1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Án Tiến Sỹ Diễn Ngôn Về Giới Trên Truyền Thông Sau Đổi Mới.pdf

234 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn Ngôn Về Giới Trên Truyền Thông Sau Đổi Mới
Tác giả Hồ Thị Giang
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Quỳnh Phương
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung vào các diễn ngôn liên quan đến giới trong bối cảnh truyền thông... Luận án nhằm trả lời một

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS PHẠM QUỲNH PHƯƠNG

Hà Nội - 2023

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì một công trình nào khác

Luận án có kế thừa và sử dụng một số tài liệu đã công bố có liên quan đến đề tài để tham khảo Các nguồn tài liệu ấy đều được chú thích rõ ràng, chính xác Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả

Hồ Thị Giang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 10

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI 10

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10

1.2 Cơ sở lý luận 22

1.3 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau đổi mới 1986 36

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ DIỄN NGÔN VỀ GIỚI TRÊN TRUYỀN THÔNG 43 2.1 Diễn ngôn về “thiên chức” và phẩm chất của người phụ nữ 44

2.2 Diễn ngôn về “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” 52

2.3 Diễn ngôn về người phụ nữ tự chủ 61

2.4 Diễn ngôn về bình đẳng giới 74

CHƯƠNG 3 TÍNH TIẾP NỐI VÀ ĐỘNG NĂNG MỚI CỦA DIỄN NGÔN VỀ GIỚI TRÊN TRUYỀN THÔNG 99

3.1 Tính tiếp nối của các diễn ngôn về giới trên truyền thông 100

3.2 Điều kiện khả thể sau Đổi Mới cho sự duy trì, tiếp nối và củng cố các diễn ngôn về giới 125

3.3 Điều kiện khả thể của sự hình thành các diễn ngôn mới 135

Tiểu kết chương 3 150

KẾT LUẬN 151

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GS

TS PGS GS.TS PGS.TS Nxb

Xb

Tr

Báo PNVN HLH PNVN NGC

PNTV P.V

TP HCM

HN T.H BĐG Dantri ĐHQGHN KHXH&NV

: Giáo sư

: Tiến sỹ : Phó Giáo sư

: Giáo sư Tiến sỹ : Phó Giáo sư Tiến sỹ : Nhà xuất bản

: Xuất bản : Trang : Báo Phụ nữ Việt Nam : Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam : Nữ giới chung

: Phụ nữ Tân Văn : Phóng Viên : Thành phố

: Hồ Chí Minh : Hà Nội

: Trường hợp : Bình đẳng giới : Dantri.com : Đại học Quốc gia Hà Nội : Khoa học ã hội và Nhân Văn

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên một game show truyền hình “Ai là triệu phú” phát sóng phát sóng trên VTV, khi được hỏi “canh cua nấu với rau gì”, câu trả lời “không biết” của cô gái dự thi đã dấy lên một cuộc tranh luận về việc tại sao một người phụ nữ ở độ tuổi trưởng thành, sẵn sàng bước vào cuộc sống hôn nhân, lại không biết một điều tưởng như là tất yếu đối với mỗi người phụ nữ Việt Nam Bên cạnh quan điểm việc đó là điều “không thể chấp nhận” đối với phụ nữ mà “công dung ngôn hạnh” là phẩm chất cần thiết, thì cũng có nhiều ý kiến bênh vực cô gái và phản bác quan điểm nữ công gia chánh vẫn bị xem là phẩm chất của người phụ nữ hiện đại Sự khác biệt trong quan điểm này phần nào bộc lộ những thay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam cũng như những sự níu kéo của truyền thống đối với người phụ nữ nói riêng và thực hành giới nói chung.1

Từ đầu thế kỷ XX, với sự phát triển của báo chí và sự va đập của văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây, cũng như xuyên suốt lịch sử cách mạng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vai trò của người phụ nữ nói riêng và vấn đề bình đẳng giới nói chung trở thành chủ đề then chốt của vấn đề giới Trong những năm gần đây, Việt Nam đã giành được rất nhiều thành tựu về bình đẳng giới, ví dụ như luôn duy trì tỉ lệ nữ giới tham gia lực lượng lao động ở mức cao; sức khoẻ và trình độ học vấn của họ cũng ngày càng được cải thiện Trong quá trình thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (CLQG) từ 2011 - 2020), Việt Nam cũng đã đạt được 14 trên tổng số 22 chỉ tiêu (chiếm 2/3) (UN Women, 2021, tr.11) dẫn theo Ngô Thị Phương Lan và cộng sự [67, tr 228] … Bên cạnh đó, với sự hình thành và phát triển của các phương tiện truyền thông, nhiều diễn ngôn về giới được được thiết chế hoá và có tác động sâu sắc tới xã hội Điều này càng thể hiện đặc biệt rõ nét trên truyền thông từ sau Đổi mới

Năm 1986, với chính sách đổi mới, Việt Nam mở cửa đón nhận những nguồn lực từ nước ngoài mà trước tiên là những nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp và cũng là cơ hội để người dân tiếp xúc những nguồn thông tin toàn cầu, nâng cao hiểu biết và rút ngắn dần khoảng cách tụt hậu so với thế giới Chỉ sau

1 Tính đến 1/10/2013, 66% ý kiến được khảo sát trên Vnẽpress.vn coi đây là một hiện tượng không bình thường, trong khi 34% coi là bình thường Links https://vnexpress.net/nu-ky-su-thi-ai-la-trieu-phu-nghi-el- nino-la-mot-loai-sua

Trang 6

gần bốn thập kỷ Đổi mới, báo chí, báo chí truyền thông Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng và toàn diện nhất Tính đến ngày 30/11/2021, cả nước có 816

cơ quan báo chí, trong đó 114 cơ quan báo thực hiện hai loại hình báo chí (in và điện tử), 116 tạp chí thực hiện hai loại hình, 557 báo và tạp chí in, 29 báo và tạp chí điện tử;

72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh truyền hình Sau giai đoạn phát triển của báo in và báo hình, gần đây, cùng với kỷ nguyên của internet và điện thoại thông minh, báo mạng và mạng xã hội đã và đang chiếm lĩnh vai trò đối với truyền thông Với ưu điểm nhanh, cập nhật và có thể xem ở mọi nơi, xem đi xem lại, có thể xem cả hình lẫn âm thanh, báo mạng và mạng xã hội đã thực sự đóng vai trò quan trọng của truyền thông Việt Nam hiện nay.2 Chính trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của truyền thông chính thống và truyền thông mạng xã hội, những diễn ngôn về giới cũng trở nên đa chiều hơn và cũng có tính lan toả hơn Tuy nhiên, trong bối cảnh đặc thù của văn hóa Việt Nam, có sự khác biệt về mối quan tâm giữa giới nam và giới nữ Trong tác phẩm

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Lê Thị Nhâm

Tuyết có đặt ra câu hỏi: “Tại sao đàn ông cứ bình thản là đàn ông, trong khi phụ nữ lúc nào cũng là nạn nhân của mọi thứ định kiến, đồng thời lại là đối tượng được nâng niu trân trọng trong vai trò của ngọn nguồn nghệ thuật sáng tạo văn học nghệ thuật?” [159,

tr 11-12] Câu hỏi này đã động chạm cốt lõi đến vấn đề giới ở Việt Nam khi hình ảnh và diễn ngôn3 về giới ở Việt Nam phần lớn các các diễn ngôn về nữ giới Những dàn xếp xã hội và văn hoá đã khiến người đàn ông chỉ cần “bình thản là đàn ông” hay mặc nhiên được trao quyền, trong khi người phụ nữ trở thành trung tâm của diễn ngôn về giới trong lịch sử Việt Nam và sau Đổi mới Đặc biệt, sau Đổi mới, những diễn ngôn về giới bao chứa cả hai khuynh hướng: vừa định kiến với những khuôn mẫu giới, vừa cổ suý bình đẳng giới Bối cảnh sau Đổi mới cũng cho thấy sự tương tác giữa các diễn ngôn về giới và nhận thức, thực hành văn hóa, ứng xử, lối sống của người dân

Hiện thực phức tạp này đòi hỏi cần có một nghiên cứu cụ thể về diễn ngôn về giới trên truyền thông sau đổi mới, trong cái nhìn có tính lịch sử tiếp nối và bao quát của cả bối cảnh về giới ở Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua để hiểu được tại sao cả

2 https://vov.gov.vn/bao-dien-tu-la-mat-tran-moi-cua-bao-chi-truyen-thong-dtnew-337656

3 “Diễn ngôn” (discourse) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến, đặc biệt trong các nghiên cứu gần đây và được dùng sớm nhất trong ngôn ngữ học, nhằm ám chỉ phương thức hoạt động của ngôn từ, vượt ra ngoài văn bản và có thể xem xét sự vận hành của ngôn từ để khám phá các quan hệ quyền lực chi phối sự tạo thành và vận hành của chúng trong thực tiễn đời sống (Dẫn theo Phạm Quỳnh Phương, Hoàng Cầm [97, tr.50]

Trang 7

hai khuynh hướng diễn ngôn áp đặt khuôn mẫu giới và cổ suý cho bình đẳng giới cùng song song tồn tại Đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn về giới trên truyền thông, cho phép không chỉ nghiên cứu sự thịnh hành của những quan điểm về giới được tái hiện trên truyền thông, mà còn giúp chúng ta hiểu được những điều kiện khả thể cho phép diễn ngôn được duy trì củng cố, cũng như các diễn ngôn mới được nảy sinh Nghiên cứu diễn ngôn về giới trên truyền thông sau Đổi mới, do đó, sẽ là một góc

nhìn giúp nhận diện vấn đề giới trong sự biến đổi xã hội ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án khám phá tính tiếp nối và biến đổi của các diễn ngôn thịnh hành về giới trên truyền thông sau Đổi Mới, qua đó chỉ ra các khả thể của việc duy trì và tái củng cố diễn ngôn cũ đồng thời kiến tạo các diễn ngôn mới, trong những động năng mới của xã hội Việt Nam đương đại

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu về diễn ngôn nói chung và diễn ngôn về giới nói riêng để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu vấn đề diễn ngôn về giới trên truyền thông

Thứ hai, lịch sử hoá các diễn ngôn về phụ nữ trong lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến thời kỳ trước Đổi mới để hiểu về tính tiếp nối của diễn ngôn trong sự chuyển dịch của bối cảnh xã hội

Thứ ba, dựa vào các nguồn tư liệu báo chí và mạng xã hội, khám phá các diễn ngôn về khuôn mẫu và vai trò giới, cũng như bình đẳng giới từ thời kỳ trước được duy trì và tái củng cố sau Đổi mới

Thứ tư, tìm hiểu các điều kiện khả thể cho sự duy trì các diễn ngôn cũ và sự nảy sinh của các diễn ngôn mới, cũng như mối quan hệ giữa diễn ngôn và sự biến đổi xã hội ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu:

Luận án tập trung vào các diễn ngôn liên quan đến giới trong bối cảnh truyền thông Nếu như giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ, thì “giới” là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (CSAGA) [93] Giới là phạm trù xã hội, vì vậy những diễn ngôn về giới cũng là sự

Trang 8

kiến tạo có tính tri thức nằm trong bối cảnh văn hoá và xã hội nhất định

Mặc dù chủ đề luận án là diễn ngôn về giới, nhưng như đã trình bày ở trên, phụ nữ luôn là trung tâm của những diễn ngôn về giới ở Việt Nam, và cũng vì khuôn

khổ có hạn của một luận án, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các diễn ngôn về phụ

nữ Trong số các diễn ngôn về giới nói chung, chúng tôi lại giới hạn vào hai cụm diễn ngôn cơ bản, đó là các diễn ngôn về vai trò và khuôn mẫu giới, và diễn ngôn về bình đẳng giới

Về phạm vi nghiên cứu:

Về phạm vi thể loại: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong báo chí thuộc

hai loại hình tiêu biểu trong truyền thông: Báo chí chính thống có tính định hướng của nhà nước, và báo mạng với sự đa dạng về nguồn tin và tiếng nói của công chúng, các loại hình truyền thông sáng tạo trên mạng xã hội Trong mỗi loại hình, chúng tôi

chọn một nghiên cứu trường hợp: Với báo in là tờ báo Phụ Nữ Việt Nam (thành lập

1955, nhưng chúng tôi chủ yếu quan tâm giai đoạn sau Đổi Mới), báo điện tử là Vnexpress và Dantri, Mạng xã hội webtretho (một trong những diễn đàn phụ nữ lớn

nhất Việt Nam), mạng xã hội tiktok, facebook

Ngoài ra, truyền thông đại chúng, với đại diện là phim ảnh, cũng là nơi chứa đựng rất rõ các diễn ngôn thống soát trong xã hội, nơi mà góc nhìn về giới trong cuộc sống được tái trình hiện một cách sinh động và tự nhiên Trong luận án, chúng tôi lựa chọn cả phim điện ảnh và truyền hình để khảo sát, với những bộ phim được chọn tiêu biểu như phim điện ảnh đạt cánh diều bạc “Trăng nơi đáy giếng” (2008) và hai bộ

phim truyền hình đạt cánh diều vàng vài năm gần đây là Về nhà đi con (2019), Thương ngày nắng về (2021) Đây là ba bộ phim đạt nhiều giải thưởng cũng như có được hiệu ứng rất tốt từ khán giả Chúng tôi coi phim là văn bản và tập trung phân tích các diễn

ngôn bộc lộ trên phim để thấy được các diễn ngôn về giới, và cách người ta phản ứng với những diễn ngôn đó, thể hiện quan niệm tư tưởng của con người, cũng như của xã hội thời kỳ nó diễn ra

Cụ thể, luận án khảo sát hơn 1100 trường hợp trên 3 tờ báo và mạng xã hội, bao gồm: gần 600 bài báo trên báo PNVN từ 1986 tới nay và hơn 200 bài báo điện tử (chủ yếu Dantri và Vnexpress) từ 2006 tới 2023, gần 60 bài viết với lượt tương tác thảo luận trên Webtretho Mạng xã hội Webtretho là trang mạng quan trọng để khảo sát bởi nó đáp ứng nhu cầu của đông đảo chị em phụ nữ thời kỳ những năm đầu của

Trang 9

thế kỷ XXI về chia sẻ thông tin, tâm sự, tham khảo ý kiến về mọi lĩnh vực trong đời sống hôn nhân, chăm sóc con, làm đẹp… thậm chí những vấn đề khó nói như đời sống phòng the, chuyện lầm lỡ, chuyện tâm linh, con giáp thứ 13…, vì vậy các ý kiến khá đa dạng, đa chiều và cập nhật Trong những năm sau này, khi facebook cùng một số mạng xã hội khác tham gia vào Việt Nam, lượt tương tác vào webtretho có suy giảm, nhưng do lợi thế về bề dày thời gian, với dung lượng kiến thức, chia sẻ

“khủng”nên đây vẫn là đối tượng rất quan trọng trong khảo sát về diễn ngôn giới nữ thời kỳ sau đổi mới

Ngoài việc khảo sát báo PNVN để thấy được những diễn ngôn chính thống mang tính định hướng của nhà nước, khảo sát mạng xã hội webtretho để thấy được những diễn ngôn đa chiều của công chúng truyền thông trước những diễn ngôn thống

soát, chúng tôi cũng đã khảo sát bộ phim điện ảnh Trăng nơi đáy giếng (2008), và hai bộ phim truyền hình Về nhà đi con (2019) và Thương ngày nắng về (2021) Thể loại

phim truyện vốn được đánh giá là loại “nghệ thuật thứ 7” thoả mãn sự sáng tạo của việc mô tả đời sống thực tế Đời sống con người dưới lăng kính ống quay nghệ thuật, đã thể hiện những khát khao, ẩn ức Dù đạo diễn có chủ ý hay không thì các diễn ngôn về giới cũng được hiển lộ một cách tự nhiên qua những tuyến nhân vật trong tác phẩm Sự biểu đạt của các diễn ngôn này được hình thành bằng cả ý thức và sự vô thức đã thấm đẫm từ trong đời sống xã hội, cho thấy chúng đã trở thành những diễn

ngôn thống soát của thời hiện tại

Về phạm vi thời gian: Luận án lấy mốc là từ sau Đổi mới (1986) trở lại đây Tuy

nhiên, vấn đề của diễn ngôn là vấn đề của câu hỏi từ khi nào những quan điểm đó trở thành thống soát (được coi là “truth”/chân lý, theo cách nói của Foucault, 1972), nói cách khác, phân tích diễn ngôn đòi hỏi thao tác lịch sử hoá vấn đề Diễn ngôn có tính kế thừa và bắt nguồn từ những thời điểm nhất định trong lịch sử, vì vậy luận án cũng làm công việc lịch sử hóa các diễn ngôn giai đoạn đầu thế kỷ XX, chúng tôi khảo sát các tờ báo

chuyên viết về giới nữ từ đầu thế kỷ XX tới nay như Nữ giới chung giai đoạn 1918-1919, phụ nữ Tân Văn giai đoạn 1929-1933 và báo Phụ Nữ Việt Nam từ 1955-2020, để thấy

những quan điểm về giới nữ xuyên suốt chiều dài lịch sử

Trong phạm vi giới hạn của luận án, chúng tôi không có tham vọng bao quát được toàn bộ các diễn ngôn về giới, mà như đã trình bày ở trên, giới hạn chủ yếu xoay

Trang 10

quanh hướng diễn ngôn liên quan đến khuôn mẫu giới/vai trò giới và bình đẳng giới

Luận án nhằm trả lời một câu hỏi nghiên cứu cơ bản: những diễn ngôn phổ biến trên truyền thông sau Đổi mới cho biết gì về dòng chảy lịch sử của vấn đề giới cũng như sự biến đổi của xã hội Việt nam hiện nay?

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp tiếp cận liên ngành, lấy trọng tâm là phương pháp nghiên cứu văn bản

Diễn ngôn là phạm trù phân tích có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, chính trị, xã hội, văn hóa Vì vậy cách tiếp cận liên ngành, trong đó vận dụng các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành như sử học, ngôn ngữ học, tâm lý học, triết học, văn hoá học sẽ làm nổi bật vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, theo Đinh Gia Khánh thì trong tổ chức nghiên cứu liên ngành thường có một ngành khoa học giữ vai trò trung tâm Vai trò ấy được quy định bởi những điều kiện khác nhau, thí dụ như mục tiêu cuối cùng của đề tài nghiên cứu hoặc tính chất của tư liệu nghiên cứu… Như thế trong việc nghiên cứu liên ngành thì các ngành khoa học giữ tính chất độc lập với nhau trong khi vẫn phối hợp chặt chẽ nhau [64, tr.13-14]

Luận án này sử dụng cách tiếp cận và phương pháp tiếp cận liên ngành, lấy văn hoá học làm trung tâm, với cách hiểu về văn hoá như một tiến trình tạo nghĩa và lưu thông về nghĩa (Phạm Quỳnh Phương) [102] Trong nghiên cứu văn hoá, cách tiếp cận văn hoá như là văn bản (culture as text) được chú trọng, với quan niệm thế giới như là những văn bản chứa đựng những biểu tượng và ý nghĩa, cần phải được diễn giải Vì vậy, phương pháp phân tích văn bản (textual analysis) cũng là phương pháp được quan tâm trong phân tích tác phẩm Hai tờ báo chuyên biệt về phụ nữ nổi

bật nhất đầu thế kỷ XX là Nữ giới chung và Phụ nữ Tân văn, hay báo Phụ nữ Việt Nam đều là những văn bản bộc lộ các chiều kích về nghĩa của vấn đề giới ẩn sâu trong văn hoá Việt Nam Báo Phụ nữ Việt Nam là cơ quan ngôn luận của hội LHPNVN,

thể hiện tiếng nói và sự định hướng và quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề phụ nữ Mạng xã hội webtretho (trước đây là cộng đồng webtretho - thành lập năm 2002), đây vốn là nơi thể hiện tiếng nói của phụ nữ với hàng triệu thành viên Thời kỳ đầu khi báo điện tử đa phương tiện chưa thịnh hành, thì hàng triệu phụ nữ đã tìm đến webtrethơ như một kênh cung cấp thông tin dồi dào, đồng thời trao đổi, chia sẻ, tâm sự về những vấn đề trong cuộc sống

Trang 11

Tương tự,các bộ phim được chọn phân tích cũng được coi như các tác phẩm văn bản Tác giả đi sâu vào các ngôn từ thoại và mô típ tính cách nhân vật cũng như phân cảnh, để từ đó giải mã các diễn ngôn về giới được đan cài một cách khéo léo vào trong các bộ phim Bản thân mỗi diễn ngôn về giới cũng có thể coi như những văn bản hàm chứa nhiều lớp nghĩa đòi hỏi sự phân tích và diễn giải, đặt trong bối

cảnh văn hoá và xã hội của nó

4.2 Các phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích tài liệu và so sánh, hệ thống

Tư liệu cho luận án này được rút ra từ báo Phụ nữ Việt Nam, các báo mạng phổ biến gần đây như: Vnexpress, Dantri…, các tờ báo về phụ nữ đầu thế kỷ XX như báo Nữ giới chung (1918-1919), Phụ nữ Tân Văn (1922-1924), cũng như các bộ phim truyền hình

Để xử lý khối tài liệu hơn 1103 bài báo, chuyên mục với hàng ngàn trang viết về giới, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích tài liệu và so sánh Để có cái nhìn lịch sử về diễn ngôn về giới làm cơ sở cho việc hiểu các diễn ngôn sau Đổi mới, chúng tôi đã phải tìm hiểu các bài báo viết về giới nữ trước 1945 Việc này

gặp nhiều khó khăn vì báo Nữ giới chung và Phụ nữ Tân văn đều thuộc tài liệu đặc biệt quý hiếm, riêng Nữ giới chung trên thư viện quốc gia không lưu trữ, tác giả phải tìm

gặp trực tiếp tác giả Nguyễn Thị Tường Khanh (làm việc tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam, người sở hữu bản chụp báo nữ giới chung từ bảo tàng của Pháp) để xin dữ liệu

của tờ báo này Riêng Phụ nữ Tân văn, ngoài bản chụp số hoá khá mờ trên trang của

thư viện quốc gia, tác giả may mắn tiếp cận được tư liệu đầy đủ và sắc nét hơn qua nguồn: Nhà Kho Chánh của Quán Ven Đường4 Với những tư liệu khác như báo PNVN từ 1955 đến 2022 có lưu trữ trên thư viện quốc gia đầy đủ Việc truy cập online các báo mạng như Vnexpress, Dân trí, Phunuvietnam online, webtrertho… tác giả tiếp cận thuận lợi Với thể loại phim ảnh, tác giả cũng dễ dàng xem lại nhờ việc được phổ biến và đăng trên kênh youtube

4.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Để xử lý khối tài liệu này, tác giả được gợi ý rất nhiều từ phương pháp nghiên

cứu diễn ngôn, như được trình bày trong công trình Phương pháp nghiên cứu văn hoá

(Pickering, 20l8) Để làm giảm tính chủ quan và tăng cường độ tin cậy của các tuyên

4 http://ndclnh-mytho-usa.org/phu_nu_tan_van.htm

Trang 12

bố phân tích diễn ngôn, cũng như khiến chúng mở rộng đường cho việc kiểm nghiệm kinh nghiệm thông qua nghiên cứu tiếp nhận, tác giả lựa chọn các bước phân tích bao gồm: 1 Đọc kỹ và tìm kiếm nội dung liên quan; 2 Gom lại một số từ khoá cơ bản; 3 Tìm kiếm các từ khoá này trên một số tờ báo giấy và báo mạng, phim ảnh; 4 Bước đầu phân tích tìm ra điểm giống và khác, tần số, cách thức xuất hiện; 5 Xem xét các yếu tố được liên kết và biến đổi để chỉ ra những liên kết diễn ngôn, từ đó đặt nó vào trong bối cảnh xã hội

Theo đó, tác giả gom lại những cụm chủ đề chính, tìm những từ khoá, cụm từ khoá liên quan đến những luồng diễn ngôn chính từng thời kỳ Ví dụ như thời kỳ đầu thế kỷ là những phong trào nổi bật như “nam nữ bình quyền”, phụ nữ truyền thống,

“thiên chức’, ‘chức nghiệp’, ‘nữ quyền’, ‘bình đẳng’, ‘tứ đức’; thời kỳ kháng chiến, những từ khoá bao hàm sẽ là ‘phụ nữ anh hùng’, ‘đảm đang’, ‘giỏi việc nước đảm việc nhà’; và thời hiện đại gần đây với các cụm mã được nhắc đến như “mẹ đơn thân”, ‘phụ

nữ tự chủ’, tự lập, tự do; ‘phụ nữ đẹp’, ‘yêu bản thân’, ‘bình đẳng giới’, phụ nữ làm việc nhà Sau khi có những cụm từ khoá này, chúng tôi đi sâu phân tích, tìm kiếm tần số, cách thức xuất hiện, điểm giống và khác nhau… từ đó đi vào từng phần, từng giai đoạn để tìm thấy những ý nghĩa nằm sau các diễn ngôn

Để hiểu hơn về diễn ngôn về giới nữ trên báo chí, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích các chủ đề cùng được đề cập trên tờ báo trong những giai đoạn khác nhau để tìm hiểu khuynh hướng tư tưởng của tờ báo, của dòng báo, và sự phát triển trong quá trình nhận thức về giới nữ gắn với những giai đoạn lịch sử quan trọng Cùng với nó là những tác động của chính sách nhà nước tới nhận thức của người dân với diễn ngôn về giới trong xã hội Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh diễn ngôn thời kỳ trước và sau đổi mới để thấy sự khác nhau qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, luận án là một công trình coi diễn ngôn về giới như những văn bản hàm chứa những ý nghĩa văn hoá gắn với bối cảnh lịch sử và xã hội ở Việt Nam, từ đó làm lộ ra sự kiến tạo về giới thông qua ngôn ngữ

Thứ hai, luận án đã chỉ ra những diễn ngôn về giới sau Đổi mới có tính tiếp nối từ các diễn ngôn về giới từ trong truyền thống và đặc biệt là từ đầu thế kỷ XX, được củng cố trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc, bởi các điều kiện khả thể của diễn ngôn tiếp tục tạo điều kiện cho chúng tồn tại và được củng cố

Trang 13

Thứ ba, luận án đã phân tích những động năng mới của diễn ngôn về giới trên truyền thông xuất phát từ những khả thể mới như internet, chính sách, toàn cầu hoá,

và những thay đổi về gía trị của thế hệ trẻ vv

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, thông qua nghiên cứu những quan điểm về giới, luận án làm

rõ những chiều cạnh lý thuyết diễn ngôn và sự vận hành của diễn ngôn trong thực tế đời sống, đặc biệt luận án lảm rõ những điều kiện khả thể cho sự tiếp nối và đổi mới của diễn ngôn về giới trên truyền thông

Về mặt thực tiễn, luận án góp phần truy nguyên những nền tảng vận hành các diễn ngôn đã trở thành khuôn mẫu và định kiến của cả hai giới, từ đó hiểu được những thách thức của việc giải quyết vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam

Luận án là tư liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu về giới, những người hoạt động vì quyền phụ nữ, cũng như những người quan tâm về bình đẳng giới nói chung

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và bối cảnh nghiên cứu

Chương 2: Một số diễn ngôn về giới trên truyền thông

Chương 3: Tính tiếp nối và động năng mới của diễn ngôn về giới trên truyền thông

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘI

VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về diễn ngôn

Nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới

Diễn ngôn, tiếng Anh là “discourse” là một thuật ngữ khá thịnh hành trong vài thập kỷ gần đây Khi tìm kiếm bài nghiên cứu có thuật ngữ “Discourse” trên trang

google học thuật (https://scholar.google.com.vn/ 5 thì có tới xấp xỉ 4,3 triệu kết quả

trong 0,7 giây Theo thống kê về những tựa sách tiếng Anh có từ “diễn ngôn” từ nguồn WorldCat, từ năm 1965 có 70 đầu sách, tới năm 1970 con số này là 144, năm 1980 là

327, năm 1990; năm 1995 là 651, năm 2000 đạt 762 tựa sách và 2004 là 616 tựa sách có tiêu đề diễn ngôn Các tập san về diễn ngôn cũng liên tiếp ra đời, từ 1980 tới 2006 có liên tiếp 8 tập san ra đời liên quan trực tiếp đến nghiên cứu diễn ngôn, từ Diễn ngôn (1980), Quy trình diễn ngôn (1981), đến Tập san về diễn ngôn đa văn hoá (2006), … ( Dẫn theo Pickerking) [97, tr.217] Điều này cho thấy sự quan tâm của giới học thuật với vấn đề ngôn ngữ nói chung, và diễn ngôn nói riêng trong những năm qua

Trong số hàng ngàn cuốn sách nghiên cứu về Diễn ngôn, Nghiên cứu văn hoá

và phân tích diễn ngôn của Chris Barker và Dariusz Galasinski [176] được đánh giá

là một “bản tuyên ngôn” kêu gọi các học giả nghiên cứu văn hoá “nhìn thấy lợi ích của việc bổ sung thêm một loạt các quan điểm ký thuyết cũng như các phương pháp như phân tích diễn ngôn phê bình để phân tích sâu các tài liệu văn hoá’ Mấu chốt quan điểm trong cuốn sách là thách thức quan điểm “lập luận cho rằng ngôn ngữ tạo nên tính khách quan, nhân dạng và sơ đồ văn hoá về mặt ý nghĩa của chúng ta”

(Barker và Galasinski) [176;47] Carla Willig [189] với tác phẩm Phân tích diễn ngôn ứng dụng, được đánh giá là một ví dụ về những gì “tốt nhất mà phân tích diễn ngôn

phê bình có thể mang lại cho nghiên cứu văn hoá Cuốn sách chỉ ra hai lãnh địa của nghiên cứu diễn ngôn: một là điều tra những thực hành diễn ngôn và hai là điều tra

những nguồn tài liệu diễn ngôn (Pickering) [97, tr 222-234]

5 Thời điểm tìm kiếm 9h ngày 10/2/2022

Trang 15

Một trong những học giả được nhắc đến nhiều nhất với những phân tích sâu sắc về diễn ngôn là nhà triết học Michel Foucault Một loạt các tác phẩm của ông như: The Order of Things (Trật tự vạn vật), Discipline and Punish: the Birth of the Prison (Kỷ luật và Trừng phạt: sự ra đời của nhà tù), The Birth of the Clinic (Sự ra đời của phòng khám), Madness and Civilization (Bệnh điên và nền văn minh), History

of Sexuality (Lịch sử tính dục)…đều cho thấy những chiều kích của diễn ngôn gắn với sự phát triển của con người và các thiết chế xã hội hiện đại

Một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của Foucault trên thế giới được

các học giả trích dẫn và tham khảo nhiều như: The Power of Discourse: Michel Foucault and critical theory (Quyền lực của diễn ngôn: Michel Foucault và lý thuyết

phê phán (Wandel) [188] Tác giả trình bày về cuộc tranh luận đối lập chủ nghĩa Mác và công trình của Michel Foucault, mặc dù chúng đều có chung một cam kết chính trị và đạo đức, cũng như một thách thức với “các ý tưởng truyền thống”, nhưng bằng cách thách thức các quan niệm truyền thống về quyền lực và ngôn ngữ, Michel Foucault đã đi xa hơn truyền thống của chủ nghĩa Mác trong việc thực hiện dự án lý

thuyết phê phán Một số nghiên cứu khác như The Discourse of Michel Foucault: A Sociological Encounter (Diễn ngôn của Michel Foucault: Một cuộc gặp gỡ xã hội học) của Amstrong [175], Doing Foucauldian Discourse Analysis-revealing Social Realities (Phân tích diễn ngôn Foucauldian-bộc lộ hiện thực xã hội) của Waitt [187]

muốn làm sáng tỏ những gì Foucault thực sự nói về diễn ngôn

Nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam

Thuật ngữ diễn ngôn đã xuất hiện ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ gần đây, bắt đầu bằng những công trình dịch thuật Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu về diễn

ngôn, trong đó có cả các sách dịch và giáo trình biên soạn như: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunam [86]; Phân tích diễn ngôn của Gallian Brown và George Yule [18]; Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (1998, 2009) của Diệp Quang Ban; Đỗ Hữu Châu [7], hay số nghiên cứu cụ thể như “Khía cạnh văn hóa của phân tích diễn ngôn [48] hay Nghiên cứu diễn ngôn chính trị - xã hội (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Hòa [44], hay Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lý luận và phương pháp của Nguyễn Hòa [47]

Đáng chú ý là gần đây các tác phẩm của Foucault đã được dịch khá nhiều ở Việt

Trang 16

nam và có ảnh hưởng tới đời sống học thuật trong nước Tác phẩm Michel Foucault của Sara Mills (do Nguyễn Bảo Trung dịch) [87], có một chương Diễn ngôn phân tích

khá kỹ lưỡng những quan điểm và sự phát triển trong quan niệm của Foucault về diễn ngôn, đồng thời chỉ rõ việc sử dụng ngôn ngữ chính là hình thức mã hóa của tri thức và quyền lực Theo đó, cuốn sách cũng góp phần đưa ra những phân tích quan trọng dựa trên việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn của Foucault vào phân tích xã hội học, nữ quyền luận, thuộc địa và hậu thuộc địa Ngoài ra, những công trình dịch và nghiên cứu

quan trọng về diễn ngôn từ lăng kính của Foucault có thể kể tên như Văn học như một hình thức diễn ngôn - dịch và giới thiệu những khái niệm cơ bản [88] và Ba cách tiếp cận diễn ngôn [203] của Nguyễn Thị Ngọc Minh, và Mô hình phát triển kiến thức theo Michel Foucault của Cao Việt Dũng [192] , phần viết về lý thuyết của Foucault trong công trình Lý thuyết Nghiên cứu Văn hoá do Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm chủ

biên [103]… Những công trình trên không chỉ giúp làm rõ khái niệm diễn ngôn trong văn học mà còn mở ra các hướng tiếp cận diễn ngôn văn học cụ thể như ngôn ngữ học và phong cách học, đặc biệt, nhiều công trình dựa vào lý thuyết diễn ngôn của Foucault

Đã có nhiều công trình khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết diễn ngôn trong phân tích những đối tượng văn bản cụ thể, hay mối quan hệ chặt chẽ giữa diễn ngôn và các khía cạnh của đời sống xã hội Phạm Quỳnh Phương [99] đã chỉ ra hai khía cạnh tiếp cận bản thể luận và kiến tạo luận đối với tính dục, và phân tích mối quan hệ giữa tính dục và diễn ngôn trong việc kiến tạo nên quyền lực trong xã hội Việt Nam Theo tác giả, trong xã hội hiện đại, diễn ngôn về tính dục còn đóng vai trò là "đường dẫn" cho quyền lực kiểm soát xã hội của các nhà nước với được đến các cá nhân Trần Văn Toàn trong

tác phẩm Về một diễn ngôn tính dục trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam (từ đầu thế

kỷ XX đến 1945) [208], đã cố gắng làm sáng tỏ những nguyên nhân chiều sâu trong

quá trình hình thành nên các diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu đầu thế kỷ

XX đồng thời thông qua việc nghiên cứu những diễn ngôn tính dục để có một cái nhìn sâu hơn về quan niệm con người trong văn học thời kỳ này Dựa vào những phân tích về tính dục của M.Foucault như tính dục không phải là cái được phát hiện ra mà là cái được tạo ra (produced) bởi những diễn ngôn (discourse) nhằm hợp thức hóa những quan hệ quyền lực nhằm thực hiện một dự đồ nào đó, từ đó tác giả chỉ ra tính dục có

Trang 17

nguồn gốc từ những thiết chế văn hóa hơn là từ những thiết chế sinh học, và có ý thức rất rõ mình đang nghiên cứu “diễn ngôn về tính dục” chứ ko phải là nghiên cứu về

“tính dục” Như thế, khi phân tích diễn ngôn tính dục, thay cho việc chỉ ra tính dục là gì cần hướng tới câu hỏi: Tính dục được tạo ra như thế nào từ những diễn ngôn, ai là chủ thể của diễn ngôn đấy, nó diễn ra ở thời điểm nào và hướng đến mục đích gì?

Nguyễn Thị Ngọc Minh [88] với Diễn ngôn về xứ thuộc địa trong tác phẩm

“Người tình” của Marguerite Duras cũng phân tích nhiều vấn đề từ khía cạnh diễn ngôn Tác giả khẳng định, do ra đời trong bối cảnh hậu thuộc địa, Người tình của

M.Duras đem lại một cái nhìn khá độc đáo về xứ thuộc địa Tác phẩm có sự đan xen và đầy mâu thuẫn giữa ý thức và vô thức, sự biểu hiện nước đôi của tham vọng thực dân đã chi phối toàn bộ cấu trúc của tác phẩm và nhãn quan của Duras về xứ thuộc địa Diễn ngôn đó vừa thách thức quyền lực thực dân và đồng nhất mình với xứ thuộc địa, lại vừa đầy tham vọng thống trị và thôn tính Tính chất phức tạp và sự lưỡng phân của nó khiến cho xứ thuộc địa mà nó mô tả không thuần túy chỉ là một đối tượng

hạ đẳng hay một mảnh đất bị chinh phục Lại Thị Hải Bình [15] với Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí Việt Nam cho thấy một cái nhìn tổng thể về diễn ngôn, cũng như cách

thức vận hành của diễn ngôn có sự ảnh hưởng với sự biến chuyển của xã hội Từ những chính sách thể chế, bối cảnh xã hội, quyền lực truyền thông đểu có ảnh hưởng tới cách nhìn nhận và diễn giải về quan niệm lễ hội, dẫn tới cách hành xử với thực hành lễ hội các thời kỳ Diễn ngôn và sự vận hành của diễn ngôn, tam giác diễn ngôn – tri thức – quyền lực được nghiên cứu của Lại Thị Hải Bình [15] chỉ rõ

Ngoài ra, còn có rất nhiều nghiên cứu khác viết về diễn ngôn như: Diễn ngôn lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh của Nguyễn thị Diệu

Linh [75]; Ngô Thị Thanh với Diễn ngôn tính dục trong “The diary of Shinjuku thief”

của Nagisa Oshima [210]; Diễn ngôn trong truyện ngắn kỳ ảo đầu thế kỷ của Phạm Thị Minh Hòa [49], Diễn ngôn chính sách và sự biến đổi văn hóa – sinh kế tộc người

của Hoàng Cầm – Phạm Quỳnh Phương [98] Trong các tác phẩm này đều chỉ ra những khía cạnh diễn ngôn riêng mà tác giả quan sát trong những đối tượng cụ thể của mình Trong nghiên cứu về phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của những người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) ở Việt Nam, Phạm Quỳnh Phương [106] chỉ ra diễn ngôn chính là một công cụ để xã hội phân biệt và kỳ thị những người

Trang 18

thiểu số về tính dục này, nhưng đồng thời cũng là một “vũ khí” được họ sử dụng để xác lập quyền và vị thế của mình trong đời sống xã hội Thông qua phân tích các góc tiếp cận văn hóa tộc người cũng như diễn ngôn và chính sách đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Hoàng Cầm và Phạm Quỳnh Phương [98] chỉ ra rằng, những quan điểm nhận thức luận, và ngôn thuyết chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa đơn tuyến và triết

lý phát triển kinh tế xã hội theo mô hình phương Tây, là một trong những lý do dẫn đến những thực hành chưa thể hiện quan điểm tôn trọng sự đa dạng văn hóa đã được đề ra trong hiến pháp Việt Nam Như vậy, có thể thấy, những nghiên cứu về diễn ngôn đã và đang được quan tâm ở Việt Nam, với rất nhiều giáo trình cả dịch thuật và

do tác giả Việt Nam viết, đặc biệt tập trung ở mảng nghiên cứu học thuật và văn học

1.1.2 Nghiên cứu diễn ngôn về giới trên truyền thông

Nghiên cứu về sự xuất hiện phổ biến của hình ảnh giới trên truyền thông

Truyền thông ngày càng trở thành một yếu tố không thể thiếu trong xã hội hiện đại Với nhiều hình thức thể hiện phong phú, sống động chứa đựng nhiều hình ảnh, thông điệp về phụ nữ và nam giới trên truyền thông ngày càng phổ biến và có sức hấp dẫn đối với công chúng Trong các nghiên cứu nước ngoài, hình ảnh người phụ nữ được xem xét trong nhiều ngữ cảnh, như trên các tạp chí thời trang (Jenifer E Millard, Peter R.Grant.2006) trên các quảng cáo thương mại (Chingching chang, 2006; Nicola Doring, Sandra Poschi, 2006, Julie M Stankiewicz, Francine roselli, 2006), trên truyện tranh và trên phim ảnh Những nghiên cứu này tập trung trả lời các câu hỏi: Hình ảnh người phụ nữ được thể hiện như thế nào? Những ẩn ý đằng sau những hình ảnh đó là

gì? Ảnh hưởng nếu có đối với công chúng? Trong công trình “Nghiên cứu về sự xuất hiện hình ảnh nam nữ trên truyền thông”, David Gauntett [183] cho rằng, trong quá

khứ, truyền thông đại chúng thường rập khuôn trong việc trình bày các vai trò về giới

So với phụ nữ, nam giới thường theo mẫu hình năng động, quyết đoán, thông minh, tháo vát Ngày nay trên truyền thông đã bớt đi tính khuôn mẫu và đa dạng so với quá khứ, với việc phụ nữ cũng đã được tái hiện với những vai trò khác nhất định, cho dù nam giới thường vẫn nắm vai trò lãnh đạo Một số nghiên cứu có quy mô lớn như

Global Media Monitoring Project (2008) (Dự án kiểm soát truyền thông Toàn Cầu)

tìm hiểu về tần suất xuất hiện hình ảnh người nữ trên truyền thông cũng cung cấp những thông tin quý giá về nghiên cứu về phụ nữ, vai trò giới và ảnh hưởng trên truyền thông

Trang 19

Ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây, có khá nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này (Đặng Thi Vân Chi [22], Phạm Quỳnh Phương [104], Trần Thị Anh Thư [148]) Một trong những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ

nữ trên báo chí từ thế kỷ XX là Vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX”(2002) của Đặng Thị Vân Chi, cung cấp một bức tranh khái

quát về luồng diễn ngôn nữ quyền và sự phát triển của phụ nữ đầu thế kỷ XX Trong tác phẩm này, có thể thấy, ở mỗi thời kỳ khác nhau, diễn ngôn về nữ quyền đều có sự thay đổi Đó có thể là quyền đi học, quyền bỏ phiếu, quyền được phát triển Nó thể hiện những quan điểm về nữ quyền ngay từ thời kỳ báo chí Việt Nam xuất hiện Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố văn hóa xã hội, mà nó chưa tìm được chỗ đứng

của mình trên truyền thông Phạm Quỳnh Phương [105], trong công trình “Giới, tăng quyền và phát triển – Quan hệ giới từ góc nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, chỉ ra thực tế quan hệ giới và vai trò giới ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số

rất khác với các diễn ngôn phổ biến về giới trên truyền thông vốn thường có xu hướng nạn nhân hóa phụ nữ dân tộc thiểu số

Năm 2023, cuốn sách "Bình đẳng giới tại nơi làm việc" của Ecue6 [29] được tổng hợp từ dự án nghiên cứu về vấn đề giới ở nơi làm việc đầu tiên tại Việt Nam cho thấy một góc nhìn về thực trạng về BĐG ở nơi làm việc, trong sử dụng lao động hiện

nay Nghiên cứu song ngữ Việt – Anh Khuôn mẫu giới và việc làm: một nghiên cứu

về giới trẻ Việt Nam đương đại qua các thảo luận trên báo chí và mạng xã hội” của

Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình và Nguyễn Minh Huyền [108] chỉ ra định kiến giới và khuôn mẫu giới đã chi phối cách thức giới trẻ chọn việc làm, với những nguyên nhân nằm sâu trong tâm thức và thực hành văn hoá từ lịch sử và vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay Nghiên cứu cũng nêu ra những đề xuất, trong đó quan trọng nhất là nếu muốn thay đổi khuôn mẫu giới và tương quan của nó với vấn đề việc làm, cần tác động có tính hệ thống nhằm thay đổi ý nghĩa của công việc đối với mỗi cá nhân ở mọi giới

6 ECUE là một doanh nghiệp xã hội hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức thúc đẩy giá trị đa dạng và hòa nhập (Diversity and Inclusion), bình đẳng giới (gender equality), không quấy rối tình dục (anti-sexual harassment), liêm chính (integrity) và các giá trị nhân quyền khác (universal human rights values) Nguồn: ecue.vn.

Trang 20

Khá nhiều các nghiên cứu về giới trên truyền thông cho thấy những hiện tượng phân biệt đối xử với phụ nữ trên truyền thông Các phát hiện cho thấy hình ảnh nam và nữ trên truyền thông vẫn đang ở trong những khuôn mẫu truyền thống Trong các quảng cáo thương mại, hình ảnh người phụ nữ vẫn đang ở trong vai trò của những bà nội trợ thuần túy hoặc những biểu tượng gợi dục nhằm thu hút sự chú ý Có những nghiên cứu nhỏ trên tạp chí chuyên ngành thể hiện rõ nét vấn đề này, như Hà Thị

Minh Khương, Võ Kim Hương với “Hình ảnh phụ nữ trên truyền hình [65], Trần Thị Anh Thư với bài viết Hình ảnh người phụ nữ trong quảng cáo [147] Trong bài viết Hình ảnh người phụ nữ trên truyền thông qua một số nghiên cứu, Đào Hồng Lê đã

bao quát về đề tài phụ nữ trên truyền thông Bài viết chỉ ra việc truyền thông đã góp phần xây dựng lên hình ảnh về giới của người phụ nữ như thế nào trong xã hộị Tác

giả Đào Hồng Lê trong Hình ảnh phụ nữ trên truyền hình [73] cũng chia sẻ nhận định

rằng: Các quan điểm mang định kiến giới trên truyền thông có xu hướng duy trì, củng

cố, thậm chí là giáo dục sự bất BĐG trong xã hội một cách vô thức

Trong rất nhiều nghiên cứu về phụ nữ trong quảng cáo truyền thông, hầu hết thể hiện khuôn mẫu chung của xã hội là phụ nữ người nội trợ của gia đình Trong bài

viết:“Hình ảnh người phụ nữ trong quảng cáo” [147], Trần Thị Anh Thư phân tích về

vấn đề giới được thể hiện thông qua các khuôn hình quảng cáo phát sóng trên truyền hình Bằng phương pháp thống kê và phân tích nội dung các mục quảng cáo được phát sóng trong chương trình “Phim Việt giờ vàng”, tác giả bài viết muốn chứng minh rằng định kiến giới vẫn còn phổ biến trong xã hội Việt Nam Dù là những thước phim quảng cáo phản ánh về người phụ nữ hiện đại, nhưng hình ảnh của phụ nữ vẫn không thoát ra khỏi khuôn khổ vai trò truyền thống, gắn liền với gian bếp và các hoạt động chăm sóc gia đình Trong khi đó, nam giới vẫn với hình ảnh là những người thành đạt trong xã hội, sáng tạo ra những giá trị vật chất có giá trị, nhưng chưa sẵn sàng để chia sẻ những gánh nặng trong công việc nhà với nữ giới…

Trong bài nghiên cứu Sự lạm dụng hình ảnh phụ nữ trong quảng cáo trên truyền hình [129], Nguyễn Quý Thanh và Phạm Hương Mai đã cho thấy sự lạm dụng

ở đây không chỉ giới hạn trong việc sử dụng quá nhiều hay sử dụng hình ảnh phụ nữ khêu gợi Sự lạm dụng đó thể hiện ở việc trình bày người phụ nữ bị cột chặt với quan niệm về vai trò được coi là truyền thống như công việc nấu ăn, giặt giũ, quét dọn nhà

Trang 21

cửa vv Khán giả truyền hình dần nhận thấy vai trò nội trợ của phụ nữ là vai trò đương nhiên Nhất là những đứa trẻ, cả trai lẫn gái nhận thức về “sự hiển nhiên” trong phân công công việc gia đình từ chính những chương trình đó

Những nghiên cứu về chính sách giới và vai trò của các phương tiện truyền thông

và nuôi dạy con cái là công việc quan trọng nhất cuộc đời của mình Công trình Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên sơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW, UNIFEM thực hiện đã nghiên cứu về những chính sách của nhà nước, ảnh

hưởng đến quyền và vai trò giới ở Việt Nam như thế nào từ đó có những kiến nghị cụ thể cho mỗi diều luật, chính sách được nghiên cứu

Viết về đề tài này, Nguyễn Linh Khiếu [66] trong tác phẩm Nghiên cứu phụ

nữ, giới và gia đình đã phân tích khá kỹ về những chính sách xã hội ảnh hưởng đến vấn

đề bình đẳng giới, thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới là do quan niệm trọng nam khinh nữ, do kinh tế, do trình độ dân trí

Cùng mảng đề tài này, công trình “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam [140] của tác giả Lê Thi đã chỉ ra, sự bình đẳng giới của phụ nữ không phải

là bình đẳng ở mọi khía cạnh, mà sự bình đẳng xuất phát từ vai trò giới, đặc trưng của mỗi giới trong xã hội Để đi tới sự bình đẳng giới đó, theo tác giả, cần quan tâm đến vấn đề việc làm, giải quyết đói nghèo cho phụ nữ nông thôn

Đặc biệt nhất là các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của truyền thông trong việc kiến tạo giới Hội nghị Bắc Kinh và hướng tới thế kỷ XXI của phụ nữ (1995) nhận định: “Phương tiện truyền thông, ở phần lớn các quốc gia không cung cấp bức tranh cân bằng về cuộc sống đa dạng của người phụ nữ và những đóng góp xã hội của họ

Trang 22

cho một thế giới đang biến đổi” Ở Việt Nam có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn

đề này Công trình “Mở rộng tầm nhìn – Thay đổi vai trò giới ở Việt Nam (Báo cáo nghiên cứu, phân tích, đối tượng truyền thông và chiến dịch truyền thông vì sự bình đẳng giới” [34] của tác giả Barbara Frankin - chuyên gia dự án VIE/96-011 “Tăng

cường năng lực thực hiện kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ” đã chỉ ra, phụ nữ Việt Nam tự hào về sự bình đẳng trên cơ sở luật pháp của mình, nhưng trên thực tế cả phụ nữ và nam giới đề nhận thấy phụ nữ không được bình đẳng vì sự bình đẳng trên pháp luật không có trong gia đình Điều thú vị là mỗi chị em phụ nữ đều có quan niệm riêng về “Sự bình đẳng” của mình Thứ hai là cả phụ nữ và nam giới đều không có kiến thức tốt về quyền của phụ nữ ở Việt Nam, khi được kể tên những quyền cụ thể, không phải ai cũng làm được điều này Cuối cùng, báo cáo chỉ ra vai trò của truyền thông với vấn đề sự tiến bộ của phụ nữ: “Truyền thông vào thời điểm hiện tại là một lực lượng tương đối bảo thủ trong cuộc tranh luận về giới ở Việt Nam Những hình ảnh của nam giới và phụ nữ trong truyền thông được trích dẫn bởi những người được hỏi trong các nhóm chuyên đề chắc chắn là làm tăng những định kiến hạn chế về phụ nữ Những bộ phim và chương trình nhất định do những người được hỏi dẫn ra bao gồm những câu chuyện mang tính khuyến cáo về những người phụ nữ cố gắng hoàn thiện mình hoặc nắm vai trò lãnh đạo hoặc thất bại hoặc cuối cùng cũng thành công nhưng bất hạnh – một hình ảnh sáo rỗng thịnh hành khắp thế giới.”

Một tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giới trên truyền thông là

“Truyền thông có nhạy cảm giới”- một số gợi ý dành cho phóng viên và người làm báo” [92] do CSAGA thực hiện Đặc biệt trong phần này có những nội dung khá cụ

thể: “mẫu hình văn hóa về giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng” (chuyên đề 2) “giới và tính dục trên các phương tiện truyền thông” (chuyên đề 5), và Thông điệp về giới qua hình ảnh và ngôn từ quảng cáo (chuyên đề 9)

Nghiên cứu chỉ ra vấn đề truyền thông đang tuyên truyền thực chất củng cố tình trạng bất bình đẳng cho phụ nữ Ví dụ, trong một bài báo trên VnExpress ngày 24/9/2009, phóng viên đã hỏi ca sĩ Hồng Ngọc: Thông thường, phụ nữ hy sinh sự nghiệp để đứng sau đàn ông, trong khi ở gia đình chị thì ngược lại Chị nghĩ thế nào về điều này? Với cách đặt câu hỏi như vậy, tác giả đã tự mặc định rằng người nam giới hi sinh cho sự nghiệp phụ nữ là bất thường Và để có được hạnh phúc, người vợ

Trang 23

luôn phải biết tìm cách hạ thấp mình đi Cách phóng viên phỏng vấn càng góp phần củng cố những khuôn mẫu truyền thống

Một ví dụ khác được chỉ ra trong nghiên cứu, là quan điểm được đưa ra trong bài báo “Sứ mệnh … vẫn ở trong nhà”7: “Khi người phụ nữ lo toan cho gia đình thì không phải chỉ gia đình ấy được lợi, mà là toàn xã hội được hưởng Vậy mà nhiều phụ nữ bây giờ cho là không cần thiết, là công việc lao động có thể đem“gia công” được, chuyển giao cho các dịch vụ, cho ôsin Xã hội đã “chuyên nghiệp hoá” vào tận phòng ngủ của con người Sứ mạng phụ nữ không thay đổi, cho dù họ có thay đổi đến mấy để đáp ứng thực tế Vì vậy, nếu phụ nữ hiểu sâu sắc điều này thì toàn xã hội

sẽ hưởng lợi to lớn từ những công việc tỉ mỉ lo toan vén khéo trong gia đình của họ” Nghiên cứu đã phân tích rằng thông điệp rõ ràng của bài báo là sứ mạng của phụ nữ là chăm sóc thành viên khác trong gia đình: Những công việc như nấu cơm, giặt giũ, tắm rửa cho con được xem là “thiên chức” không thể chối bỏ của người phụ nữ Cách nghĩ này cũng tương tự khi mặc định đàn ông cũng phải là người kiếm tiền chính trong gia đình Trong trường hợp, người đàn ông không thể kiếm tiền nhiều hơn vợ, nghĩa là anh ta không được tôn trọng Chúng ta hiểu rằng, việc cởi bỏ những khuôn mẫu tiêu cực về giới trong xã hội là không dễ dàng và càng không thể diễn ra một sớm một chiều.”

Qua hai ví dụ trên có thể thấy nghiên cứu Truyền thông có nhạy cảm giới”- một số gợi ý dành cho phóng viên và người làm báo” [92], thông qua việc nghiên cứu

những diễn ngôn về giới của người làm truyền thông, đã chỉ ra một cách rõ nét những hạn chế và định kiến về giới của chính những người làm báo nói riêng và xã hội nói chung, từ đó tác động đến nhận thức và cách truyền thông về vấn đề giới của những người làm báo

Năm 2022, liên quan đến mục tiêu thúc đẩy bình đẳng giới trong báo chí, truyền thông, Học viện Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) tổ chức Hội thảo khoa học Quốc Gia Bình đẳng giới trên báo chí, truyền thông trong bối cảnh công nghệ số [62] Được lựa chọn từ 80 bài viết từ nhiều nhà khoa học, học giả, 37

7 Tintuconline ngày 12/10/2009

Trang 24

tham luận chất lượng, đạt tiêu chuẩn về tính khoa học, tính lý luận và giá trị thực tiễn, được chọn in trên Kỷ yếu khoa học [62] Đây là một tài liệu chất lượng với nhiều thông tin và sự đúc kết về các khía cạnh: Truyền thông trong bối cảnh công nghệ số, Thực trạng vấn đề giới trên báo chí, truyền thông, Một số vấn đề khác liên quan đến chủ đề Hội thảo (trên các góc độ pháp luật, đạo đức, văn hoá, thực hành…)

Những nghiên cứu diễn ngôn về giới trên truyền thông

Những năm trở lại đây, hướng nghiên cứu diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn về giới đã được thể hiện trong rất nhiều nghiên cứu và luận án Có thể kể đến những luận

án như luận án tiến sĩ văn học của Vũ Thị Hương [55] mang tên: “Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết việt nam đương đại qua một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu” Luận án khai thác diễn ngôn về khía cạnh tính dục trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, để cho thấy thế giới quan của nhà văn, trường tri thức thời đại đã chi phối sự vận hành và thể hiện của diễn ngôn tính dục như thế nào Luận án “Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Nguyễn Thị Vân Anh [5] từ góc nhìn của diễn ngôn văn học giúp cho việc nhận diện tính chất đặc thù, đa dạng, phức tạp của các loại hình diễn ngôn về cùng một đối tượng được sáng rõ hơn Luận án

“Báo chí phụ nữ với vấn đề nữ quyền” của Nguyễn Thị Hằng [43] cung cấp thêm một góc nhìn về diễn ngôn nữ quyền đã được thể hiện trên báo chí như thế nào, sự khác nhau giữa cách nói ở các thời kỳ và những nguyên nhân dẫn tới sự hình thành và lưu hành diễn ngôn nữ quyền Cùng chủ đề này, “Diễn ngôn nữ quyền trong phim Việt Nam” – luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thuý Hằng [44] - cũng cung cấp thêm một góc nhìn từ phương diện thể hiện của diễn ngôn nữ quyền trên phim ảnh…

Một số bài viết nghiên cứu như Lê Thị Thanh Xuân [173] với “Điểm nhìn trần thuật - diễn ngôn về giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại”, thể hiện về thực trạng viết và đấu tranh cho quyền lợi và quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội hiện đại Xu hướng này ngày càng phát triển mạnh mẽ, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa Bài viết đi sâu phân tích những đặc trưng nghệ thuật về điểm nhìn trần thuật, yếu tố tạo nên thành công của các nhà văn, để thấy rõ dấu ấn đặc biệt về xu hướng “nữ quyền hóa”, một chủ đề đang được quan tâm hiện nay

Trang 25

1.2.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu diễn ngôn ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và Việt Nam trong những thập niên gần đây Ban đầu, nghiên cứu diễn ngôn chủ yếu trong văn học, sau này, nó được mở rộng ra trong các nghiên cứu về xã hội học, văn hoá học, và các ngành khoa học xã hội khác, đặc biệt với ảnh hưởng từ những quan điểm của nhà triết học, xã hội học Michel Foucault Học thuyết diễn ngôn của Foucault đã trở thành một trong những lĩnh vực học thuật và phong phú nhất trong kho tàng nghiên cứu khoa học xã hội từ những năm 1965 trở lại đây (Pickerking) [97] Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn về giới đã được thể hiện trong rất nhiều nghiên cứu và luận án, cho thấy sự cấp thiết và ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn ngôn trong các lĩnh vực

Đối với diễn ngôn về giới, mỗi môn khoa học lại hình thành một kiểu diễn ngôn riêng về phụ nữ Thông qua việc điểm luận về những nghiên cứu vấn đề diễn ngôn về giới trên truyền thông hiện nay, có thể thấy, chủ yếu phổ biến những diễn ngôn về phụ nữ như là người của gia đình, là nạn nhân của bạo hành, là người chịu nhiều thiệt thòi nên cần được phát triển bình đẳng và toàn diện Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mảng truyền thông chủ yếu tập trung vào truyền hình, vì nó là kênh thông tin phổ biến và phổ cập Hình ảnh người phụ nữ trên các bài báo, quảng cáo thương mại đăng tải trên các báo, tạp chí (kể cả là tạp chí thời trang) chưa được đề cập nhiều

Các nghiên cứu mới dừng ở việc chỉ ra vấn đề đã và đang xảy ra trong xã hội là có sự bất bình đẳng, đối với phụ nữ trong lĩnh vực truyền thông chứ chưa đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và các giải pháp Ngoài ra, các nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ trên truyền thông có xu hướng quan tâm nhiều đến tác động tiêu cực của truyền thông mà ít chú ý đến mặt tích cực Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của mạng xã hội đã có thêm nhiều những diễn ngôn đa dạng như diễn ngôn mẹ đơn thân, phụ nữ là người chủ động và độc lập, diễn ngôn người phụ nữ tự chủ cuộc đời Điểm luận những công trình nghiên cứu về diễn ngôn về giới trên truyền thông như trên cho thấy sự phong phú của các khía cạnh nghiên cứu diễn ngôn, đồng thời phản ánh bối cảnh xã hội thời kỳ và những điểu kiện cho phép diễn ngôn đó tồn tại

Trang 26

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Hệ thống khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm diễn ngôn

Diễn ngôn (discourse) bắt nguồn từ tiếng La Tinh “discoursus”, mà từ này có gốc động từ là “discurere”, có nghĩa là tán láo chơi, nói huyên thuyên Như vậy, diễn ngôn

là một lối nói, cách nói, hoặc là một lượt nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn định bởi chủ ý nghiêm ngặt

Diễn ngôn (discourse) là thuật ngữ được sử dụng rộng khắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học Nội hàm của thuật ngữ này vì thế là rất khác nhau theo cách thức của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Theo Collins Concise English Dictionary (1988) thì diễn ngôn được hiểu với những hàm nghĩa sau: “Thứ nhất là sự giao tiếp bằng lời, nói chuyện hội thoại Thứ hai là sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng cách nói hoặc viết theo một trật tự Thứ ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử dụng thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một đơn vị của văn bản – đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu” (Dẫn theo Sara Mills) Trên diễn đàn http://www.ldoceonline.com, Longman đưa ra định nghĩa diễn ngôn trên cơ sở của 3 nét nghĩa: “ Thứ nhất là một bài phát biểu hoặc một đoạn viết quan trọng về một vấn đề cụ thể Thứ hai là một cuộc trò chuyện hoặc một cuộc thảo luận quan trọng giữa mọi người Thứ ba là ngôn ngữ được sử dụng trong một kiểu loại đặc biệt của văn nói hoặc văn viết” (dẫn theo Lại thị Hải Bình) [15, tr.24] Tác giả cuốn

The Routledge Dictionary of Literary Terms khẳng định rằng “cho đến nửa sau thế kỷ

20, thuật ngữ “diễn ngôn” vẫn mang ý nghĩa cơ bản là sự trình bày một vấn đề cụ thể bằng cách nói hay viết theo một trật tự trước sau [177, tr 57] Các nét nghĩa khá khác nhau về diễn ngôn phụ thuộc cách tiếp cận của từng ngành Sự phân hóa phức tạp về nghĩa của thuật ngữ diễn ngôn khi xuất hiện trong những khung lý thuyết khác nhau đã dẫn đến những chồng chéo của các tầng nghĩa, gây khó khăn cho nhà nghiên cứu Có lẽ

vì thế, việc làm cần thiết nhất khi tiếp cận thuật ngữ ngày là đặt nó vào những bối cảnh sử dụng khác nhau, từ đó nghiên cứu xem, trong mỗi bối cảnh, nét nghĩa nào của thuật

ngữ diễn ngôn được triển khai

Trang 27

Luận án sử dụng quan điểm diễn ngôn theo cách diễn giải của Michel Foucault,

học giả có tầm ảnh hưởng trong lĩnh vực khoa học xã hội Theo đó, “diễn ngôn” (discourse) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến, đặc biệt trong các nghiên cứu

gần đây và được dùng sớm nhất trong ngôn ngữ học, nhằm ám chỉ phương thức hoạt động của ngôn từ, vượt ra ngoài văn bản, và bị chi phối bởi các quan hệ quyền lực,

có tác động tới sự vận hành của chúng trong thực tiễn đời sống

1.2.1.2 Khái niệm giới

Vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX, ở các nước nói tiếng Anh xuất hiện một ngành khoa học về gender (giới), sau đó lan toả nhanh chóng sang các quốc gia khác

Ở Việt Nam, ngành khoa học này bắt đầu được chú ý vào những năm 80 của thế kỉ

XX Theo đó, giới được định nghĩa là “một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kì vọng liên quan đến nam và nữ.” (Lê Thị Ngân Giang) [38];

“là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội” (Lê Thị Quý) [115, tr.34]; “là những tập hợp người được xếp loại và phân biệt trên cơ sở đặc điểm giải phẫu cơ thể (trước hết và chủ yếu là cơ quan sinh dục, nhưng không chỉ có các cơ quan này) và được đông đảo các thành viên trong một cộng đồng, một xã hội hay một nền văn hóa chỉ định cho những kiểu hành vi riêng, trách nhiệm và quyền lợi riêng” (Mai Huy Bích) [14, tr.18]; “là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kì vọng về các đặc điểm và năng lực cần được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cậu bé hay một cô bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định” (Ủy ban về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, 2015)

Như vậy, khác với giới tính là khái niệm khoa học gắn với môn sinh học, giới chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Giới không phải là cái mà con người sinh ra là đã có, không phải cái mà con người sở hữu mà là cái mà con người phải hành động, xử sự trong các hoạt động xã hội và chịu ảnh hưởng rất lớn từ quá trình giáo dục cũng như tự giáo dục Trong một xã hội nhất định, người nam và người nữ không chỉ có những đặc điểm sinh học (giới tính) khác nhau mà còn đối diện với những mong đợi của xã hội về ngoại hình, tính cách, trách nhiệm với cộng đồng, được cho là phù hợp với từng giới tính Dựa vào những đặc điểm sinh học căn bản của một người là nam hay là nữ, những cơ chế xã hội đã tạo ra các khuôn mẫu giới

Trang 28

để xác định cái gì là phù hợp với nam giới và nữ giới trong bối cảnh văn hóa - xã hội cụ thể Những hành vi giới không phải mang yếu tố bẩm sinh mà là sự luyện tập của con người dựa vào những quy tắc, những chuẩn mực trong cộng đồng mà họ sinh sống, nhằm đáp ứng sự trông đợi hay kì vọng của cộng đồng đó

1.2.1.3 Khuôn mẫu giới

Theo Trần Thị Minh Đức [29, tr.61], các nhà tâm lý học xã hội gọi niềm tin làm liên kết những cá nhân hoặc nhóm trong việc nhìn nhận về một số phẩm chất đặc trưng của đối tượng là khuôn mẫu Thuật ngữ khuôn mẫu xã hộI (social stereotype) được Lippman đưa ra lần đầu vào năm 1992 để gọi tên các phạm trù mô tả được đơn giản hóa mà chúng ta tìm cách đặt người khác hay các nhóm khác vào trong đó để nhìn nhận, đánh giá được dễ dàng hơn Nói cách khác, khuôn mẫu là những quan niệm rập khuôn, mang tính khái quát cho từng nhóm xã hội (Trần Thị Vân Anh) [6, tr.388] Vì thế, khuôn mẫu xuất phát từ thực tế nhưng lại không vận động cùng với sự thay đổi của thực tế đó Cuộc sống vốn đa dạng và biến đổi nhanh, nhưng khuôn mẫu lại cố định và có xu hướng xa rời cuộc sống Những quan niệm khuôn mẫu có thể dẫn đến những hành vi hạn chế các cơ hộI hay điều kiện thực hiện hoạt động của một nhóm xã hộI nhất định

Khuôn mẫu giới là những khuôn mẫu xã hội gắn với hệ thống giới (Phạm Quỳnh Phương) [104, tr.32] Khuôn mẫu giới là những hình ảnh lý tưởng về nam tính hay nữ tính dùng để nhìn nhận một con người dựa trên sự tổng hợp đơn giản các thuộc tính của nhóm, của giới mà người đó quy thuộc (Trần Thị Minh Đức) [29] Ví dụ: Về tính cách, nam giới phải mạnh mẽ, táo bạo, dũng cảm, đầy tham vọng, luôn ở thế tiến công và phải biết kiềm chế cảm xúc; còn nữ giới thì phải dịu dàng, tế nhị, dễ bộc lộ tình cảm, đảm đang, thụ động, phụ thuộc Về năng lực, nam giới thường được tin là những người giỏi khoa học tự nhiên, làm việc thiên về kỹ thuật, có đầu óc tư duy sáng tạo và họ thích hợp với vai trò làm chủ gia đình, xã hội; còn nữ giới được tin là những người thích hợp với công việc nhẹ nhàng, khéo léo, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, đặc biệt có “thiên chức” nội trợ Về vai trò xã hội, mỗi giới bị mặc định cho một vài công việc được coi là thích hợp cho giới đó Chẳng hạn phụ nữ thích hợp làm y tá, nội trợ, thư ký, người trông trẻ ; còn nam giới được tín nhiệm làm chủ gia đình, giám đốc, lái xe, luật sư, kiến trúc sư Tác

giả Phạm Quỳnh Phương trong bài viết “Nam tính, Nữ tính, và sự cầm tù của những

Trang 29

khuôn mẫu giới” chỉ ra "’nam tính’ và ‘nữ tính’ không phải là những đặc tính tự nhiên,

mà là những khuôn mẫu về giới được tạo ra như những sản phẩm mang tính kiến tạo xã

hội, mà nội hàm của chúng phản ánh những bối cảnh văn hóa đặc thù” [104, tr.44]

Theo Cislaghi và Heise (2019), khuôn mẫu giới có bốn đặc tính quan trọng: 1) có tính xã hội hoá, được học từ trong gia đình và các thiết chế rộng hơn; 2) phản ánh những mối quan hệ quyền lực không công bằng mà phần thiệt thòi thường thuộc về nữ giới; 3) khuôn mẫu giới thường được thấm đẫm và được củng cố thông qua các thiết chế, đặc biệt là chính sách; 4) khuôn mẫu giới được sinh ra và củng cố thông qua tương tác xã hội (dẫn theo Phạm Quỳnh Phương và nnk) [108, tr.33]

Khuôn mẫu giới là một trong những căn cứ để duy trì định kiến và phân biệt

đối xử theo giới Tuy nhiên khuôn mẫu giới và định kiến giới không phải đồng nhất Trong trường hợp khuôn mẫu giới mang sắc thái tiêu cực dựa trên việc đánh giá các cá nhân cụ thể lại được khái quát để đánh giá các nhóm xã hội thì khuôn mẫu này sẽ trở thành định kiến giới Khuôn mẫu giới thường liên quan đến quan niệm, niềm tin từ cuộc sống thường nhật; còn định kiến giới liên quan đến thái độ, cảm xúc của cá nhân đối với những khuôn mẫu đó và thường mang hàm ý xấu, tiêu cực, một chiều Đinh kiến giới bắt nguồn từ những khuôn mẫu (định khuôn) đã tồn tại trong nhận thức của cộng đồng xã hội một cách bền vững và lâu dài, vì thế nó có thể trở thành thái độ và hành vi kỳ thị một cách rất tự nhiên và khó nhận biết

1.2.1.4 Định kiến giới

Định kiến giới được hiểu là tập hợp các niềm tin, các quan niệm hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn hoặc đơn giản hóa quá mức về thái độ và hành vi ứng xử của nhóm nam hay nữ (Ngô Thị Tuấn Dung) [27, tr.16], là “những thái độ được tạo ra dựa trên một sự khái quát hóa mang tính tuyệt đối và những ấn tượng xấu để phân biệt nam và nữ” hoặc “là thái độ có sẵn của xã hội nhìn nhận không đúng về khả năng, về tính cách mà nam giới và nữ giới nên có hoặc không nên có, về loại hình hoạt động và nghề nghiệp mà nam hay nữ giới có thể hoặc không thể làm” (Trần Thị Minh Đức) [29, tr 46], hay được hiểu là sự khái quát hóa rộng lớn về toàn bộ một loại, một nhóm người dựa trên cơ sở đôi chút hiểu biết về vài ba khía cạnh của một số thành viên thuộc loại hay nhóm đó (Mai Huy Bích) [14, tr 23-24] Trong Luật Bình đẳng giới (2006), định kiến giới được định nghĩa như sau: Định kiến giới là

Trang 30

nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ Khái niệm này có phạm vi hàm chứa cả ba tầng bậc: nhận thức, xúc cảm và hành vi phân biệt đối xử theo giới, vì thế mức độ khái quát lớn hơn các khái niệm chỉ đề cập đến khía cạnh nhận thức Như vậy, có thể khẳng định: Định kiến giới là những quan niệm, thái độ, đánh giá mang tính khuôn mẫu về đặc điểm, vị trí, vai trò, tính cách, khả năng của nam giới và nữ giới mà những khuôn mẫu đó bao hàm sắc thái tiêu cực, một chiều, cản trở sự phát triển và cơ hội của mỗi giới trong đời sống xã hội và gia đình, là nguy cơ dẫn đến bất bình đẳng giới (Phạm Thị Thuỳ Linh) [74]

Những quan niệm rập khuôn mang sắc thái tiêu cực, không chính xác và không có cơ sở có thể thể hiện các cá nhân một cách sai lệch, và đây chính là nguy cơ của

bất bình đẳng giới Ủy ban QG về sự tiến bộ của phụ nữ cũng khẳng định: “ĐKG

thường không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng giới và thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện”.8 Nếu không dần được loại bỏ, ĐKG sẽ ăn sâu bám rễ trong đời sống nhờ quá trình xã hội hóa, trong đó có môi trường sống, học tập, môi trường gia đình và các tác động mạnh mẽ của TTĐC trở thành rào cản của BĐG, kìm hãm sự tiến bộ xã hội

Thiếu nhạy cảm giới chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới định kiến giới Nhạy cảm giới là việc nhận thức được các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm khác nhau của nam giới và phụ nữ; hiểu được sự khác nhau đó do đâu mà có và những điểm khác nhau này có thể dẫn tới sự khác nhau về mức độ tham gia, cống hiến, hưởng thụ, phát triển của mỗi giới (Oxfam) [95] Chính vì vậy vấn đề “Truyền thông có nhạy cảm giới” được đưa ra với những tiêu chí nhất định: Thể hiện quan điểm BĐG dựa trên quyền; Loại bỏ mọi hình thức, nội dung tuyên truyền mang ĐKG hoặc củng cố ĐKG; Hướng tới thay đổi vai trò giới truyền thống, khẳng định tính tích cực của nam và nữ trong những vai trò mới Ví dụ: nam giới tham gia công việc nội trợ, chăm sóc con cái; phụ nữ tham gia làm kinh tế, quản lí Khuyến khích sự tự tin, năng động, sáng tạo của nữ giới; Thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của cộng đồng về giới, BĐG: Cân bằng khắc họa hình ảnh của nam giới và phụ nữ.; Không sử dụng tài liệu mang tính xúc phạm giới hoặc đưa tin không phù hợp về các vấn đề nhạy cảm như:

8 Ủy ban QG vì sự tiến bộ của phụ nữ VN, 2005

Trang 31

Đổ lỗi cho phụ nữ trong các vụ bạo lực tình dục, kì thị, lên án phụ nữ bị HIV; Thông điệp truyền thông về giới và BĐG: Phấn đấu vì BĐG, chấm dứt bạo lực giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống (Oxfam) [95, tr.125-126) 1.2.1.5 Vai trò giới

Vai trò giới là một khái niệm gắn khá chặt chẽ với khái niệm khuôn mẫu giới Vai trò giới là khái niệm có tính xã hội mô tả các kỳ vọng, vai trò, hành vi, và đặc điểm được liên kết với từng giới tính (nam và nữ) trong một xã hội cụ thể Vai trò giới không đơn thuần là những đặc điểm sinh lý hay giới tính văn hóa của mỗi người, mà là một tập hợp các yêu cầu, quy định và mong đợi xã hội về cách một người nên hành xử, suy nghĩ và cảm nhận dựa trên giới tính

Vai trò giới được xây dựng thông qua quy ước xã hội và văn hóa Ví dụ, trong một số xã hội, vai trò giới truyền thống cho rằng phụ nữ nên làm công việc chăm sóc gia đình, chăm sóc trẻ em và thể hiện tính nhạy cảm, nhẹ nhàng Trong khi đó, nam giới thường được kỳ vọng thể hiện tính cạnh tranh, lãnh đạo và mạnh mẽ, và thường được quyền hơn trong việc ra quyết định và kiểm soát tài sản

Tuy nhiên, vai trò giới không phải là một khái niệm tĩnh tại trong mỗi xã hội Nó có thể thay đổi theo thời gian và văn hóa, và cũng có thể có sự đa dạng giữa các xã hội khác nhau Các nhóm xã hội nhận thức và thúc đẩy sự đa dạng giới có xu hướng tranh đấu để thay đổi và làm mờ những rào cản giới tính truyền thống và tạo

ra sự công bằng và định vị lại vai trò giới

1.2.1.6 Bình đẳng giới

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và

cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng lợi ích như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Luật Bình đẳng giới, 2006)

Mục tiêu của BĐG là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong xã hội Nó đề cao nguyên tắc rằng mọi người, bất kể giới tính của

họ, đều có quyền được xem xét và đánh giá dựa trên khả năng, năng lực và phẩm chất cá nhân, chứ không dựa trên giới tính của họ BĐG nhấn mạnh việc loại bỏ mọi hạn chế và kỳ thị dựa trên giới tính, và khuyến khích sự công bằng trong các lĩnh vực như giáo dục, việc làm, quyền lợi và tham gia chính trị Nó cũng chú trọng đến việc phá

vỡ những rào cản xã hội và văn hóa mà có thể giới hạn sự phát triển và tự do cá nhân của mọi người dựa trên giới tính

Trang 32

Luật BĐG là tiêu chí đánh giá về BĐG, thể hiện trong các nội dung quy định từ điều 12 đến điều 18 gồm có: BĐG trong lĩnh vực chính trị; BĐG trong lĩnh vực kinh tế; BĐG trong lĩnh vực lao động; BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; BĐG trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; BĐG trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; BĐG trong lĩnh vực y tế; BĐG trong gia đình… Luật BĐG (2007) cũng chỉ rõ: Biện pháp thúc đẩy BĐG là “biện pháp nhằm đảm bảo BĐG thực chất,

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy BĐG được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích BĐG đã đạt được” 9 Với quy định như vậy, quyền BĐG nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử về giới; Tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới BĐG thực chất giữa nam, nữ; đồng thời thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam,

nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

1.2.1.7 Khái niệm truyền thông

Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức Truyền thông có thể phổ biến kiến thức, các giá trị và những chuẩn mực xã hội Truyền thông có thể đưa ra những giá trị mới hay sự thay đổi ưu tiên của những giá trị tồn tại Truyền thông cũng có thể làm cho con người có thể học hỏi hành vi của những người khác, nhận thức được điều mọi người khác đang làm sẽ ảnh hưởng đến con người chấp nhận như một hành vi chuẩn mực và có thể chấp nhận

Truyền thông được hiểu như “một quá trình” phức tạp, gồm nhiều khâu, với

các phương phức và mô hình khác nhau (Mai Quỳnh Nam) [80] Thuật ngữ communication xét trên phương diện ý nghĩa có thể có các nội hàm: Giao tiếp (Communicative), Truyền thông (Communicational) và cũng có khi đồng nghĩa với thông tin (Information) Do chỗ các ý nghĩa này ko đồng nhất với nhau nên việc sử dụng thuật ngữ truyền thông cần được phân biệt với các khái niệm còn lại

9 Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về Bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình năm 2011 trang 61

Trang 33

Đứng từ góc độ truyền thông học, thuật ngữ Communication thường gắn với

ý nghĩa truyền thông là một lĩnh vực Bên cạnh đó, còn có những thuật ngữ khác liên quan đến địa hạt này, đôi khi cũng được hiểu như là sản phẩm của dịch vụ truyền thông như Media, Multimedia (nhấn mạnh đến ý nghĩa phương tiện) hay Mass Media (nhấn mạnh đến ý nghĩa quy mô) Nội dung mà truyền thông hiện đại theo đuổi nằm

trong thuật ngữ có 3 chữ IEC/CIE: Communication (giao tiếp/truyền thông – Phương thức) Information (thông tin - nội dung), Education (Giáo dục – mục tiêu) Đây là sự

kết hợp, hòa kết của 3 phương diện trong một hoạt động thông tin đặc thù nhằm tác động vào đối tượng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tượng

Truyền thông ngày nay là một hoạt động tương tác xã hội đa dạng với nhiều địa hạt, liên quan đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc điểm truyền thông hiện đại là nó có kiên kết với các dạng khác nhau của hoạt động tiếp thị Nó có những chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử liên cá nhân trong cộng đồng, bao gồm cả văn hóa Truyền thông, ở mỗi cộng đồng (dân tộc) , đều mang những chuẩn mực và bản sắc của dân tộc đó

Trong luận án này, chúng tôi có tập trung vào truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội bởi tầm ảnh hưởng của nó đối với sự chi phối các luồng diễn ngôn vê giới hiện nay Truyền thông đại chúng được hiểu là quá trình thông tin trên quy mô ngày một sâu rộng, tức là “đại chúng” không chỉ về phía những người tiếp nhận thông tin ( ví dụ độc – khán - thính giả nam, nữ, già, trẻ…) mà còn “đại chúng” cả về nguồn phát (đài phát thanh, truyền hình, NXB…) và “đại chúng” về sự kiện, nội dung thông tin (kinh tế, chính trị, văn hoá…) Truyền thông đại chúng do đó bao hàm toàn bộ những phương tiện lan truyền thông tin như báo chí, truyền hình, phát thanh…tới những nhóm công chúng lớn (Mai Quỳnh Nam) [77]

Truyền thông xã hội là khái niệm cũng được dùng rộng rãi nhấn mạnh đến các

hoạt động trao đổi thông tin xã hội, nhằm hướng tới những chuẩn mực chung trong giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên sống trong xã hội gắn với 1 nền văn hóa nhất

định Những sản phẩm tiêu biểu của truyền thông xã hội chủ yếu hiện diện ở các địa

hạt như: Truyền thông chính trị (tuyên truyền, vận động), Truyền thông học đường (giáo dục trí, đức, thể, mĩ), Truyền thông tôn giáo (truyền bá và duy trì đức tin), Truyền thông Phát triển cộng đồng (thay đổi nhận thức, hành vi, phát triển bền vững), đặc biệt là các phương tiện truyền thông xã hội trên mạng online như các trang web, facebook, youtobe,

Trang 34

blog cá nhân Truyền thông xã hội trở nên đa chiều nhờ có công nghệ thông tin Nó khác với truyền thông truyền thống ở chỗ truyền thông hoạt động 2 chiều và đa chiều theo sự giao lưu tương tác giữa nguồn và đích, các đối tác đồng thời tham gia sân chơi thông tin trên hệ thống Internet với các sản phẩm ngôn ngữ kết nối tới hàng triệu người tham gia đối thoại và phát biểu Ngôn ngữ truyền thông cũng theo đó mà thay đổi tính chất và hoạt động Với khả năng tác động và gây ảnh hưởng đến những lợi ích cộng đồng như vậy, các sản phẩm của truyền thông xã hội đã chiếm được một vị trí đáng kể trong đời sống thông tin công cộng

Truyền thông có sức mạnh đặc biệt trong việc góp phần làm cho xã hội hiểu đúng hơn về bình đẳng giới Vì thế, kiến thức và kỹ năng truyền thông về giới của các nhà báo là điểm mấu chốt tạo nên sức mạnh này Tờ báo với nhiều bài báo có nhạy cảm giới sẽ góp phần chuyển tải đến độc giả những thông điệp đúng đắn về BĐG, góp phần thay đổi xã hội theo hướng bình đẳng, tích cực và nhân văn hơn

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết của luận án

1.2.2.1 Lý thuyết diễn ngôn

Lý thuyết diễn ngôn xuất hiện những năm 60-70 của thế kỷ XX Việc xác lập một cách hiểu thống nhất về diễn ngôn là điều không dễ dàng bởi đây là khái niệm khoa học có tính liên ngành và đa ngành Nói khác đi, diễn ngôn là một khái niệm đa nghĩa Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang tồn tại nhiều cách phân loại diễn ngôn theo những tiêu chí khác nhau Dựa vào thực tiễn vận dụng khái niệm diễn ngôn trong các lĩnh vực, tựu chung, có thể quy vào hai hướng nghiên cứu diễn ngôn cơ bản, là hướng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và của các nhà xã hội học Với các nhà ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu thực tiễn ngôn từ, ngôn từ trong giao tiếp, ngôn từ sống, ngôn từ hoạt động, ngôn từ đang sử dụng, ngôn từ trong ngữ cảnh Thứ hai là nghiên cứu diễn ngôn của các nhà xã hội học mà tiêu biểu là M.Bakhtin và M.Foucault Trong quan niệm của M.Bakhtin, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, ngôn ngữ trong sử dụng, có tư tưởng, có tính hoạt động xã hội, tức

tính thực tiễn

Trong hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà tư tưởng, M Foucault 1984) là nhân vật quan trọng Foucault được xem “là nhà tư tưởng theo thuyết hậu cấu trúc có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu văn hóa ở thời điểm hiện nay” (Barker) [10, tr.132] Ông đã sử dụng thuật ngữ diễn ngôn một cách sáng tạo, tạo cho nó một

Trang 35

(1926-ý nghĩa cụ thể, làm cho nó trở thành một khái niệm quan trọng trong lịch sử tư tưởng thế kỷ XX Đối với Foucault, nội hàm của khái niệm diễn ngôn rất phong phú phức tạp Ông chẳng những không cố gắng đi tìm một định nghĩa thống nhất mà còn hướng tới sự đa dạng hóa nội hàm của thuật ngữ này ngay trong định nghĩa của chính mình Trong “Khảo cổ học tri thức”, Foucault cho rằng: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như một thực tiễn trần thuật có số lượng nhất định và có trật tự được quy ước tạo nên vô số các lời phát biểu, hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [180, tr 80]

Theo diễn giải của Trần Văn Toàn [209], M Foucault cùng một lúc đã đưa ra

ba định nghĩa về diễn ngôn Thứ nhất, đó là định nghĩa rộng nhất, theo đó diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung Thứ hai, diễn ngôn như là một nhóm các nhận định được cá thể hóa Diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung Theo đó, người ta có thể nói đến, chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học Thứ ba, diễn ngôn như một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định Ở định nghĩa này M.Foucault quan tâm đến những quy tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập nhưng trong thực tế nghiên cứu, các định nghĩa này luôn luôn được sử dụng xen kẽ nhau và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa kia tùy theo hướng triển khai của người nghiên cứu Nguyễn Thị Hải Phương cũng cho rằng, xét theo cách hiểu của Foucault trong “Khảo cổ học tri thức” thì thấy nội hàm khái niệm diễn ngôn rất rộng, bao gồm các ý kiến (ý kiến về tính dục, về nhà tù, hình phạt), học thuyết, khoa học (y học, tâm lý học, xã hội học…), thiết chế về kiểm soát

xã hội (nhà tù nhà trường, bệnh viện, phòng xưng tội trong nhà thờ…) Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các quy tắc cấu trúc trong xã hội quy định sự hình thành các

ý kiến, học thuyết khoa học; nghiên cứu các cơ chế để sản sinh ra các văn bản, các dạng ngôn từ trong đời sống xã hội.” [110, tr 32-33] Theo cách nhìn của Foucault,

cái cần quan tâm không phải là ý nghĩa nào đó ẩn chứa trong diễn ngôn mà là những

Trang 36

quy tắc đã chi phối việc diễn ngôn ra đời và vận hành trong đời sống Những tri thức

do diễn ngôn kiến tạo nên không thể mang tính khách quan, trung tính, bởi vì nó luôn là sản phẩm của quan hệ quyền lực

Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn được xem là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này Với Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể được tạo ra, được hiện thực hóa, được vận hành và phân phối bởi diễn ngôn “Ở một trình độ căn bản, khi một đứa bé học nói, cùng một lúc, nó nhận được tri thức và những luật lệ căn bản về giáo dục của nó” (L Fillingham- M Susser) [63, tr.12] Cái gọi là sự áp chế là do quyền lực xã hội, nhưng không phải là do ai thao túng, mà là quyền lực và tri thức, quyền lực dưới hình thức tri thức Như thế muốn hiểu các hiện tượng trong đời sống xã hội còn cần phải khảo cổ học tri thức trong diễn ngôn để giải mã chúng (dẫn theo Trần Đình Sử) [205] Diễn ngôn được hiểu “có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực; đồng thời, cũng là một vật cản, một khối chướng ngại vật, một mũi kháng cự và một điểm bắt đầu cho chiến lược đấu tranh Diễn ngôn làm lan truyền và sản sinh quyền lực, nó củng cố chính nó, nhưng cũng hủy hoại nó và phơi bày nó, làm cho nó yếu đi và khiến nó có thể gây trở ngại cho chính nó” (dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Minh) [203] Toàn bộ tri thức mà chúng ta có, thực chất là kết quả của quá trình chinh phục các đối tượng, dùng quyền lực để áp đặt thước đo chuẩn mực lên đối tượng Như vậy, diễn ngôn được hiểu là một quá trình hiểu và tạo nghĩa mang tính xã hội (thay vì mang tính ngôn ngữ thuần túy) Vì vậy, mặc dù khả năng tạo nghĩa của ngôn ngữ là vô hạn, nhưng trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc nghĩa nào được chấp nhận và nghĩa nào trở nên phổ biến lại phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội, chính trị chứ không phải một quá trình mang tính ngôn ngữ học thuần túy Việc thương thỏa để tạo nghĩa này (cùng với kết quả của nó) chính là các diễn ngôn đặc trưng của từng thời đại

