LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ khi con người biết lao động thì phương thức sản xuất cũng ra đời , trong mỗi giai đoạn phát triển lại ứng với một phương thức sản xuất khác nhau. Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất theo trật từ từ thấp lên cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa , xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử , thể hiện tính liên tục lịch sử. Từ thế kỉ thứ XIX, Mác và Ăngghen đã đề ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất. Sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã được loài người qua những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử thừa nhận. Đó chính là quy luật vận động và phát triển của xã hội qua sự thay đổi kế tiếp từ thấp đến cao của các phương thức sản xuất. Với mong muốn được tìm hiểu rõ về quy luật quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất và tìm hiểu xem quy luật này được vận dụng như thế nào vào nước ta, tác giả quyết định chọn đề tài “ Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢNG SẢN XUẤT , QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA CHÚNG 3
1.1 Lực lượng sản xuất 3
1.2 Quan hệ sản xuất 4
1.3 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 6
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUÂT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
2.1 Trước thời kì đổi mới 10
2.2 Từ năm 1986 đến nay 12
2.3 Liên hệ thực tế 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi con người biết lao động thì phương thức sản xuất cũng ra đời, trong mỗi giai đoạn phát triển lại ứng với một phương thức sản xuất khácnhau Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất theo trật từ từ thấplên cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa , xã hội chủ nghĩa Đó là quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử ,thể hiện tính liên tục lịch sử
Từ thế kỉ thứ XIX, Mác và Ăngghen đã đề ra quy luật về sự phù hợpgiữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất Sự tác động của quy luậtquan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượngsản xuất đã được loài người qua những giai đoạn phát triển khác nhau củalịch sử thừa nhận Đó chính là quy luật vận động và phát triển của xã hộiqua sự thay đổi kế tiếp từ thấp đến cao của các phương thức sản xuất Vớimong muốn được tìm hiểu rõ về quy luật quan hệ giữa quan hệ sản xuất vàlực lượng sản xuất và tìm hiểu xem quy luật này được vận dụng như thế
nào vào nước ta, tác giả quyết định chọn đề tài “ Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tác giả đánh giá thực trạng nềnkinh tế thị trường ở Việt Nam và sự ảnh hưởng của quy luật này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 4Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu cả về quan điểm của Mác về quy luật
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất và quan điểm này trong thực tế thị trường Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp và nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu : Tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:+ Phương pháp duy vật biện chứng
+ Phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Một số phương pháp khác như : logic, thống kê, tổng hợp, hệ thống, v vNhiệm vụ nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau :
+ Thực trạng Việt Nam trước thời kì đổi mới
+ Thành tựu nước ta đạt được từ năm 1986 đến nay
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quan hệ sản xuất vàlực lượng sản xuất ; tác giả làm rõ những tác động của quy luật này đếnnền kinh tế thị trường Việt Nam , đồng thời đề xuất những quan điểm, cácgiải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa
6 Kết cấu của tiểu luận :
Ngoài mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo ;Nội dung tiểu luận gồm có :Chương I: Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quy luật về sự phùhợp giữa chúng
Chương II: Vận dụng quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất vào vào việc xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 5CHƯƠNG 1:
LƯỢNG SẢN XUẤT , QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT VỀ SỰ
PHÙ HỢP GIỮA CHÚNG 1.1 Lực lượng sản xuất
Để tiến hành sản xuất vật chất, con người cần phải thiết lập mối quan
hệ với giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên bằng sức mạnh tổng hợp của mình,
đó chính là sức mạnh của sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất.Sức mạnh đó được khái quát thành khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm chi mối quan hệ giữa con người với tựnhiên trong quá trình sản xuất, thể hiện năng lực thực tiễn của con người,được tạo thành từ sự kết hợp giữa con người với tư liệu sản xuất trong quátrình sản xuất vật chất của xã hội
Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất gồm có người lao động và tư liệusản xuất
Người lao động với sức mạnh trí tuệ, thể chất, kinh nghiệm và kỹ nănglao động, là nhân tố giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất VI.Lênin khẳng định: "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân, là người lao động Khẳng định người lao động giữ vai trò quyếtđịnh trong lực lượng sản xuất là vì suy cho cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ làsản phẩm lao động của con người, do người lao động tạo ra và không ngừngđổi mới, cải tiến Giá trị và hiệu quả của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vàotrình độ sử dụng và sáng tạo của người lao động Về thực chất, những tư liệusản xuất chủ yếu của xã hội, đặc biệt là công cụ lao động chỉ là sự phản ánhtrình độ của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên
Tư liệu sản xuất: là toàn bộ những yếu tố, phương tiện dùng để tiến
hành sản xuất ra của cải vật chất, gồm có tư liệu lao động và đối tượng laođộng C Mác đã chỉ rõ “cả tư liệu lao động và đối tượng lao động đều biểuhiện ra là tư liệu sản xuất”
Trang 6Đối tượng lao động bao gồm những bộ phận của giới tự nhiên được đưavào trong sản xuất, trong đó có loại có sẵn trong tự nhiên, có loại do conngười tạo ra gọi là nguyên liệu.
