Trong hệ thống xử lý nước thải lẫn dầu mỡ, phần dầu nổi lên trên mặt luôn được tách riêng vì những nguyên nhân sau: Gây cản trở đến quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ hòa tan
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 4
I.1 Lý do hình thành đề tài 5
I.2 Đối tượng nghiên cứu 6
I.3 Mục tiêu nghiên cứu 6
I.4 Nội dung nghiên cứu 6
I.5 Phương pháp nghiên cứu: 6
I.6 Phạm vi nghiên cứu: 7
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN VÀ CHẤT THẢI GIÀU DẦU MỠ PHÁT SINH TRONG NHÀ MÁY SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN 8
II.1 Giới thiệu công nghệ sản xuất mì ăn liền 9
II.1.1 Công nghệ sản xuất 9
II.1.2 Nguyên vật liệu sản xuất 11
II.2 Một số vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất mì ăn liền 11
II.3 Tổng quan về chất thải giàu dầu mỡ trong nhà máy sản xuất mì ăn liền Uni President 13
II.3.1 Sơ lược về công ty sản xuất mì ăn liền Uni President 13
II.3.2 Qui trình sản xuất 13
II.3.3 Thành phần và tính chất nước thải tại công ty Uni President 14
II.3.4 Tình hình thải bỏ bã thải tại công ty Uni President 15
II.3.5 Các tác động môi trường gây ra do hỗn hợp dầu thải của nhà máy 16
II.4 Các phương pháp xử lý bã thải nhiều dầu của nhà máy sản xuất mì ăn liền đang được áp dụng hiện nay 18
II.4.1 Sử dụng làm nguồn bổ sung vào thực phẩm chăn nuôi 18
II.4.2 Chôn lấp cùng rác thải 18
II.4.3 Phân hủy hiếu khí có gia nhiệt 19
Trang 2CHƯƠNG III: TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÂN HỦY SINH HỌC
CHẤT THẢI TRONG ĐIỀU KIỆN KỲ KHÍ 20
III.1 Lịch sử phát triển quá trình và xu hướng hiện nay 21
III.2 Cơ sở lý thuyết 22
III.3 Mô tả quá trình sinh học kỵ khí 23
III.4 Hóa sinh học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí 24
III.4.1 Giai đoạn thủy phân 24
III.4.2 Giai đoạn acid hóa: 25
III.4.3 Giai đoạn acetate hóa 26
III.4.4 Giai đoạn tạo methane 27
III.5 Vi sinh vật học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí 29
III.5.1 Vi sinh vật thủy phân 30
III.5.2 Vi sinh vật acid hóa 30
III.5.3 Vi sinh vật acetate hóa 30
III.5.4 Vi sinh vật sinh methane 31
III.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí 33
III.6.1 Nhiệt độ 33
III.6.2 pH 34
III.6.3 Tính chất của chất nền 34
III.6.4 Các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng 34
III.6.5 Thời gian lưu bùn 35
III.6.6 Các chất gây độc 35
III.6.7 Sự khuấy đảo hỗn hợp phân hủy 36
III.6.8 Kết cấu hệ thống 36
III.7 Động học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí 37
III.7.1 Quá trình tăng trưởng của tế bào vi sinh vật 37
III.7.2 Năng suất tạo sinh khối 38
Trang 3III.8 Các dạng công trình xử lý chất thải trong điều kiện kỵ khí 38
III.8.1 Bể tự hoại 38
III.8.2 Bể lắng hai vỏ 39
III.8.3 Bể methane 39
CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 40
IV.1 Vật liệu nghiên cứu 41
IV.2 Mô hình nghiên cứu 42
IV.3 Phương pháp thực nghiệm 45
IV.3.1 Sơ đồ thực nghiệm 45
IV.3.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu trong quá trình thực nghiệm 46
V.1 Về tổng thể tích khí sinh học tạo thành từ các bình ủ 49
V.2 Tốc độ sinh khí của các bình ủ 51
V.2.1 Lượng khí sinh ra theo thời gian 51
V.2.2 Thể tích khí tích lũy theo thời gian của các bình ủ 54
V.3 Sự thay đổi thành phần của mẫu phân hủy 57
V.3.1 Hiệu quả loại bỏ COD 57
V.3.2 Hiệu quả loại bỏ TS và VS 61
CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 67
VI.1 Kết luận 68
VI.2 Đề xuất 68
Trang 4CHƯƠNG I:
MỞ ĐẦU
Trang 5I.1 Lý do hình thành đề tài
Phân hủy kỵ khí sinh metan là hình thức biến đổi sinh khối thành năng lượng đã được biết đến từ lâu Về bản chất đó là quá trình lên men kị khí các dạng nguyên liệu rất khác nhau: phế thải nông nghiệp, phế thải các nhà máy thực phẩm, chất thải sinh hoạt của các thành phố, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải thành năng lượng là
CH4 và CO2 Quá trình phân hủy kỵ khí tạo CH4 được thực hiện bởi quần thể nhiều loài vi sinh vật khác nhau ở điều kiện kỵ khí
Theo tính toán nếu tận dụng hết các nguồn phế thải trên trái đất thì hàng năm có thể tạo được khoảng 200 tỉ m3 khối khí sinh học, tương đương khoảng 150 - 200 triệu tấn nhiên liệu và khoảng 20 triệu tấn bã là nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cao
Việt Nam là nước có mật độ dân số cao Dân số chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem như chìa khóa phát triển đất nước Do đó, hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở sản xuất đã và đang hình thành Từ đó các vấn đề ô nhiễm môi trường cũng phát sinh và ngày càng nóng bỏng
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành sản xuất mì ăn liền Việt Nam phát triển mạnh mẽ từ các sản phẩm trong nước và ngoài nước đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân Đa số các cơ sở chế biến mì ăn liền đều sử dụng phương pháp chiên trực tiếp bằng cách đưa các vắt mì sau khí đã nhúng súp vào chiên trong dầu Shortening ở nhiệt độ 1500C Một chảo dầu có thể được sử dụng để chiên nhiều lần, sau đó lượng dầu này được thải bỏ chung vào hệ thống nước thải sản xuất của nhà máy và được chuyển đến bể thu gom nước thải của nhà máy Lượng dầu mỡ này cùng với nước tạo thành một hỗn hợp nổi lên trên mặt nước và được định kì thu gom đem chôn lấp cùng với rác thải
Nhà máy sản xuất mì ăn liền Uni President cũng như các nhà máy sản xuất mì ăn liền khác, hỗn hợp bã thải có hàm lượng chất hữu cơ rất cao được định kỳ chôn lấp cùng rác thải Đó là một sự lãng phí vì vừa không tận dụng được nguồn năng lượng tiềm tàng trong hỗn hợp bã thải trong khi thời gian phân hủy lại khá dài, đồng thời sự tồn trữ lâu dài trong môi trường có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 6Khác với hướng đi trên, công nghệ xử lý lựa chọn của đề tài là phân hủy kỵ khí áp dụng riêng đối với hỗn hợp chất thải nổi nghiên cứu nhằm thu khí sinh học Công nghệ sinh học kỵ khí sử dụng để chuyển chất hữu cơ sang khí sinh học (biogas) đã có
từ nhiều năm nay ở các nước đã và đang phát triển Khí sinh học thu được có thể dùng trực tiếp để nấu bếp hoặc thắp sáng, hoặc sử dụng gián tiếp làm nhiên liệu đốt trong cho các động cơ Trong bối cảnh giá nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu ) ngày càng đắt đỏ như hiện nay thì nguồn năng lượng này càng trở nên có ý nghĩa
Do đó, đề tài "Nghiên cứu xử lý hỗn hợp chất thải nhiều dầu của nhà máy
chế biến mì ăn liền Uni President - Khu công nghiệp Sóng Thần 2 - Bình Dương bằng phương pháp sinh học kỳ khí" được hình thành với mong muốn vừa giảm
thiểu ô nhiễm môi trường, vừa đem lại lợi ích kinh tế - xã hội
I.2 Đối tượng nghiên cứu
Hỗn hợp chất thải nhiều dầu thực vật được lấy từ bể thu gom trong hệ thống xử
