bao gồm khối màu xanh và màu xám (Nguồn: Tác giả, 2021)
Hệ thống các “đường nội bộ” (bao gồm lòng đường, dải cây xanh giữa các đường và vỉa hè) trong khu ở không chỉ có chức năng để di chuyển, mà còn được cư dân sử dụng như không gian để vui chơi, thư giãn Bởi lưu lượng xe di chuyển trong các đường nội bộ thấp Trong thiết kế đường nội bộ ở các khu dân cư, có thể được lắp các gờ giảm tốc để giới hạn tốc độ xe di chuyển, đảm bảo an toàn cho cư dân (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012; Bộ
Xây dựng, 2007) (Hình 1.2, Hình 1.3)
Hình 1 2 Đường nội bộ trong khu dân cư Mega
Ruby Khang Điền (Quận 9 cũ)
(Nguồn: Tác giả chụp ngày 06/6/2020)
Hình 1 3 Đường nội bộ trong khu dân cư
Hưng Phú (Quận 9 cũ) (Nguồn: Tác giả chụp ngày 03/10/2020)
Trang 33“Công viên” là từ ngữ thường diễn tả chung cho các không gian có giới hạn được trồng tập trung nhiều cây xanh, có các hạ tầng kỹ thuật phụ trợ cho các hoạt động vui chơi giải trí của con người như đường nội bộ hay khoảng sân trống Trong quy hoạch, các công viên có quy mô nhỏ thường được gọi là vườn hoa (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012)
(Hình 1.4, Hình 1.5)
Hình 1 4 Công viên trong khu dân cư Gia
Hòa (Quận 9 cũ) (Nguồn: Tác giả chụp ngày 25/7/2020)
Hình 1 5 Công viên trong chung cư Homyland 2 (Quận 2 cũ) (Nguồn: Tác giả chụp ngày 16/8/2020)
“Sân chơi thể thao” là từ ngữ thường dùng để chỉ các sân hay công viên có chức năng chuyên phục vụ người dân chơi thể thao Đặc trưng của không gian này là có nhiều khoảng trống bằng phẳng thích hợp chơi thể thao tự do, có thể được trang bị các dụng cụ chơi thể thao như khung vành và trụ bóng rổ, khung thành bóng đá, lưới cầu lông, sân vẽ cầu lông,… (Nguyễn Đức Thiềm, 2010, tr.320)
Hình 1 6 Sân chơi thể thao trong khu tái
định cư Vĩnh Lộc B (Huyện Bình Chánh)
(Nguồn: Tác giả chụp ngày 07/3/2021)
Hình 1 7 Sân chơi thể thao trong khu dân cư
Phước Bình (Quận 9 cũ) (Nguồn: Tác giả chụp ngày 27/3/2021)
Trang 34KGXCC là thuật ngữ tương đối mới nhưng nội hàm rất quen thuộc trong quy hoạch xây dựng đô thị ở nước ta Đó chính là tổng thể những không gian bên ngoài các công trình Trong luận án, thuật ngữ KGXCC được sử dụng để nhấn mạnh đến yếu tố “xanh” trong quy hoạch không gian – một xu hướng tất yếu của chiến lược phát triển đô thị bền vững Bởi yếu tố thiên nhiên (“xanh”) trong đô thị có vai trò rất quan trọng cho cuộc sống con người Rất nhiều đề tài nghiên cứu đã công bố những lợi ích của các không gian công cộng
có yếu tố thiên nhiên như: điều tiết vi khí hậu (Haq, 2011; World Health Organization, 2017; Saldivar-Tanaka & Krasny, 2004), là nơi để người dân đô thị vui chơi thư giãn và giao tiếp, giúp cân bằng trạng thái tâm lý cho con người (World Health Organization, 2017),
là nơi để người dân mọi độ tuổi tương tác xã hội (giao tiếp, cùng vui chơi, đôi khi chỉ là quan sát hay lắng nghe) (Debra Efroymson, Trần Thị Kiều Thanh Hà, & Phạm Thu Hà,
2010, tr.53 - 63) Đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19, khi Chính phủ áp dụng các biện pháp siết chặt đi lại, ai ở trong nhà đó, sự cô lập này có thể dẫn đến áp lực tinh thần cho người dân (Vindegaard, N & Benros, M E., 2020; Ramírez-Ortiz, J., Castro-Quintero, D., Lerma-Córdoba, C., Yela-Ceballos, F & Escobar-Córdoba, F., 2020) Do vậy, khi Chính phủ cho phép nới lỏng giãn cách, hoạt động vui chơi giải trí an toàn trong KGXCC tại khu