Tư liệu lao động “là một vật, hay là toàn bộ những vật mà con ngườiđặt ở giữa họ và đối tượng lao động và được họ đặt làm vật truyền dẫn hoạtđộng của họ vào đối tượng ấy” Tư liệu lao động gồm có công cụ lao động vàđiều kiện vật chất cần thiết của quá trình lao động (những yếu tố tham giagián tiếp vào quá trình sản xuất) Trong đó, công cụ lao động là yếu tố độngnhất, quan trọng nhất trong tư liệu sản xuất, tác động đến sự biến chuyển xãhội, và cũng là một trong những yếu tố đặc trưng cho mỗi thời đại - Hiệnnay, trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngàycàng to lớn Khoa học thâm nhập vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất, từngười lao động đến từ liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động Khoa họcphát triển dẫn đến sự ra đời của những ngành sản xuất mới, máy móc thiết bịmới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới khiến cho năngsuất lao động ngày càng cao
1.2 Quan hệ sản xuất
Theo C Mác: "Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên
hệ và quan hệ nhất định với nhau, và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức làviệc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ đó".Nghĩa là, trong quá trình sản xuất vật chất, con người không những phải thiếtlập mối quan hệ với tự nhiên, mà con người đồng thời phải thiết lập mối quan
hệ với nhau, quan hệ đó được gọi là quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là khái niệm chỉ quan hệ giữa người với người trongquá trình sản xuất, gồm có ba mặt cơ bản: quan hệ về sở hữu đối với tư liệusản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phốisản phẩm lao động
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, quan hệ này do conngười tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản
Trang 7xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người C Mác chỉ rõrằng: "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có nhữngquan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ tức là nhữngquan hệ sản xuất"' Quan hệ sản xuất gồm có ba mặt: quan hệ về sở hữu đốivới tư liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ phânphối sản phẩm sản lao động
Thứ nhất, về quan hệ sở hữu, là quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất Trong quá trình phát triển của lịch sử đãxuất hiện hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng
Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tập trung vàotrong tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu sảnxuất Do đó, quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất và trongđời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột, xuất hiệntrong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản Sở hữu công cộng làloại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên củacộng đồng Nhờ đó, các thành viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhautrong tổ chức lao động và phân phối sản phẩm, sở hữu công cộng xuất hiệntrong thời kỳ nguyên thủy và sẽ được thiết lập lại ở chủ nghĩa cộng sản Quan
hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, quy định các quan
hệ xã hội khác Bởi vì, quan hệ này quy định địa vị của từng giai cấp trong hệthống sản xuất xã hội, quy định cách thức mà các giai cấp tổ chức quản lý sảnxuất, đồng thời quy định phương thức phân phối sản phẩm cho các giai cấptheo địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội
Thứ hai, quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất Về thực chất, tổ chức
quản lý sản xuất là việc điều khiển và tổ chức cách thức vận động các nhân tốcủa một nền sản xuất nhất định Quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất là quan
hệ giữa những người có quyền tổ chức, lãnh đạo quá trình sản xuất và nhữngngười phải chấp hành sự tổ chức, lãnh đạo đó Quan hệ này do quan hệ sở hữuquyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Chẳng hạn như trong
Trang 8thời kỳ nguyên thủy, tương ứng với quan hệ sở hữu công cộng là cách thức tổchức quản lý sản xuất theo kiểu tự quản, mọi người cùng làm, địa vị như nhautrong quá trình sản xuất Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tưbản chủ nghĩa, tương ứng với chế độ sở hữu tư nhân, các giai cấp nắm giữ tưliệu sản xuất trở thành giai cấp có vai trò tổ chức, quản lý sản xuất, các giaicấp không có tư liệu sản xuất trở thành người bị quản lý, bị điều khiển theo sự
tổ chức của giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất Quan hệ này có khả năng tácđộng trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của mỗi nền sản xuất cụ thể Nó
có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất
Thứ ba, quan hệ về phân phối sản phẩm Phân phối sản phẩm là sự
phân chia kết quả của quá trình lao động cho những người tham gia vào quátrình sản xuất theo tỷ lệ tham dự của họ vào quá trình đó, tỷ lệ này do bảnchất của chế độ xã hội quy định Quan hệ này phụ thuộc vào quan hệ sở hữu
và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất Biểu hiện ở chỗ, giai cấp nào nắm giữ tưliệu sản xuất và đóng vai trò tổ chức quản lý sản xuất thì giai cấp đó có quyềnquyết định trong phân phối sản phẩm, thực hiện việc bóc lột thông qua phânphối sản phẩm Giai cấp không có tư liệu sản xuất trở thành giai cấp bị bóc lộttrong quá trình phân phối Tuy nhiên, do có khả năng kích thích trực tiếp vàolợi ích của người lao động nên nó tác động đến thái độ của con người tronglao động sản xuất, do đó nó cũng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất pháttriển
Ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệthống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất, là hình thức của sự sản xuất xã hội
1.3 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai mặt của sản xuất xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtkhông tồn tại biệt lập mà có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó lực lượngsản xuất giữ vai trò quyết định
Trang 9Phát triển là quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy Bởi vậy,
sự phát triển của sản xuất xã hội là quy luật tất yếu Sự phát triển của sản xuất
xã hội được bắt đầu từ công cụ lao động Sở dĩ như vậy là vì, trong quá trìnhlao động sản xuất, con người không ngừng tích lũy tri thức, kinh nghiệm sảnxuất Những tri thức, kinh nghiệm đó là cơ sở cho việc cải tiến công cụ laođộng Khi công cụ lao động được cải tiến, phương thức lao động thay đổi,năng suất lao động tăng lên tức là lực lượng sản xuất phát triển Sự pháttriển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ giữa con người với nhau trongviệc chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm cũngthay đổi Chẳng hạn, nếu dệt vải bằng khung cửi, cá nhân người thợ dệt có thể
tự tiến hành và họ có thể tự giải quyết mọi vấn đề liên quan đến hoạt động dệtvải Nhưng dệt vải bằng máy thì vốn, nguyên vật liệu, thị trường phải đủlớn, phải có phân công, hợp tác lao động chặt chẽ, phải có hợp đồng lao động,quy định tiền lương, quy chế thưởng phạt Như vậy, sự thay đổi của lựclượng sản xuất kéo theo sự thay đổi của quan hệ sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất vừa tiệm tiến, vừa nhảy vọt, theotừng nấc thang hay trình độ khác nhau Trình độ lực lượng sản xuất thể hiệnở: trình độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và kỹ năng laođộng của con người, trình độ phân công lao động xã hội
Khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp kém, phân công lao độngkhông phát triển, cá nhân có thể tiến hành quá trình sản xuất tương đối độclập tức là lực lượng sản xuất mang tính chất cá nhân Khi lực lượng sản xuấtphát triển ở trình độ cao hơn, phân công lao động trở nên sâu sắc; hoạt độngsản xuất của mỗi cá nhân phụ thuộc chặt chẽ vào các cá nhân khác tức là lựclượng sản xuất mang tính chất xã hội Như vậy, tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau Tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất thay đổi thì cách thức mà con người quan hệ với nhau trong
Trang 10sản xuất cũng phải thay đổi Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc vàotính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất còn là nhân tố quyết định đối với
sự thay đổi của các quan hệ xã hội K Marx viết: “Những quan hệ xã hội đềugắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có được những lực lượngsản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình và do thayđổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống cuả mình, loài người thay đổi tất cảnhững quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội cólãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản côngnghiệp”
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và có tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Chỉ khi nào quan hệ sảnxuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì cáchoạt động sản xuất mới có thể tiến hành một cách bình thường, sản xuất xãhội mới có thể phát triển Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là
“hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất, cả ba mặt của quan hệsản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng và kết hợp tư liệu sản xuấtvới sức lao động Với trạng thái phù hợp như vậy, lực lượng sản xuất sẽ cóđiều kiện phát triển tất cả các khả năng của nó Ngược lại, khi quan hệ sảnxuất không phù hợp với lực lượng sản xuất, các yếu tố cấu thành của lựclượng sản xuất sẽ không được sử dụng và phát huy hết các khả năng Điều đó
có nghĩa là sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ bị kìm hãm Vì vậy, đảmbảo sự phù hợp giữa hai mặt của sản xuất xã hội là đòi hỏi khách quan trongmọi giai đoạn phát triển của sản xuất xã hội
Lực lượng sản xuất không ngừng vận động, phát triển Do đó, quan hệsản xuất từ chỗ phù hợp với lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho lực lượngsản xuất phát triển dần dần trở nên không phù hợp, mâu thuẫn với lực lượngsản xuất, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn đó sẽ phát
Trang 11triển và ngày càng trở nên gay gắt và phải được giải quyết bằng việc thay thếquan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuấtvật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đócác lực lượng sản xuất từ trước đến nay vẫn phát triển Từ chỗ là những hìnhthức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành nhữngxiềng xích của lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu một cuộc cách mạng xãhội” Đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tínhchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật này tồn tại, hoạtđộng trong tất cả các giai đoạn phát triển của sản xuất xã hội Quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hộiloài người, từ chế độ cộng sản nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế
độ phong kiến, chế độ TBCN và đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạnđầu là CNXH
Như vậy, ở giai đoạn cuối mỗi phương thức sản xuất, khi lực lượng sảnxuất đã thay đổi về chất và mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất thì phảitiến hành cách mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệsản xuất mới phù hợp Trong quá trình xây dựng xã hội mới, trước hết phảiquan tâm phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời phải kịp thời phát hiện, điềuchỉnh những yếu tố không phù hợp trong quan hệ sản xuất theo nguyên tắcquan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất