1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm môn luật hôn nhân và gia đình đề số 1 hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

19 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạn Chế Quyền Yêu Cầu Ly Hôn Theo Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014
Tác giả Phạm Mây Linh, Vũ Sơn Tùng, Tống Thị Chinh, Ngô Minh Ngọc, Trần Thị Hiền, Nguyễn Phương, Lê Thị Anh, Nguyễn Minh Anh, Vũ Hoàng Diệu Anh, Nguyễn Bảo
Người hướng dẫn GV Châu, GV Mai Linh Chi
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 572,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hạn chế quyền yêu cầu ly hôn Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, và tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đìn

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-BÀI TẬP NHÓM

MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Đề số 1:

Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014.

NHÓM : 01 LỚP : N05 – TL1

Hà Nội, 2023

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA

LÀM BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Nhóm: 1 Lớp: N05.TL1

Đề bài: Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014

1 Kế hoạch làm việc của nhóm

- Chọn đề, định hướng nội dung và phân chia công việc;

- Họp nhóm thảo luận, chỉnh sửa bài lần 1;

- Sửa chữa bài sau lần 1, hoàn thiện bài

2 Phân chia công việc, đánh giá mức độ tham gia của các thành viên

thực hiện

Đánh giá của SV

SV ký tên

Đánh giá của GV Điểm

(số)

Điểm (chữ)

GV ký tên

442418 Phạm Mây Linh Đánh giá

(Phần 2) A

442908 Vũ Sơn Tùng Kiến nghị

(Phần 3) A

442927 Tống Thị Chinh Phần 3 A

452323 Ngô Minh Ngọc Phần 2 A

452852 Trần Thị Hiền Quy định

(Phần 1) A

452855 Nguyễn Phương

Ánh

Tổng hợp nội dung bài A

461801 Lê Thị Anh Phần 1 A

461802 Nguyễn Minh

Anh

Phần 2, tổng hợp, chỉnh sửa bài

A

461803 Vũ Hoàng Diệu

461805 Nguyễn Bảo Phần 2 A

Trang 3

461806 Mai Linh Chi Phần 1 A

Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 2023

Nhóm trưởng (ký và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Minh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

1 Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

1.1 Khái niệm hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

1.2 Cơ sở của quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

1.2.1 Cơ sở pháp lý

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

1.3 Nội dung quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

1.3.1 Chủ thể bị hạn chế

1.3.2 Các trường hợp bị hạn chế

1.4 Ý nghĩa quy định

2 Đánh giá quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

2.1 Mặt tích cực

2.2 Một số vướng mắc, bất cập, hạn chế trong áp dụng quy định

3 Kiến nghị hoàn thiện quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

Gia đình là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Những nhân cách ấy đã góp phần tạo nên bộ mặt của mỗi quốc gia Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh, và ngược lại, một xã hội văn minh, tiến bộ sẽ là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp Xã hội ngày càng thay đổi và phát triển, điều này đã khiến cho các bộ phận đã tạo nên xã hội cũng thay đổi và phát triển không ngừng, trong đó có sự vận động, biến đổi của gia đình Bởi gia đình là tế bào của xã hội Bên cạnh những truyền thống tốt đẹp, thì mặt trái của xã hội tạo nên một thực trạng đáng lo ngại, đó là vấn đề ly hôn ngày càng trở nên phổ biến và trở thành vấn đề được cả xã hội quan tâm Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em, pháp luật Việt Nam cũng có những quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn Để làm rõ và có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã lựa chọn và phân tích về “Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” Trong quá trình làm, nhóm khó tránh khỏi một số sai sót, hạn chế, mong nhận được những góp ý từ thầy

cô để có thể rút kinh nghiệm Chúng em xin chân thành cảm ơn

NỘI DUNG

1 Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

1.1 Khái niệm hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, và tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 đã quy định: "Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn" Quyết định ly hôn của Tòa án có thể được thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định

Theo quy định tại Từ điển Tiếng Việt thì “hạn chế” được hiểu là “giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định, không thể hoăc không để cho vượt qua”.1

Như vậy, có thể hiểu hạn chế quyền yêu cầu ly hôn là giới hạn của pháp luật

mà khi có những điều kiện được quy định trong Luật thì người chồng không được quyền yêu cầu ly hôn Trong trường hợp này, điều kiện hạn chế quyền yêu cầu ly

1 Xem Từ điển Tiếng Việt, Ngọc Lương (chủ biên), nxb Mỹ Thuật, Hà Nội, tr262

1

Trang 6

hôn áp dụng cho người chồng khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014

1.2 Cơ sở của quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

1.2.1 Cơ sở pháp lý

Quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình

2014 được xây dựng dựa trên cơ sở chế định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn đã xuất hiện, tồn tại, phát triển qua tất cả các Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam trước đây (năm 1959, 1986, 2000) Điều 27 Luật HN&GĐ năm 1959 quy định:

“Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh

đẻ được một năm Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ” Tương tự tại Điều 41 Luật HN&GĐ năm 1986: "Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm” Luật HN&GĐ năm 2000 có một số điểm khác biệt nhất định: “Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không

có quyền yêu cầu ly hôn"

Quy định này còn được xây dựng dựa trên nguyên tắc hiến định về bình đẳng giới được quy định trong Hiến pháp năm 20132, cũng như các nguyên tắc về bình đẳng giới đã được ghi nhận tại Luật Bình đẳng giới năm 2006

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Liên hệ với thực tiễn có thể thấy những lý do cơ bản đặt ra yêu cầu cần thiết phải bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn như sau:

Thứ nhất, xuất phát từ cơ sở sinh học xã hội, phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng cần thiết được bảo vệ trong xã hội Phụ nữ phải thực hiện chức năng làm mẹ; trẻ em sinh ra được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp Vì vậy, xã hội và gia đình luôn phải có trách nhiệm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ và trẻ em, chẳng hạn như: quyền được làm mẹ, quyền sinh con

Thứ hai, với những đặc thù về giới tính, phụ nữ và trẻ em là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất, cần phải được quan tâm và bảo vệ một cách đặc biệt Vì vậy nếu trong giai đoạn phụ nữ mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà người chồng xin ly hôn vào thời điểm này có thể

2 Điều 26 Hiến pháp 2013: Công dân nam nữ bình đẳng trước pháp luật Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2

Trang 7

khiến người vợ luôn trong trạng thái căng thẳng làm tăng nguy cơ mắc bệnh trầm cảm sẽ dẫn đến những hành động nguy hiểm cho cả người mẹ và con Hơn nữa, khi giải quyết ly hôn, không hiếm trường hợp người phụ nữ đã bị đe dọa, gây áp lực về tinh thần và vật chất từ phía người chồng dẫn đến phải từ bỏ quyền nuôi con của mình Hay sau khi ly hôn, việc ổn định cuộc sống là một vấn đề nan giải được đặt ra với người phụ nữ, có thể việc sinh con, nuôi con nhỏ sẽ làm hạn chế cơ hội

để kiếm thêm thu nhập của người mẹ

Đối với trẻ em, thế hệ tương lai của đất nước, luôn được đặc biệt quan tâm

và bảo vệ Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam và các văn bản pháp luật khác quy định rất cụ thể các quyền cơ bản của trẻ em như quyền được biết nguồn gốc của mình, biết cha mẹ là ai và được cha mẹ chăm sóc; quyền được lớn lên trong gia đình;

Chính vì vậy Nhà nước phải xây dựng chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, trong đó đặt ra quy định tại Khoản 3 Điều

51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

1.3 Nội dung quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

1.3.1 Chủ thể bị hạn chế

Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Chồng không

có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Quy định này chỉ đặt ra đối với người chồng, hạn

chế tạm thời quyền ly hôn của người chồng trong một khoảng thời gian theo luật định, mà không áp dụng đối với người vợ Chủ thể duy nhất bị hạn chế là người chồng bởi lẽ pháp luật Hôn nhân và gia đình muốn bảo vệ tối đa phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn người phụ nữ cực kỳ nhạy cảm, khó khăn, đứa trẻ còn yếu ớt Cụ thể:

Thứ nhất, nếu người chồng yêu cầu ly hôn trong thời kỳ này sẽ có thể gây ra tác động tiêu cực lớn với người vợ và thai nhi hay đứa con vừa mới sinh Và thời

kỳ này cũng là thời kỳ nghỉ thai sản của người phụ nữ, nếu không nhận được sự ủng hộ về vật chất từ người chồng cũng là một thiệt thòi rất lớn đối với người phụ

nữ

3

Trang 8

Thứ hai, pháp luật không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ là để trong thời kỳ này nếu mâu thuẫn không thể giải quyết, việc duy trì hôn nhân làm ảnh hưởng tới tinh thần và sức khỏe của người vợ, thai nhi hay là trẻ sơ sinh (ví dụ như trường hợp người chồng có hành vi bạo hành, đánh đập hay bỏ rơi vợ con) thì pháp luật vẫn để cho người vợ có thể chủ động yêu cầu ly hôn nhằm bảo vệ lợi ích tối đa của bản thân và đứa bé

1.3.2 Các trường hợp bị hạn chế

Pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong một số trường hợp nhất định sau:

Trường hợp 1: Người vợ đang mang thai.

Thời kỳ mang thai được xác định kéo dài từ khi thụ thai tới thời điểm người phụ nữ chuẩn bị sinh nở (thường là 40 tuần)

Lưu ý: Hiện nay y học đã phát triển với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm, Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc có thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm) Tuy nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra trong cơ thể người phụ

nữ Do vậy, đối với các trường hợp thông thường, người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ đều được xác định là đang có thai Khi đó, việc xác định chồng của họ không có quyển yêu cầu ly hôn là hoàn toàn có cơ sở

Trường hợp 2: Người phụ nữ vừa sinh con, hay đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Theo nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn

nhân và gia đình 2014, “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có

thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” Như vậy, khi người vợ

sinh ra đứa con thì dù đứa trẻ là con ruột hay không phải con ruột của người chồng, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng vẫn bị hạn chế theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Quy định này áp dụng cả trong trường hợp con do vợ sinh ra không phải con ruột của chồng là bởi trong thời kỳ này sức khỏe, tâm lý của người phụ nữ, hạnh phúc của đứa trẻ đặc biệt mong manh, và nghĩa vụ của vợ chồng vẫn là yêu thương, chăm sóc nhau Đúng người vợ đã có lỗi, tuy nhiên sức khỏe, tính mạng

4

Trang 9

con người vẫn là quan trọng, có thể chờ tới khi người vợ khỏe mạnh rồi yêu cầu li hôn; đồng thời, đứa bé không hề có tội Trong trường hợp người chồng vì uất hận, lại không được ly hôn nên nảy sinh những hành vi ảnh hưởng đến vợ và đứa bé trong thời kỳ nhạy cảm3, pháp luật vẫn cho người vợ quyền được yêu cầu ly hôn để giải thoát cho cả hai bên

1.4 Ý nghĩa quy định

Quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn có những ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý và đạo lý, cụ thể là:

Quy định này đã thể hiện một trong những nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình đó là nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi- một nguyên tắc mang tính toàn cầu Đây là một quy định thể hiện sâu sắc tính nhân văn và tiến bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp luật Hôn nhân và gia đình nói riêng