ở trở nên cần thiết để người dân giải được tương tác xã hội, giải tỏa căng thẳng tâm lý Ngoài ra, KGXCC còn giúp nâng cao giá trị kinh tế của bất động sản (được trích dẫn bởi Arne Arnberger, 2012; Shah Md Atiqul Haq, 2011), tạo điểm nhấn đẹp cho đô thị với thiết
kế cảnh quan hài hòa (Llewelyn Davies, n.d, tr.30) Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn ra phức tạp, các KGXCC còn đóng vai trò chia sẻ áp lực không gian cho các hoạt động y tế cộng đồng như xét nghiệm Covid, tiêm vacxin lưu động Bởi so với không gian kín, không gian mở trở nên an toàn hơn trong việc hạn chế lây nhiễm Việc sử dụng các KGXCC tại khu ở còn giúp cư dân thuận tiện tiếp cận hơn (UN Habitat, 2020)
+ Tiêu chuẩn thiết kế để đảm bảo chất lượng KGXCC trong đô thị
Trong lĩnh vực kiến trúc, các kiến trúc sư đã nghiên cứu và công bố những tiêu chuẩn trong thiết kế không gian để phục vụ tốt cho các hoạt động của người dân đô thị Các tiêu chuẩn được xây dựng đều có chung mục tiêu là lấy yếu tố con người làm trung tâm cho thiết kế NCS đã tổng hợp và chọn lọc thông tin từ tài liệu thiết kế đô thị (Kim Quảng Quân,
Trang 352010; Llewelyn-Davies, (n.d.).), quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc khu đô thị của UBND
TP HCM (2018), quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012), tác phẩm Đô thị vị nhân sinh của Jan Gehl (2019), tài liệu về thiết kế không gian công cộng đô thị (Carmona, M., Heath, T., Oc, T., & Tiesdell, S, 2003), tài liệu
về quy hoạch xây dựng đơn vị ở (Phạm Hùng Cường, Lâm Quang Cường, Đặng Thái Hoàng, Phạm Thúy Loan, Đàm Thu Trang, 2010; Khương Văn Mười & Nguyễn Thanh Hà, 2006), công trình nghiên cứu về quảng trường là một dạng KGXCC (Võ Thanh Tuyền, 2016) và tác phẩm Kiến trúc cơ sở phục vụ thiết kế nội ngoại thất (Nguyễn Đức Thiềm, 2010) Các nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp đã cho thấy vai trò quan trọng của chất lượng không gian đối với hoạt động của con người Do vậy, trong các yếu tố dùng để phân tích tương quan với nhu cầu và hoạt động vui chơi giải trí, NCS đã đưa yếu tố “chất lượng KGXCC tại khu ở” để nghiên cứu Kế thừa các nghiên cứu trước đây, các tiêu chuẩn thiết
kế đảm bảo chất lượng KGXCC phục vụ cho người dân hoạt động tự do, an toàn và thoải mái trong khu ở được tóm tắt như sau:
Bảng 1 1 Các nguyên tắc thiết kế để đảm bảo chất lượng KGXCC
- Đảm bảo không gian di chuyển tự do, thông thoáng: mặt đường bằng phẳng, không trơn trượt
Trang 36- Người dân được bảo vệ khỏi trộm cướp hay bạo lực: có các thiết bị an ninh hay lực lượng bảo vệ
- Không gian được chiếu sáng đủ để người dân có cảm giác an toàn, tránh khỏi các tai nạn vào ban đêm
- Không gian không bị ô nhiễm
Tính tiện
nghi
Các tiện nghi phục vụ được đa dạng các hoạt động của người dân như:
- Đi: mặt đường bằng phẳng, thông thoáng, khô ráo, chiếu sáng đủ, ngang tầm mắt khi đi có cảnh quan thú vị
- Đứng: khu vực chỗ đứng không bị ô nhiễm, không quá ồn ào, có đường biên không gian sau lưng, ngang tầm mắt khi dừng chân có cảnh quan thú
vị, thuận tiện quan sát ((khoảng cách hợp lý để quan sát tốt là dưới 100m (Kim Quảng Quân, 2010, tr.70), hướng quan sát không có vật cản), chiếu sáng đủ
- Ngồi: khu vực chỗ ngồi không bị ô nhiễm, không quá ồn ào, có đường biên không gian ở sau lưng, ngang tầm mắt khi ngồi có cảnh quan thú vị, thuận tiện quan sát (khoảng cách hợp lý để quan sát tốt là dưới 100m (Kim Quảng Quân, 2010, tr.70), hướng quan sát không có vật cản), chiếu sáng đủ, hình thức chỗ ngồi đa dạng
- Vận động khác: có không gian trống để hoạt động tự do, có các trang thiết
bị phục vụ cho các hoạt động đa dạng theo nhu cầu của các độ tuổi (trẻ em, thanh niên, trung niên, người cao tuổi) (Nguyễn Đức Thiềm, 2010, tr.320) Tính thẩm
mĩ
Không gian có thể hấp dẫn, thu hút người dân qua các chi tiết phổ biến như:
- Sự phối kết hài hòa về hình dáng và màu sắc giữa các loại cây xanh (cây bóng mát, cây bụi, cây trang trí, thảm cỏ), hay giữa cây xanh với các vật thể
Trang 37kiến trúc Sự đa dạng về màu sắc cũng có thể tạo nên sự thú vị cho người quan sát
- Không gian được giữ vệ sinh sạch sẽ (Nguyễn Đức Thiềm, 2010, tr.296-311)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2020)
Các yếu tố đảm bảo chất lượng đã tóm tắt tại Bảng 1.1 là cơ sở lý luận quan trọng để
đánh giá thực trạng chất lượng KGXCC tại địa bàn nghiên cứu Đây cũng là cơ sở để kiến nghị giải pháp cải tạo KGXCC nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu vui chơi giải trí cho cư dân tại nơi ở
1.1.1.3 Vui chơi giải trí và phân loại hình thức vui chơi giải trí
Cũng là một thuật ngữ quan trọng trong đề tài, để làm rõ định nghĩa cũng như đặc điểm của các loại hình vui chơi giải trí nói chung, và loại hình vui chơi giải trí ở KGXCC, nội dung này trình bày khái niệm “vui chơi giải trí”, phân loại các hình thức vui chơi giải trí cơ bản, vai trò của vui chơi giải trí, đặc điểm cơ bản của hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC và yêu cầu chất lượng không gian để đáp ứng tốt cho các hoạt động này
Theo tác giả Hoàng Vinh, giải trí thường được gọi là “vui chơi giải trí” bởi sự đồng nghĩa giữa các từ “giải trí” và “vui chơi” (Phạm Duy Đức, 2004, tr.16), cùng có nghĩa để chỉ các hoạt động “làm cho đầu óc thảnh thơi” (Hoàng Phê, 1988, tr.410) Tác giả Hoàng Phê (1988, tr.188) cũng giải thích như sau: “Chơi hay vui chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi, tiêu khiển, chơi cho vui” Định nghĩa này cũng tương tự tác giả Đào Duy Anh (2005,
tr.264), giải trí là hoạt động làm “trí não được khoan khoái” trong thời gian rỗi Vì vậy trong
đề tài này, thuật ngữ “vui chơi giải trí” được sử dụng để bao hàm ý nghĩa là những hoạt động nghỉ ngơi hoặc tham gia các hoạt động vui chơi trong thời gian rảnh của người dân
Trang 38Con người có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí khó có thể liệt kê đầy đủ Để có thể bao quát hơn về hoạt động vui chơi giải trí, thuận tiện cho nghiên cứu thực trạng, nội dung này thực hiện phân loại các hình thức giải trí Tùy theo những căn cứ khác nhau, có những hình thức phân loại hoạt động vui chơi giải trí khác nhau, một số cách phân loại như sau:
Căn cứ vào chủ thể hay số lượng tham gia hoạt động giải trí:
