Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hànhcông nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức,phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ BÀI:
Vai trò của tri thức đối với ý thức Ở Việt Nam, tri thức có vai trò gì
trong hoạt động của con người?
Họ và tên SV: Nguyễn Minh Tuấn Lớp tín chỉ: LLNL1105(121)CLC_04
Mã SV: 11216078 GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2
-MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: ĐẶT VẤN ĐỀ
I VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI Ý THỨC
1.1 Khái niệm, nguồn gốc ý thức
1.3 Khái niệm tri thức
1.4 Vai trò của tri thức đối với ý thức
1.5 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
II VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG Ở VIỆT NAM 2.1 Vai trò của tri thức
2.1.1 Vai trò của tri thức trong đời sông-xã hội
2.1.2 Vai trò của tri thức trong kinh tế - kinh tế tri thức
2.1.3 Vai trò của tri thức trong chính trị
2.1.4 Vai trò của tri thức trong văn hoá – giáo dục
Trang 3This is a preview
Do you want full access? Go Premium and unlock all 23 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước
ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ Trong nền văn minh này, bộphận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của thờiđại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tinnhư: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học Cùng với nhữngthành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính đang tác độngmạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loàingười đưa con người đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều
có tăng trưởng kinh tế từ tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nướcnghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế làchiến lược cấp bách hàng đầu Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hànhcông nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức,phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới.Góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế, tiến nhanh trên con đường côngnghiệp hoa,hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức,tìm hướng đi đúngđắn cho nền kinh tế tri thức,phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh đất nước,phù hợp vớikhu vực,với thế giới và thời đại trong tổng thể các mối liên hệ,trong sự phát triểnvận động không ngừng của nền kinh tế tri thức Vì vậy em quyết định chọn đề tài
Trang 5này để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 6VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI Ý THỨC
1.1 Khái niệm về ý thức
Ý thức theo tâm lý học được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ởcon người Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trongquá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù song song với phạm trùvật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc conngười và có sự cái biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất”
Nguồn gốc của ý thức
1.1.1 Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhàduy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thểtách rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên óc người
Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt
động ý thức không diễn ra bình thường hoặc rối loạn
– Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào
bộ óc, thì cũng không có ý thức Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai làthế giới bên ngoài
b Sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người
– Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cáigương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặcđiểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác độngqua lại giữa chúng
Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó Chéplại lời nói ra giấy là sự phản ánh Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh
Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động
Trang 7This is a preview
Do you want full access? Go Premium and unlock all 23 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 8– Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh Nhưng phản ánh của bộ óccon người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.
Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thìthuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong
tự nhiên
Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằngphạm trù “ý thức” Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc conngười
1.1.2 Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, songchưa đủ Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức lànhững tiền đề, nguồn gốc xã hội Đó là lao động, tức là Ý thức xã hội và ngôn ngữ
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động,ngôn ngữ và các cơ quan xã hội Theo Ph Ăng-ghen, lao động và ngôn ngữ là hai sứckích thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não người, biến tâm lý động vật thành ýthức con người
Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động Ý thức, nhằm cải tạo thế giới kháchquan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó,mới có ý thức về thế giới này
– Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc conngười để con người có ý thức Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tácđộng vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng tronghiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu,quy luật của mình Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức củacon người
Trang 9b Ngôn ngữ
– Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tưtưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau Chính nhu cầu này đòi hỏi sự
ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết
Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành Nó là hệ thống tín hiệuvật chất mang nội dung ý thức Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồntại và thể hiện được
Theo C Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng,không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức
– Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy Nhờ có ngônngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những kháiniệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính
Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác
3 Bản chất của ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, làthực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh
ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ nãocon người thông qua Ý thức, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dungcủa ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, làhình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vậttầm thường quan niệm
– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức
là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu Ý thức quy định Nhu cầu
đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiệu được cái được phản ánh Trên cơ sở đó hình thànhnên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiệnthực khách quan, Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ
sở phản ánh
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dự trên hoạt động Ý thức và
là sản phẩn của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ýthức là có tính xã hội
Trang 10Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đốilập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủnghĩa duy vật tầm thường coi ý tức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánhgiản đơn, thụ động về thế giới vật chất.
1.2 Bản chất của ý thức
1.2.1 Bản tính phản ánh và sáng tạo:
Ý thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài,
từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh Bản tín phản ánh quyđịnh tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiềnđề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan
ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động Bản thân lao
đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người ý thức
không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của ý thức cònthể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trìnhchủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó Bản tính sáng tạo quy địnhmặt chủ quan của ý thức ý thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền vớihoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dướihình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực kháchquànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính
Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời Hiện
thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuấtphát, là cơ sở của sáng tạo Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phảnánh của ý thức Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lýthông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức Vìvậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đãđược di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó Nói cách khác, ýthức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Biểu hiện của sự phản ánh vàsáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư
tưởng Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dướihình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên
"mới" tự nhiên "thứ hai" của con người
Trang 11This is a preview
Do you want full access? Go Premium and unlock all 23 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 121.2.2 Bản tính xã hội:
Ý thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của
con người Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết vớinhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác Do đó mà khái niệm hoạt đọng
xã hội ra đời ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, ý thức trước hết là trithức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, vềmối liên hệ giữa người với người trong xã hội Do đó ý thức xã hội được hình thànhcùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhânvừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có nhữngnét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định.Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc củamình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức,tình cảm người thực sự Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bảnthân và xã hội Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh
Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng
tạo Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữavật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người
1.3 Khái niệm về tri thức.
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có tư duy thìlúc đó có tri thức.Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến những thập
kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội mới được đềcặp nhiều.Vậy tri thức là gì? Có rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng có thể hiểu
“Tri thức là sự hiểu biết, sáng tạo và những khả năng, kỹ năng để ứng dụng nó(hiểu
biết sáng tạo) vào việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế -xã hội.
Tri thức bao gồm tất cả những thông tin,số liệu,bản vẽ,tưởng tượng(sáng tạo),khảnăng,kỹ năng quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tượng trưng xã hộikhác.Tri thức có vai trò rất lớn đối với đời sống –xã hội
Trang 13Kinh tế thế giới đang bước vào một thời đại mới,một trình độ mới.Đó là trình độmà”nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực và việc sángtạo,phân phối và sử dụng tri thức trong các ngành kĩ thuật cao”.Tiêu chí chủ yếu của nó
là lấy tri thức,trí óc làm yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giốngnhư các yếu tố sức lao động và tài nguyên.Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thànhđộng lực chủ yếu của sự phát triển xã hội”, ”Tri thức là tài nguyên là tư bản”, “Tri thức
là tâm điểm của cạnh tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự tăng trưởng dài hạn dẫn tớinhững thay đổi lớn trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường, lựa chọn nghềnghiệp…
1.4 Vai trò của tri thức đối với ý thức
Khi con người tích luỹ được càng nhiều tri thức thì họ sẽ có ý thức thật cao, càng đi sâuvào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn Tính năng động của ý thức nhờ
đó mà tăng lên
Nhấn mạnh: “Tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức, điều đó có nghĩa làchống lại quan điểm đơn giản coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí.” Quan điểmnày là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan Tuy nhiêm cũngkhông thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm,niềm tin, ý chí của con người hoạt động thì tự nó không có vai trò gì với đời sống hiệnthực
Trang 141.5 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người Nhưng nếu chỉ thấy vaitrò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy được tính năng động tíchcực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vậtsiêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con người không phải
là sự phản ánh giản đơn mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “
Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triểnsong song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vậtchất Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiệnnào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiệnthực
Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tíchcực.Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ranhững mực tiêu ,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất,thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn
Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sựphát triển của thế giới vật chất.Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến, đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả No kéo lùi sự phát triểncủa xã hôị ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tư tìnhcảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt Dựa vào đặc tính này của vật chấtcon người có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập, xây dựng đất nước và
xã hội giàu mạnh hơn, công bằng hơn
Trang 15This is a preview
Do you want full access? Go Premium and unlock all 23 pages
Access to all documentsGet Unlimited DownloadsImprove your grades
Trang 16VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG Ở VIỆT NAM
2.1 Vai trò của tri thức
2.1.1 Vai trò của tri thức trong đời sông-xã hội
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội Nó tác độngtrực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội :kinh tế,chính trị,văn hoá giáo dục
2.1.2 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế-Kinh tế tri thức
Nền kỉnh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng, khai thác,sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải.
Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó:-Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ chủ yếu và pháttriển rất mạnh
-Nguồn vốn quan trọng nhất,quý nhất là tri thức,nguồn vốn trí tuệ
-Sáng tạo và đổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy sụ phát triển.-Nền kinh tế mang tính học tập
-Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính
-Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận
và năng động là tri thức
Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định,dưới tác động của cách mạng khoa học–công nghệ và toàn cầu hoá,kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển và
sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một,hai thập niên tới
Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội dungchủ yếu.Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sửdụng tiền bạc, nguyên vật liệu,nguồn nhân lực và máy móc thiết bị…mà còn phụ thuộcvào việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinhdoanh.Cách tốt nhất để tăng năng suất là tìm hiểu kiến thức chuyên môn mà hãng cóđược,sử dụng vì mục đích thương mại và những kiến thức này cần được phát triểnkhông ngừng
Giá trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm và các