lý nước thải nhà máy sản xuất mì ăn liền Uni President
I.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định khả năng xử lý hỗn hợp chất thải nhiều dầu bằng phương pháp sinh học
kỵ khí trên mô hình phòng thí nghiệm
I.4 Nội dung nghiên cứu
Thu thập các tài liệu liên quan đến quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ để thu khí sinh học
Khảo sát, phân tích các chỉ tiêu của bã thải nhiều dầu lấy từ nhà máy sản xuất mì
ăn liền - Công ty Uni President (đối tượng nghiên cứu)
Tiến hành xây dựng mô hình thực nghiệm và chạy mô hình, phân tích các tính chất liên quan và xác định khả năng xử lý chất thải nói trên
I.5 Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với thực nghiệm
Lý thuyết:
Nghiên cứu thông tin về tình hình thải bỏ dầu thải của nhà máy Uni President
Trang 7 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của quá trình phân hủy kỵ khí và cơ chế chung của quá trình trên các khía cạnh hóa sinh học và vi sinh vật học
Thực nghiệm:
Xác định tính chất ô nhiễm cơ bản của hỗn hợp chất thải nhiều dầu
Xây dựng mô hình thực nghiệm trên quy mô phòng thí nghiệm
Lập sơ đồ thực nghiệm
Vận hành mô hình thực nghiệm ứng với các tỷ lệ cơ chất/men giống khác nhau
và rút ra các kết luận về khả năng và hiệu quả xử lý hỗn hợp chất thải nhiều dầu bằng phương pháp sinh học kỵ khí
I.6 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm tại trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Tp.Hồ Chí Minh
Áp dụng cho hỗn hợp thải của nhà máy chế biến mì ăn liền Uni President
Trang 8CHƯƠNG II:
TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN VÀ
CHẤT THẢI GIÀU DẦU MỠ PHÁT SINH TRONG NHÀ MÁY SẢN XUẤT MÌ ĂN
LIỀN
Trang 9II.1 Giới thiệu công nghệ sản xuất mì ăn liền
II.1.1 Công nghệ sản xuất
Tùy theo từng loại mì ăn liền sản xuất, mỗi nhà sản xuất có công thức riêng để pha trộn các thành phần phụ liệu khác nhau với nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm khác nhau Trên thế giới có khá nhiều loại mì ăn liền được sản xuất theo quy trình khác nhau ở một số khâu Có loại mì chỉ làm chín 80% sợi mì, có loại mì làm chín hoàn toàn Phương thức làm chín mì cũng có thể bằng cách luộc hoặc hấp mì Sau khi làm chín, một số loại được làm khô bằng nhiệt sấy trong khi một số loại khác được làm khô bằng cách nhúng mì qua dầu chiên Qua tìm hiểu quy trình chế biến tại một số nhà máy mì ăn liền, quy trình chế biến nói chung rất giống nhau và được giới thiệu trong hình 2.1
Trang 10Hình 2.1 Sơ đồ công nghệ tổng quát sản xuất mì ăn liền
PHA TRỘN NGUYÊN LIỆU
CÁN THÀNH TẤM
CÁN TINH - CẮT SỢI
HẤP
NHÚNG NƯỚC SÚP
CHIÊN DẦU
SẢN XUẤT GÓI
NÊM
THÀNH PHẨM
Trang 11II.1.2 Nguyên vật liệu sản xuất
II.1.2.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu chính là bột lúa mì được nhập từ các nước: Pháp, Úc, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ được phối liệu với các phụ liệu khác như: Dầu, shortening, bột ngọt, muối, đường, tôm cua, thịt bò, thịt heo, tiêu, hành, tỏi, ớt Các xí nghiệp mì ăn liền sản xuất nhiều chủng loại mặt hàng khác nhau, tùy theo từng loại mì ăn liền, các cơ
sở sản xuất có thể pha trộn các thành phần phụ liệu khác nhau: mì súp cua, mì thịt gà,
mì thịt bò, mì tôm, mì chay
II.1.2.2 Bao bì
Bao bì đóng gói có nhiều hình thức như: mì kiếng, mì giấy, mì tô, mì cốc Thùng chứa bằng carton, giấy bóng cứng, bao bì cho các loại gói nêm bằng bao PE
II.1.2.3 Nhiên liệu sản xuất
Qui trình sản xuất có các khâu sử dụng nhiên liệu như sau:
Đốt lò hơi bằng dầu FO để cung cấp nhiệt cho các công đoạn nhúng súp
Đốt dầu FO cung cấp nhiệt cho dầu shortening nóng sôi
Đốt than, củi, dầu DO cho công đoạn nấu súp, sa tế, dầu nêm
Nhiên liệu chủ yếu thường sử dụng cho nồi hơi là dầu đốt FO Còn đối với chảo chiên thường các cơ sở sản xuất cũng sử dụng nhiên liệu dầu đốt FO Ngoài các khâu vận hành khác của thiết bị sử dụng năng lượng điện
II.2 Một số vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất mì ăn liền
Trong quá trình sản xuất mì ăn liền có nhiều công đoạn khác nhau và ở một số công đoạn chủ yếu đều phát sinh ra các yếu tố gây tác động đến môi trường (công đoạn hấp, nhúng nước súp, sản xuất gói nêm ) Tuy nhiên trọng tâm là một số khâu trong dây chuyền sản xuất gây ô nhiễm bởi dầu chiên có liên quan mật thiết đến đối tượng nghiên cứu của đề tài Các yếu tố khác như khí thải, rác thải không chứa thành phần dầu phát sinh trong quá trình sản xuất mì ăn liền nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 12Hình 2.2 Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất mì ăn liền và một số công đoạn phát
sinh chất thải chính
Nước thải (BOD, SS, dầu mỡ)
Chiên
Sản xuất gói nêm
Thành phẩm
Khói thải (SO x , NO x , Bụi)
Nước thải (BOD, SS, dầu mỡ)
Sản xuất gói Kraft, Kiếng Khói thải (SO x , NO x , Bụi)
Đóng thùng
Rác thải, giấy vụn
Bao nilong
Trang 13Từ sơ đồ trên có thể thấy được các công đoạn như làm nước súp, nhúng nước súp, chế biến gói nêm và đặc biệt là từ công đoạn chiên đều phát sinh ra lượng dầu mỡ Lượng dầu mỡ này được đưa chung vào hệ thống xử lý nước thải của nhà máy, đây
là thành phần không tan trong nước nên hỗn hợp dầu mỡ này thường nổi lên phía trên bề mặt nước thải
II.3 Tổng quan về chất thải giàu dầu mỡ trong nhà máy sản xuất mì ăn liền
Uni President
II.3.1 Sơ lược về công ty sản xuất mì ăn liền Uni President
Từ những năm 1994 - 1997 tập đoàn Uni President đã đi đến nhiều khu vực, vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam để khảo sát các khu công nghiệp Cuối cùng công
ty TNHH Uni President đã chọn khu công nghiệp Sóng Thần 2 (tỉnh Bình Dương) là điểm đầu tư lý tưởng do nhiều nguyên nhân như sau: Sóng Thần 2 mang tính an toàn cho một khu công nghiệp, gần Tp.HCM và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và đặc biệt là nằm gần quốc lộ 1, quốc lộ 13, xa lộ Đại Hàn và đường xe lửa Nam - Bắc rất dễ dàng cho việc thông thương hàng hóa Với sự nỗ lực không ngừng, đến tháng 2/1999 công ty được cấp giấy phép đầu tư dưới hình thức 100% vốn nước ngoài, hoạt động 50 năm
Công ty Uni President có tổng vốn đầu tư trên 200 triệu USD, là công ty có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam Khu công nghiệp Sóng Thần 2 được chọn làm địa điểm thiết lập nhà máy chế biến thức ăn gia súc - thủy sản, nhà máy sản xuất
mì ăn liền và nhà máy sản xuất bột mì Toàn bộ dây chuyền sản xuất mì gói của công
ty đều nhập hoàn chỉnh theo công nghệ Châu Âu với tổng số vốn đầu tư 20 triệu USD, năng lực sản xuất trên 50 triệu thùng/tháng Thị trường xuất khẩu chính: Mỹ, Châu Âu, Úc, Đông Nam Á
II.3.2 Qui trình sản xuất
Qui trình sản xuất mì ăn liền tại công ty Uni President cũng tương tự các nhà máy khác với sơ đồ qui trình đã nêu trên (Hình 2.1.)
Trang 14II.3.3 Thành phần và tính chất nước thải tại công ty Uni President
Bảng 2.1 Kết quả phân tích nước thải tại công ty Uni President
- Mẫu 1: mẫu lấy tháng 02/2007
- Mẫu 2: mẫu lấy tháng 04/2007
- Mẫu 3: mẫu lấy tháng 06/2007
Nói chung nước thải từ công nghiệp chế biến mì ăn liền có độ ô nhiễm khá cao, vượt xa tiêu chuẩn thải cho phép Tính chất ô nhiễm của nước thải sản xuất ngành công nghiệp chế biến mì ăn liền có 2 đặc trưng cơ bản:
- Ô nhiễm hữu cơ nồng độ cao (BOD, COD)
- Ô nhiễm dầu mỡ nồng độ cao (chủ yếu là các loại dầu thực vật)
Hình 2.3 là dây chuyền công nghệ hệ thống xử lý nước thải mà công ty Uni President đang sử dụng để xử lý nước thải sản xuất
Trang 15Hình 2.3 Qui trình công nghệ hệ thống xử lý nước thải công ty Uni President
II.3.4 Tình hình thải bỏ bã thải tại công ty Uni President
Tại công ty Uni President, bã thải (đối tượng nghiên cứu) được vớt bỏ định kỳ từ
bể tiếp nhận sau mỗi 2 tuần và sau đó được chứa trong thùng phuy với khối lượng mỗi phuy khoảng 170kg để được chở đến bãi chôn lấp rác bởi dịch vụ thu gom rác thải Đây là hỗn hợp nổi tự nhiên trong nước thải theo tỉ trọng Qua khảo sát tại công
ty, nguồn gốc của bã thải này chủ yếu là dầu thực vật có tỉ lệ nhỏ mỡ bị thất thoát trong công đoạn chiên mì Thêm vào đó, định kì 2 ca thì dầu cặn bị đen do oxy hóa được xả bỏ hết khỏi chảo chiên trước khi đổ dầu mới vào chiên và khối dầu cặn này thông thường vẫn bị các công nhân xả trực tiếp xuống hố thu Định kì toàn bộ hệ thống chiên mì được vệ sinh bằng hơi nước nóng và xà bông một lần/một tuần Thực
Máy nén khí
Bể tiếp
nhận
Bể điều hòa
Bể đông/keo
tụ
Bình áp lực
Bể tuyển nổi Khí nén
Bể Aeroten
Bể lắng ly tâm
Bể nước sau xử lý
Bùn tổng hợp Phèn nhôm
Bể chưa bùn
Thiết bị
ép bùn
Bùn cặn nổi lắng
Xả ra nguồn
Bùn ép chở đến bãi rác
Công suất hệ thống xử lý: 200 m 3 /ngày đêm
Trang 16tế tất cả lượng dầu cũ đổ bỏ cũng như nước thải ra từ công tác vệ sinh chảo dầu đều được thải vào hệ thống xử lý nước thải của nhà máy
Ngoài ra, tại bộ phận nấu dầu để làm gói nêm trong các gói mì nhỏ (độc lập với bộ phận chiên mì), dầu ở đây có lẫn các phụ gia như hành, sa tế Công tác vệ sinh chảo dầu và các nồi chứa, máy triết trung gian được thực hiện 2 lần/ngày Tất cả các phần này đều có tiếp xúc với dầu và lượng nước vệ sinh thải bỏ khá lớn Tất cả dầu
cũ cũng như nước thải vệ sinh đều thải vào hệ thống xử lý
Trong hệ thống xử lý nước thải lẫn dầu mỡ, phần dầu nổi lên trên mặt luôn được tách riêng vì những nguyên nhân sau:
Gây cản trở đến quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải tại bể hiếu khí do sự bao phủ của dầu lên các bông bùn hoạt tính là nơi trú ngụ của hệ vi sinh vật nước, làm giảm khả năng trao đổi của vi sinh vật với oxy
Dầu bao quanh các bông bùn hoạt tính khiến tỉ trọng bông bùn này giảm và khả năng lắng của chúng trong bể lắng kém hơn
Sự dính bám và độ nhớt cao của dầu cũng có thể là nguyên nhân gây hỏng hóc thiết bị trong hệ thống (kẹt bơm, máy sục khí )
Sự tích tụ và lắng đọng của dầu trong các đường ống làm thu hẹp tiết diện đường ống, trở lực đường ống tăng lên
Một số acid béo trong thành phần dầu còn ức chế quá trình phân hủy sinh học
II.3.5 Các tác động môi trường gây ra do hỗn hợp dầu thải của nhà máy
Thành phần chủ yếu của hỗn hợp dầu thải trong một số nhà máy chế biến mì ăn liền, như tên gọi của nó, chủ yếu là dầu thực vật, cụ thể hơn là dầu cọ Dầu cọ được
ép từ cùi thịt của quả cây cọ (thuộc loài E.Guineensis) thuộc họ Cau (Arecaceae) Trong sản xuất mì ăn liền bằng công nghệ làm khô mì qua dầu thực vật, dầu cọ là loại dầu được ưa chuộng hơn cả vì một số ưu điểm của nó so với các loại dầu khác như: tính kháng oxy hóa tốt (ở nhiệt độ phòng) vì thành phần acid béo không no nhiều nối đôi thấp do sợi mì đã qua dầu cọ chiên được bảo quản lâu hơn; giá thành tương đối thấp; thành phần hóa học cân bằng giữa các acid béo no, không no một nối đôi và không no nhiều nối đôi tương tự như thành phần trong các mô mỡ cấu tạo cơ thể một người khỏe mạnh
Trang 17Trong hỗn hợp bã thải chứa dầu là đối tượng nghiên cứu, hàm lượng dầu biến động trong một dải rộng, phụ thuộc vào thời điểm vệ sinh chảo dầu chiên Ở đây chỉ xin nêu ra một số tác động môi trường gây ra bởi thành phần dầu có trong hỗn hợp
Dầu có thể tác động đến mô cá, tích lũy trên mang cá và làm trở ngại quá trình
hô hấp của cá Lớp dầu nổi phủ lên trên mặt nước sông suối rõ ràng làm giảm sút các quá trình hòa tan oxy hóa tự nhiên vào nước và quang hợp nước Nồng độ oxy trong nước giảm là nguyên nhân khiến các thủy sinh thiếu oxy và nghẹt thở Các vi sinh vật và tảo khi bị bao phủ bởi dầu chìm xuống đáy hồ cùng với chất lơ lửng chính lại tiếp tục đe dọa các sinh vật đáy Dầu có thể qua lông chim mà tiếp xúc với trứng ấp, lấp kín các lỗ trên bề mặt trứng, làm giảm khả năng trao đổi không khí của trứng là nguyên nhân làm hư trứng
Dầu làm tăng giá trị BOD và do đó tiêu thụ nhanh oxy hòa tan trong nước khiến
cá chết nhanh chóng
Tiêu thụ thức ăn có lẫn nhiều dầu qua thời gian dài có thể thúc đẩy phát triển nhưng gây nên béo phì, tuổi thọ ngắn và làm giảm khả năng sinh sản ở một số loài động vật Khả năng mắc bệnh ung thư của các động vật này tăng cao Động vật có vỏ cứng như trai hay sò lại ức chế phát triển khi bị phơi nhiễm với dầu ngay cả ở nồng độ thấp
Ngoài ra, dầu có thể bao phủ lên thức ăn của cá và động vật khác Khi động vật tiêu thụ một lượng lớn dầu có lẫn trong thức ăn, nước đã bị nhiễm hoặc khi chim rỉa lông có lẫn nhiều dầu có thể bị chết Khi cơ thể bị bao phủ bởi lớp dầu, sinh vật đòi hỏi tiêu thụ nhiều năng lượng hơn để duy trì thân nhiệt chúng, nhất là
Trang 18trong điều kiện khí hậu lạnh Khi đó, nếu không thể kiếm đủ thức ăn đáp ứng nhu cầu, sinh vật chết nhanh chóng
Dầu có thể gây mùi ôi khó chịu và khi cá ăn phải sẽ gây ra chứng nhuận tràng cho cá, làm tổn thương ruột cá
Có thể tồn lưu trong môi trường qua thời gian dài, khi điều kiện phân hủy không mấy thuận lợi (pH, nhiệt độ, oxy không khí, tỷ lệ dinh dưỡng, nồng độ chất nền ) Khi bị oxy hóa hay dưới tác động của nhiệt độ cao, có thể tạo ra một số chất gây độc ngay cả ở nồng độ thấp (monomer mạch vòng, aldehyde, ketone ) Các chất này gây độc cho tim, hồng cầu, ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể, tác động lên quá trình trao đổi chất, làm giảm sự sinh sản, là nguyên nhân gây ung thư và xơ vữa động mạch Một số thành phần bị lẫn trong dầu có thể gây độc cấp tính cho một số loài, tổn thương đến gang, làm thay đổi cấu trúc hồng cầu, rối loạn nhịp tim, chết phôi thai
Nồng độ cao của dầu gây ức chế quá trình lên men và tiêu hóa của động vật nhai lại
Dầu bị oxy hóa và thủy phân trong tự nhiên gây nên mùi khét khó chịu Làm mất
mỹ quan ở những nơi xuất hiện
II.4 Các phương pháp xử lý bã thải nhiều dầu của nhà máy sản xuất mì ăn
liền đang được áp dụng hiện nay
II.4.1 Sử dụng làm nguồn bổ sung vào thực phẩm chăn nuôi
Phương pháp này tận dụng dầu trong bã thải làm nguồn cung cấp chất béo trong các sản phẩm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, trước khi đem trộn cần gia nhiệt và lọc
để loại bỏ bớt tạp chất và diệt bớt vi khuẩn trong quá trình lưu trữ và chuyên chở dầu thải để không ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn Phương pháp này do vậy đòi hỏi nhiều năng lượng và chỉ thích hợp khi dầu thải không lẫn nước
II.4.2 Chôn lấp cùng rác thải
Phương thức này là phổ biến nhất tại nhiều nước và cũng như Việt Nam, tuy nhiên
đó là một sự lãng phí khi không tận dụng được nguồn hóa năng tiềm tàng trong khối vật chất trong khi thời gian phân hủy lại rất lâu dài, sự tồn trữ lâu trong môi trường
có thể gây ô nhiễm môi trường nặng nề
Trang 19II.4.3 Phân hủy hiếu khí có gia nhiệt
Chất thải nhiều dầu mỡ được đem đi phân hủy trong điều kiện có oxy ở nhiệt độ cao (600C) tạo thành sản phẩm cuối là CO2, H2O và phân có thể sử dụng trong nông nghiệp Phương pháp này có ưu điểm là thời gian phân hủy ngắn nhưng lại đòi hỏi tiêu hao nhiều năng lượng để thổi khí liên tục và gia nhiệt đến 600C Do đó, phương pháp này chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu và thử nghiệm
II.4.4 Phân hủy kỳ khí
Các công nghệ sử dụng để chuyển chất hữu cơ sang khí sinh học (biogas) đã tồn tại nhiều năm ở các nước đã và đang phát triển Khí sinh học thu được có thể trực tiếp để nấu bếp hoặc thắp sáng, hoặc sử dụng gián tiếp làm nhiên liệu đốt trong các động cơ Như vậy có thể tận dụng được nguồn chất hữu cơ và biến đổi thành nhiệt năng Chất thải sau khi phân hủy kỵ khí cũng trở nên ổn định về mặt sinh học và có thể sử dụng như một nguồn phân bón cho cây trồng
Trang 21III.1 Lịch sử phát triển quá trình và xu hướng hiện nay
Quá trình phân hủy kỵ khí (anaerobic digestion) là một trong những kỹ thuật ứng dụng cổ xưa nhất Khí sinh học đã được ứng dụng để làm nóng nước tắm ở Assyria
từ thế kỷ thứ 10 Trước Công Nguyên Cho đến thế kỷ 17, quá trình mới bắt đầu nghiên cứu một cách khoa học Năm 1776, Count Alessandro Volta đã khẳng định có mối liên hệ giữa lượng hữu cơ phân hủy và lượng khí cháy được tạo thành Sau đó, năm 1808, Sir Humphry Davy đã chứng minh được sự tạo thành khí methane qua quá trình phân hủy kỵ khí phân gia súc
Quá trình được ứng dụng mang tính công nghiệp đầu tiên là một nhà máy xây dựng ở Bombay, Ấn Độ vào năm 1859 để sau đó nó bắt đầu thâm nhập vào Anh Những tiến bộ của ngành vi sinh vật học khi đó có tác dụng hỗ trợ phát triển kỹ thuật trong đó nghiên cứu của Buswell những năm 1930 đã đặt nền móng cho việc xác định các loài vi khuẩn kỵ khí và các điều kiện thúc đẩy sự sinh khí
Khi những hiểu biết về quá trình đầy đủ hơn, các kỹ thuật áp dụng trong vận hành
và điều khiển ngày càng hoàn thiện với sự ra đời của những bể ủ kín cùng các thiết bị hâm nóng và khuấy đảo Tuy nhiên, vì lúc đó giá thanh đá rẻ và trữ lượng dầu mỏ còn rất lớn nên khí sinh học không được quan tâm, một phần do sự phát triển mạnh
mẽ của các hệ thống phân hủy kỵ khí Quá trình công nghiệp hóa cùng với giá điện
rẻ đã dẫn tới kết quả là các kỹ thuật phân hủy hiếu khí chế biến compost và chôn lấp trở thành lựa chọn để xử lý nước thải cho tới ngày nay Trong khi đó các hệ thống lên men kỵ khí cỡ nhỏ mọc lên rất nhiều tại các nước chậm phát triển hơn như Trung Quốc, Ấn Độ chủ yếu tạo nguồn năng lượng phụ
Rồi hai cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 và năm 1979 đã phát động mối quan tâm mới tới kỹ thuật phân hủy kỵ khí đơn giản thu methane làm năng lượng Tuy nhiên những hiểu biết về quá trình còn hạn chế đã dẫn tới sự thất bại của 50% hầm ủ ở Ấn Độ, Trung Quốc và 80% hầm ủ ở Mỹ và Châu Âu Tuy nhiên, đó chính
là động lực để thúc đẩy sự nghiên cứu sâu hơn về quá trình Cùng với thời gian, kỹ thuật phân hủy kỵ khí không chỉ được áp dụng để xử lý nước thải đô thị hay công nghiệp (chế biến hóa chất, sản xuất thực phẩm các loại ) Gần đây kỹ thuật phân hủy kỵ khí càng được lựa chọn nhiều hơn dưới áp lực của giá dầu mỏ cao và những
Trang 22quy định ngày càng chặt chẽ về môi trường để kiểm soát khắt khe về mùi và khối lượng của phần chất hữu cơ chôn lấp Đức và Đan Mạch đã tăng sản lượng khí sinh học sản xuất gấp đôi vào năm 2000 và gấp ba vào năm 2005
Ở Việt Nam, sản xuất khí sinh học đã được giới thiệu và áp dụng từ hơn 20 năm qua để thắp sáng do thiếu điện ở một số khu vực nông thôn Một loạt các hầm ủ sinh học vật liệu xi măng với thiết kế khác nhau đã được đưa vào thử nghiệm ở các vùng nông thôn dưới sự tài trợ của chính phủ Việt Nam và quốc tế Từ các hầm ủ kiểu Ấn
Độ đến kiểu Trung Quốc Tuy nhiên, vì hầm ủ xi măng có giá cao, khó lắp đặt và sữa chữa nên thực tế còn ít được áp dụng Sự ra đời của túi ủ hình ống bằng vật liệu PE sau đó đã giảm được đáng kể chi phí đầu tư và chi phí vận hành nên nhận được sự ủng hộ của nhiều nông dân nghèo Trong vòng 10 năm trở lại đây hơn 20.000 túi ủ như thế đã ra đời ở Việt Nam và đa phần do nông dân tự trang trải chi phí Túi ủ với giá thành rẻ cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm trong vận hành và bảo trì Tuy nhiên, những nghiên cứu về quá trình phân hủy đối với rác thải nông thôn Việt Nam (với một số đặc trưng riêng) để làm căn cứ khoa học và ứng dụng còn rất hạn chế
III.2 Cơ sở lý thuyết
Quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí do quần thể vi sinh vật hoạt động không cần sự có mặt của oxy không khí, sản phẩm cuối cùng là một hỗn hợp khí có CH4, CO2, N2, H2 trong đó thông thường có tới 65 - 65% là CH4 Vì vậy quá trình này còn có thể gọi là quá trình lên men methane Các vi sinh vật kỵ khí sử dụng một phần chất hữu cơ trong nước thải để xây dựng tế bào, tăng sinh khối
Sơ đồ quá trình phân hủy kỵ khí:
( ) à
Trong 10 năm trở lại đây, do các phương pháp sinh học phát triển, quá trình xử lý
kỵ khí trong điều kiện nhân tạo được áp dụng để xử lý các loại cặn chất thải công nghiệp, sinh hoạt cũng như các loại nước thải đậm đặc có hàm lượng chất bẩn hữu cơ cao: BOD đến 10 - 30 g/l
Hiện nay, đã có hàng trăm nhà máy xử lý sinh học kỵ khí nước thải ở các nước như: Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức, Việt Nam, đi vào hoạt động, do phương pháp này có các ưu điểm sau:
Trang 23Thiết kế đơn giản
Có thể tồn trữ trong một thời gian dài và là một nguồn phân bón có giá trị
Tải trọng phân hủy chất bẩn hữu cơ cao
Chịu đựng được sự thay đổi đột ngột về năng lượng
Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm thì công nghệ này cũng gặp phải một số khó khăn như:
Rất nhạy cảm với các chất độc hại, với sự thay đổi bất thường về tải trọng công trình
Những hiểu biết về các vi sinh vật kỵ khí còn hạn chế
Thiếu kinh nghiệm về vận hành công trình
Xử lý nước thải chưa triệt để
III.3 Mô tả quá trình sinh học kỳ khí
Sự tạo thành khí sinh vật là quá trình phân hủy phức tạp xảy ra rất nhiều phản ứng, cuối cùng tạo ra khí CH4 và CO2 và một số chất khác Quá trình này được thực hiện theo nguyên tắc phân hủy kỵ khí, dưới tác dụng của vi sinh vật kỵ khí đã phân hủy từ những chất hữu cơ dạng phức tạp chuyển thành dạng đơn giản, một lượng đáng kể chuyển thành khí và dạng chất hòa tan Một số yếu tố bất lợi đối với bất kỳ giai đoạn nào đều có thể gây ra sự cố kiềm hãm cả quá trình Các giai đoạn đó có thể được mô tả bằng sơ đồ trong hình 4.1
Trang 24Hình 3.1 Các giai đoạn của quá trình phân hủy kỵ khí chất hữu cơ
Quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí
Phản ứng tổng quát của quá trình có thể được viết:
Hợp chất hữu cơ + H2O Sinh khí + CH4 + CO2 + NH3
III.4 Hóa sinh học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỳ khí III.4.1 Giai đoạn thủy phân
Trong giai đoạn này, dưới tác dụng của các men hydrolaza do vi sinh vật tiết ra các chất hữu cơ phức tạp như chất béo, hydrat cacbon (chủ yếu là cenluloza và tinh bột), protein được thủy phân thành những chất hữu cơ đơn giản dễ tan trong nước như đường đơn, peptit, glycerin, acid béo, acid amin, (để có thể thâm nhập được vào tế bào vi khuẩn) với sự tham gia của các enzym ngoại bào của các vi khuẩn thủy phân Dưới tác dụng của các loại men khác nhau do nhiều loài vi sinh vật tiết ra, các chất hữu cơ phức tạp như protein bị thủy phân thành acid amin nhờ proteaza, hydratcacbon chuyển thành đường đơn nhờ cenllulaza, amylaza và lipit được chuyển hóa thành các acid béo mạch dài tương ứng và glycerin nhờ vào enzym lipaza
Trang 25III.4.2 Giai đoạn acid hóa:
Những hợp chất tạo ra trong giai đoạn thủy phân vẫn quá lớn để được vi sinh vật hấp thụ nên cần được phân giải tiếp Giai đoạn này được bắt đầu bằng sự vận chuyển chất nền qua màng ngoài tế bào xuyên qua thành đến màng trong rồi đến tế bào chất với sự tham gia của các protein vận chuyển Ở đó các acid amin, đường đơn và acid béo mạch dài đều biến đổi về các acid hữu cơ mạch ngắn hơn (acid propionic, acid valeric, acid acetic), rượu (ethanol), keton, một ít khí hydro và khí CO2 Giai đoạn này có tên gọi là giai đoạn lên men, các acid được sinh thành nhiều nên độ pH của môi trường có thể giảm mạnh (4 - 5)
Cơ chế acid hóa acid béo và glycerin là sản phẩm giai đoạn thủy phân dầu mỡ tương đối phức tạp và có thể tóm tắt như sau:
Glycerin bị phân giải thành một số sản phẩm trung gian như 1,3-propandiol để tạo thành các sản phẩm cuối cùng là propionate và acetate Sản phẩm trung gian vẫn song song tồn tại cùng sản phẩm cuối
Acid béo mạch yếu phân giải khá phức tạp như sau:
Acid béo + CoA Acyl-CoA Phản ứng hoạt hóa này được thực hiện nhờ enzyme Acyl-CoA synthetaza nằm ở trong màng tế bào vi khuẩn
Đối với chất béo, sản phẩm tạo thành chủ yếu là acid acetic nên đây cũng chính là giai đoạn acetate hóa của chất thải dầu mỡ
Khi phân giải cơ chất giàu mỡ thì điều khó khăn nhất là sự ức chế của các acid béo dài tạo thành từ giai đoạn thủy phân có ảnh hưởng đến toàn bộ các giai đoạn sau
Do đó quá trình phân giải kỵ khí chất béo có đặc điểm khác với quá trình phân giải chất khác (đường, tinh bột ) ở tốc độ giai đoạn acid hóa chậm hơn
Acyl-CoA
Oxy hóa
Acyl-CoA mạch ngắn hơn + Acetyl-CoA
Acetyl-CoA + H2+ năng lượng tích lũy ATP
Acid acetic + Co-A (Acyl ký hiệu cho nhóm RCO-)
Oxy hóa lặp lại liên tục
Trang 26III.4.3 Giai đoạn acetate hóa
Các vi khuẩn tạo methane không thể trực tiếp sử dụng các sản phẩm của quá trình acid hóa nêu trên, ngoại trừ acid acetic, do vậy các phân tử này cần đƣợc phân giải thành các phân tử đơn giản hơn nữa Sản phẩm phân giải là acid acetic, khí H2, CO2đƣợc tạo thành bởi vi khuẩn acetate đồng hình
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn acetate hóa là sự tạo thành nhiều khí hydro, mà khí này ngay lập tức đƣợc vi sinh vật methane ở giai đoạn sau sử dụng nhƣ chất nền cùng với CO2 Mức độ phân giải các chất trong giai đoạn này phụ thuộc rất nhiều vào
áp suất riêng phần của khí hydro trong bể kỵ khí Nếu vì lý do nào đó mà sự tiêu thụ hydro bị ức chế hay chậm lại, hydro tích lũy làm áp suất riêng phần của nó tăng lên thì sự tạo thành nó bởi vi khuẩn acetate hóa sẽ giảm mạnh Khi đó acid béo bay hơi tích tụ lại kéo theo sự không phân giải các acid béo dài tạo thành dây chuyền, đến
Trang 27mức nào đó sẽ ức chế các vi khuẩn acid hóa, acetate hóa và methane hóa Ngoài ra acid tích tụ làm pH của môi trường giảm rất bất lợi cho sự tổng hợp methane từ hydro và acetate
Quan hệ cộng sinh giữa vi khuẩn sinh hydro (vi khuẩn acetate hóa) với vi sinh vật tiêu thụ hydro (chính là vi sinh vật tạo methane) là vô cùng quan trọng nhằm duy trì
áp suất hydro ở mức thấp từ 10-6 atm đến 10-4 atm để đảm bảo quá trình tạo methane tiến triển bình thường
Trong khi acetate (sản phẩm giai đoạn acetate hóa) là cơ chất mà vi khuẩn sinh methane sử dụng trực tiếp thì chính sự tích tụ của nó sẽ gây ức chế sự phân giải của các acid béo bay hơi khác, ví dụ 15 mmol acid acetic ức chế phân giải acid propionic
và 100 mmol acid aceic ức chế phân giải acid butyric, do đó làm chậm tốc độ acid hóa Bản thân acid acetic nồng độ quá cao cũng gây pH thấp và ảnh hưởng tốc độ phân giải acid béo bay hơi Nói chung, khoảng pH và nhiệt độ tối ưu của giai đoạn này là 6,8 - 7,8 và nhiệt độ từ 35 - 420C
Ngoài ra, một con đường acetate hóa khác có thể xảy ra bởi sự tham gia của nhóm
vi khuẩn homoacetogen từ hydro và cacbonic (tự dưỡng) hay từ các chất hữu cơ (dị dưỡng) Tuy nhiên trong môi trường có nồng độ hydro thấp thì ái lực với hydro của
vi sinh vật sinh methane (từ hydro) mạnh hơn của homoacetogen, nên lượng acid acetic tổng hợp từ con đường này là không đáng kể
III.4.4 Giai đoạn tạo methane
Là giai đoạn cuối cùng trong cả quá trình phân hủy kỵ khí, trong giai đoạn này sản phẩm của hai giai đoạn trên như acetate, hydrogen và cacbonate, formate hay methanol được biến đổi tạo ra khí CO2, CH4 và một số chất khác
Khí methane được tạo ra chủ yếu bằng tổ hợp các con đường sau Mỗi con đường ứng với nhóm cơ chất sử dụng và nhóm vi sinh vật sinh methane khác nhau (trong tổng thể các cơ thể sinh methane)
Trang 284CO2 + H2O CH4 + 3CO2Loại vi sinh vật Acetrophic Methanogen chuyển hóa acetate thành methane và cacbonic Khoảng 70% lượng methane sinh ra là qua con đường này Tuy nhiên, năng lượng giải phóng từ con đường này tương đối nhỏ Cacbonic giải phóng ra lịa được khử thành methane bằng con đường 1 Chỉ có một số loài vi sinh vật sinh methane sử dụng được cơ chất là cacbon monoxit
Con đường 3: CH3OH + H2 CH4 + H2O
4(CH3)3-N + 6H2O 9CH4 + 3CO2 + 4NH3Ngoài ra các vi sinh vật sinh methane cũng có thể thực hiện quá trình lên men sinh methane bằng các con đường sau nhưng lượng methane sinh ra không đáng kể
Trang 29tính đại diện khi một loạt các yếu tố ảnh hưởng khác được tính đến làm tiền đề cho những mô hình nghiên cứu đầy đủ hơn, cặn kẻ hơn, phức tạp hơn rất nhiều cùng với
sự trợ giúp đắc lực của máy tính điện tử bao gồm nồng độ chất nền, sự ức chế bởi các sản phẩm trung gian và cân bằng ion của chúng, sự tương tác giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau của mỗi giai đoạn, cấu trúc bể phân hủy (kích thước hình học, kết cấu bể, hình thức tập hợp vi khuẩn), các thông số thủy lực (lưu lượng chất thải, ảnh hưởng của sự truyền khối cơ chất đến hoạt động của vi sinh vật và sự chuyển khí sinh học từ trong hỗn hợp phân hủy ra ngoài ) Ngoài ra, cơ chất phân hủy trong thực tế lại là một hỗn hợp của nhiều chất khác nhau (bao gồm cả chất béo, hydratcacbon và protein) càng đòi hỏi các nghiên cứu chi tiết hơn và mô phỏng chính xác hơn quá trình xảy ra để từ đó dự đoán được xu hướng và diễn biến của quá trình Tóm lại, phân tích khá chi tiết các khía cạnh quan trọng và mối liên quan chặt chẽ lẫn nhau của từng giai đoạn ở trên cho thấy để cả quá trình phân giải kỵ khí có thể diễn biến thuận lợi như mong muốn, cần duy trì một cân bằng giữa tốc độ sinh acid (bởi giai đoạn thủy phân, acid hóa và acetate hóa) với tốc độ tiêu thụ acid (bởi giai đoạn tạo methane) Sự sản xuất quá mức các acid dẫn đến sự tích tụ các sản phẩm lên men đến ngưỡng gây ức chế và tiến tới chấm dứt quá trình Trong thực tế bể phân hủy kỵ khí cả giai đoạn xảy ra cùng một lúc và đồng bộ với nhau để đạt đến sự cân bằng và hiệu quả mong muốn
III.5 Vi sinh vật học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỳ
khí
Công tác nghiên cứu vi sinh vật của quá trình phân hủy kỵ khí nhìn chung gặp nhiều khó khăn do tốc độ sinh trưởng vi sinh vật chậm và nhiều loài thậm chí không sinh trưởng trong môi trường thuần khiết mà chỉ tồn tại trong điều kiện cộng sinh với loài khác hoặc cho các sản phẩm khác với môi trường tự nhiên Mỗi giai đoạn trong quá trình liên quan có đến một số vi sinh vật khác nhau, mỗi nhóm gồm nhiều loài khác nhau Ngoài ra, bản chất của chất nền cùng với điều kiện tiến hành phân hủy kỵ khí như nhiệt độ, pH, tốc độ nạp chất nền, thời gian lưu có ảnh hưởng rất lớn đến thành phần và số lượng loài của khu hệ vi sinh vật Các kỹ thuật truyền thống và gần đây là các phương pháp sinh học phân tử hiện đại đã được ứng dụng để nghiên cứu
Trang 30ngày một sâu sắc hơn về khu hệ vi sinh vật gắn liền với quá trình phân hủy kỵ khí Một số loài nấm protozoa cũng đã đóng góp vào quá trình, nhưng vai trò phân hủy chất hữu cơ kỵ khí chủ yếu phụ thuộc vào các vi sinh vật nhân sơ (Procaryotes) bao gồm vi khuẩn (Bacteria) và vi sinh vật cổ (Archaea)
III.5.1 Vi sinh vật thủy phân
Nhóm này phân hủy các phân hủy hữu cơ phức tạp (protein, cenllulose, lignin, lipids) thành những chất đơn phân tử hòa tan như acid amin, acid béo và glycerol Những đơn phân tử này sẽ được nhóm vi khuẩn lên men acid trực tiếp sử dụng ngay Quá trình thủy phân được xúc tác bởi các enzym ngoại bào như cenllulosase, protease, lipase Các vi sinh vật này rất phổ biến và phát triển nhiều trong tự nhiên
trong đó có cả nhóm vi khuẩn E.Coli và B.Subtilus
Vi khuẩn chịu trách nhiệm thủy phân dầu mỡ quan trọng nhất trong điều kiện kỵ
khí là Anaerovibrio lipolytica, sau đó là một loài thuộc giống Clostridium như
Clostridium botilinum, Clostridium noviy Chúng đều có khả năng tiết ra enzym
lipaza ở pha logarit Clostridium là giống vi khuẩn kỵ khí bắt buộc, gram dương, sinh
bào tử, hình que
Đối với cơ chất là protein thì các vi khuẩn thủy phân protein phải tiết ra enzym
protease Các vi khuẩn chiếm ưu thế loại này bao gồm Clostridium peptococcus,
Bifido bacterium, Bacillus, là các vi khuẩn gram âm không sinh bào tử, là các vi
khuẩn kỵ khí đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy protein Trong bùn cặn các
vi khuẩn này xuất hiện với tỷ lệ khá cao 6,5 x 107 tế bào/ml
III.5.2 Vi sinh vật acid hóa
Sản phẩm thủy phân của dầu mỡ là glycerin và acid béo tự do mạch dài được thực hiện nhờ các vi khuẩn thủy phân Trong khi glycerin bị phân giải tiếp cũng chính là nhờ các vi khuẩn thủy phân đó (khi này chúng đóng vai trò là vi khuẩn lên men) thì
sự acid hóa các acid béo tự do mạch dài lại được diễn ra bởi vi khuẩn acetate hóa để tạo thành acid acetic Vi khuẩn này sẽ được đề cập đến trong mục kế tiếp
III.5.3 Vi sinh vật acetate hóa
Các vi khuẩn acetate hóa thuộc nhóm vi khuẩn kỵ khí sinh acid
Trang 31Quá trình acetate hóa là phản ứng trong đó cơ chất oxy hóa xảy ra cùng với quá trình khử proton và sản phẩm cuối cùng là hydro và acetate Quá trình này được thực hiện bởi hai nhóm vi sinh vật, được chia thành:
Các vi khuẩn khử proton kỵ khí bắt buộc: chuyển hóa cơ chất thành acetate và methane
Các vi khuẩn lên men (vi khuẩn khử proton kỵ khí tùy tiện): hoạt động như các chất khử proton thông qua cơ chế tách hydro ra khỏi cơ chất và chuyển đến chất nhận điện tử cuối cùng là chất hữu cơ Sản phẩm của phản ứng ngoài H2 còn có thêm sản phẩm oxy hóa khác
Quá trình oxy hóa cơ chất của vi sinh vật lên men tạo ra một năng lượng đáng kể, năng lượng này đạt tối đa nếu H2 được hình thành Nhưng nồng độ H2 tăng lên sẽ ức chế sự hình thành H2 tiếp tục, khi đó các vi sinh vật tạo ra các sản phẩm khử hữu cơ khác có năng lượng như quá trình lên men
Tốc độ sinh sản của vi khuẩn acetate tương đối chậm với thời gian thế hệ thường
từ 3 - 7 ngày, ngay cả khi có sự hiện diện của vi sinh vật sinh methane pH tối ưu cho các vi khuẩn acetate nằm trong khoảng 6 - 7 Cũng như vi sinh vật sinh methane, chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ môi trường Các giống vi sinh vật
acetate hóa quan trọng gồm Syntrophus, Syntrophobacter Syntrophomonas Đối với chất béo, hai loài Syntrophomonas wolfei subsp Saponavida và Syntrophomonas
sapovorans là những vi khuẩn quan trọng tham gia vào sự oxy hóa các acid béo dài
ở nhiệt độ ưa ấm (30 - 400C) Chúng là những vi khuẩn không sinh bào tử, gram âm, thuộc loại hóa dưỡng hữu cơ, hình que hơi xoắn, đầu hơi tròn, có từ 2 đến 8 tiên mao phân bố xung quanh dọc theo bờ lõm của tế bào
III.5.4 Vi sinh vật sinh methane
Trong hệ thống phân loại vi sinh vật hiện đại, vi sinh vật sinh methane không thuộc giới vi khuẩn (Bacteria) như các vi sinh vật của ba giai đoạn trên mà thuộc giới
vi sinh vật cổ hay vi khuẩn cổ (Archaea) do có cấu tạo thành và màng tế bào khác biệt Chúng đã xuất hiện từ rất lâu, được phân thành nhánh riêng trong cây phân loại nên được nghiên cứu khá kỹ lưỡng Chuỗi phân giải kỵ khí chất hữu cơ được kết thúc nhờ các vi sinh vật này Các giống khác nhau có thành tế bào thuộc cả hai nhóm
Trang 32gram âm (Methanococcus) và gram dương (Methanobacterium) Đặc điểm chung của tất cả các cơ thể này là chịu được nhiệt độ khá cao (60 - 800C, tùy loài), sinh trưởng
và phát triển trong môi trường có thể khử thấp (< -300 mV), rất mẫn cảm với sự biến động của các yếu tố môi trường như oxy, nhiệt độ, pH, nhưng ít nhạy cảm với các chất khác sinh như penicilin Coenzym của vi sinh vật sinh methane rất đặc biệt: coenzym M, coenzym F430 và F420 (khiến chúng có khả năng tự phát quang dưới vùng sống từ ngoại do đó có thể dễ dàng phát hiện chúng khá dài, khoảng 1 ngày ở
550C đến 3 ngày ở 350C và tời 50 ngày ở 100C
Các chất có thể dùng để cung cấp nguồn cacbon và năng lượng cho vi sinh vật sinh methane khá đơn giản Đó cũng chính là sản phẩm tạo ra từ giai đoạn acetate hóa Tuy 70% lượng khí methane được sinh ra từ sự oxy hóa acetate, chỉ có một số loài vi sinh vật cổ có khả năng phân giả acetate, trong đó các giống quan trọng là
Methanoseata, Methanosacina, Methanococcus Trong khi đó có rất nhiều loài sinh
methane có khả năng tạo methane từ hydro và cacbonic, trừ một số nhóm chỉ phân
giải acetic và một nhóm chỉ phân giải hợp chất chứa metyl Hai loài Methanosarcina
barkeri và Methanococccus mazei là thường gặp nhất vì chúng có khả năng sử dụng
bất cứ cơ chất nào
Ngày nay đã biết đến 83 loài vi sinh vật sinh methane, đều thuộc loại kỵ khí bắt buộc Dựa vào sự khác nhau về khả năng sử dụng cơ chất để xếp loại chúng thành 3 nhóm lớn là:
a) 61 loài sử dụng CO2và H2 tạo CH4
b) 20 loài sử dụng hợp chất chứa metyl (13 loài bắt buộc)
c) 9 loài sử dụng acetate tạo ra CH4 (2 loài bắt buộc)
Khoảng 23% số loài thuộc vi sinh vật ưa nhiệt (thermophllic)
Cần phải nhấn mạnh rằng điều kiện vận hành phân hủy kỵ khí (pH, nhiệt độ, tính chất của chất nền, thời gian lưu cơ chất trong hệ thống ) sẽ quyết định loài vi sinh vật nào chiếm ưu thế Nhu cầu chất dinh dưỡng thay đổi theo các loài khác nhau Gần đây đã phát hiện một số loài có khả năng sử dụng nitơ phân tử ở thể khí Biên độ
pH môi trường khá đẹp, trong khoảng 6,5 - 7,6 Tuy nhiên có một số loài đặc biệt vẫn sinh trưởng được trong điều kiện pH thấp (5 - 5,5) hay pH cao (8 - 9,2) Các
Trang 33công cụ sinh học phân tử hiện đại ngày nay cho phép phân loại vi sinh vật sinh methane chi tiết và tường tận hơn theo trình tự phân tử DNA trong tế bào Tuy nhiên, vấn đề đang bỏ ngỏ hiện nay là xác lập mối liên hệ nhất định giữa loại chất đem phân hủy và biến động vè quần xã vi sinh vật sinh methane tương ứng
Bảng 3.2 Các vi sinh vật chính tạo methane
ở vùng nhiệt độ thấp - lạnh: 10 - 150
C Khi nhiệt độ <100C thì hầu như vi khuẩn tạo
Trang 34methane không hoạt động Nhiệt độ tối ưu đối với vi sinh vật tạo methane là 350C (ưa ấm) và 550C (ưa nóng)
III.6.2 pH
Trong quá trình xử lý kỵ khí, các giai đoạn phân hủy có ảnh hưởng trực tiếp qua lại lẫn nhau, làm thay đổi tốc độ quá trình phân hủy chung Đối với nước thải mới nạp vào công trình thì nhóm vi sinh vật acid hóa dễ thích nghi hơn nhóm vi sinh vật methane hóa Khi pH giảm mạnh (pH < 6) sẽ làm cho khí methane sinh ra giảm đi Khoảng pH tối ưu dao động trong một khoảng hẹp từ 6,8 - 7,3
III.6.3 Tính chất của chất nền
Hàm lượng tổng chất rắn của mẫu ủ có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất phân hủy Hàm lượng chất rắn quá cao không đủ hòa tan các chất cũng như không đủ pha loãng các chất trung gian khiến hiệu quả sinh khí giảm
Hàm lượng tổng chất rắn bay hơi của mẫu thể hiện bản chất của chất nền, bao gồm những chất dễ phân hủy (đường, tinh bột ) và những chất khó phân hủy (cellulose, dầu mỡ ở hàm lượng cao) Tốc độ và mức độ phân hủy của mẫu phụ thuộc rất lớn vào phần trăm của mỗi thành phần kể trên trong mẫu
III.6.4 Các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng
Để đảm bảo quá trình phân hủy kỵ khí diễn ra bình thường và liên tục thì cần phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của các vi sinh vật Các chất dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật trong hệ thống phân hủy kỵ khí gồm N và P là chủ yếu Tỷ
lệ thích hợp đề nghị là 20:1 đến 30:1 cho C:N và 7:1 đối với N:P, trong đó N và P đều phải ở dạng dễ hấp thụ bởi vi sinh vật Quá nhiều N có thể dẫn tới sự tích tụ amoni khiến pH tăng lên và ức chế vi sinh vật sinh methane Trái lại, quá ít N không
đủ cho vi sinh vật sinh methane tiêu thụ và sản lượng khí sinh học giảm
Nồng độ vủa đủ của một số kim loại có tác dụng kích thích sự trao đổi chất ở vi sinh vật lên men methane thông qua sự ảnh hưởng lên hoạt tính enzyme của chúng Các chất vi lượng cần có mặt trong enzyme bao gồm: Ba, Ca, Mg, Na, Co, Ni, Fe,
H2S và một số nguyên tố dạng vết như Se, Tu, Mo