Theo căn cứ này, tác giả Hoàng Vinh đã chia vui chơi giải trí thành 3 nhóm gồm: vui chơi giải trí cá nhân (giải trí một mình), vui chơi giải trí theo nhóm (giải trí với bạn bè, người thân, đồng nghiệp hay các mối quan hệ xã hội khác của chủ thể) và vui chơi giải trí đại chúng (các hình thức giải trí công cộng ngoài xã hội, có rất đông người tham dự như lễ hội, xem bóng đá,…) (Phạm Duy Đức, 2004) Liên hệ đến các hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC, một cách tương đối, xét theo số lượng cũng có thể chia thành 3 nhóm trên Đặc biệt đối với vui chơi giải trí tại KGXCC trong khu ở, các hoạt động giải trí một mình hoặc theo nhóm là phổ biến nhất
Cách phân loại trên giúp NCS suy ra, với hình thức vui chơi giải trí nhóm, vì vui chơi giải trí có liên quan với người khác, nên yếu tố mạng lưới xã hội (hay các mối quan hệ của con người trong xã hội) cũng có thể liên quan đến nhu cầu và hoạt động vui chơi giải trí cụ thể Đây là lý do trong đề tài, NCS sẽ tìm hiểu rằng yếu tố “mạng lưới xã hội” với nhu cầu
và hành vi vui chơi giải trí tại KGXCC trong chung cư có đặc điểm như thế nào
Căn cứ theo thời gian:
Các nghiên cứu từ xưa đến nay đã cho thấy trong thời đại nào con người cũng có hoạt động vui chơi giải trí, tùy theo điều kiện của từng giai đoạn mà con người có những đặc điểm hoạt động giải trí khác nhau Nghiên cứu chuyên sâu về vui chơi giải trí của tác giả Đinh Thị Vân Chi (2001b) đã chia hình thức vui chơi giải trí thành 2 nhóm: giải trí truyền thống và hiện đại, lấy mốc thời gian năm 1986 là năm đất nước ta bắt đầu đổi mới để chia thành 2 giai đoạn truyền thống (1986 trở về trước) và hiện đại (1987 đến nay)
Đối với hoạt động vui chơi giải trí truyền thống: nhiều bài viết đã mô tả hình thức vui
chơi giải trí trong giai đoạn truyền thống ở Việt Nam của các tác giả như Phan Kế Bính (1990, tr.362-367), Trần Đức Anh Sơn (1991, tr.12), Lý Nhân Phan Thứ Lang (2015),
Trang 39Nguyễn Trương Quý (2019), (Nguyễn Văn Trung, 1996, tr.48), Hoàng Xuân Việt (1971), Đinh Thị Vân Chi (2001b, tr.71-72) Theo mô tả, các hình thức vui chơi giải trí truyền thống
ở nước ta thường mang tính tập thể nhiều hơn, ít sử dụng các phương tiện kỹ thuật và ít tốn chi phí như hiện nay Đặc điểm này cũng do phụ thuộc vào điều kiện chung của nước ta trong thời kỳ phong kiến, thuộc địa, chiến tranh và những ngày đầu dành độc lập
Đối với hoạt động vui chơi giải trí hiện đại: dưới tác động của nền kinh tế thị trường,
sự phát triển của khoa học và công nghệ kỹ thuật, đô thị hiện đại ngày nay có rất nhiều phương tiện và dịch vụ để phục vụ con người vui chơi giải trí Các tác phẩm của Đinh Thị Vân Chi (2001a,b), Phạm Duy Đức (2004), Jan Gehl (2019) đều chỉ ra sự đa dạng, thu hút
và thuận tiện của các phương thức vui chơi giải trí từ trong nhà đến ngoài xã hội Đặc điểm chung của các hình thức vui chơi hiện đại thường thấy là xuất hiện nhiều hình thức có thể giải trí một mình (không tương tác trực tiếp với người khác), rất nhiều hình thức giải trí phụ thuộc vào các thiết bị điện tử, nhiều hình thức giải trí cần được trả phí để sử dụng và đi theo
đó là chiến lược thu hút khách hàng của các doanh nghiệp trong ngành giải trí Bên cạnh
