1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG CỦA MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN NÀY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

12 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Luận Hàng Hóa Sức Lao Động Của Mác Và Sự Vận Dụng Lý Luận Này Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Tại Việt Nam Hiện Nay
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 47,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tác giả: Lê Minh Nhật hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy hayyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyyy

Trang 1

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG CỦA MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN NÀY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

1, TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Có thể nói rằng, sức mạnh cả về của cải và sức trí lực của một quốc gia hiện nay không chỉ phụ thuộc vào của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên

mà còn phần lớn dựa vào trình độ và khả năng lao động của con người Con người – hay nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác; là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lê nin về hàng hóa sức lao động cùng với thực trạng thị trường sức lao động của nước ta hiện nay thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay là một vấn đề vô cùng cấp thiết Trong những năm gần đây, nhờ những tác động tích cực của các chính sách và giải pháp

mà Đảng ta và Nhà nước đề ra, thị trường này đã thu được một số kết quả khả quan Tuy vậy việc đào tạo, phát triển loại hàng hóa đặc biệt này vẫn gặp nhiều khó khăn bất cập Do đó mà việc đề ra những chính sách, đề án đổi mới và nâng cao trình độ lao động hoặc bình ổn thị trường đều có ý nghĩa quan trọng, sâu sắc, thời sự đối với cả thực tiễn và lý luận Đó là lý

do tôi chọn đề tài “LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG CỦA MÁC VÀ SỰ

VẬN DỤNG LÝ LUẬN NÀY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”.

2, Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề về lý luận và thực tiễn hàng hóa sức lao động của Mác

3, Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Mục tiêu nghiên cứu

+ Làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn hàng hóa sức lao động của Mác

+ Đánh giá tình trạng vận dụng lý luận của nước ta và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích về hàng hóa sức lao động để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay

4,Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-lênin

- Phương pháp phân tích, nghiên cứu, tổng hợp tài liệu

- Phương pháp logic

Trang 2

NỘI DUNG

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hàng hóa sức lao động của Mác (đọc kỹ)

1.1, Khái niệm sức lao động (SGK)

1.2, Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa (KTCT-II)

1.3, Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt

Không giống ᴠới những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá ѕức laoức lao động là loại hàng hoá đặc biệt Vì nó được hình thành bởi con người ᴠới những nhu cầu phức tạp ᴠà đa dạng, ᴠề cả ᴠật chất lẫn tinh thần theo quá trình phát triển của хã hội.ã hội

Cũng chính ᴠì con người là chủ thể của ѕức laoức lao động, nên ᴠiệc cung cấp hàng hoá đặc biệt nàу ѕức laoẽ phụ thuộc ᴠào nhu cầu thực tế của cá nhân ᴠới những đặc điểm riêng biệt ᴠề: tâm lý, nhận thức, ᴠăn hoá, khu ᴠực địa lý, môi trường ѕức laoinh hoạt,…

Bên cạnh đó, hàng hoá ѕức laoức lao động là một loại hàng hoá tạo ra giá trị thặng dư cho хã hội.ã hội Điều nàу thể hiện ở chỗ người lao động luôn tạo ra những hàng hoá khác có giá trị lớn hơn giá trị của ѕức laoức lao động để đáp ứng nhu cầu ᴠà mục tiêu của người ѕức laoử dụng lao động

Tóm lại, hàng hoá ѕức laoức lao động là hàng hoá đặc biệt khi tồn tại đủ hai điều kiện ᴠề ѕức laoự tự do ᴠà nhu cầu bán ѕức laoức lao động Để duу trì điều kiện cho hàng hoá ѕức laoức lao động tạo ra những giá trị thặng dư, người ѕức laoử dụng lao động phải đáp ứng những nhu cầu đặc biệt ᴠề tâm lý, ᴠăn hoá ᴠà khu ᴠực địa lý,…

1.4, Thuộc tính của hàng hóa sức lao động (Sách hỏi đáp)

1.5, Một số vấn đề về tiền lương - biểu hiện giá trị hàng hóa sức lao động

Xét trên góc độ cá nhân người lao động, sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí tuệ tồn tại trong cơ thể sống của con người mà con người có thể vận dụng trong quá trình sản xuất Sức lao động là khả năng lao động,

là yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất Hiệu quả lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố vật chất khác, song yếu tố có ý nghĩa quyết định là sức lao động Thể lực và trí tuệ của người lao động lại phụ thuộc vào mức sống, vào chất lượng cuộc sống và những yếu tố đó, suy cho cùng, lại phụ thuộc vào chính thu nhập của người lao động mà phần cơ bản trong thu nhập đó là tiền lương