Trên thực tế, quy định giúp bảo vệ lợi ích người vợ khi mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con mới đẻ, bảo vệ các đối tượng yếu thế trong xã hội Khi người

vợ gần như không có thời gian làm việc để kiếm thêm thu nhập, việc người chồng

ở bên cạnh để hỗ trợ về mặt tài chính và chăm sóc là điều vô cùng cần thiết Mặt khác, người phụ nữ trong thời gian mang thai, sinh và chăm sóc con nhỏ thường có tâm lý nhạy cảm, bất ổn, dễ xúc động, nếu bị tác động nặng sẽ dẫn đến những hành động và suy nghĩ tiêu cực, dại dột Còn đối với con thì đây là thời gian cần có sự bao bọc, chăm sóc của cả bố và mẹ để có thể phát triển ổn định

Bên cạnh đó, quy định giúp tạo cơ hội cho các cặp vợ chồng, đặc biệt là người chồng có có thời gian cân nhắc, tránh bồng bột, vội vàng đưa ra yêu cầu ly hôn trong giai đoạn nhạy cảm của hôn nhân Qua đây, giúp thúc đẩy sự cân nhắc

và giảm tỷ lệ ly hôn, khuyến khích các cặp vợ chồng giữ vững hôn nhân

2 Đánh giá quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

Nhìn chung, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn là phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đã có sự tiến bộ

so với quy định trước đây, phát huy tốt vai trò, ý nghĩa của mình trong thực tiễn,

3 “Với trường hợp trẻ không phải là con của người chồng thì thực tế, người chồng thường có diễn biến tâm lý bất thường, dễ dẫn đến bạo hành tinh thần, bạo lực gia đình như đay nghiến, chửi mắng vợ, thậm chí gây ra thương tích,

án mạng.” – Trích bài viết Vợ ngoại tình mang thai, chồng được ly hôn? | Báo Pháp Luật TP Hồ Chí Minh

5

Trang 10

đặc biệt trong hạn chế ly hôn, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em Tuy nhiên, không thể phủ nhận bên cạnh những ưu điểm ấy, quy định này vẫn bộc lộ một số những điểm chưa rõ ràng dẫn tới vướng mắc trong áp dụng, hay vẫn còn hạn chế, bất cập khi một số Tòa án áp dụng sai quy định này để từ chối thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của người chồng

2.1 Mặt tích cực

Thứ nhất, về sự phù hợp của quy định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Có thể thấy quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 đã bảo đảm nguyên tắc hiến định về bình đẳng giới được quy định trong Hiến pháp năm 20134, cũng như các nguyên tắc về bình đẳng giới đã được ghi nhận tại Luật Bình đẳng giới năm 2006 Cụ thể, dưới góc độ pháp luật bình đẳng giới, về nguyên tắc, để bảo đảm bình đẳng về mặt pháp

lý giữa nam và nữ, bên cạnh quy định các quy phạm pháp luật bình đẳng chung cho cả nữ và nam (các quy phạm trung tính về giới), ví dụ như khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn bình đẳng như nhau; thì với hiện trạng xã hội hiện nay, khi phụ nữ còn có vị thế yếu hơn nam giới trong các mối quan hệ cụ thể, nguyên nhân là do các khác biệt về giới tính không thể loại bỏ được, cũng như các định kiến giới còn tồn tại nặng nề, cần có các quy định riêng cho một giới để bảo đảm bình đẳng thực chất cho nữ giới khi họ thực hiện chức năng làm mẹ hoặc trong những lĩnh vực cụ thể còn tồn tại sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ và bất bình đẳng nam nữ Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy quy định về về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng tại khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm phù hợp với khoản 4 Điều 6 Luật Bình đẳng giới năm 2006 về nguyên tắc

“Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới” cũng như nguyên tắc tại Điều 7 của Luật này về “Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tạo điều kiện để nam nữ chia sẻ công việc gia đình”

Thứ hai, về tiến bộ của quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 so với các luật trước

4 Điều 26 Hiến pháp 2013: Công dân nam nữ bình đẳng trước pháp luật Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

6

Ngày đăng: 13/11/2023, 04:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê:                                                                                    Đơn vị: Người - Bài tập nhóm môn luật hôn nhân và gia đình đề số 1 hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Bảng th ống kê: Đơn vị: Người (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w