đó, các hoạt động giải trí có tương tác theo nhóm, hoạt động giải trí không sử dụng thiết bị điện tử hay hoạt động vui chơi giải trí không tốn phí cũng là những hình thức giải trí trong bối cảnh hiện đại
Sự đa dạng vô cùng của các hình thức vui chơi giải trí trong bối cảnh đô thị hiện đại ngày nay đã cho thấy, ngoài hình thức vui chơi giải trí tại KGXCC còn có rất nhiều hình thức để người dân vui chơi giải trí Đây cũng là nguyên nhân NCS cho rằng sự đáp ứng của
xã hội về các tiện nghi giải trí khác ít nhiều có ảnh hưởng đến sự lựa chọn hình thức giải trí
ở KGXCC Do vậy, NCS đã đưa yếu tố “sự đáp ứng của xã hội về các tiện nghi giải trí khác” vào khung phân tích để nghiên cứu
Căn cứ vào thời gian rảnh của chủ thể:
Căn cứ theo thời gian rảnh trong ngày, trong tuần hay trong năm của người dân, hình thức vui chơi giải trí có thể chia thành 3 cấp: cấp ngày, cấp tuần và cấp năm, tương ứng các hoạt động giải trí thường diễn ra hàng ngày, hàng tuần và hàng năm của người dân (Đinh Thị Vân Chi, 2003, tr 69-109) Với sự phân chia này, NCS ứng dụng để xây dựng bảng
Trang 40hỏi, thu thập thông tin về đặc điểm các hoạt động vui chơi giải trí hàng ngày, hàng tuần và hàng năm của người dân
Có nhiều hình thức để người dân vui chơi giải trí trong thời gian rảnh của họ Trong giới hạn đề tài, NCS quan tâm rằng, thời gian rảnh có ảnh hưởng nhu cầu và hoạt động vui chơi giải trí ở KGXCC hay không Do vậy, yếu tố “thời gian rảnh” được đưa vào khung phân tích
Ngoài ra, còn rất nhiều cách chia hình thức vui chơi giải trí như: giải trí vận động cơ thể nhiều và giải trí vận động cơ thể ít, giải trí không tốn phí và giải trí tốn phí, giải trí trong nhà và giải trí ngoài trời Với các hình thức vui chơi giải trí đã liệt kê, NCS ứng dụng để nghiên cứu đặc điểm loại hình vui chơi giải trí của người dân đô thị hiện nay
1.1.1.4 Đặc điểm hoạt động vui chơi giải trí và vai trò của vui chơi giải trí ở không gian xanh công cộng
Đối với các hoạt động ngoài trời của con người, trong nghiên cứu của mình, Jan Gehl (2009, tr.9-13) đã chia thành 3 loại hoạt động:
- Hoạt động thiết yếu: là hoạt động bắt buộc người tham gia phải thực hiện (ví dụ: đi
làm, đi học) Do vậy, mặc dù không gian chưa tốt, người dân vẫn phải hoạt động
- Hoạt động tự chọn: là những hoạt động tự do theo sở thích của con người, con
người có thể lựa chọn thực hiện hoạt động đó nếu điều kiện phù hợp, hoặc ngược lại Do vậy, chất lượng không gian ngoài trời (có nội hàm phù hợp với thuật ngữ KGXCC) cần được chú trọng để các hoạt động này diễn ra theo mong muốn
- Hoạt động xã hội: liên quan đến sự tương tác giữa người với người như tương tác
trực tiếp (trò chuyện, chơi đùa cùng nhau) hay thụ động (chỉ quan sát và lắng nghe) Để tạo điều kiện khuyến khích người dân tương tác xã hội, kết nối cộng đồng, cần thiết phải quan tâm chất lượng không gian này Bởi không gian có tốt, người dân mới ở lâu, mới có thêm
cơ hội gặp gỡ và tương tác
Với nội hàm của thuật ngữ vui chơi giải trí, vui chơi giải trí có thể được xếp vào nhóm hoạt động tự chọn và hoạt động xã hội Theo đó cho thấy, do tính chất của hoạt động tự chọn và xã hội như trên, cần thiết phải quan tâm chất lượng KGXCC để khuyến khích hoạt động vui chơi giải trí diễn ra Trong hơn 50 năm nghiên cứu, Jan Gehl đã đủ cơ sở để khẳng