Xét trên góc độ xã hội, sức lao động trong nền sản xuất xã hội là lực lượng lao động xã hội - một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế Chất lượng của lực lượng lao động phụ thuộc vào nhiều chính sách của nhà nước, như chính sách phân phối, chính sách giáo dục đào tạo và các chính

Trang 3

sách kinh tế - xã hội khác, trong đó chính sách tiền lương giữ vai trò quan trọng

Người lao động ở vào các điều kiện trên sẽ đem bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống Khi kinh tế hàng hóa phát triển hơn thì điều kiện thứ hai có những thay đổi nhất định Đó là không phải chỉ những người hoàn toàn không có tư liệu sản xuất hoặc của cải mới đem bán sức lao động của mình, mà cả những người có tư liệu sản xuất hoặc có vốn, nhưng không đủ khả năng để sản xuất có hiệu quả cũng vẫn đi làm thuê Giá trị hàng hóa sức lao động được biểu hiện trên thị trường thông qua tiền lương Vì vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động mà người sử dụng lao động (nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo các quy luật của thị trường sức lao động và pháp luật của nhà nước Do

đó, cơ sở của tiền lương là giá trị sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động được quyết định bởi lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng sức lao động là khả năng lao động gắn liền với cơ thể sống của con người, vì vậy tái sản xuất ra năng lực

đó cũng có nghĩa là duy trì sự sống, sự hoạt động bình thường của người lao động Để thực hiện điều đó đòi hỏi phải có những tư liệu sinh hoạt nhất định Do đó, giá trị hàng hóa sức lao động được đo bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động

Chương 2: Thực trạng vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay (xem lại)

2.1, Thực trạng vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của Việt Nam hiện nay

2.1.1, Những thành tựu đã đạt được trong quá trình vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của Mác ở Việt Nam hiện nay

- Về số lượng người lao động

Hiện nay, thị trường lao động Việt Nam vẫn có nhiều điểm sáng, lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập của người lao động đều tăng

so với những năm trước; tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ lao động phi chính thức đều có xu hướng giảm dần Điều này cho thấy dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và cả hệ thống chính trị nhằm phục hồi kinh tế, hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp đang gặp khó khăn

do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường lao động nói riêng năm 2022 đang từng bước phục hồi

Trang 4

Theo báo cáo tình hình lao động việc làm năm 2022, Lực lượng lao động

từ 15 tuổi trở lên năm 2022 đạt 51,7 triệu người, cao hơn 1,1 triệu người

so với năm trước Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 19,1 triệu người, chiếm 37,1 điểm phần trăm; lực lượng lao động nữ đạt 24,2 triệu người, chiếm 46,8% lực lượng lao động của cả nước Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2022 là 68,5%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước Lực lượng lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên năm 2022 ước tính là 13,5 triệu người, chiếm 26,2%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với năm trước Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2022

là 50,6 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với năm 2021, tuy nhiên vẫn thấp hơn năm 2019 là 56,8 nghìn người Trong đó, số lao động có việc làm

ở khu vực thành thị là 18,6 triệu người (tăng 877,3 nghìn người so với năm trước), lao động ở khu vực nông thôn là 31,9 triệu người (tăng 627,2 nghìn người so với năm trước)

Tính chung cả năm 2022, lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng

là 17,0 triệu người (chiếm 33,6%), tăng 724,6 nghìn người so với năm trước; khu vực dịch vụ được ghi nhận có sự tăng lên mạnh và đạt 19,7 triệu người (chiếm 38,9%), tăng 1,1 triệu người so với năm trước Lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt mức 13,9 triệu người, (chiếm 27,5%), giảm 352,7 nghìn người so với năm trước Với mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ: Về nhiệm

vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, trong đó đặt ra mục tiêu giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội là 27,5% thì mục tiêu này đạt

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của cả nước trong năm 2022 là 65,6%, giảm 2,9 điểm phần trăm so với năm trước So với năm 2021, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức giảm ở cả khu vực thành thị và nông thôn, tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 49,9% và khu vực nông thôn là 74,7%, giảm lần lượt là 2,1 điểm phần trăm và 3,2 điểm phần trăm

- Về chất lượng nguồn lao động

Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với

tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động (NSLĐ) Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một quốc gia cần và có thể đưa chất lượng

Trang 5

nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhân tiến bộ kỹ thuật công nghệ, hòa nhập với nhịp

độ phát triển nhân loại Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất

Người lao động nước ta cần cù, có kinh nghiệm trong sản xuất gắn với truyền thống của dân tộc được tích lũy qua nhiều thế hệ, đặc biệt là trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp Nguồn lao động trẻ đang có xu hướng tăng, có khả năng ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học-kĩ thuật vào sản xuất

Thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề và Đề án đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020, hệ thống cơ sở dạy nghề tiếp tục được phát triển theo hướng xã hội hóa, đồng thời chú trọng phát triển trên 40 trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 Cả nước hiện có 1.463 cơ sở dạy nghề, trong đó có khoảng 800 cơ sở ngoài công lập, tăng 205 cơ sở so với cuối năm 2010 Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề được tăng cường, đầu tư cho dạy nghề theo hướng tập trung, đồng bộ theo các nghề trọng điểmi góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề và gắn với thị trường lao động

Ngoài ra, theo Báo cáo Phát triển Con người toàn cầu năm 20204, chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam là 0,704, xếp vị trí 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ Từ năm 1990 - 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng hơn 48%, từ 0,475 lên 0,704, thuộc các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới Chỉ số HDI của Việt Nam năm 2019 là 0,704, cao hơn mức trung bình 0,689 của các quốc gia đang phát triển và dưới mức trung bình 0,753 của nhóm Phát triển con người cao và mức trung bình 0,747 cho các quốc gia ở Đông Á và Thái Bình Dương

Xét một cách tổng quan, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt Tất cả những yếu tố này đã góp phần nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong thời gian qua Năm 2020, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt 117,9 triệu đồng/lao động (tương đương 5.081 USD/lao động); tính theo giá so sánh, tăng 5,4% so với năm 2019 Bình quân giai đoạn 2016 - 2020, NSLĐ tăng 5,78%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân 4,35%/năm của giai đoạn 2011 2015 Tính chung giai đoạn 2011

-2020, NSLĐ tăng bình quân 5,07%/năm

- Về thu nhập của người lao động

Thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2022 là 6,7 triệu đồng, tăng 927 nghìn đồng so với năm trước và tăng 759 nghìn đồng so với cùng

Trang 6

kỳ năm 2019 Thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 7,6 triệu đồng, tăng 950 nghìn đồng so với năm trước và tăng 830 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2019; thu nhập bình quân tháng của lao động nữ là 5,6 triệu đồng, tăng 914 nghìn đồng so với năm trước và tăng 709 nghìn đồng

so với cùng năm 2019

Năm 2022, chứng kiến sự tăng trưởng ở hầu hết các ngành kinh tế, thu nhập của người lao động tăng ở cả ba khu vực kinh tế so với năm 2021, trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng ghi nhận mức tăng trưởng thu nhập cao nhất Thu nhập của lao động làm việc trong khu vực công nghiệp

và xây dựng tăng mạnh nhất, tăng 17,6% (tương ứng tăng 1,1 triệu đồng/người/tháng); lao động làm việc trong ngành dịch vụ tăng 15,4% (tương ứng tăng 1,0 triệu đồng/người/tháng) Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 9,8%, tương ứng tăng 448 nghìn đồng

So với cùng kỳ năm 2021, một số ngành kinh tế có tốc độ tăng thu nhập bình quân của người lao động tăng trưởng khá nổi bật: lao động làm việc trong ngành vận tải kho bãi có tốc độ tăng thu nhập bình quân là 21,2%, tương ứng tăng 1,6 triệu đồng; thu nhập bình quân của lao động ngành dịch vụ lưu trú ăn uống tăng 21,0%, tương ứng tăng 1,1 triệu đồng; thu nhập bình quân của lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,2%, tương ứng tăng 1,1 triệu đồng; thu nhập của lao động ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 17,2%, tương ứng tăng 1,1 triệu đồng/người/tháng

Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương năm 2022 là 7,5 triệu đồng, tăng 15,1% so với năm trước, tương ứng tăng 992 nghìn đồng

So với cùng kỳ năm 2019, khi Covid-19 chưa xuất hiện, thu nhập của lao động làm công hưởng lương tăng 12,7%, tương ứng tăng khoảng 847 nghìn đồng Lao động nam làm công hưởng lương có thu nhập bình quân

là 8,0 triệu đồng, cao hơn 1,14 lần thu nhập bình quân của lao động nữ (7,0 triệu đồng) Thu nhập bình quân của lao động làm công hương lương làm việc ở khu vực thành thị cao hơn 1,23 lần thu nhập bình quân của lao động làm việc ở khu vực nông thôn, tương ứng 8,4 triệu đồng so với 6,9 triệu đồng

2.1.2, Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của Mác ở Việt Nam hiện nay

- Lao động thiếu việc làm

Trang 7

Thiếu việc làm trong độ tuổi năm 2022 là khoảng 991,5 nghìn người, giảm 454,5 nghìn người so với năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2022 là 2,21%, giảm 0,89 điểm phần trăm so với năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,70% và 2,51%) Chia theo ba khu vực kinh tế, nông nghiệp là khu vực có tỷ lệ này cao nhất với 4,03%, tiếp theo là khu vực dịch vụ với 1,79%, và khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tỷ lệ thấp nhất với 1,79%

- Thất nghiệp trong độ tuổi lao động

Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2022 là gần 1,07 triệu người, giảm 359,2 nghìn người so với năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong

độ tuổi lao động năm 2022 là 2,32%, giảm 0,88 điểm phần trăm so với năm trước Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp năm 2022 là khoảng 409,3 nghìn người, chiếm 37,6% tổng số người thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong năm 2022 là 7,72%, giảm 0,83 điểm phần trăm so với năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,70%, giảm 2,13 điểm phần trăm so với năm trước

- Chất lượng lao động còn thấp

Về mặt sức khỏe, thể lực của người kém xa so với các nước trong khu vực

Về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của chúng ta hiện nay còn rất thấp Theo Tổng cục thống kê năm 2005 tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 75%, con số này ở mức rất cao Mặc dù cả nước có khoảng 1.300 trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề nhưng chất lượng đào tạo chưa đạt chuẩn quốc tế, chương trình giảng dạy không phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Hơn nữa có một sự chênh lệch rất lớn giữa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn Trong khi ở thành thị là 30.6% thì ở nông thôn chỉ chiếm 8.5% (năm 2010)

- Ý thức kỉ luật của người lao động còn thấp

Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động còn thấp do nước ta là một nước nông nghiệp nên phần lớn người lao động còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nhà nước tiểu nông Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả nặng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc

- Sự phân bố nguồn lao động không đồng đều

Trang 8

Hiện nay, thị trường lao động đang có sự phát triển không đồng đều, dẫn tới sự chênh lệch về tỷ suất cung – cầu trong thị trường lao động ở mỗi ngành nghề và mỗi vùng miền khác nhau Lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 18,7 triệu người (tăng 673,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước), và ở khu vực nông thôn là 31,9 triệu người (tăng 27,9 nghìn người

so với cùng kỳ năm trước) Lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 38,7% (19,4 triệu người), tiếp đến là lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 33,5% (16,8 triệu người) Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất, 27,8% (13,9 triệu người) Tỷ lê tham gia lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở nông thôn với 70,1% nhưng người lao động đã qua đào tạo lại tập trung chủ yếu ở thành thị Điều này làm cho thị trường lao động của nước ta phát triển không đồng đều giữa các ngành và các vùng với nhau, khiến nhịp độ phát triển kinh tế đất nước cũng trở nên không đồng bộ, thống nhất

2.2, Giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực thông qua nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo

Định hướng giáo dục theo nhu cầu nhằm tạo ra sự cân bằng trong đào tạo

và sử dụng nhân lực ở các ngành nghề, vùng, miền và các thành phần kinh

tế Tránh lãng phí không cần thiết khi đào tạo lao động có bằng cấp mà không được sử dụng hay sử dụng sai so với nội dung đào tạo Hệ thống giáo dục quốc dân cần được hoàn thiện theo hướng hệ thống giáo dục

mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Các chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy cần được đổi mới theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; bên cạnh các kiến thức trong sách vở, người học cần được thực hành nhiều hơn, cũng như cần được trang bị thêm các kỹ năng mềm nhằm đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Đẩy nhanh việc xây dựng các chuẩn đầu ra dựa trên tiêu chuẩn nghề phù hợp với Khung trình độ quốc gia, trước mắt tập trung vào các nghề trọng điểm, các nghề có trong danh mục của hội thi tay nghề ASEAN; Rà soát và điều chỉnh việc xây dựng các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, theo hướng linh hoạt, tăng tính thực hành

Trang 9

Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề, ưu tiên tập trung các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia; rà soát, chỉnh sửa các danh mục thiết bị đã ban hành theo hướng tiếp cận với các nước trong khu vực;

áp dụng tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo theo chuẩn khu vực, quốc tế Đồng thời, rà soát, thống nhất các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; xây dựng các cơ chế, quy định về đảm bảo chất lượng; các cơ chế, quy định và phát triển hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nhân lực trẻ có kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Cụ thể, tập trung các nguồn lực phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, ngành, nghề trọng điểm; hình thành các trường chất lượng cao, các trung tâm quốc gia, trung tâm vùng đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao có tính chất hạt nhân, dẫn dắt, lan tỏa và thực hiện liên kết vùng hiệu quả, đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ năng nghề cao của một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn; phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao gắn với các ngành nghề mới, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao, kỹ năng mới, kỹ năng tương lai; khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, các chương trình đào tạo kỹ năng nghề cao cho người nước ngoài tại Việt Nam; đánh giá, nhân rộng đào tạo theo các chương trình chuyển giao từ nước ngoài; áp dụng công nghệ đào tạo, nhân rộng các mô hình đào tạo tiên tiến của các nước phát triển; thí điểm mời giảng viên nước ngoài giảng dạy một số ngành, nghề chất lượng cao theo chuẩn quốc tế

Đồng thời, đa dạng hóa, đổi mới căn bản phương thức tổ chức đào tạo theo tiếp cận phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất thanh niên; khai phóng tiềm năng, khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng của thanh niên vào thực tiễn nghề nghiệp; đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp có sự tham gia của doanh nghiệp đối với các chương trình chất lượng cao…

Thứ ba, dự báo nhu cầu nhân lực cho các địa phương và các lĩnh vực ngành nghề

Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức từ CMCN 4.0 không chỉ ở trong nước, mà còn chịu ảnh hưởng bởi các tác động từ khu vực do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những áp lực hiện tại và trong ngắn hạn từ thực trạng nền kinh

Trang 10

tế nước ta hiện nay, những áp lực trong ngắn đến trung hạn từ tác động của khu vực và xa hơn nữa là các tác động của thị trường toàn cầu trong bối cảnh CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ

Thứ tư, cơ cấu, phân bố lại nhân lực từng vùng, từng khu vực, địa phương

Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân luồng trong đào tạo, hướng nghiệp cho học sinh, qua đó tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, cần có các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhằm thu hút nguồn nhân lực từ nơi thừa sang nơi thiếu; từ thành phố, đồng bằng lên vùng sâu, vùng xa Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời có các giải pháp căn bản

để chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, tích cực mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo nhằm từng bước nâng cao chất lượng lao động tại các khu vực nông thôn và miền núi Cùng với việc đào tạo lao động tại chỗ, Nhà nước và địa phương cần có chính sách khuyến khích, thu hút lực lượng lao động trẻ đã qua đào tạo nhưng lại chưa tìm được việc làm ở các khu đô thị về làm việc tại các khu vực nông thôn, miền núi

Năm là, tăng cường công tác phối hợp, liên kết với các trường, viện, học viện, cơ sở đào tạo của trung ương, các trường ở địa phương

Khuyến khích các cơ sở đào tạo của địa phương phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, gắn kết các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp,

mở rộng hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và thu hút doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào đào tạo nhân lực Có cơ chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong việc liên kết với các cơ sở đào tạo để đặt hàng nguồn nhân lực Tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế thành lập cơ sở đào tạo, hằng năm tổ chức tốt hội chợ việc làm để giải quyết việc làm, đồng thời, nắm bắt kịp thời nhu cầu sử dụng lao động trên thị trường

KẾT LUẬN

Việc phát triển lý luận “hàng hoá sức lao động” của Karl Marx là một nội dung quan trọng trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước, phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện

Ngày đăng: 10/11/2023, 10:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w