1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại bệnh viện e và thuốc hoá trị tại trung tâm ung bướu bệnh viện e giai đoạn 2022 2023

68 4 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Hoạt Động Báo Cáo Phản Ứng Có Hại Của Thuốc Tại Bệnh Viện E Và Thuốc Hoá Trị Tại Trung Tâm Ung Bướu Bệnh Viện E Giai Đoạn 2022-2023
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ánh
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Thu Hương, Ths. Tăng Quốc Hùng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Dược học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E VÀ THUỐC HOÁ TRỊ TẠI TRUNG TÂ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG

CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E VÀ THUỐC HOÁ TRỊ TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU -

BỆNH VIỆN E GIAI ĐOẠN 2022-2023

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

(NGÀNH DƯỢC HỌC)

Hà Nội – 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG

CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E VÀ THUỐC HOÁ TRỊ TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU -

BỆNH VIỆN E GIAI ĐOẠN 2022-2023

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

(NGÀNH DƯỢC HỌC)

Khoá: QH.2018.Y

Người hướng dẫn 1: TS VŨ THỊ THU HƯƠNG

Người hướng dẫn 2: Ths TĂNG QUỐC HÙNG

Hà Nội – 2023

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng của tôi tới TS

Vũ Thị Thu Hương - phó trưởng Khoa Dược Bệnh viện E và Ths Tăng Quốc Hùng

- giảng viên bộ môn Quản lý - Kinh tế Dược tại Trường Đại học Y dược - Đại học Quốc gia Hà Nội, là những thầy cô đã định hướng, dìu dắt từng bước và cho tôi những nhận xét quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới dược sỹ Hoàng Thị Ngoan – dược sỹ lâm sàng tại Khoa dược – Bệnh viện E đã trực tiếp hướng dẫn cũng như thực hiện đề tài này cùng tôi trong suốt quá trình tiến cứu diễn ra tại Trung tâm Ung bướu, cũng như đã có những góp ý quý giá và tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn Bệnh viện E, cụ thể là phòng Khoa học Công nghệ, Truyền thông và Hợp tác Quốc tế, khoa Dược và Trung tâm Ung bướu, cũng như toàn thể cán bộ, nhân viên y tế tại đây đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian làm đề tài tại bệnh viện

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên tôi trong lúc khó khăn cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận này

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2023

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ánh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E 19

2 Bảng 3.1 Số lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E 25

3 Bảng 3.2 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR tại Bệnh viện E 26

4 Bảng 3.3 Lý do sử dụng thuốc phân loại theo ICD-10 27

5 Bảng 3.4 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng

6 Bảng 3.5 Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất của Bệnh viện E 28

7 Bảng 3.6 Điểm chất lượng báo cáo trung bình của Bệnh viện E 29

9 Bảng 3.8 Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng của TTUB 31

10 Bảng 3.9 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng

11 Bảng 3.10 Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo tại TTUB 32

12 Bảng 3.11 Các biểu hiện ADR được ghi nhận tại TTUB 34

13 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc – ADR của

14 Bảng 3.13 Phân loại mức độ nặng của ADR tại TTUB 36

15 Bảng 3.14 So sánh điểm chất lượng báo cáo trung bình của TTUB 37

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

1 Hình 1.1: Số lượng báo cáo ADR từ năm 2003 đến 2022 16

2 Hình 3.1 Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày)

của Bệnh viện E

25

3 Hình 3.2 Chất lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E 29

4 Hình 3.3 Số lượng báo cáo ADR của TTUB theo từng tháng 30

5 Hình 3.4 Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày) của

TTUB

31

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trung tâm DI&ADR Quốc gia Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi

phản ứng có hại của thuốc

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 7

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Hoạt động cảnh giác dược trong bệnh viện 3

1.1.1 Định nghĩa và mục tiêu của cảnh giác dược 3

1.1.2 Các đối tác tham gia hoạt động cảnh giác dược 3

1.1.3 Các hoạt động theo dõi ADR bệnh viện 8

1.2 Hệ thống báo cáo tự nguyện 14

1.2.1 Định nghĩa 14

1.2.2 Ưu điểm, hạn chế 14

1.2.3 Tình hình báo cáo ADR ở Việt Nam 15

1.3 Hoạt động Cảnh giác Dược với thuốc điều trị ung thư 17

1.3.1 Sự cần thiết triển khai hoạt động Cảnh giác Dược với các bệnh viện/khoa phòng về ung bướu 17

1.3.2 Các ADR thường gặp của thuốc điều trị ung thư 18

1.4 Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E 18

1.4.1 Vài nét về Bệnh viện E 18

1.4.2 Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E 19

1.4.3 Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 21

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 22

2.4.1 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 22

2.4.2 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023 23

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24

Trang 8

3.1 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai

đoạn 01/2022 – 03/2023 25

3.1.1 Thông tin về báo cáo 25

3.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 26

3.1.3 Đánh giá chất lượng báo cáo ADR 28

3.2 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023 29

3.2.1 Thông tin về báo cáo 29

3.2.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 32

3.2.3 Thông tin về ADR 33

3.2.4 Đánh giá chất lượng báo cáo ADR 36

Chương 4 BÀN LUẬN 38

4.1 Bàn luận về thực trạng báo cáo ADR của Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 38

4.2 Bàn luận về thực trạng báo cáo ADR trong hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E 01/2022 - 05/2023 39

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 43

KẾT LUẬN 43

ĐỀ XUẤT 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2002 định nghĩa “Phản ứng có hại của thuốc

là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người

để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu, quá liều, lạm dụng thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu [1] Đối với bệnh nhân điều trị ung thư, ADR rất phổ biến và có thể dự đoán được đến mức chúng được chấp nhận như một phần không thể tránh khỏi [2]

Với mục đích đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý trong phòng và điều trị bệnh, Cảnh giác dược là một hoạt động chuyên môn quan trọng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân [3] Trong điều trị ung thư, cảnh giác dược có vai trò thiết yếu do đa số các thuốc điều trị ung thư được biết đến với khoảng điều trị hẹp và độc tính cao Theo một nghiên cứu của Nhật Bản, dược sỹ chịu trách nhiệm phòng ngừa và điều trị chứng trên bệnh nhân ung thư (nôn, bệnh thần kinh ngoại vi, hội chứng tay chân, viêm niêm mạc, đau cục bộ, táo bón, đau mạch máu, dị ứng, tăng đường huyết, tiêu chảy và các tình trạng khác) đã nghiên cứu khả năng ngăn chặn các phản ứng ở bệnh nhân ung thư và phát hiện ra rằng: 53% các phản ứng như rụng tóc không thể ngăn ngừa được, trong khi đó 45% phản ứng có thể ngăn ngừa và 2% còn lại chắc chắn có thể ngăn ngừa [2] Mặc dù các phản ứng bất lợi này được coi là vấn đề không tránh khỏi, hoạt động cảnh giác dược đã và đang giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát hiện nguy cơ liên quan đến thuốc và có can thiệp kịp thời [4]

Trong hoạt động Cảnh giác Dược, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tự nguyện là phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới

để phát hiện và giám sát các phản ứng có hại của thuốc [5] Bên cạnh những ưu điểm như dễ dàng để thiết lập với chi phí tiết kiệm, hệ thống báo cáo ADR tự nguyện cũng gặp phải một số hạn chế nhất định, đó là tình trạng báo cáo thiếu và chất lượng báo cáo kém [6] Vì vậy việc phân tích hoạt động báo cáo ADR tự nguyện để đưa ra được cái nhìn tổng quan cũng như nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo là cần thiết

Trong năm 2021 và 2022, nhóm thuốc điều trị ung thư đều đứng vị trí thứ 8 trong số 10 nhóm dược lý được báo cáo ADR nhiều nhất, chiếm tỉ lệ lần lượt là 4,7%

và 3,5% trên tổng số báo cáo được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia [7, 8]

Trang 10

Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E là một trong những đơn vị điều trị ung bướu cho bệnh nhân, dù được thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian gần đây, nhưng với cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E đã trở thành một địa chỉ để sẻ chia giúp đỡ các bệnh nhân ung thư Vì vậy, chúng tôi lựa chọn Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E để thực hiện đề tài “Thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E và thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E giai đoạn 2022 - 2023” với mục tiêu:

- Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023

- Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động cảnh giác dược trong bệnh viện

1.1.1 Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dược

Cảnh giác Dược là khoa học và các hoạt động liên quan đến phát hiện, đánh giá, hiểu biết và phòng ngừa các tác dụng phụ hoặc bất kỳ vấn đề nào liên quan đến thuốc có thể khác Gần đây, phạm vi của Cảnh giác Dược mở rộng ra bao gồm

cả dược liệu, thuốc cổ truyển, thuốc bổ sung và thay thế, chế phẩm từ máu, thuốc

có nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc-xin [9]

Các mục tiêu cụ thể của Cảnh giác Dược là:

- Cải thiện việc chăm sóc và sự an toàn cho bệnh nhân trong mối liên quan

sử dụng thuốc với can thiệp của điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh

- Cải thiện sức khỏe cộng đồng và sự an toàn trong việc sử dụng thuốc

- Phát hiện các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc và truyền đạt các phát hiện trong một thời gian kịp thời

- Đóng góp vào việc đánh giá lợi ích, tác hại, hiệu quả và nguy cơ của thuốc, tiền đề cho việc ngăn ngừa tác hại và tối đa hóa lợi ích của thuốc

- Khuyến khích sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả hơn (bao gồm cả yếu tố về kinh tế)

- Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo lâm sàng trong Cảnh giác Dược

và tuyên truyền hiệu quả tới cộng đồng [3]

1.1.2 Các đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dược

Triển khai hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần

có sự tham gia của nhiều đối tác đa ngành bao gồm người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Hội đồng Thuốc và điều trị (nếu có), các phòng chức năng, các khoa lâm sàng (hoặc khoa, phòng khám bệnh), khoa, phòng cận lâm sàng và khoa Dược (hoặc bộ phận Dược lâm sàng) Giám sát phản ứng có hại của thuốc là trách nhiệm của tất cả các nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác có liên quan đến sử dụng thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [10]

Mỗi đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dược lại đảm nhận những nhiệm

Trang 12

1.1.2.1 Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có nhiệm vụ:

- Tổ chức và triển khai hoạt động giám sát ADR trong đơn vị

- Giám sát việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá các kế hoạch giám sát

và giảm thiểu ADR

- Chỉ đạo xây dựng và triển khai các hoạt động dự phòng phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc dựa trên các hướng dẫn thực hành, khuyến cáo từ y văn, báo cáo về sai sót, các công cụ giám sát an toàn thuốc và phân tích dữ liệu an toàn thuốc của đơn vị

- Chỉ đạo việc đảm bảo quản lý, sử dụng thuốc và an toàn cho người bệnh

là cốt lõi của chiến lược đảm bảo chất lượng điều trị của đơn vị

- Chỉ đạo việc xây dựng “văn hóa an toàn” thông qua đào tạo, tập huấn và truyền thông các “bài học kinh nghiệm” trong đơn vị

- Chỉ đạo việc đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và quy chế chuyên môn về an toàn thuốc [10]

1.1.2.2 Tiểu ban giám sát ADR - Hội đồng Thuốc và điều trị/Bộ phận Dược lâm sàng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tổ chức khoa Dược

- Xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR và các sai sót trong chu trình cung ứng, sử dụng thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ giai đoạn xây dựng danh mục thuốc đến kê đơn của bác sĩ, chuẩn bị và cấp phát thuốc của dược sĩ, thực hiện y lệnh và hướng dẫn sử dụng của điều dưỡng, sự tuân thủ điều trị của người bệnh nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh trong quá trình điều trị

- Tổ chức giám sát ADR, ghi nhận và rút kinh nghiệm các sai sót trong điều trị

- Triển khai hệ thống báo cáo ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Thông tin cho nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về ADR, sai sót trong sử dụng thuốc để kịp thời rút kinh nghiệm chuyên môn

- Xác định danh mục thuốc có nguy cơ cao cần giám sát để đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng thuốc và xây dựng quy trình theo dõi, hướng dẫn sử dụng các thuốc này tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Trang 13

- Cập nhật, bổ sung, sửa đổi danh mục thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, hướng dẫn điều trị và các quy trình chuyên môn khác dựa trên thông tin về ADR và sai sót trong sử dụng thuốc ghi nhận được tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

và từ các cảnh báo của các cơ quan quản lý và chuyên môn của Bộ Y tế

- Tổ chức tập huấn định kỳ cho nhân viên y tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về kỹ năng phát hiện, xử trí ADR, kỹ năng điền báo cáo ADR đúng và đầy

đủ thông tin [10]

1.1.2.3 Khoa Dược

- Cập nhật thông tin sử dụng thuốc, thông tin về thuốc mới, thông tin về an toàn thuốc gửi đến nhân viên y tế và người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dưới nhiều hình thức như tư vấn chuyên môn trực tiếp, sinh hoạt khoa học, cung cấp bản tin, thông tin về thuốc và các tài liệu chuyên môn thông tin thuốc khác

- Giám sát chất lượng thuốc trong quá trình sử dụng thuốc tại bệnh viện

- Tham gia xây dựng và sửa đổi quy trình giám sát và báo cáo ADR tại đơn

- Trao đổi với bác sĩ, điều dưỡng nếu phát hiện ADR khi thực hiện hoạt động Dược lâm sàng tại khoa phòng để có biện pháp xử trí phù hợp

- Cung cấp thông tin về thuốc trong quá trình xác định và xử trí ADR theo yêu cầu của nhân viên y tế

- Phân tích/đánh giá các báo cáo ADR và tổng kết định kỳ dữ liệu báo cáo ADR tại đơn vị

- Phổ biến các thông tin thu được thông qua chương trình giám sát ADR cho nhân viên y tế và người bệnh, đặc biệt các ADR nghiêm trọng và ADR không định trước

Trang 14

- Hướng dẫn, hỗ trợ bác sĩ và điều dưỡng viên hoàn thiện đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết trong mẫu báo cáo phản ứng có hại của thuốc

- Dược sĩ có thể trực tiếp thu thập thông tin và viết báo cáo ADR

- Lưu thư cảm ơn đã nhận được báo cáo và thư phản hồi kết quả thẩm định báo cáo ADR của Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc

và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc gửi cho nhân viên y tế đã tham gia báo cáo [10]

Trang 15

- Khoa cận lâm sàng: phối hợp với khoa lâm sàng và khoa Dược để giám sát các phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc thông qua kết quả xét nghiệm cận lâm sàng hoặc kết quả chẩn đoán hình ảnh [10]

- Tuân thủ cảnh báo và thận trọng khi kê đơn sử dụng các thuốc có nguy cơ cao hoặc kê đơn trên đối tượng người bệnh có nguy cơ cao

- Tuân thủ quy trình bảo quản và sử dụng thuốc cho người bệnh

- Kiểm tra tương tác thuốc, chống chỉ định, trùng lặp hoạt chất/nhóm dược

lý trong quy trình cấp phát và sử dụng thuốc

- Báo cáo ADR theo quy định khi phát hiện, ghi nhận phản ứng xảy ra trên người bệnh

- Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm sàng phù hợp

- Phân tích nguyên nhân để xác định thuốc nghi ngờ Giảm liều hoặc ngừng thuốc nghi ngờ gây ADR trong điều kiện lâm sàng cho phép

- Kịp thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ, đảm bảo chức năng sống còn cho người bệnh

- Thực hiện theo các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có liên quan nếu việc xử trí ADR thuộc phạm vi các hướng dẫn đó

- Trong trường hợp cần thiết, trao đổi hướng xử trí với đồng nghiệp, tổ chức hội chẩn chuyên môn, tham khảo thêm thông tin về ADR từ bộ phận Dược lâm sàng hoặc các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

Trang 16

- Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ

- Đảm bảo thông tin của phản ứng có hại nghi ngờ do thuốc được ghi chép vào hồ sơ bệnh án, bao gồm cả hệ thống cấp phát và kê đơn điện tử (nếu có) [10]

1.1.3 Các hoạt động theo dõi ADR bệnh viện

Chương trình giám sát ADR là một trong các nội dung quan trọng trong chu trình sử dụng thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Có 06 nhiệm vụ chính trong hoạt động giám sát ADR tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

- Phân công bộ phận/người phụ trách giám sát ADR

- Xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR

- Phát hiện ADR

- Báo cáo ADR

- Đánh giá ADR

- Dự phòng ADR [10]

1.1.3.1 Phân công bộ phận/người phụ trách giám sát ADR

- Đối với các bệnh viện, Tiểu ban giám sát ADR theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế Quy định

về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện có trách nhiệm triển khai giám sát ADR tại bệnh viện Thành phần trong Tiểu ban giám sát ADR có thể bao gồm: lãnh đạo bệnh viện (Trưởng Tiểu ban), đại diện khoa Dược (ưu tiên dược sĩ làm công tác dược lâm sàng), đại diện phòng Điều dưỡng, đại diện phòng Kế hoạch tổng hợp, đại diện phòng Quản lý chất lượng, đại diện các Khoa lâm sàng và thành viên khác (nếu có, ví dụ: công nghệ thông tin)

- Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện hoặc phân công nhiệm vụ

cụ thể cho nhân viên y tế (bộ phận Dược lâm sàng) phụ trách hoạt động giám sát ADR tại đơn vị [10]

1.1.3.2 Xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR

- Việc xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hoạt động báo cáo ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Trang 17

Trong đó, dược sĩ lâm sàng (hoặc nhân viên y tế khác được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phân công) là đầu mối xây dựng và triển khai quy trình này Quy trình giám sát ADR cần được xây dựng phù hợp với điều kiện của từng cơ sở điều trị với các nội dung chính bao gồm: phát hiện, báo cáo, đánh giá và dự phòng ADR

- Để triển khai hiệu quả quy trình giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần đảm bảo sự cam kết của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, các phòng chức năng và các khoa lâm sàng, đảm bảo sự phối hợp đa ngành, phối hợp hoạt động báo cáo - phản hồi cho người báo cáo và ra quyết định phù hợp Ngoài ra, khuyến khích các đơn vị đa dạng hóa các cách tiếp cận, áp dụng công nghệ thông tin để hoạt động giám sát ADR được triển khai kịp thời, hiệu quả [10]

1.1.3.3 Phát hiện ADR

Việc phát hiện các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc và nguyên nhân gây

ra biến cố bất lợi là bước đầu tiên trong hoạt động giám sát ADR nhằm cải thiện

an toàn người bệnh thông qua xây dựng các chiến lược dự phòng và tối ưu hóa

việc sử dụng thuốc trong mỗi giai đoạn của quy trình khám bệnh, chữa bệnh Phát hiện ADR thông qua hoạt động thường quy

- Theo dõi và ghi nhận lại những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường xảy ra trên người bệnh dựa trên các thông tin do người bệnh cung cấp và các triệu chứng ghi nhận được trong quá trình chăm sóc, điều trị và theo dõi người bệnh

- Kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế người bệnh đã dùng

- Kiểm tra chất lượng cảm quan mẫu thuốc được lưu lại xem có biểu hiện

gì về chất lượng thuốc

- Kiểm tra lại một số thông tin sau: Người bệnh có tiền sử dị ứng, đặc biệt

là dị ứng thuốc không? Việc sử dụng thuốc có phù hợp tình trạng bệnh lý, có cân nhắc đến các bệnh mắc kèm và chống chỉ định trên người bệnh hay không? Liều dùng thuốc đã theo như khuyến cáo chưa?

- Xem xét sự phù hợp về thời điểm dùng thuốc nghi ngờ và thời điểm xuất hiện ADR

Trang 18

- Xác định diễn biến phản ứng có hại sau khi ngừng sử dụng và tái sử dụng thuốc nghi ngờ (nếu có)

- Kiểm tra lại xem phản ứng có hại được ghi nhận đã từng xảy ra với thuốc nghi ngờ hay chưa? có liên quan đến tác dụng dược lý đã biết của thuốc không?

Phát hiện ADR thông qua giám sát tích cực

- Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để khuyến khích nhân viên y tế phát hiện và báo cáo một cách tự nguyện các vấn đề liên quan đến thuốc (báo cáo ADR), tuy nhiên tình trạng “báo cáo thiếu” vẫn rất phổ biến nên cần có các phương pháp

bổ sung phát hiện các biến cố liên quan đến thuốc trong toàn bộ chu trình sử dụng thuốc, kể cả khi biến cố liên quan đến thuốc chưa tác động tới người bệnh (biến cố bất lợi tiềm tàng của thuốc) Khảo sát các biến cố bất lợi tiềm tàng của thuốc giúp xác định biến cố xảy ra ở khâu nào trong hệ thống và xác định khâu nào trong hệ thống kiểm soát đã hoạt động hiệu quả hoặc chưa hiệu quả

- Bên cạnh phát hiện và báo cáo ADR tự nguyện, các phương pháp giám sát tích cực thường được sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm giám sát có chủ đích, giám sát thông qua bộ công cụ tín hiệu phát hiện ADR, rà soát toàn

bộ bệnh án, quan sát trực tiếp và hoạt động của dược sĩ tại khoa lâm sàng Tuy nhiên, không có phương pháp nào có thể phát hiện tất cả các biến cố liên quan đến thuốc mà thường có giá trị bổ sung cho nhau Do đó, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thể cân nhắc triển khai một hoặc một số phương pháp phát hiện biến cố bất lợi liên quan đến thuốc phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị mình [10]

1.1.3.4 Báo cáo ADR

Đối tượng viết báo cáo

- Người trực tiếp viết báo cáo ADR là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác Khuyến khích sự phối hợp của các nhân viên y tế trong việc hoàn thiện báo cáo

- Thông tin về người báo cáo, bệnh nhân và đơn vị báo cáo ghi trong phiếu báo cáo phản ứng có hại của thuốc được các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc bảo mật theo quy định hiện hành

Các trường hợp cần báo cáo

- Báo cáo tất cả các biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình điều trị nghi ngờ

là phản ứng có hại gây ra bởi:

Trang 19

+ Thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm + Dược liệu, vị thuốc cổ truyền

- Ưu tiên báo cáo:

+ Phản ứng có hại mới, chưa được biết đến với thuốc

+ Phản ứng có hại xảy ra liên tục với một thuốc hoặc một lô thuốc trong thời gian ngắn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

+ Phản ứng có hại xảy ra liên quan thất bại điều trị, sử dụng thuốc không đạt hiệu lực mong muốn

+ Phản ứng có hại xảy ra liên quan đến tương tác thuốc hay quá liều thuốc

- Khuyến khích nhân viên y tế báo cáo các vấn đề về chất lượng thuốc và sai sót trong sử dụng thuốc

Thời gian gửi báo cáo

- Báo cáo cần được gửi trong thời gian sớm nhất có thể sau khi phát hiện ra phản ứng, ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ (báo cáo ban đầu) Trong trường hợp này, có thể bổ sung báo cáo nếu thu thập được thêm thông tin (báo cáo

Trang 20

quá thời hạn gửi báo cáo tới Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

Hình thức gửi báo cáo ADR

- Với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có Khoa Dược: Nhân viên y tế gửi báo cáo ADR tới Khoa Dược là đầu mối tập hợp báo cáo trong bệnh viện Trong trường hợp cần thiết, có thể gửi báo cáo trực tiếp đến Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc các Trung tâm khu vực, sau

đó thông báo lại cho khoa Dược

- Với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tổ chức Khoa Dược: Nhân viên y tế gửi báo cáo đến bộ phận Dược lâm sàng là đầu mối tập hợp báo cáo tại đơn vị hoặc có thể gửi trực tiếp đến Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc các Trung tâm khu vực

- Báo cáo ADR được điền vào mẫu báo cáo theo quy định và gửi về Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng

có hại của thuốc bằng một trong 4 hình thức sau:

Cách 1: Gửi qua bưu điện

Cách 2: Gửi qua thư điện tử (email)

Cách 3: Báo cáo ADR trực tuyến

+ Truy cập vào trang web: http://canhgiacduoc.org.vn

+ Đọc và làm theo hướng dẫn trên trang web

Cách 4: Điện thoại báo cáo trực tiếp cho Trung tâm trong trường hợp khẩn cấp Thông tin sau đó cần được điền vào mẫu báo cáo và gửi về Trung tâm theo một trong ba cách nêu trên

Phản hồi báo cáo từ phía Trung tâm Quốc gia và các Trung tâm Khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

- Khi nhận được báo cáo ADR, Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực sẽ gửi thư xác nhận cảm ơn tới đơn vị/cá nhân đã gửi báo cáo

- Các báo cáo ADR sẽ được Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực thẩm định theo Quy trình xử lý báo cáo ADR của Trung tâm

Trang 21

- Định kỳ hàng năm, Trung tâm Quốc gia tổ chức tổng kết, phân loại báo cáo ADR, gửi báo cáo tổng kết công tác báo cáo ADR về Bộ Y tế, Y tế Ngành, các

Sở Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Trong trường hợp cần phản hồi nhanh, đặc biệt với các ADR nghiêm trọng, Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực sẽ nhanh chóng tiến hành thu thập thông tin và thẩm định để gửi phản hồi cho nhân viên y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã gửi báo cáo [10]

1.1.3.5 Đánh giá ADR

Trước khi quy kết biến cố bất lợi xảy ra có liên quan đến thuốc không, các hoạt động đánh giá sẽ dựa trên thông tin của biến cố bất lợi ghi nhận được Khái niệm biến cố bất lợi được dùng thay cho ADR [10]

Đánh giá ADR bao gồm các hoạt động:

- Đánh giá mức độ nghiêm trọng

- Đánh giá mức độ nặng

- Đánh giá mối quan hệ nhân quả

- Đánh giá khả năng phòng tránh được của ADR

- Tổng kết dữ liệu ADR định kỳ [10]

1.1.3.6 Dự phòng ADR

- Nhiều phản ứng có hại của thuốc có thể ngăn ngừa được bằng các biện pháp dự phòng trong quá trình sử dụng thuốc cho người bệnh Để dự phòng ADR, trước hết các đối tác tham gia hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần tổ chức thực hiện hoạt động giám sát ADR theo Phần IV của Hướng dẫn này

- Bên cạnh đó, theo chu trình của hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, sau khi đánh giá ADR, khoa Dược (hoặc bộ phận Dược lâm sàng), phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Quản lý chất lượng hoặc đơn vị đầu mối được phân công cần tư vấn cho Hội đồng Thuốc và điều trị và người đứng đầu cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh phê duyệt và triển khai kế hoạch giám sát và giảm thiểu ADR để giúp hạn chế xuất hiện lại các ADR có thể phòng tránh được [10]

Trang 22

1.2 Hệ thống báo cáo tự nguyện

1.2.1 Định nghĩa

Hệ thống báo cáo tự nguyện về ADR được định nghĩa là: “một hệ thống mà các báo cáo về các phản ứng có hại của thuốc được các cán bộ y tế và các công ty dược phẩm thu thập và gửi tới cho cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng

có hại của thuốc một cách tự nguyện” [3]

Sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động Cảnh giác Dược nào cũng đều phụ thuộc vào hệ thống báo cáo ADR tự nguyện Cho đến nay, cán bộ y tế vẫn

là đối tượng báo cáo tự nguyện chủ yếu của hoạt động này [3]

- Báo cáo tự nguyện diễn ra trong suốt vòng đời của một loại thuốc, bắt đầu

từ ngày nó được tung ra thị trường Nó cung cấp thông tin từ thực tế lâm sàng thay

vì các thử nghiệm nghiên cứu (các cá nhân dễ bị tổn thương không được lựa chọn

để thử nghiệm và thời gian điều trị bị hạn chế)

Tuy nhiên, báo cáo tự nguyện cũng có một số hạn chế [11]:

- Thực trạng báo cáo thiếu dẫn đến tỷ lệ báo cáo tự phát là còn thấp so với

số lượng mắc ADR thực tế, gây khó khăn cho việc ước tính tỷ lệ và tần suất của ADR thông qua báo cáo tự nguyện

- Hệ thống báo cáo nguyện là một phương pháp giám sát thụ động chỉ dựa vào các cán bộ y tế để phát hiện và chủ động báo cáo ADR Việc báo cáo thay đổi

Trang 23

tùy theo kỹ năng và kinh nghiệm, mức độ hiểu biết của họ về hệ thống báo cáo tự nguyện cũng như khối lượng công việc của họ

1.2.3 Tình hình báo cáo ADR ở Việt Nam

Trung tâm DI&ADR Hà Nội trực thuộc Cục Quản lý Dược được thành lập năm 1994, năm 1998 Trung tâm DI & ADR phía Nam đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập với nhiệm vụ chính là thu thập và tổ chức thẩm định báo cáo ADR Đến năm 1999 Việt Nam đã được gia nhâp hệ thống mạng lưới của Tổ chức Giám sát thuốc toàn cầu UMC (Upssala Monitoring Centre) [12]

Theo quyết định 991/QĐ-BYT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Trung tâm DI & ADR Quốc gia được thành lập Trung tâm đã chính thức khai trương và đi vào hoạt động ngày 09/06/2009 Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp

có thu trực thuộc trường Đại học Dược Hà Nội, có tư cách pháp nhân, có con dấu

và tài khoản riêng theo qui định của pháp luật [12]

Trung tâm DI & ADR Quốc gia tổ chức và hoạt động theo Quy chế tổ chức hoạt động của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc do Trường Đại học Dược Hà Nội ban hành theo quyết định số 11/NQ-HĐTDHN ngày 10/3/2022 [13]

Trong giai đoạn 1994 – 2006, hoạt động của 2 Trung tâm này đã đạt một số kết quả quan trọng:

- Tiếp nhận: 6.164 báo cáo ADR trong giai đoạn 2004-2008 (trước đó không

có số liệu thống kê)

- Thẩm định: hoàn thành thẩm định 2.805 báo cáo ADR trong giai đoạn 2004-2006, đang thẩm định báo cáo năm 2007, 2008 (trước đó không có số liệu thống kê)

- Gửi báo cáo ADR tới Trung tâm theo dõi ADR của WHO: 2 đợt (đợt 1 năm 2001, đợt 2 năm 2006)

- Tổ chức tập huấn DI&ADR: khoảng 60 lớp cho cán bộ y tế

- Xuất bản một số tài liệu, poster về ADR [14]

Hội nghị Cảnh giác Dược 2018 chỉ ra thực trạng của hệ thống báo cáo AE/SAE (phản ứng bất lợi/phản ứng bất lợi nghiêm trọng) tại các tổ chức nhận thử

ở Việt Nam:

Trang 24

- Chưa hoàn thiện về tổ chức quản lý

- Thiếu chính sách chuyên biệt, các qui trình kỹ thuật

- Chưa được đào tạo đặc thù về báo cáo SAE [15]

Hình 1.1: Số lượng báo cáo ADR từ năm 2003 đến 2022

Số lượng báo cáo ADR tự nguyện ghi nhận tại Việt Nam nhìn chung tăng dần trong giai đoạn 2003 – 2022 và đạt tới 19591 báo cáo vào năm 2022 (hình 1.1), tương đương với tỷ lệ 199 báo cáo/ 1 triệu dân [8] Có thể thấy tỷ lệ này đã khá tương đồng với tỷ lệ tiêu chuẩn của một hệ thống thu thập báo cáo ADR tự nguyện

có hiệu quả mà Tổ chức Y tế thế giới đã đề ra (200 báo cáo/ 1 triệu dân) [16]

Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2022 cho thấy trong số các báo cáo

đã tiếp nhận, có có 19352 (98,75%) báo cáo về biến cố bất lợi của thuốc, 109 (0,6%) báo cáo về chất lượng thuốc, 15 (0,08%) báo cáo về sai sót trong sử dụng thuốc và 132 (0,67%) báo cáo về các vấn đề khác (báo cáo liên quan đến thiết bị y

tế, sử dụng với chỉ định chưa được phê duyệt…) [8] Ngoài ra thì tỷ lệ báo cáo vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương, khu vực và các tuyến bệnh viện [8]

Việc gửi báo cáo ADR nhiều khi vẫn mang tính hình thức còn thể hiện ở chất lượng báo cáo Luận văn tốt nghiệp “Phân tích thực trạng báo cáo SAE trong TNLS thuốc tại VN giai đoạn 2014-2017” của Điều Huy Anh Quân đã chỉ ra rằng trong năm 2017 có tới 123 báo cáo (32%) không đủ thông tin xác định người báo

Trang 25

cáo, 55 báo cáo (14%) không đủ thông tin xác định thuốc nghiên cứu, 334 báo cáo (87%) không có thông tin về thuốc dùng kèm [15]

Như vậy, hoạt động báo cáo ADR tự nguyện ở Việt Nam đã có những kết quả tích cực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng báo cáo cần được khắc phục

1.3 Hoạt động Cảnh giác Dược với thuốc điều trị ung thư

1.3.1 Sự cần thiết triển khai hoạt động Cảnh giác Dược với các bệnh viện/khoa phòng về ung bướu

Ở Úc, 11% các ADR tại bệnh viện có liên quan đến thuốc chống ung thư và thuốc ức chế miễn dịch đối với thuốc chống ung thư là tác nhân phổ biến nhất cho

lí do nhập viện liên quan đến thuốc [17] Ngoài ra, các bệnh nhân ung thư gặp ít nhất một ADR khi nhập viện hoặc trong thời gian nằm viện, và hơn 40% bệnh nhân gặp phải 3 ADR hoặc nhiều hơn, 88% các ADR này được đánh giá là có thể

dự đoán được [17]

Một nghiên cứu ở Ấn Độ diễn ra trong vòng 2 năm, 1008 bệnh nhân ung thư được điều trị bằng hóa trị liệu, kết quả thu được 591 báo cáo về ADR (58,6%), trong đó 12,9% ADR được đánh ở mức độ nghiêm trọng [17], tỉ lệ này cũng được ghi nhận là 8,2% ở một nghiên cứu khác [18] Cùng với đó, tỉ lệ ADR có thể phòng ngừa được là 49% [18], con số này lần lượt là 45,3% và 52,2% ở 2 nghiên cứu khác diễn ra ở Ấn Độ và Nepal [19, 20] Thang điểm Naranjo được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa thuốc và ADR trong quá trình nghiên cứu, kết quả là 80% các ADR có thể xảy ra (điểm 1-4) [17], phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu khác là 86,7% và 66% [19, 20] Qua đây nhấn mạnh vai trò của hoạt động giám sát như một công cụ để phát hiện sớm, đánh giá và quản lí kịp thời ADR ở bệnh nhân phải trải qua hóa trị liệu [21]

Theo một nghiên cứu ở Mỹ, phản ứng có hại của thuốc trung bình làm tăng thời gian nằm viện của mỗi bệnh nhân lên 2.2 ngày, khiến sự gia tăng chi phí lên tới 3244 đô-la Mỹ (với thời giá đô-la năm 1997) [21]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc đào tạo và tập huấn về hoạt động Cảnh giác Dược để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành cho cán bộ y tế giúp cải thiện tích cực số lượng cũng như chất lượng báo cáo ADR nói chung [22], [23, 24], và đặc biệt trong điều trị ung thư nói riêng [25]

Trang 26

Như vậy, hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viện là rất quan trọng, đặc biệt là hoạt động báo cáo ADR tự nguyện, giúp phát hiện và giảm thiểu những phản ứng có hại của thuốc, đảm bảo sự an toàn cho người bệnh, đồng thời giảm bớt gánh nặng về chi phí và thời gian điều trị bệnh, đặc biệt là đối với ung thư, khi

mà đa số các thuốc điều trị đều có khoảng điều trị hẹp và độc tính cao

1.3.2 Các ADR thường gặp của thuốc điều trị ung thư

Thuốc điều trị ung thư thường tác động không phân biệt đối với tế bào bình thường hay tế bào ung thư nên thường gây nhiều tác dụng phụ và độc tính Một số tác dụng phụ thường gặp như: nôn và buồn nôn, ức chế tủy xương, tiêu chảy, viêm loét niêm mạc, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, thoát mạch, [26]

Một nghiên cứu tại Ấn Độ trong vòng 2 năm đã cho thấy hệ thống bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ADR do hoá trị là tiêu hóa (43,7%), tiếp theo là da liễu (24,9%) và huyết học (23,2%), cụ thể các ADR thường gặp bao gồm buồn nôn và nôn (25,5%), rụng tóc (20,9%), giảm bạch cầu (18,6%), sau đó là tiêu chảy (7,1%), viêm dạ dày (3,4%) [17] Ở một nghiên cứu khác, thiếu máu là ADR phổ biến nhất với 42,6%, tiếp đó là giảm bạch cầu trung tính (31,1%), yếu cơ (29,5%) và táo bón (28,7%) [19]

1.4 Giới thiệu về Bệnh viện E và Trung tâm ung bướu

1.4.1 Vài nét về Bệnh viện E

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế, được thành lập theo Quyết định số 175/TTg-Vg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 10 năm 1967 [27]

Trong những năm gần đây, Bệnh viện được Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế quan tâm, tạo điều kiện đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn, kỹ thuật, đào tạo và nghiên cứu khoa học Nhiều khoa, phòng, trung tâm mới được thành lập Đội ngũ y, bác sĩ của Bệnh viện E đã làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến về phẫu thuật và can thiệp tim mạch, phẫu thuật thần kinh sọ não, chấn thương chỉnh hình, nội soi can thiệp tiêu hóa Đến nay, bệnh viện đã phát triển với quy mô hơn 1.000 giường bệnh (gồm Trung tâm Tim mạch và 62 khoa phòng chức năng) trên diện tích 41.000 m2 với khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, xanh, sạch, đẹp Đội ngũ nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao được đào tạo bài bản, tâm huyết với Bệnh viện Quan hệ hợp tác ngày càng phát triển, tạo cơ hội cho bệnh viện tiếp cận được những kỹ thuật cao ngang tầm khu vực và thế giới Chất lượng dịch vụ khám,

Trang 27

chữa bệnh được nâng cao, cảnh quan bệnh viện xanh, sạch, đẹp Uy tín và thương hiệu của Bệnh viện được khẳng định Người bệnh đến khám và điều trị ngày một tăng lên [27]

1.4.2 Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E

Chuyên ngành ung bướu đang có sự phân bố không đều và chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân [27] Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E

là một trong những đơn vị điều trị ung bướu dù được thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian gần đây, nhưng với cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E sẽ trở thành một địa chỉ khám chữa bệnh giúp nhiều người bệnh được điều trị tốt hơn trong tương lai [27]

GS.TS Lê Ngọc Thành – Giám đốc Bệnh viện E khẳng định: Mục tiêu sự hợp tác, hỗ trợ giữa Bệnh viện E và Bệnh viện Bạch Mai nhằm hướng tới việc khám chữa bệnh chuyên ngành ung bướu được chuyên nghiệp, giúp người bệnh được khám, tư vấn và điều trị một cách tốt nhất Cơ sở vật chất, trang thiết bị của Bệnh viện E được trang bị hiện đại chắc chắn sẽ đáp ứng mọi nhu cầu điều trị của người bệnh ung bướu [27]

Ngoài ra, GS Thành cũng mong muốn, các khoa chuyên ngành ung bướu của Bệnh viện E không chỉ là nơi khám chữa bệnh cho người dân mà phải là nơi đào tạo cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh… của các trường Đại học: Y Hà Nội, Y dược – Đại học QGHN… [27]

1.4.3 Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E

Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E được trình bày trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Quy trình báo cáo ADR của Bệnh viện E Trách

- Theo dõi và phát hiện những biểu hiện lâm sàng

và cận lâm sàng bất thường xảy ra trên người bệnh dựa trên các thông tin do người bệnh cung cấp và các triệu chứng ghi nhận được trong quá trình chăm sóc, theo dõi người bệnh

- Thông báo ngay cho bác sĩ điều trị và Khoa Dược về tình trạng bất thường của người bệnh

- Ghi lại các thông tin liên quan tới các thuốc mà

Trang 28

lưu tại khoa các mục: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

12, 13, 14, 15, 16

- Giữ lại vỏ bao bì thuốc, vỉ thuốc mà người bệnh

đã sử dụng để tham khảo trong trường hợp cần thêm thông tin

- Trong trường hợp khẩn cấp, có thể ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ gây ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh trước khi thông báo cho bác sĩ

Bác sỹ

- Kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế người bệnh đã sử dụng: chất lượng, chỉ định thuốc, liều dùng, tiền sử dị ứng thuốc của BN, thời điểm dùng thuốc

- Kiểm tra lại tình trạng và các xét nghiệm của bệnh nhân

- Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm sàng phù hợp đánh giá theo mục 11, 12 trong mẫu báo cáo

- Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ

- Tra cứu xem ADR đã được ghi nhận trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc hay các tài liệu y văn

Xử trí ADR

Hoàn thiện báo cáo ADR

Đánh giá và

xử trí ADR

Gửi báo cáo ADR

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các báo cáo ADR của Bệnh viện E gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 2022 – 2023

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2022 - 05/2023

Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Dược và Trung tâm ung bướu của Bệnh viện E

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả hoạt động báo cáo ADR tại Bệnh viện E gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 01/2022 - 03/2023

- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Hồi cứu dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu về báo cáo ADR của Bệnh viện E được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ 01/2022 - 03/2023

- Cấu trúc dữ liệu: Dữ liệu gồm 3 phần chính là thông tin về báo cáo, thông tin về thuốc nghi ngờ và đánh giá chất lượng báo cáo ADR

Mục tiêu 2: Mô tả hoạt động báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 - 05/2023

- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu tiến

cứu

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Hồi cứu dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu về báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ 01/2022 - 03/2023

+ Tiến cứu thu thập thông tin ADR chủ động của nhóm nghiên cứu gồm

1 dược sĩ lâm sàng và 1 sinh viên diễn ra trong tháng 4/2023 theo quy trình như sau:

Trang 30

Đầu tiên, chúng tôi rà soát danh mục thuốc điều trị ung thư hiện được sử dụng tại Bệnh viện E, phân loại các thuốc theo dược chất, và lập bảng các tác dụng không mong muốn của từng dược chất đã được ghi nhận trong Dược thư Quốc gia

Sau đó tiến hành thu thập ADR bằng cách: theo dõi, ghi chép lại những bệnh nhân đang điều trị hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu, phỏng vấn và thăm hỏi trực tiếp những bệnh nhân này, từ đó thu thập lại những triệu chứng, biểu hiện ADR nếu có (những ADR này trước hết sẽ được đối chiếu với bảng tác dụng không mong muốn đã lập nói trên, và xem xét xem liệu thuốc điều trị ung thư mà bệnh nhân đang sử dụng có thể là nguyên nhân gây ra ADR hay không), sau đó kết hợp với bệnh án để viết báo cáo Các báo cáo ADR cuối cùng được thông qua dược sỹ lâm kiểm duyệt và gửi lên Trung tâm DI & ADR Quốc gia trong tháng 4 và đầu tháng 5/2023

- Cấu trúc dữ liệu: Dữ liệu gồm 4 phần chính là thông tin về báo cáo, thông tin về thuốc nghi ngờ, thông tin về ADR và đánh giá chất lượng báo cáo ADR

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023

a) Thông tin về báo cáo

- Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR của Bệnh viện E so với tổng số báo cáo ADR của cả nước

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR: là thời gian từ khi ADR xảy ra đến khi báo cáo ADR này được gửi về Trung tâm DI&ADR Quốc gia

- Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR

- Đối tượng tham gia báo cáo: tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn

b) Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

Thuốc nghi ngờ gây ADR được phân loại theo hệ thống phân loại ATC Mã ATC là một hệ thống phân loại mà trong đó các hoạt chất được phân vào những nhóm khác nhau tương ứng với cơ quan hoặc hệ cơ quan mà chúng tác động cũng như những đặc tính điều trị, đặc tính dược lý và đặc tính hóa học của chúng [28]

- Tổng hợp báo cáo ADR theo lý do sử dụng thuốc: sử dụng phân loại

ICD-10 của WHO

Trang 31

- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo

- Các nhóm dược lý được báo cáo nhiều nhất

c) Chất lượng báo cáo ADR

- Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo (report completeness score) theo thang điểm VigiGrade của hệ thống Documentation grading thuộc Trung tâm theo dõi Uppsala của Tổ chức Y tế thế giới WHO (Trung tâm WHO–UMC) [29]

+ Điểm hoàn thành một báo cáo được tính bằng trung bình cộng điểm của các cặp thuốc – ADR trong báo cáo, với điểm hoàn thành báo cáo của một cặp thuốc – ADR được tính theo công thức:

𝐶 = ∏

10

𝑖=1

(1 − 𝑃𝑖)

Trong đó: C là điểm hoàn thành của một cặp thuốc – ADR

Pi là điểm phạt của mỗi trường thông tin bị thiếu (Phụ lục 1) [29] + Các báo cáo không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không mô tả biểu hiện ADR được xếp vào nhóm không đủ điều kiện đánh giá (0 điểm)

+ Điểm hoàn thành của một báo cáo thấp nhất là 0 và cao nhất là 1 Báo cáo

có điểm hoàn thành < 0,8 là báo cáo kém chất lượng và báo cáo có điểm hoàn thành từ 0,8 đến 1 điểm là báo cáo chất lượng tốt

- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành báo cáo trung bình

2.4.2 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023

a) Thông tin về báo cáo

- Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu

so với tổng số báo cáo ADR của Bệnh viện E

- Tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng: các báo cáo ADR nghiêm trọng là các báo cáo có ADR được phân loại từ mức độ 3 trở lên (độ 3, 4 và 5) theo “Bảng kiểm giám sát tác dụng không mong muốn, độc tính của hóa trị” tại quyết định số

Trang 32

sàng cho Dược sỹ trong một số bệnh không lây nhiễm (phụ lục 2) [26] Đối với một số ADR không thường gặp khác sẽ được đối chiếu và phân loại ở mức độ 3 (phản ứng nặng yêu cầu nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện) và mức độ 4 (phản ứng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng) theo thang phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [30]

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR

- Đối tượng tham gia báo cáo: tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn

b) Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo

- Các thuốc nghi ngờ được báo cáo

c) Thông tin về ADR

- Các biểu hiện ADR được ghi nhận

- Mức quy kết quan hệ nhân quả thuốc – ADR: là kết quả đánh giá theo thang điểm Najanro (phụ lục 3) [31]

- Các ADR hiếm gặp: là những phản ứng có tần suất xuất hiện nhỏ hơn 1/1000 theo Dược thư Quốc gia Việt Nam [32]

d) Chất lượng báo cáo ADR

- Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo theo thang điểm VigiGrade [29]

- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành báo cáo trung bình

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả qua chương trình Microsoft Excel 2016

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023

3.1.1 Thông tin về báo cáo

3.1.1.1 Số lượng báo cáo ADR

Tổng số báo cáo ADR của Bệnh viện E giai đoạn từ 01/2022 - 03/2023 là 47 báo cáo, số lượng báo cáo ADR theo năm được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Số lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E

Thời gian Số báo cáo ADR

lệ số lượng báo cáo của Bệnh viện E so với cả nước vẫn còn thấp

3.1.1.2 Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR

Kết quả thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR của Bệnh viện E đến Trung tâm DI&ADR Quốc gia được thể hiện trong hình 3.1

Hình 3.1 Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày)

0 1 2 3 4 5 6

Thời gian trì hoãn trung bình (ngày)

Trang 34

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình của bệnh viện khá ngắn và có xu hướng giảm nhẹ, trong tổng số 47 báo cáo chỉ có duy nhất 1 báo cáo chưa được gửi đúng thời hạn quy định theo “Hướng dẫn hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc của Bộ Y tế” [10]

3.1.1.3 Các khoa phòng tham gia báo cáo

Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR của các khoa phòng trong bệnh viện giai đoạn 01/2022 – 03/2023 được trình bày trong bảng 3.2

Bảng 3.2 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR tại Bệnh viện E

N=47

2 Khoa gây mê hồi sức ngoại –

Có 7/36 khoa phòng (chiếm tỷ lệ 19,44%) có báo cáo ADR trong giai đoạn 01/2022 – 03/2023 Trong đó, Trung tâm Ung bướu có tỷ lệ báo cáo cao nhất (44,68%), tiếp đến là khoa gây mê hồi sức ngoại – Trung tâm tim mạch (21,28%) Bên cạnh đó, còn rất nhiều khoa phòng chưa tham gia báo cáo

3.1.1.4 Đối tượng tham gia báo cáo

Chỉ có 3 nhân viên y tế đã tham gia viết và gửi báo cáo ADR tới Trung tâm DI

& ADR Quốc gia, 100% đều là dược sĩ, chưa có bác sĩ, điều dưỡng nào tham gia báo cáo ADR

3.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

3.1.2.1 Tổng hợp báo cáo ADR theo lý do sử dụng thuốc

Tiến hành tổng hợp lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR, kết quả được trình bày qua bảng 3.3

Ngày đăng: 11/11/2023, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Marília Berlofa Visacri, Cinthia Madeira de Souza, Rafaela Pimentel và các cộng sự. Pharmacovigilance in oncology: pattern of spontaneous notifications, incidence of adverse drug reactions and under-reporting. Brazilian Journal of Pharmaceutical Sciences. 2014; 50: 411-422 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brazilian Journal of Pharmaceutical Sciences
4. Paolo Baldo, Giulia Fornasier, Laura Ciolfi và các cộng sự. Pharmacovigilance in oncology. International Journal of Clinical Pharmacy. 2018; 40: 832-841 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Clinical Pharmacy
5. Patrick Waller và Mira Harrison-Woolrych. An introduction to pharmacovigilance. John Wiley &amp; Sons. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: John Wiley & Sons
6. Shanthi N Pal, Chris Duncombe, Dennis Falzon và các cộng sự. WHO strategy for collecting safety data in public health programmes: complementing spontaneous reporting systems. Drug safety. 2013; 36: 75-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug safety
11. Rachna Kasliwal. Spontaneous reporting in pharmacovigilance: strengths, weaknesses and recent methods of analysis. J Clin Prev Cardiol. 2012; 1: 20- 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Clin Prev Cardiol
15. Điều Huy Anh Quân. Phân tích thực trạng báo cáo SAE trong TNLS thuốc tại VN giai đoạn 2014-2017. Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Dược học. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Dược học
17. Deepti Chopra, Harmeet Rehan, Vibha Sharma và các cộng sự. Chemotherapy- induced adverse drug reactions in oncology patients: a prospective observational survey. Indian Journal of Medical and Paediatric Oncology.2016; 37(01): 42-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian Journal of Medical and Paediatric Oncology
18. Saravana Kumar Ramasubbu, Rajesh K Pasricha, Uttam K Nath và các cộng sự. Frequency, nature, severity and preventability of adverse drug reactions arising from cancer chemotherapy in a teaching hospital. Journal of Family Medicine and Primary Care. 2020; 9(7): 3349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Family Medicine and Primary Care
19. Sunil Shrestha, Rajani Shakya, Sudip Shrestha và các cộng sự. Adverse drug reaction due to cancer chemotherapy and its financial burden in different hospitals of Nepal. Int J Pharmacovigilance. 2017; 2(1): 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Pharmacovigilance
20. Julie Birdie Wahlang, Purnima Devi Laishram, Dhriti Kumar Brahma và các cộng sự. Adverse drug reactions due to cancer chemotherapy in a tertiary care teaching hospital. Therapeutic advances in drug safety. 2017; 8(2): 61-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Therapeutic advances in drug safety
21. David W Bates, Nathan Spell, David J Cullen và các cộng sự. The costs of adverse drug events in hospitalized patients. Jama. 1997; 277(4): 307-311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jama
22. Adolfo Figueiras, Maria T Herdeiro, Jorge Polónia và các cộng sự. An educational intervention to improve physician reporting of adverse drug reactions: a cluster-randomized controlled trial. Jama. 2006; 296(9): 1086- 1093 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jama
23. Somayeh Hanafi, Hassan Torkamandi, Alireza Hayatshahi và các cộng sự. An educational intervention to improve nurses’ knowledge, attitude, and practice toward reporting of adverse drug reactions. Iranian Journal of Nursing and Midwifery Research. 2014; 19(1): 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iranian Journal of Nursing and Midwifery Research
24. Elena Lopez-Gonzalez, Maria T Herdeiro, Marớa Piủeiro-Lamas và cỏc cộng sự. Effect of an educational intervention to improve adverse drug reaction reporting in physicians: a cluster randomized controlled trial. Drug safety. 2015; 38: 189- 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug safety
25. M Reumerman, Jelle Tichelaar, Rike van Eekeren và các cộng sự. The potential of training specialist oncology nurses in real-life reporting of adverse drug reactions. European Journal of Clinical Pharmacology. 2021; 77(10): 1531- 1542 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Clinical Pharmacology
28. Statistics Methodology WHO Collaborating Centre for Drug (2013), "Guidelines for ATC classification and DDD assignment 2013". 2013: 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for ATC classification and DDD assignment 2013
Tác giả: Statistics Methodology WHO Collaborating Centre for Drug
Năm: 2013
29. Tomas Bergvall, G Niklas Norén và Marie Lindquist. VigiGrade: a tool to identify well-documented individual case reports and highlight systematic data quality issues. Drug safety. 2014; 37: 65-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug safety
31. Cláudio A Naranjo, Usoa Busto, Edward M Sellers và các cộng sự. A method for estimating the probability of adverse drug reactions. Clinical Pharmacology&amp; Therapeutics. 1981; 30(2): 239-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Pharmacology "& Therapeutics
12. Trung tâm DI &amp; ADR Quốc gia, truy cập ngày 07-11-2022, tại trang web http://canhgiacduoc.org.vn/Home.aspx Link
27. Bệnh viện E, truy cập ngày 20-11-2022, tại trang web https://benhviene.com/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w