Quan niệm về diễn ngôn của luận án: Như đã xác định ở phần trên – nhiệm

vụ chính của luận án không phải là đi vào trình bày lý thuyết về diễn ngôn mà trên cơ sở lựa chọn, kết hợp những kiến giải về diễn ngôn của nhiều nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ đưa ra những đặc trưng cơ bản trong quan niệm diễn ngôn để làm điểm tựa lý thuyết cho việc triển khai đối tượng nghiên cứu của mình Chúng tôi có sự kế thừa quan điểm phân tích về khái niệm diễn ngôn của Nguyễn Thị Hải Phương dựa trên 4

cơ sở: Diễn ngôn là cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể; là sản phẩm của môi trường

Trang 37

sinh thái văn hóa, là sự kiến tạo thế giới theo một quan niệm, tư tưởng hệ nhất định

và là cấu trúc biểu nghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa, ý thức hệ [113]

Cơ sở thứ nhất: Diễn ngôn là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể Diễn ngôn

có thể được hiểu, nó không phải là các văn bản cụ thể, các loại biểu đạt các nội dung cụ thể mà là cái cơ chế tạo thành các văn bản cụ thể ấy; nó chính là các nguyên tắc

ẩn chìm chi phối sự hình thành các văn bản như là sự kiện xã hội Diễn ngôn tồn tại bên ngoài ta, chi phối ta Việc ai nói, nói như thế nào, nói cái gì và nói như thế nào bị kiểm soát chặt chẽ bởi những cơ chế quyền lực, những luật lệ bên trong và bên ngoài diễn ngôn Điều này khiến cho chủ thể phát ngôn không còn là những chủ thể tự do biểu lộ những ý kiến cá nhân, mà bị hạn chế và trói buộc trong một khung diễn

ngôn có trước Sara Mills, trong công trình Dẫn nhập về diễn ngôn đã nhận định:

“Chúng ta có cảm giác suy nghĩ và phát ngôn của chúng ta không đơn giản nảy sinh từ ý chí hay trí tuệ của mỗi cá nhân; thay vào đó, chúng ra nhận thấy cái mình có thể biểu đạt, cái mà người ta nghĩ mình muốn biểu đạt bị cưỡng chế bởi những hệ thống và luật lệ mà trong chừng mực nào đóm nằm ngoài sự kiểm soát của con người (Sara Mills) [178; tr.18] Như vậy, diễn ngôn không chỉ là ngôn ngữ, mà nó là thực tiễn ngôn ngữ do quyền lực văn hoá quy định Diễn ngôn khác với ngôn ngữ, bởi nó chủ yếu thuộc về lịch sử, không phải do các thành tố ngôn ngữ tạo thành, nhưng người ta không thể phân tích ở bên ngoài thời gian triển khai ngôn ngữ (Trần Đình Sử) [205]

Thứ hai, diễn ngôn là sự kiến tạo thế giới theo một quan niệm, tư tưởng hệ nhất định Trong tác phẩm “Khảo cổ học tri thức”, M.Foucault chủ yếu tập trung vào việc

phân tích sự kiến tạo cái thực bởi các cấu trúc diễn ngôn Ông không phủ nhận rằng, có một thực tại khách quan tồn tại trước con người, vấn đề là chúng ta không cách nào chạm được vào thế giới khách quan đó một cách trực tiếp; ta chỉ có thể biết về nó một cách có hệ thống và có ý nghĩa thông qua diễn ngôn: “Chúng ta không được tưởng tượng rằng thế giới hướng về chúng ta với một khuôn mặt có thể đọc ra dễ dàng và chúng ta chỉ có việc giải mã nó mà thôi Thế giới không phải là kẻ đồng lõa với tri thức của chúng ra; không có một thượng đế tiền diễn ngôn nào bày đặt ra thế giới theo cách có lợi cho chúng ta (Foucault) [180, tr.67], dẫn theo Nguyễn Thị Hải

Phương [110, tr.33] Trước khi nhận thức thực tại, trong đầu chúng ta đã có sẵn một

bộ cấu trúc diễn ngôn Các cấu trúc diễn ngôn này tạo nên những cách diễn giải khác nhau về cùng một sự kiện Ví dụ một đám cháy rừng là một hiện tượng hoàn toàn

Trang 38

khách quan, nhưng coi nó là “một hiện tượng tự nhiên” hay “sự giận giữ của thượng đế” lại phụ thuộc vào sự cấu trúc hóa một trường diễn ngôn Điều đó cho thấy, chẳng có một trật tự nội tại nào của thế giới, lại nằm ngoài trật tự mà ta áp đặt lên thế giới thông qua sự miêu tả bằng ngôn ngữ về nó Toàn bộ những quan niệm về giới, cũng là do được kiến tạo dựa trên những tư tưởng hệ nhất định của mỗi xã hội quy định, chứ nó không tự nhiên được sinh ra một cách tự nhiên Cũng vì thế, ở mỗi một xã hội, lại có một quan niệm khác nhau về giới và vai trò giới Diễn ngôn không chỉ là ngôn ngữ mà nó là thực tiễn ngôn ngữ do quyền lực văn hóa quy định Ví dụ, thời trước, tư tưởng Khổng giáo cho rằng “phụ nhân nan hoá” (đàn bà khó dạy) hay trong

ca dao vẫn thường đúc kết “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”, người ta cho rằng để đàn bà tham gia vào những việc quan trọng là hỏng việc, trí tuệ đàn bà không bằng đàn ông, đàn bà không cần đi học, vì chỉ phù hợp với việc nhà cửa, đồng áng, buôn bán nhỏ Thế nhưng xã hội hiện đại đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, xét về sự thông minh, thì não bộ của người phụ nữ không có sự khác biệt so với người đàn ông Thời kỳ Việt Nam đấu tranh giải phóng đất nước và tái thiết xã hội còn coi phụ nữ là một lực lượng then chốt, với những nhận định về phụ nữ “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “anh hùng - bất khuất” đủ sức tham gia và công việc xã hội Xã hội hiện đại, phụ nữ đã có thể giữ nhiều trọng trách trong xã hội cũng như chứng minh năng lực không thua kém đàn ông, kể cả việc họ phải dành nhiều thời gian hơn cho sinh nở và chăm sóc con cái

Thứ ba, diễn ngôn là sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa

Diễn ngôn là thứ không chịu sự chi phối của ngôn ngữ mà chịu sự chi phối của đời sống, của quy ước xã hội Mỗi giai đoạn lịch sử, một nền văn hóa, mỗi thể chế chính trị

- xã hội có một quy ước thực tiễn diễn ngôn nhất định Chỉ trong những quy ước chuẩn mực được mọi người đặt ra, điều chỉnh là thừa nhận, diễn ngôn mới được hình thành và vận hành Mỗi khi môi trường sinh thái văn hóa thay đổi thì diễn ngôn cũng thay đổi Chính vì thế, qua bóng dáng của diễn ngôn, chúng ta có thể thấy được bóng dáng của xã hội, của thời đại lịch sử đó ra đời Ví dụ chỉ ở thời kỳ chiến tranh, mới xuất hiện và tồn tại những diễn ngôn về giới như “giỏi việc nước, đảm việc nhà” hay “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, còn nghe tới “tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh”, là biết bối cảnh thời kỳ trong thời kỳ phong kiến, hay diễn ngôn về “lựa chọn làm mẹ đơn thân, phụ nữ phải biết yêu bản thân, sống cho mình” chắc chắn chỉ có được trong bối cảnh xã hội Việt

Trang 39

Nam những năm gần đây, từ khi toàn cầu hoá và thế giới phẳng về thông tin, cùng với internet du nhập vào Việt Nam

Thứ tư, diễn ngôn là cấu trúc biểu nghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa, ý thức

hệ Tác giả Lu.Lotman [197] cho rằng, diễn ngôn là một cấu trúc biểu nghĩa, nó có

tầng bậc của nó, nó được tạo thành từ các cặp đối lập cơ bản Tất cả mô hình biểu nghĩa (nhỏ là tác phẩm truyền thông, lớn là một nền văn hóa) đều có thể được phân tích dưới dạng cấu trúc này Chẳng hạn các cặp khái niệm “cao – thấp”, “phải – trái” , “gần – xa”, mở- đóng”, “giới hạn – vô biên”, “rời rạc – liên tục” trở thành vật liệu kiến tạo mô hình văn hóa với nội dung không gian thuần túy và có nghĩa: “Có giá trị-vô giá trị”, “tốt – xấu”, “của mình-của người”, “khả thụ - bất khả thụ”, hữu tưởng – trường sinh” Những mô hình chung nhất về xã hội, tôn giáo, chính trị, luân lý, nhờ đó, ở những giai đoạn khác nhau trong lịch sử tinh thần của mình, con người thấu hiểu ý nghĩa của đời sống bao bọc xung quanh, bao giờ cũng có các đặc tính không gian được chia tách theo một kiểu cố định, khi thì dưới dạng đối lập “trời – đất” hoặc

“âm – dương” khi thì dưới hình thức của một tầng hệ xã hội – chính trị nào đấy với đối cục “thượng lưu- hạ tiện”, khi lại ở dưới dạng đối lập luân lý “phải – trái”… Cấu trúc biểu nghĩa của diễn ngôn có thể được nhận ra dễ dàng và rõ nét trong những diễn ngôn trong xã hội (dẫn theo Nguyễn Thị Hải Phương) [110, tr 34]

Tóm lại, soi chiếu dưới những quan điểm này, diễn ngôn về giới gắn với bối cảnh văn hóa, xã hội và chính trị Mỗi thời đại với tư tưởng khác nhau cũng như bối cảnh văn hoá xã hội kinh tế khác nhau sẽ tạo nên những tri thức khác nhau cũng như các diễn ngôn khác nhau Diễn ngôn về giới trên truyền thông, do đó cũng thể hiện nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam trong lịch sử và đương đại

1.2.2.2 Khung phân tích của luận án

Khung phân tích của luận án được dựa trên những nội dung cơ bản của lý thuyết diễn ngôn Theo đó luận án sẽ phân tích hai khía cạnh là nội dung diễn ngôn và điều kiện

của diễn ngôn

* Về nội dung diễn ngôn:

Để làm rõ nội dung diễn ngôn, chúng tôi tiến hành phân tích những nhóm chủ đề chính, tìm ra những từ khoá, từ đó phân tích tân số, cách thức xuất hiện, điểm giống và khác nhau, từ đó đi vào từng giai đoạn để thấy những ý nghĩa nằm sau diễn ngôn

Những nhóm nội dung bao gồm 4 nội dung chính như sau:

Trang 40

- Diễn ngôn về “thiên chức” và phẩm chất của người phụ nữ

- Diễn ngôn về “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”

- Diễn ngôn về người phụ nữ tự chủ

- Diễn ngôn về bình đẳng giới

* Về điều kiện diễn ngôn:

Để có thể hiểu hơn về diễn ngôn, ngoài việc phân tích từng chủ đề, từng dòng báo, cũng như những thời kỳ lịch sử khác nhau… cũng cần phải nhìn thấy được, những yếu tố đã chi phối sự vận hành của diễn ngôn, do vậy chúng tôi tiến hành phân tích các điều kiện khả thể của những diễn ngôn này như sau:

Luận án phân tích trên 4 điều kiện khả thể chi phối sự vận hành của diễn ngôn được tái củng cố và diễn ngôn mới được thắng thế trên truyền thông như:

- Bối cảnh văn hóa: sự duy trì các biểu tượng và khuôn mẫu giới trong văn hoá

- Bối cảnh chính sách: chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước về vấn đề bình đẳng giới trên truyền thông

- Bối cảnh kinh tế: Kinh tế thị trường và sự thay đổi giá trị

- Bối cảnh công nghệ và toàn cầu hóa: vai trò của internet, truyền thông và làn sóng toàn cầu hoá

1.3 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau đổi mới 1986

Những phân tích về diễn ngôn về giới trên truyền thông trong luận án này được đặt trong bối cảnh Việt Nam sau đổi mới Đó là bối cảnh của sự Đổi mới toàn diện về kinh tế, và đi kèm với đó là văn hoá, lối sống, cũng như sự phát triển của truyền thông đại chúng

Quá trình Đổi mới được đánh dấu bằng Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 Đại hội quyết định đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới kinh tế là chủ yếu, nhấn mạnh “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội” Nền kinh tế thị trường nói chung được hiểu là một hình thức xã hội của các tổ chức và hoạt động kinh tế, trong đó mối quan hệ giữa con người với con người được biểu hiện thông qua việc mua bán trao đổi bằng tiền, quá trình đó chủ yếu là do thị trường điều tiết Đại hội VI là sự đột phá mạnh và căn bản trong tư duy lý luận bằng việc đề ra đường lối đổi mới, trong đó, phê phán và từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, coi sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá không phải là sản phẩm

Ngày đăng: 10/11/2023, 15:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 2: BẢNG THỐNG KÊ TRƯỜNG HỢP KHẢO SÁT (1918 - 2023) - Luận Án Tiến Sỹ Diễn Ngôn Về Giới Trên Truyền Thông Sau Đổi Mới.pdf
2 BẢNG THỐNG KÊ TRƯỜNG HỢP KHẢO SÁT (1918 - 2023) (Trang 183)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w