1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Kết quả bước đầu nghiên cứu về thị trường hàng hóa lâm sản Việt Nam " pot

23 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 233,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả bước đầu nghiên cứu về thị trường hàng hóa lâm sản Việt Nam Võ Nguyên Huân Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chú

Trang 1

Kết quả bước đầu nghiên cứu về thị trường hàng hóa lâm sản Việt Nam

Võ Nguyên Huân

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chúng ta phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường nhằm xác định những ngành hàng, mặt hàng

có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh trên thương trường để tập trung nguồn lực phát triển sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đất nước

Bài viết này đề cập đến thị trường hàng hóa lâm sản Việt Nambao gồm gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ chủ yếu Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường trong nước,

chúng tôi đi sâu nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng hóa lâm sản, đặc biệt là ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu, một ngành hàng đang có tiềm năng và bước tiến lớn trong vài năm gần đây

I Thị trường hàng hóa lâm sản trong nước

1 Khả năng cung cấp hàng hóa lâm sản của Việt Nam

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ nhiều nguồn như Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Điều tra Quy hoạch rừng,… chúng tôi tổng hợp được khả năng cung cấp lâm sản của Việt Nam giai đoạn 1995 đến năm

Trang 3

hồi

Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN & PTNT

Các con số thống kê chắc còn thấp hơn số lâm sản khai thác hàng năm vì ta không thống kê được hết các sản phẩm do các hộ gia đình và cá nhân khai thác Khối lượng gỗ tròn lưu thông ở thị trường trong nước hiện nay vào khoảng từ 3 triệu m3đến 3,5 triệu m3 Trong đó gỗ rừng tự nhiên từ 400.000 - 500.000 m3, gỗ rừng trồng từ 1,5 triệu m3 đến 1,6 triệu m3, gỗ nhập khẩu từ 800.000 m3 đến 1,0 triệu

m3 Ngoài khối lượng gỗ tròn khai thác và lưu thông trên đây, hàng năm Việt Namcòn khai thác khoảng 25 - 30 triệu ste củi

2 Thị trường tiêu thụ hàng hóa lâm sản chính hiện nay

2.1 Tiêu thụ gỗ

Hiện nay việc tiêu thụ gỗ ở nước ta tập trung ở 1 số lĩnh vực sau:

- Cung cấp cho công nghiệp sản xuất giấy, bột giấy khoảng 860.000 m3

- Cung cấp cho công nghiệp mỏ khoảng 170.000 m3

- Cung cấp cho các nhà máy sản xuất ván nhân tạo: 470.000 m3

- Cung cấp cho các nhà máy dăm mảnh xuất khẩu khoảng 300.000 - 500.000 m3

- Làm nguyên liệu cho xây dựng cơ bản, dân dụng như làm nhà ở, giàn giáo, cừ tràm, cừ đước

- Sử dụng cho chế biến hàng mộc dân dụng và xuất khẩu

Từ những nhu cầu thiết yếu trên, chúng ta có thể xác định:

Trang 4

Tiêu thụ gỗ trong nước cho sản xuất than, giấy và ván nhân tạo khoảng 60% Tiêu thụ gỗ xây dựng cơ bản, dăm mảnh và đồ mộc khoảng 40% Trong những năm gần đây, ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu phát triển nhảy vọt, sản lượng gỗ tròn khai thác trong nước không cung cấp đủ cho ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu và phục

vụ nhu cầu nội địa Vì thế, Việt Namđã phải nhập khẩu nhiều gỗ nguyên liệu với các chủng loại khác nhau từ các nước trên thế giới

2.2 Tiêu thụ nhựa thông

Nhựa thông được cung cấp cho các nhà máy chế biến và 1 phần xuất khẩu dạng nhựa thô và Colophan sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản và Đức ở Việt Nam

có 3 nhà máy chế biến nhựa thông liên doanh với nước ngoài, trong đó 2 cơ sở liên doanh với Nhật (tại Quảng Ninh và Quảng Bình với công suất 7.000 tấn/năm) và 1

cơ sở liên doanh với Trung Quốc tại Hà Tĩnh, công suất 4000 tấn/năm Ngoài ra

có 1 số nhà máy có công suất nhỏ ở Lạng Sơn, Nghệ An, Lâm Đồng, Quảng

Trị,…

Sản phẩm được chế biến từ nhựa thông (colophan và dầu thông) phần lớn được sử dụng trong nước cho ngành giấy 1000 tấn colophan/năm, ngành hóa chất 400 tấn colophan và khoảng 100 tấn dầu thông/năm; xuất khẩu colophan bình quân

khoảng 4.500 tấn/năm sang các nước Nhật, ấn Độ, Hồng Công, Pháp, Đức,…

Trang 5

2.4 Tiêu thụ quả hồi

Sản phẩm của cây hồi là quả hồi và tinh dầu hồi (tinh dầu hồi được chưng cất từ quả hồi) Hàng năm nước ta sản xuất được từ 3 đến 5 ngàn tấn quả hồi Hồi của nước ta được xuất sang các thị trường Pháp, Anh, Đức, Hồng Công, Singapo với khối lượng bình quân hàng năm khoảng 1500 tấn quả khô và 80 tấn tinh dầu hồi Quả hồi và tinh dầu hồi tiêu thụ ở trong nước với khối lượng nhỏ cho ngành dược liệu và làm chất phụ gia cho ngành thực phẩm

2.5 Tiêu thụ tre, nứa:

ở Việt Nam phần lớn tre nứa được sử dụng làm hàng thủ công, mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy

- Làm hàng thủ công mỹ nghệ: Hàng năm số lượng tre nứa dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ chiếm một tỷ lệ khá lớn Ngoài những sản phẩm tiêu thụ trong nước, chúng ta còn sản xuất nhiều mặt hàng mỹ nghệ để xuất khẩu Hiện tại Việt Nam có 88 nhà máy, xí nghiệp và hàng trăm làng nghề chế biến tre, nứa, trúc phục

vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Hàng tre nứa của Việt Nam đã được xuất ra

94 nước trên thế giới như Nhật bản, Hàn Quốc, Đài Loan, các nước châu Âu…

- Làm vật liệu xây dựng: Hiện nay khoảng 50% vật liệu nhà ở nông thôn và miền núi làm từ tre nứa, ngoài ra tre nứa đã được đưa vào sản xuất dạng công nghiệp như: làm ván dăm, ván cót ép, ván sàn, vách ngăn và các dụng cụ thông dụng như đũa tre, bát đĩa,v.v rất được ưa chuộng Đặc biệt ván sàn làm từ tre nứa có giá trị tương đương với ván sàn làm từ các loài cây gỗ quí thuộc nhóm I như Giáng hương, Sa mu, Đinh hương…

- Dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy sợi: Tổng công suất của các nhà máy sản xuất giấy và bột giấy ở Việt Nam hiện nay khoảng 350.000 tấn/năm Trong tương lai, ngành công nghiệp giấy của nước ta sẽ đòi hỏi 1 số lượng tre nứa

Trang 6

và gỗ rất lớn, đến năm 2010 Việt Nam sẽ sản xuất từ 2 đến 2,5 triệu tấn giấy và bột giấy/năm Với tỷ lệ 30% nguyên liệu bột giấy từ tre nứa, hàng năm chúng ta cần 3 - 4 triệu tấn tre nứa cho ngành công nghiệp giấy (5 -6 kg tre nưa tươi cho 1

kg bột giấy)

- Dùng làm thực phẩm: Măng tre nứa được sử dụng làm thực phẩm dưới dạng tươi, măng muối chua hoặc măng khô Hầu hết các loài tre nứa đều cho măng ăn được Từ năm 1997 Việt Namđã nhập nội 1 số loài tre để trồng lấy măng như: Điền trúc, Bát độ, Tạp giao, Lục trúc, Mạnh tông cho năng suất măng khá cao Điều này đã mở ra một khả năng lớn về xuất khẩu măng tươi

2.6 Tiêu thụ song mây

Song mây là nguyên liệu để làm nhiều mặt hàng như đồ gia dụng, sản phẩm mỹ nghệ dùng trong nước và xuất khẩu Hàng năm ta xuất khoảng 2 triệu sản phẩm đan lát, 500.000 - 600.000 m2 mây đan và nhiều mặt hàng khác chế biến từ song mây (Nguyễn Quốc Dựng, 2000) Hàng song mây của Việt Nam chủ yếu xuất sang các nước Đức, ý, Nhật, Hồng Công, Singapo và Cu Ba… Nhu cầu của thị trường ngày càng lớn, chúng ta không có đủ nguyên liệu để cung cấp cho 36 xí nghiệp và nhiều làng nghề chế biến song mây (làm hàng xuất khẩu) đang hoạt động ; vì vậy 1 phần nguyên liệu được nhập qua đường tiểu ngạch từ Lào và Campuchia

Từ thực tế trên đây ta thấy thị trường trong nước rất có tiềm năng Nhu cầu sử dụng gỗ trong nước cho xây dựng và các mặt hàng chế biến từ gỗ (giấy, ván nhân tạo) sẽ ngày càng tăng, đặc biệt nhu cầu gỗ để chế biến đồ gỗ xuất khẩu tăng đột biến, nguồn khai thác trong nước không đủ cung cấp, nên đã phải nhập khẩu khoảng 1 triệu m3 từ nước ngoài

Trang 7

Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ mây tre đan, các loại đặc sản rừng như nhựa thông, hồi, quế… phần lớn được xuất khẩu ra thị trường các nước châu á, châu Âu

và châu Mỹ

Để đáp ứng nhu cầu thị trường lâm sản trong nước cũng như thị trường nước ngoài, ngành lâm nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khâu tạo rừng để nâng cao năng suất và chất lượng nguyên liệu

gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho thị trường Ngành công nghiệp chế biến lâm sản cần được trang bị các dây chuyền công nghệ và thiết

bị hiện đại để giảm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đủ sức cạnh tranh và cạnh tranh thành công trên thương trường

3 Các kênh thị trường

Kênh lưu thông phân phối hay còn gọi là kênh thị trường là dòng của một sản phẩm từ nơi mà sản phẩm đó được sản xuất ra đến người sử dụng cuối cùng: Từ người sản xuất đến người tiêu dùng Kênh thị trường lâm sản được thể hiện qua sơ

đồ sau:

Các chủ rừng: Lâm trường, hộ gia đình, cá nhân, trang trại,…

Các đầu mối trung gian: Công ty, đại lý, tư thương

Công ty lâm sản

Cơ sở chế biến, nhà máy

Trang 8

Cửa hàng buôn bán

Người tiêu dùng

Cơ sở xuất khẩu

Những kênh chính tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp như sau:

Kênh số 1:

Các chủ rừng bán lâm sản cho các đầu mối trung gian của Nhà nước và các công

ty tư nhân hay thương nhân Từ đây họ bán lâm sản cho các công ty lâm sản, tiếp theo các công ty này bán cho các cơ sở chế biến hoặc các cửa hàng buôn bán lâm sản Lâm sản sau khi được chế biến ở các cơ sở và nhà máy, họ bán cho người tiêu dùng và các công ty xuất khẩu Hiện nay kênh lưu thông này tiêu thụ khối lượng lâm sản chiếm tỷ lệ lớn Đây là biểu hiện sinh động về sự rắc rối và vòng vèo trong lưu thông phân phối lâm sản vì phải trải qua nhiều khâu trung gian, làm tăng chi phí dịch vụ thương mại, ảnh hưởng đến giá bán nguyên liệu của các chủ rừng

Kênh số 2:

Các chủ rừng bán lâm sản cho các công ty lâm sản và sau đó công ty lâm sản bán cho các cơ sở chế biến hay các cửa hàng buôn bán lâm sản Nếu là cơ sở chế biến thì họ sẽ chế biến và nếu là cửa hàng buôn bán thì họ bán ngay Kênh lưu thông này tỏ ra thích hợp hơn hiện nay ở Việt Namvì hệ thống giao thông và phương tiện

Trang 9

vận chuyển lâm sản kém Tuy nhiên, kênh này lại không tiêu thụ được khối lượng

lâm sản nhiều bằng kênh số 1

Kênh số 3:

Các chủ rừng bán trực tiếp lâm sản cho các cơ sở chế biến và cửa hàng buôn bán

Sau khi đã chế biến, các nhà máy bán cho người tiêu dùng qua mạng lưới tiêu thụ

của họ hoặc bán cho công ty xuất khẩu Hiện nay, đây là kênh thị trường rất khó

thực hiện vì cơ sở sản xuất nguyên liệu (chủ rừng) không đủ khả năng tiếp thị và

vận chuyển, hơn nữa nhà máy không muốn mua những khối lượng nhỏ lẻ, rải rác

hàng ngày

Kênh số 4:

Các chủ rừng(lâm trường, trang trại, hộ gia đình,…) tự chế biến và bán qua mạng

lưới tiêu thụ của họ, kênh tiêu thụ này hiện nay chiếm thị phần rất nhỏ nhưng tránh

được các khâu trung gian Muốn thực hiện được, người sản xuất (chủ rừng) phải

có vốn lớn và có khả năng cũng như kinh nghiệm sản xuất và tiếp thị

4 Giá cả hàng hóa lâm sản

Giá cả một số mặt hàng lâm sản chủ yếu được thể hiện ở biểu 2

Biểu 2: Giá cả 1 số mặt hàng lâm sản chủ yếu hiện nay

Trang 10

2 Nguyên liệu ván nhân tạo Tấn 280 - 350 Tại nhà máy

5 Gỗ xây dựng, giàn giáo, cừ tràm, cừ đước m3 800 - 1000 Tại bãi giao

Trang 11

Sự hình thành giá:

Thực tiễn ở Việt Nam, giá gỗ và lâm sản khác tại cửa rừng được hình thành theo cách lấy giá mua của các nhà máy xí nghiệp trừ đi chi phí khâu vận chuyển, lưu thông, dịch vụ thu gom, các loại thuế và kể cả những lệ phí phát sinh không theo bất kỳ một qui định nào Thực tiễn này đã ảnh hưởng đến giá lâm sản của các chủ rừng, cụ thể như sau:

- Giá mua nguyên liệu (Gỗ và lâm sản khác) do nhà máy, xí nghiệp qui định tại kho của họ theo từng thời điểm cụ thể, vì vậy giá bán nguyên liệu tại cửa rừng của các chủ rừng phụ thuộc vào lượng gỗ và lâm sản tiêu dùng cho sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp trong từng thời kỳ Đây là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến giá bán lâm sản tại cửa rừng, cho dù giá mua công bố tại nhà máy, xí nghiệp

không thay đổi, nhưng lượng mua hạn chế, lập tức giá lâm sản tại cửa rừng giảm xuống mạnh

- Khả năng cung cấp lâm sản của chủ rừng mang tính thời vụ, phụ thuộc vào chu

kỳ kinh doanh của loài cây trồng rừng Khi diện tích rừng trong vùng trồng rừng nguyên liệu đến tuổi khai thác còn ít, buộc các nhà máy, xí nghiệp phải nâng giá mua để thu hút nguyên liệu từ các vùng khác về nhà máy, xí nghiệp, nhưng khi khả năng cung cấp dồi dào hơn làm cho cung vượt cầu, giá lâm sản tại cửa rừng sẽ

hạ thấp

- Chi phí của khâu vận chuyển lâm sản từ cửa rừng về nhà máy, xí nghiệp phụ thuộc vào cự ly vận chuyển, phương tiện vận chuyển (thủy, bộ…) các khoản chi phí khác phát sinh trên đường vận chuyển, đó là các khoản phí và lệ phí Các chủ phương tiện vận chuyển và người buôn chuyến, thông thường muốn có được sự thuận lợi cho công việc vận chuyển nên họ buộc phải nộp các khoản phí và lệ phí này, bất kể họ đúng hay sai luật Họ chấp nhận nộp để không bị lưu lại lâu, không

bị dỡ hàng để kiểm tra, và như vậy có nghĩa là lại cộng thêm chi phí Những khoản

Trang 12

phí này cuối cùng đều được khấu trừ vào giá mua lâm sản tại cửa rừng, người sản xuất (chủ rừng) gián tiếp gánh chịu

- Lệ phí địa phương đã và đang hình thành ở nhiều nơi cũng có ảnh hưởng tới giá nguyên liệu lâm sản Trên địa bàn nhiều xã đều có trạm gác thu tiền của tất cả các

xe chở hàng đi qua xã (bình quân 10.000đ/xe không có chứng từ) Chi phí này do người buôn chi trả và cũng khấu trừ vào giá mua nguyên liệu lâm sản

- Chi phí thu mua và tiêu thụ nguyên liệu lâm sản: Đây là khoản chi phí phát sinh trong khâu thương mại, dịch vụ bao gồm chi phí cho bộ máy thực hiện chức năng thu mua, bán hàng, chi phí trả lãi tiền vay cho dự trữ và tiêu thụ nguyên liệu, nộp thuế VAT, thuế buôn chuyến, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất (nộp thuế thay cho chủ rừng), các chi phí này đều được khấu trừ vào giá mua nguyên liệu các loại lâm sản

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới giá bán nguyên liệu lâm sản gây nên

sự thua thiệt cho người sản xuất (chủ rừng) Thông thường giá bán nguyên liệu các loại lâm sản tại cửa rừng (bãi 1) chỉ bằng 2/3 hoặc 1/2 giá mua tại các nhà máy hay xí nghiệp

II Thị trường xuất khẩu hàng hoá lâm sản của Việt Nam

1 Các mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu chính

Hàng hoá lâm sản của Việt Namhiện nay đã được xuất khẩu ra hàng trăm nước trên thế giới ở châu á, châu Âu và châu Mỹ Các mặt hàng xuất khẩu chính bao gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ, hàng mây tre đan, quế, hồi

Ngoài những mặt hàng chính trên còn xuất khẩu nhiều mặt hàng lâm sản ngoài gỗ khác như nhựa thông, thảo quả, sa nhân, các loại tinh dầu và động vật rừng

Biểu 3: Giá trị xuất khẩu hàng hoá lâm sản

Trang 13

Đơn vị tính: Triệu USD

Giá trị xuất khẩu các năm 1995 - 2002 Loại hàng

Trang 14

Trong các mặt hàng xuất khẩu trên thì gỗ và sản phẩm gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 50%) và hiện nay đang nổi lên như 1 ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

2 Thực trạng ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu

Theo thống kê tính đến đầu tháng 10/2003 cả nước có khoảng 2000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó có hơn 300 doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu Trong số các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu có 60 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút 170.000 lao động trên cả nước, với nhiều nghệ nhân có trình

độ tay nghề cao Một số trung tâm như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bình Định, Đồng Nai đã hình thành các khu liên hợp chế biến gỗ tầm cỡ

Bên cạnh các doanh nghiệp còn có 342 làng nghề gỗ mỹ nghệ, tập trung ở 1 số tỉnh, thành phố như Bắc Ninh, Hà Tây, Nam Hà, Bình Dương, An Giang

Đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu ra trên 120 nước và vùng lãnh thổ, lớn nhất là Nhật Bản, EU, Đài Loan và Mỹ, trong đó Mỹ là thị trường có tốc độ phát triển cao nhất,

dự kiến tăng tới 150% trong năm 2004 với tỷ trọng chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam

Theo Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam năm 2003 đạt 560 triệu USD, sáu tháng đầu năm 2004 đã đạt 600 triệu USD và dự kiến cả năm 2004

có khả năng đạt khoảng 1 tỷ USD

Nhìn ở tầm trung và dài hạn, đồ gỗ xuất khẩu ở nước ta có triển vọng phát triển nhanh và ổn định vì thị phần đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam chỉ chiếm 0,2% kim ngạch nhập khẩu của EU, 0,86% của Mỹ và 7,3% của Nhật Bản, nghĩa là giới hạn an toàn phát triển thị trường còn rất rộng (xấp xỉ 20% thị phần mới bị các nước nhập khẩu dè chừng) Tuy nhiên, bên cạnh tăng trưởng kim ngạch, thị trường, ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu còn bị hạn chế từ nguyên liệu Theo tính toán cứ 500

Ngày đăng: 20/06/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm