1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình văn học thiếu nhi việt nam dành cho học viên ngành giáo dục tiểu học hệ đào tạo tại chức và từ xa

217 225 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Văn Học Thiếu Nhi Việt Nam Dành Cho Học Viên Ngành Giáo Dục Tiểu Học Hệ Đào Tạo Tại Chức Và Từ Xa
Tác giả PGS. TS Trần Đức Ngôn, TS Dương Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 6,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, mọi sáng tác văn học dân gian đều mang một điểm chung, đó là ý thức cộng đồng.Trước hết, mọi vấn đề được nói tới trong văn học dân gian không phải là vấn đề của một cá nhân mà l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘITRUNG TÂM GIÁO DỤC TỪ XA

PGS.TS TRẦN ĐỨC NGÔN - TS DƯƠNG THU HƯƠNG

Trang 2

Mã số: 01.01.751/103 - ĐH - 2003

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 1994, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cho xuất bản cuốn Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam để làm tài liệu chính thức dùng cho hệ đại học tại chức đào tạo giáo viên Tiểu học Cuốn giáo trình đã được thể nghiệm trong suốt quá trình bốn năm đào tạo ở hệ này Sau khi tổng kết một s ố kinh nghiệm từ thưc tế giảng dạy, kiểm tra đánh giá, cuốn giáo trình đã được chúng tôi tiến hành biên soạn lại cho phù hợp với yêu cầu của việc đào tạo giáo viên Tiểu học hệ Tại chức và Từ xa của Trường Đại học Sư phạm.

Về bố cục, cuốn Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam xuất bản lần này được chia thành hai phần và sáu chương với các tiêu đê như sau: Chương 1 Khái quát văn học dân gian thiếu nhi.

Chương II Truyện thần thoại

Chương III Truyện truyền thuyết

Chương IV Truyện cổ tích

Chương V Truyện ngụ ngôn

Chương VI Câu đố

Chương VII Ca dao và vè cho thiếu nhi

Chương VIII Khái quát văn học viết thiếu nhi

Chương IX Nguyễn Huy Tưỏng

Chương X T ô Hoài

Chương XI Phạm HỔ

Chương XII Võ Quảng

Chương XIII Đoàn Giỏi

Chương XIV Trần Đăng Khoa

Nội dung của các chương được biên soạn lại nhằm mục đích nâng cao về lý luận và phân tích sáu hơn những vấn đề cụ thể.

Trang 4

Cuối môi chương, phần hướng dẫn tự học cũng được biên soạn lại cho phù hợp với những thay đổi, bổ sung trong giáo trình mới đ ể đáp ứng yêu cầu học tập của các học viên hệ tại chức và từ xa.

Phân công biên soạn:

Chương I, II, III, IV, V, VI, VII do PGS TS Trần Đức Ngôn viết Chương VIII, IX, X, XI, XII, XIII, XIV do Dương Thu Hương viết.

Đ ể tiếp tục hoàn thiện cuốn giáo trình trong lần tái bản sau, chúng tôi thành thực mong các nhà nghiên cứu, nhà giáo, anh chị em sinh viên

và bạn đọc gần xa đóng góp những ỷ kiến quý báu Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

Các soạn giả

Trang 5

PHẦN THỨ NHẤT

VẲN h ọ c d â n g ia n t h iế u n hi

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN THIÊU NHI

Kho tàng văn học dân gian Việt Nam rất phong phú Nhìn theo chiều rộng, Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều chứa đựng một vốn văn học dân gian giàu có thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá tinh thần (nghi lễ, vui chơi, lao động, sinh hoạt, tình cảm, triết lý ) của' riêng mình Nhìn theo chiều sâu, nền văn học dân gian đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử, từ thời vua Hùng dựng nước đến nay Có thể nói, không có thời kỳ nào, giai đoạn nào, nhân dân lại không sáng tác văn học dân gian Muốn tìm hiểu văn học dân gian thiếu nhi, chúng ta phải tìm hiểu văn học dân gian với tư cách là những sáng tác nghệ thuật nói chung

1 Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng chủ yếu do người lớn tạo ra trong khi tham gia những sinh hoạt tập thể vớỉ ý thức cộng đồng

Văn học dân gian trước hết là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ

“Trăm năm bia đá thì mòn, Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, đây là một thứ “bia miệng” (hiểu theo nghĩa sự tồn tại lâu dài) Văn học dân gian vang lên trong không gian những âm thanh kết thành lời của những câu chuyện kể, thành tiếng hát ân tình Những âm thanh ấy mang đầy ý nghĩa, dội vào trí nhớ của những người nghe Và người nghe tiếp nhận với một tinh thần hào hứng, để rồi lại “tái bận” bằng lời cho nhiều người khác Vòng tuần hoàn ấy dường như không bao giờ kết thúc và cũng khó đoán định được sự khởi đầu Quá trình tuần hoàn của văn học dân gian chính là quá trình sửa chữa, bổ sung làm cho văn học dân gian ngày càng trở nên phong phú và hoàn thiện

Có thể hình dung sự ra đời và tồn tại của một tác phẩm văn học dân gian như sau:

Trang 6

Lúc đầu, một người nào đó trong giây phút cảm xúc ngẫu hứng nghĩ

ra và phát ngôn trước tập thể dưới hình thức nói hoặc hát:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh,Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.”

Người nghe truyền lại cho người nghe Họ thay phiên nhau làm nhiệm vụ phát ngôn trước tập thể Cứ thế, tác phẩm lan truyền qua núi cao, rừng sâu, biển rộng, sông dài, qua năm tháng mà không mai một, già cỗi đi Trái lại, nó dường như càng đâm chồi, nảy lộc Đến với chúng ta, bài dân ca trên có thêm nhiều ý hay, tứ lạ:

“Tay cầm bầu rượu nắm nem,Mảng vui quên hết lời em dặn dò

Gánh vàng đi đổ sông Ngô,Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương

Vào chùa thắp một tuần hương Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này,Chùa này có một ông thầy

Có hòn đá tảng, có cây ngô đồng,Cây ngô đồng không trồng mà mọc

Nói văn học dân gian là nói câu chuyện người lớn Văn học dân gian

là thứ sản phẩm tinh thần do người lớn tạo ra và chủ yếu dành cho chính bản thân mình Người lớn muốn gửi gắm vào văn học dân gian những kinh nghiệm và triết lý, những tình cảm và suy tư, những hình ảnh về cuộc sống xung quanh Văn học dân gian từ hàng nghìn năm nay đã trở thành kho tàng tri thức (kho tàng trí khôn) của nhân loại Trong văn học dân gian, những tri thức này rất khác nhau (phong phú và đa dạng vô cùng), cách diễn (bằng lcri) cũng rất khác nhau (khi tha thiết, lúc hào

Trang 7

hùng, khi lạnh lùng, lúc nồng nhiệt ) Tuy vậy, mọi sáng tác văn học dân gian đều mang một điểm chung, đó là ý thức cộng đồng.

Trước hết, mọi vấn đề được nói tới trong văn học dân gian không phải

là vấn đề của một cá nhân mà là vấn đề chung của tập thể Văn học dân gian có nói đến tình yêu, niềm vui và nỗi buồn, song đó là thứ tình cảm của muôn đời, chàng trai cô gái nào mà chẳng có Nàng chinh phụ xưa kia nhớ

chồng Nỗi nhớ thật da diết, não nùng, song Đặng Trần Cồn qua Chinh phụ

ngâm vẫn để lộ những nét riêng của người phụ nữ khuê các:

“Nỗi niềm biết ngỏ cùng ai Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây”

Nói cách khác, đó là hình ảnh người chinh phụ của nhà thơ Đặng Trần Côn (thế kỷ XVIII) Còn ca dao nói về người phụ nữ (có lẽ cũng vào thời đại ấy) mang ý nghĩa chung hơn, rộng hơn:

“Cái cò lặn lội bờ sông,Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

- Nàng về nuôi cái cùng con,

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.”

Cái riêng và cái chung, cái cá nhân và dân tộc, mối tương quan này được văn học dân gian thể hiện theo chiều ngược lại với văn học viết Tâm lý sáng tác riêng của Đặng Trần Côn để lại ấn tượng rõ nét trong

hình tượng và lời thơ Chinh phụ ngâm Còn trong ca dao, bài Con cò lặn

lội bờ sông đã lẫn vào các bài ca khác:

- Con cò chết rũ trên cây

- Cái cò cái vạc cái nông

- Con cò mà đi ăn đêm

- Cái cò là cái cò quãm

Văn học dân gian thể hiện cái chung về tư tưởng và phong cách nghệ thuật Còn văn học viết thể hiện cái riêng của người sáng tác Một câu thơ

Kiều của Nguyễn Du không thể lẫn với tác giả khác, nhưng một câu ca

dao, khi đã được nhiều người sửa chữa, hoàn chỉnh đã mất di sắc thái cá nhân Ý thức cộng đồng hay tâm lý cộng đồng trong quá trình sáng tác là đặc điểm nổi bật của văn học dân gian Người ta còn gọi đó là tính chất tập thể của văn học dân gian

Trang 8

2 Văn học dân gian thiếu nhi là văn học dân gian nói chung được thiếu nhi tiếp nhận theo cách riêng của mình và đồng thời cũng

có văn học dân gian do chính thiếu nhi sáng tác

Như trên đã nói, văn học dân gian chủ yếu là của người lớn song vãn học dân gian cũng là thứ tài sản chung mà mọi đối tượng đều tìm thấy trong đó những cái phù hợp với bản thân mình

a Văn học dân gian và tuổi thơ của nhân loại

Nhân loại đã trải qua thời kỳ tuổi thơ của mình Thời kỳ này ước tính nhiều nghìn năm, để lại cả một kho tàng vãn học dân gian đồ sộ Tâm hồn

và trí tuệ ngây thơ của nhân loại lại tạo ra những đỉnh cao của nghệ thuật

mà người đời sau không thể nào bắt chước được Thần thoại và sử thi là những thể loại một đi không bao giờ trở lại sau khi loài người đã bước qua ngưỡng cửa của thời đại văn minh Những truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích ra đời sớm sau thần thoại và sử thi cũng phản ánh được thời kỳ ấu thơ của lịch sử loài người

Ngày nay, con người hiện tại khi tiếp nhận vãn học dân gian đã tìm lại được sự trong sáng, hồn nhiên của chính mình Ở đây có sự trùng hợp giữa tuổi thơ của mỗi người và tuổi thơ nhân loại Điều đó giúp ta hiểu được VỊ sao trẻ em lại yêu thích văn học dân gian mặc dù những tác phẩm thần thoại, sử thi, ngụ ngôn, cổ tích đương thời do người lớn sáng tác và dành cho người lớn Sự trùng hợp vừa nòu trên không phải ngẫu nhiên mà

có cơ sở thực tế Đó là quá trình tích luỹ kinh nghiệm, quá trình phát triển tâm lý Con người hiện tại có quá trình phát triển tâm lý nhanh, dường như mỗi giai đoạn là một sự thu gọn cả một thời kỳ phát triển tâm lý nhân loại Ai cũng có thời thơ ấu của mình Trí tưởng tượng và ước mơ những xúc cảm, tình cảm trước những điều mới lạ luôn luôn tạo ra sự hứng thú, trí tò mò, lòng ham hiểu biết của trẻ thơ Văn học dân gian chính là thế giới của tưởng tượng và ước mơ Các em tiếp nhận văn học dân gian theo cách riêng của mình Những gì nặng về lý trí, nặng về suy tư không phải

là đối tượng tiếp nhận của các em Đó là thứ văn học dân gian thuần tuý dành cho người lớn Ví dụ, đa số truyện cười dân gian mang tính chất trí tuệ, trẻ em không thể tiếp nhận và sử dụng được; đa số tục ngữ, thành ngữ hoặc các bài ca dao trữ tình nằm ngoài sự chú ý của các em Trong khi đó

Trang 9

thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, câu đố, một số bài ca dao (đồng dao) - món quà tặng đầy yêu thương của thế hệ già đối với thế hệ trẻ lại gây cho các em một niềm hứng khởi tột độ Những thể loại văn học dân gian kể trên lúc đầu là của người lớn sau đã thành tài sản của thiếu nhi Tuổi thơ của nhân loại đã đi qua, nhưng những ký ức của tuổi thơ vẫn còn mãi mãi, ấp ủ những tâm hồn đang nảy mầm xanh và vươn lên với sức sống mãnh liệt không gì ngăn cản được.

Đó là thứ văn học dân gian thiếu nhi tự phát trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

Tuy vậy, ngay từ thủa xa xưa, cha ông chúng ta đã biết chú trọng đến việc giáo dục con người và sử dụng văn học dân gian một cách tự giác như là phương tiện tốt nhất để giáo dục thiếu nhi

b Những thể loại và tác phẩm văn học dân gian được sáng tác với mục đích dành cho thiếu nhi

Thủa xưa, khi chưa có nhà trường, thiếu nhi được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Từ thủa còn nằm nôi, các em đã được nghe tiếng hát

ru của bà, của mẹ Lòi ru chắp cánh cho những tâm hồn thơ trẻ, giúp các

em đi suốt cuộc đời Nói như nhà thơ Chế Lan Viên:

“Lớn lên, lớn lên, lớn lên

Con làm gì ?Con làm thi sĩ !Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà

Và trong hơi mát câu văn ”

(Con cò)

Những câu chuyện cổ giúp các em nhận thức sâu sắc về cuộc đời, rèn giũa các em trở thành con người có nhân cách, có bản sắc Việt Nam Văn học dân gian làm nhiệm vụ của nhà trường và những người dân lao động chính là những nhà giáo dục lớn

Những tác phẩm văn học dân gian chính thức được đưa vào “chương trình giáo dục” thiếu nhi thuộc các thể loại truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, câu đố và một số bài ca dao Những tác phẩm này đã đáp ứng được

“yêu cầu giáo dục” trên ba bình diện: nhận thức, tình cảm và vui chơi

Trang 10

Con đường nhận thức của trẻ em bắt đầu từ trực quan sinh động Văn học dân gian cũng bắt đầu từ những hình ảnh của dời sống, dẫn dắt các

em đến những bài học bổ ích Ngày nay, chúng ta có khoa học giáo dục nhưng thực ra, nhiều điều tưởng như là mới mẻ thì trong văn học dân gian truyền thống đã có rồi !

Giáo dục tinh cảm là lĩnh vực quan trọng nhất Yêu ai, ghét ai là nhân sinh quan của một con người, một thế hệ, một giai cấp, một dân tộc Các em đã được nghe thủ thỉ bên tai những lời khuyên chân tình nhất - những lòi khuyên là kết quả của sự từng trải:

"Con ơi, nhớ lấy cầu này:

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan."

Song, triết lý trong vãn học dân gian là triết lý của tình thương Cha ông ta muốn rằng, dù năm tháng qua đi, mặc dù đòi có ba chìm bảy nổi, đắng cay và giận dữ, cái cuối cùng đọng lại trong con người là lòng nhân

ái, yêu thương; là nghĩa tình sắt son chung thuỷ, “Người với người sống

để yêu nhau”

Vui chơi là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ thơ Giáo dục cần thông qua vui chơi Các em có vui chơi mới có được tâm hồn trong sáng, vô tư, mới giữ được những suy nghĩ hồn nhiên mà lứa

* tuổi mình dang có, đang cần Làm thế nào để các em có thêm hào hứng vui chơi, chan hoà với bạn bè, gia đình, tắm mình trong thế giới vạn vật đầy sinh khí Đó không phải chỉ là trăn trở của cha ông ngày xưa mà còn của chính chúng ta ngày nay

c Những tác phẩm văn học dán gian của thiếu nhi

Cho tới nay, chưa có tài liệu nào sưu tầm được những sáng tác truyền miệng của thiếu nhi, song rải rác đó đây, chúng ta có thể tìm được những minh chứng về việc thiếu nhi tham gia sáng tác văn học dân gian Những bài đồng dao - một tiểu loại của ca dao - không thể cho rằng tất cả đều do người lớn sáng tác Trong số trẻ em chăn trâu trước kia - thuộc lứa tuổi học sinh tiểu học ngày nay - nhiều em đã thể hiện rõ năng khiếu thơ ca Nhiều bài vè trong làng ngoài nội chắc chắn do thiếu nhi sáng tác Số lượng các sáng tác của thiếu nhi có thê không nhiều song lai có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống văn học dân gian của dân tộc nói chung

Trang 11

d Thiếu nhi trong x ã hội hiện đại và văn học dân gian

Không thể phủ nhận được tình hình thực tế là ngày nay, vãn học dân gian đã bị đẩy lùi một bước trong nhận thức của con người Thiếu nhi ngày nay sớm được tiếp xúc với nền sản xuất công nghiệp và điện tử, sớm được sống trong nhịp điệu của đời sống hiện đại Trí tưởng tượng của các

em đang phát triển theo một hướng mới Những truyện khoa học viễn tưởng có phần hấp dẫn các em hom là thế giới mơ mộng, huyền ảo của truyện cổ tích, thế giới ngộ nghĩnh của truyện ngụ ngôn, thế giới ngây thơ của thần thoại Vậy thì, vãn học dân gian thiếu nhi còn có ý nghĩa gì trong cuộc sống ngày nay? Nhiều người tỏ ra bãn khoăn và không tin tưỏng vào luận điểm cho rằng có thể tiếp tục dùng văn học dân gian để giáo dục thiếu nhi

Thực ra, sai' lầm đã nằm ở trong chính chúng ta, những người lớn tuổi Một trong những nguyên lý cơ bản để tạo dựng xã hội mới và con người mới một cách vững chắc là phải dựa vào cả truyền thống và hiện đại Thiếu truyền thống, con người sẽ không thể đi tới tương lai Giáo dục truyền thống và giáo dục hiện đại là hai mặt không thể tách rời trong nền giáo dục của chúng ta ngày nay Văn học dân gian thiếu nhi,

đó là truyền thống, là dân tộc, là nhân loại Chỉ có điệu, văn học dân gian thiếu nhi không còn là toàn bô kiến thức của thiếu nhi như trước nữa Nhưng bỏ văn học dân gian thiếu nhi trong đời sống xã hội hiện đại là một thiệt thòi lớn đối với các em Sự nở rộ của những truyện khoa học viễn tưởng, những truyện phiêu lưu của người máy, những cuộc đụng độ giữa các hành tinh, những sức công phá phi thường của các năng lượng mới là có cơ sở thực tế vì nó phù hợp với tâm lý hướng về tương lai của thiếu nhi hiện đại Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng, trong con người các em còn có một kênh thu nhận khác: hướng về quá khứ, khát khao tìm hiểu cội nguồn Các em không thể tách ròi quá khứ trên con đường đi tới tương lai

Chúng ta cần phải điều chỉnh để có sự thâm nhập hài hoà vào con người các em những yếu tố truyền thống và hiện đại Một khi sự hài hoà

đó mất đi, các em cũng sẽ mất cân bằng trong cuộc sống, trong quá trình phát triển nhân cách của mình Văn học dân gian thiếu nhi mãi mãi cần

có đối với các em như một thứ hành trang để bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ cửa tin học và tự động hoá

Trang 12

HƯỚNG DẪN T ự HỌC

I- Tài liệu tham khảo

1 Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên: Văn học dân gian, tập I, NXB

Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H., 1972 Đọc “Phần dẫn luận”

2 Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ: Văn học dân

gian Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 1996 Đọc chương I:

“Nhận diện văn học dân gian”

II- Kiến thức cơ bản cần lưu ỷ

1 Văn học dân gian tồn tại dưới hình thức truyền miệng Quá trình truyền miệng của tác phẩm văn học dân gian chính là quá trình được sửa chữa, bổ sung để trở nên phong phú và hoàn thiện

2 Quá trình truyền miệng của một tác phẩm văn học dân gian cũng

là quá trình nhiều người tham gia sáng tác tác phẩm đó Vì vậy, văn học dân gian còn là sản phẩm của tập thể Ở đây, vai trò của từng cá nhân sáng tác bị chìm đi để hoà chung vào với tập thể

3 Văn học dân gian phần nhiều là sáng tác của người lớn và dành cho người lớn Vì vậy, văn học dân gian thể hiện rõ nhận thức, tâm lý, con người qua từng thời kỳ lịch sử Ở những thời kỳ sớm của lịch sử mỗi dân tộc, văn học dân gian thể hiện sự ngây thơ, hồn nhiên của con người

và vì thế rất phù hợp vói tâm lý thiếu nhi ở các thòi đại sau Ở các thời kỳ muộn của lịch sử mỗi dân tộc, người lớn đã có mục đích sáng tác văn học dân gian dành cho thiếu nhi Vì vậy, có những thể loại chuyên dùng để giáo dục thiếu nhi

4 Thiếu nhi cũng trực tiếp tham gia sáng tác văn học dân gian Những tác phẩm của các em tuy không nhiều và chưa được sưu tầm đầy đủ, song cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh thần của các em

5 Trong xã hội ngày nay cần phải song song giáo dục thiếu nhi bằng các tác phẩm cổ truyền và các sáng tác mới để thể hiện tư tưởng kết hợp truyền thống và hiện đại trong giáo dục

Trang 13

III- Câu hỏi

1 Văn học dân gian được sáng tác truyền miệng như thế nào ? Gợi ý trả lời

- Văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền theo các chu kỳ:

Lời nói —» Trí nhớ —> Lời nói, v.v

(kể, hát, diễn)

- Đó là quá trình được gọi là truyền miệng: thồng qua quá trình này, tác phẩm văn học dãn gian luôn luôn dược sửa chữa, bổ sung Hướng phát triển chung của tác phẩm vãn học dân gian là ngày càng được hoàn thiện

2 Vãn học dân gian được sáng tác tập thể như thế nào ?

Gợi ỷ trả lời

- Quá trình sáng tác diễn ra như sau:

Cá nhân 1 -> cá nhân 2 —> cá nhân 3, v.v

(sáng tác lần đầu) (bổ sung, sửa chữa) (bổ sung, sửa chữa)

- Các cá nhân có thể ở các vùng khác nhau (xét về phương diện địa lý) Các cá nhân có thể sống ở các thời đại khác nhau (xét vể phương diện lịch sử)

- Tổng hợp kết quả sáng tạo của các cá nhân đó lại, tác phẩm văn học dân gian trở thành sáng tác của tập thể

3 Sáng tác tập thể trong vãn học dân gian khấc sáng tác cá nhân trong văn học viết như thế nào ?

tư tưởng chung của tất cả mọi người Đó là tâm lý cộng đồng.

Vì vậy, mặc dù tập thể là nhiều cá nhân hợp lại nhưng những cá nhân này đều thống nhất với nhau về tư tưởng, tình cảm, về cách sử dụng ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, v.v

+ Trong sáng tác cá nhân (ví dụ: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Gió

lộng của Tố Hữu) những dấu hiệu riêng được thể hiện rất rõ: cuộc đời

Trang 14

riêng, tâm trạng riêng, cách sử dụng ngôn ngữ, thể thơ cũng có nét độc đáo không lẫn với tác giả khác.

4 Vì sao một số thể loại văn học dân gian của người lớn lại trở thành văn học dân gian thiếu nhi ?

Gợi ý trả lời

- Một số thể loại văn học dân gian phản ánh được những giai đoạn phát triển sớm của dân tộc Những giai đoạn này được gọi là giai đoạn ấu thơ hoặc giai đoạn niên thiếu của dân tộc

- Có sự trùng hợp về trình độ và đặc điểm của tư duy (đặc biệt là trí tưởng tượng) của người xưa thể hiện qua văn học dân gian với tư duy của trẻ em hiện nay Vì vậy, trẻ em rất thích thú khi tiếp nhận văn học dân gian

- Tuy được sáng tác ở giai đoạn sớm của lịch sử dân tộc, nhưng nhiều tác phẩm văn học dân gian đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật Vì vậy, những tác phẩm này càng hấp dẫn trẻ em

5 Vì sao một số thể loại văn học dân gian khác lại không phải là đối tượng tiếp nhận của trẻ em ?

Gợi ý trả lời

- Có sự không phù họp về mặt tư duy và tình cảm trong những thể loại này với trẻ em: thiên về triết lý, suy tư hoặc đòi hỏi trình độ trí tuệ cao, hoặc đề cập đến những lĩnh vực tình cảm còn xa lạ với trẻ em như: tình yêu, hôn nhân và gia đình, v.v

- Một yếu tố quan trọng nữa là vấn đề ngôn ngữ Những thể loại sử dụng ngôn ngữ ỏ trình độ cao cũng không thích hợp với thiếu nhi Các em chỉ có thể tiếp nhận những tác phẩm mà ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, không mang tính đa nghĩa Những tác phẩm mà trẻ em không hiểu hoặc khó hiểu về mặt ngồn từ thì cũng không hấp dẫn chúng

6 Vì sao người lớn lại dành một số thể loại văn học dân gian cho thiếu nhí?

Gợi ý trả lời

- Khi chưa có nhà trường, con người đã có nhu cầu giáo dục thiếu

nhi Văn học dân gian chính là phương tiện tốt nhất và gần như là duy nhất trong xã hội xưa để giáo dục thiếu nhi

- Người lớn đã sớm nhận thấy sự thích ứng của trẻ em đối với một số tác phẩm và thể loại văn học dân gian và biết lợi dụng ưu thế này để giáo dục các em

Trang 15

- Một số thể loại văn học dân gian đã đáp ứng được nhu cầu giáo dục thiếu nhi trên ba bình diện: nhận thức, tình cảm và vủi chơi.

7 Thiếu nhỉ có sảng tác văn học dân gian không ? Vì sao ?

Gợi ý trả lời

- Qua những tài liệu thu thập được và thực tế quan sát thiếu nhi trước

Ịria cũng như ngày nay, chung ta có thể khẳng định rằng thiếu nhi có sáng tác văn học dân gian

- Văn học dân gian là truyền thống sáng tác phổ biến, là phong trào kích thích mọi tầng lớp nhân dân tham gia Điều đó không thể không ảnh hưởng đến tầng lớp thiếu nhi trong vùng Các em cũng bắt chước người lớn sáng tác

- Thiếu nhi có những tình huống riêng của mình để sáng tác văn học dân gian (ví dụ: trong khi vui chơi) Chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng, trong số thiếu nhi, có những tài năng bẩm sinh Những em này sẽ là hạt nhân của phong trào sáng tác văn học dân gian

8 Cần xử lý vấn đề văn học dân gian cổ truyền trong xã hội hiện đại như thể nào ?

Gợi ý trả lời

- Xét về hiện tượng: thiếu nhi trong thời dại mới rất ham thích những

truyện khoa học viễn tưởng Nhưng điều này chưa phản ánh hết bản chất quá trình phát triển nhận thức của thiếu nhi

- Bản chất của quá trình phát triển nhận thức của thiếu nhi có hai mặt: Tìm hiểu và tiếp nhận truyền thống để lớn lên từ truyền thống; Tìm hiểu và tiếp nhận hiện tại để đi tới tương lai

- Vì vây, văn học dân gian thiếu nhi vẫn còn chỗ đứng trong nhận thức của các em Vấn đề là phải có sự kết hợp hài hoà trong giáo dục truyền thống và giáo dục hiện đại

IV- Bài tập

Hãy lập đề cương và viết thành văn theo các đề bài sau đây:

Để 1: Hãy trình bày những suy nghĩ của anh (chị) vê mối quan hệ giữa hai đặc điểm sau của văn học dân gian:

- Văn hộc dân gian là sáng tác truyền miệng;

- Văn học dân gian là sáng tác tập thể.

Trang 16

- Rút ra kết luận chung về tác động qua lại giữa truyền miệng và tập thể

Đề 2: Văn học dân gian giúp trẻ thơ lớn lên cả về tâm hồn và trí tuệ Bằng các tác phẩm văn học dân gian đã dọc, anh (chị) hãy chứng minh Gợi ý

- Cần hiểu:

+ Tâm hồn chủ yếu chỉ lĩnh vực tình cảm, xúc cảm

+ Trí tuệ chủ yếu chỉ lĩnh vực nhận thức và phát triển tư duy

- Cần đưa dẫn chứng để phân tích và chứng minh:

+ Văn học dân gian bồi dưỡng tình cảm cho trẻ em như thế nào?+ Văn học dân gian bồi dưỡng nhận thức cho trẻ em như thế nào? (về thiên nhiên, về đời sống xã hội, về con người)

Trang 17

Vì sao truyện cười nhìn chung khồng thích hợp vói lứa tuổi trẻ em tiểu học ? Đó là thể loại thiên về lý trí, thiên về tư duy phát hiện Trẻ em

ở lứa tuổi tiểu học, tư duy chưa phát triển mạnh về phương diện này Hơn nữa, đa số truyện cười mang ý nghĩa xã hội - chính trị sâu sắc mà các em chưa đủ vốn sống, vốn tri thức để hiểu Ví dụ, một truyện cười đơn giản

Chốc nữa tao sang:

Một lão nhà giàu đang ngồi tiếp khách Có người hàng xóm sai con mang tờ giấy sang Lão nhìn lướt qua rồi nói: - “Cứ về đi, chốc nữa tao sang” Thằng bé ngạc nhiên: “Thưa bác, bố cháu muốn mượn con ngựa nhà bác kia ạ”

Đọc truyện cưòi này, trẻ em ở lứa tuổi tiểu học hầu như không hiểu Trước hết, bởi các em không có vốn sống về thói trưởng giả học làm sang của tầng lớp trọc phú Thứ hai, chúng không có khả năng phát hiện được mối tương quan giữa người và ngựa (“chốc nữa tao sang” là để thay thế ngựa).Thần thoại và truyền thuyết không được sáng tác với mục đích dành cho thiếu nhi Đấy là những thể loại truyện dân gian thể hiện lòng thành kính, tưởng niệm của người lớn, nhiều trường hợp gắn liền với nghi lễ trang nghiêm Tuy vậy, rất nhiều thần thoại và truyền thuyết gắn với thời

ấu thơ hoặc gắn vổi kỷ niệm về thời ấu thơ của mỗi dân tộc Vì vậy, ở

Trang 18

những thể loại này, nội dung có nhiều điểm gần gũi với tâm lý tre em, khiến các em say sưa tiếp nhận.

Cổ tích và ngụ ngôn góp phần tích cực trong việc giáo dục trẻ em Ngày xưa, cha ông ta dạy con bằng những câu chuyện cô tích và ngụ ngôn Đó là những bài học gia đình đầu tiên và cũng là những bài học ở trường Cổ tích và ngụ ngôn đi cùng các em từ lứa tuổi mẫu giáo đến tiêu học thậm trí phổ thông trung học Không phải ngẫu nhiên mà các cụ đô nho xưa đã viết: “Từ đứa trẻ đầu xanh đến cu già tóc bạc đều truyên tụng

và yêu dấu”(1) Có thể khẳng định: Dành cho trẻ em, đó là mục đích tự giác của nhân dân khi sáng tác cổ tích và ngụ ngôn

1 Về khái niệm “thần thoại”

Thần thoại là những câu chuyện cổ xưa, kể về các vị thần Khái niệm này chỉ nhấn mạnh hai đặc điểm dễ nhớ của thần thoại:

- Có từ thời cổ xưa;

- Kể về các vị thần

Tuy vậy, chúng ta cần hiểu sâu sắc hem những vấn đề xung quanh thuật ngữ “thần thoại”

Trước hết, thần thoại là tên gọi một thể loại của văn học dân gian

Trên thế giới, có nhiều dân tộc bảo lưu được kho tàng thần thoại quý báu của mình cho đến ngày nay, nhưng cũng có nhiều dân tộc do điều kiện lịch sử xã hội riêng, thần thoại sớm bị tan biến vào các thể loại khác Vì vậy, một số nhà nghiên cứu không coi thần thoại là một thể loại Họ cho rằng, chỉ tồn tại những “ý niệm thần thoại” hoặc một “cảm quan thần thoại” (nghĩa là thần thoại chỉ gồm những suy tưởng hoang đường, vụn vặt, không thành truyện hoặc không có cốt truyện) Chúng tôi cho rằng thần thoại xứng đáng là một thể loại của văn học dân gian Điều này có thể chứng minh bằng những tư liệu sưu tầm, có điều cần phải thừa nhận rằng, kết cấu của chúng đều dơn giản, phần lớn chưa có cốt truyện rõ rệt

Chúng ta hãy lấy một truyện tiêu biểu, đó là truyện Thần Trụ Trời

Truyện kể rằng: Khi chưa có trời và đất, có một ông thần nằm trong cõi hỗn mang Một ngày kia thần thức dậy, đẩy cõi hỗn mang tách ra thành hai nửa, phần trên đầu thần là trời, phần dưới chân thần là đất Sau đó

(,) Lòi mồ dầu sách Lĩnh Nam chích quái.

Trang 19

thần đào đất để đắp cột chống tròi Nơi thần đào bị sâu xuống thành bể Khi trời khô cứng, thần phá cột đi, đất đá văng ra thành núi, thành đồi.Câu chuyện trên được gọi là tiêu biểu, song không thể nói rằng có cốt truyện hoàn chỉnh được Tuy vậy, Thần Trụ Trời vẫn là một hình

tượng nghệ thuật Ta có thể khẳng định thần thoại là một trong những

sáng tác nghệ thuật đẩu tiên của con người thời nguyên thuỷ.

Về khái niệm “cổ xưa” của thần thoại, chúng ta có thể xác định được Đó là thời đại đồ đồng, cách chúng ta khoảng 4000 năm v ề mặt xã hội, sự ra đời và phát triển của thần thoại ứng với thòi kỳ công xã nguyên thuỷ của mỗi dân tộc Đối với những dân tộc chậm phát triển, thời kỳ công xã nguyên thuỷ kéo dài thì thần thoại có cơ sở tồn tại muộn hơn.Người nguyên thuỷ không phải ngay từ đầu đã biết sáng tạo nghệ thuật Phải có những điều kiện cần thiết cho một tác phẩm nghệ thuật ra đời (thuộc các lĩnh vực hội hoạ, âm nhạc, và truyện kể ) Đó là sự phát triển của trí tưởng tượng, khả năng khái quát của tư duy Riêng đối với truyện kể, cần thêm điều kiện về sự phát triển của các hình thức ngôn ngữ Nếu ngôn ngữ dân tộc chậm phát triển thì các sáng tác nghệ thuật dân gian truyền miệng cũng chậm phát triển theo Vì vậy, thần thoại ra đời vào giai đoạn cuối của thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi nển kinh tế nông nghiệp đã tương đối được định hình, con người có nhu cầu khái quát những vấn đề của tự nhiên và xã hội, sự diễn đạt dưới các hình thức ngồn ngữ đã khá phong phú Tuy nhiên, thần thoại vẫn là một thứ “nghệ thuật

vô ý thức” (chứ chưa phải nghệ thuật tự giác) của con người thời nguyên thuỷ Lý do là ở chỗ mục đích trước tiên của người nguyên thuỷ khi sáng tạo ra thần thoại không phải là để “làm nghệ thuật” mà là “cất giữ” những tri thức kinh nghiệm để phổ biến cho mọi người hoặc cho dời sau Trong thần thoại, ta tìm thấy những nhận thức, những cách giải thích, đó là tất

cả những gì người nguyên thuỷ có được sau quá trình quan sát và suy tư qua nhiều thế hệ Những kết quả của quá trình này tuy đơn giản nhưng lại mang ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn lao, đánh dấu một bước phát triển mới của nhân loại Con người từ giã thời kỳ man thú để bước vào kỷ nguyên chinh phục và sáng tạo Sự tiến hoá quan trọng nhất đối với loài người là

sự tiến hoá của tư duy Chính sự tiến hóa này làm cho xã hội loài người phát triển không ngừng về tổ chức, tinh thần và vật chất Điều chúng ta quàn tâm là lần đầu tiên con người đã biết làm nghộ thuật Hiện tượng

í

Trang 20

“thần thoại” nảy sinh là kết quả tất yếu của một thời đại Người nguyên thuỷ chưa hiểu thế nào là nghệ thuật Thần thoại đối với họ là cuộc sống tinh thần, là niềm tin, là mơ ước Nhưng người đời sau (trong dó có cả chúng ta) đều gọi thần thoại là nghệ thuật bởi vì quá trình tạo ra nó là quá trình “nhào nặn lại hiện thực” thông qua trí tưởng tượng và sự khái quát

từ hàng loạt những sự việc cụ thể riêng lẻ Con đường tạo ra thần thoại như ta đã thấy, đó là con đường của sáng tạo nghệ thuật Những thiên thần thoại đã dược sưu tầm đều mang tính hình tượng sâu sắc (mọi tư tưởng đều được thể hiện bằng hình tượng sinh động hấp dẫn)

Ai có thể ngờ rằng, cách đây bốn nghìn năm, cha ông ta đã tưởng tượng ra được một thế giới các vị thần đông đảo không kém gì thế giói loài người Mỗi vị thần đều tượng trưng cho một lực lượng tự nhiên Nhưng nếu chỉ mô tả các hiện tượng tự nhiên thuần tuý như đang diễn ra xung quanh chúng ta thì đó chưa phải là thần thoại Các hiện tượng tự nhiên phải có hồn, phải biết nói, cười, hoạt động một cách kỳ lạ Như vậy, mới có thần thoại và thần thoại mói trở thành nghệ thuật

Tuy nhiên, thần thoại vẫn chỉ là sản phẩm của tư duy ở trình độ còn thấp kém của người nguyên thuỷ Đó là một thứ tư duy ngây thơ và hoang dường Vì thế, bước sang thời kỳ mà tư duy con người phát triển cao hơn (sáng suốt hơn và thực tế hơn) thì con người không sáng tác thần thoại nữa Các thể loại văn học dân gian khác đã thay thế thần thoại Và thần thoại trở thành hiện tượng “một đi không bao giờ trở lại” trong lịch sử mỗi dân tộc

Vì không được tiếp tục sáng tác trong các thời đại sau này nên kho tàng thần thoại cổ xưa cũng dần dần bị mai một Có những thần thoại bị lãng quên, song đa số trường hợp bị biến tướng, bị tan rã để nhập vào một thể loại khác (như truyền thuyết và cổ tích) Tim được một thiên thần thoại đúng như thòi tiền sử thì quả thật vô cùng khó khăn Giờ đây các nhà nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian đã cố gắng khôi phục lại nhưng không được nhiều lắm Chúng ta có thể kể ra ở đây một ví dụ về sự biến tướng của thần thoại:

Truyện Sơn Tinh - Thuỷ Tinh là một thần thoại kể về cuộc giao tranh

giữa Thẫn Núi và Thần Nước, phản ánh hiện tượng lũ lụt hàng năm trên

lưu vực sông Hồng Song truyện Sơn Tinh - Thuỷ Tinh đã được gắn với

thời đại các vua Hùng, nghĩa là gắn với lịch sử hình thành dân tộc Việt

Trang 21

trong buổi đầu dựng nước Sơn Tinh và Thuỷ Tinh cùng đến cầu hôn con gái vua Hùng thể hiện mối quan hệ giữa các bộ lạc lân cận với bộ lạc vua

Hùng Như vậy, Sơn Tỉnh - Thuỷ Tỉnh đã trở thành câu chuyện truyền

thuyết - một thể loại văn học dân gian có đặc điểm khác với thần thoại.Chính vì có sự lẫn lộn giữa thần thoại vói các loại truyện kể dận gian

khác nên việc xác định những dấu hiệu đặc trưng của thần thoại là hết

sức cần thiết.

Trước hết, mỗi truyện thần thoại thường kể về sự tích các vị thần

Thần là hình tượng nhân vật trung tâm Các vị thần đều là hiện thân của lực lượng tự nhiên, tuy quái dị nhưng vẫn mang dáng vẻ chất phác ngây thơ của người nguyên thuỷ (vì thần chính là sản phẩm của trí tưởng tượng của họ) Thần Trụ Trời, Thần Biển, Thần Sét đều ngự trị trong thế giới tự nhiên bao quanh con người và được suy tôn bởi con người Thần cai quản, tạo dựng và điều hành thế giới tự nhiên, có một số vị thần là thuỷ tổ của các nghề: Thần Nghề Mộc, Thần Nghề Rèn, Thần Nghề Dệt, Thần Nghề Trồng lúa

Những truyện kể đời sau cũng có nhân vật thần nhưng không còn màu sắc của thần trong thần thoại nữa Thần đòi sau tượng trưng cho các lực lượng xã hội: Ngọc Hoàng cai quản thiên đình, Diêm Vương cai quản

âm phủ, Thành Hoàng cai quản làng xã đó là hiện thân của các vị vua quan trong thế giói loài người

Một số thần thoại có nhân vật chính là con người (truyện Chàng

Cuội cung trăng, Cường Bạo đại vương v.v ) Nhưng ở những nhãn vật

này, chỉ có mối quan hệ với tự nhiên chứ không được xây dựng bằng những mối quan hệ xã hội (chàng Cuội có quan hệ đến việc giải thích một hình ảnh thường thấy trên mặt trăng; Cường Bạo đại vương liên quan đến việc đấu tranh chống Thần Sét) Việc lấy con người làm nhân vật chính trong thần thoại được xem là ngoại lộ

Nhiệm vụ chính của thần thoại là giải thích tự nhiên Rất nhiều hiện

tượng trong tự nhiên được đề cập tới và giải thích theo cách suy nghĩ của người nguyên thuỷ Tuy mọi sự giải thích đều hoang đường nhưng chính nhờ có sự hoang đường ấy mà thần thoại được hình thành và phát triển Những truyện đời sau, do yếu tố hoang đường giảm đi, cái thật, cái hợp lý chen vào ngày càng nhiều, nên bản chất thể loại bắt đầu thay đổi Lúc đó, thần thoại dần dần biến tướng, trở thành truyền thuyết hoặc cổ tích Vì

Trang 22

vậy, tính chất hoang đường (hay màu sắc hoang đường) chính là đặc điêm quan trọng của thần thoại Đặc điểm này nằm trong tư duy của người nguyên thuỷ Người ta giải thích tự nhiên như thê và tin răng điêu đó là hoàn toàn có thật.

Ngày nay ta đã biết thuỷ triều là một hiện tượng tự nhiên được tạo thành do sức hút của Mặt Trăng Còn người xưa lại hiểu rằng, sở dĩ có thuỷ triều lên xuống là do Thần Biển (mang hình dáng của một con rùa khổng lồ) nằm dưới đáy đại dương Mỗi lần Thần hít nước vào là lúc thuỷ triều rút xuống Mỗi lẫn Thần thở ra là lúc thuỷ triều dâng cao Tư duy hoang đường đã tạo nên một hình tượng kỳ vĩ trong thần thoại

Hiện tượng sét đối với chúng ta thật qúá đơn giản, nhưng đối với người xưa lại là cả một câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn Hiện tượng này do một

vị thần mang tên là Thần Sét gây ra Đây là một vị thần hung dữ, thường mang bên mình một lưỡi búa lớn Muốn đánh vào đâu, thần ném lưỡi búa

từ trên cao xuống Lưỡi búa tượng trưng cho uy quyền và sức mạnh của Thần Sét Rõ ràng đó là cách giải thích hoang đường nhưng lại mang đến cho người đọc, người nghe một hình ảnh sinh động, giàu tính nghệ thuật.Giải thích tự nhiên một cách hoang đường, thần thoại cùng một lúc thực hiện được hai chức năng: nhận thức và thẩm mỹ Thần thoại ra đời, đáp ứng nhu cầu hiểu biết của người nguyên thuỷ, nhưng đồng thời cũng

là một sáng tác nghệ thuật (mặc dù chỉ là một thứ nghệ thuật vô ý thức) Tuy vậy, xét cho cùng thì chức năng nhận thức (giải thích tự nhiên) vẫn là quan trọng nhất và trở thành một đặc trưng của thần thoại

2 Nội dung - ỷ nghĩa của thần thoại

Như đã trình bày, thần thoại được sáng tác không vì mục đích phục

vụ thiếu nhi nhưng do có sự ngây thơ, chất phác trong nội dung nên thần thoại rất phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi và được các em hâm mộ Vì vậy chúng ta cần khai thác những nội dung của thần thoại như thế nào để phục vụ việc giáo dục thiếu nhi được tốt hơn

a Ý nghĩa hiện thực và khoa học của thần thoại

Thần thoại không trực tiếp phản ánh hiện thực Thế giới trong thần thoại không phải là thế giới trong tầm quan sát của chúng ta Đó là thế giới thần linh kỳ diệu, hoang đường Xuất phát từ chõ không hiểu được hiện thực khách quan nhưng lại muốn giải thích nó, con người đành phải

sử dụng trí tưởng tượng Nhưng trí tưởng tượng này đã được định hướng

Trang 23

con người suy từ bản thăn mình để mô tả thiên nhiên Ý niệm dầu tiên về

sự tồn tại của thần (tách biệt với con người, chi phối con người) có thể xuất hiện trong những hoàn cảnh đặc biệt (sự báo mộng, sự xuất hiện của những hiện tượng kỳ lạ - những hiện tượng này ngày nay chúng ta thấy không ít và thật ra vẫn chưa giải thích được một cách thuyết phục về phương diộn khoa học, ví dụ các hiện tượng về trường sinh học, về giác quan thứ sáu, v.v ) Nhưng việc mô tả thiên nhiên thường xuyên, việc giải thích thiên nhiên hàng ngày không chỉ dựa vào một số hình ảnh ít ỏi trong các giấc mộng, người nguyên thuỷ không còn cách nào khác là phải lấy những đặc điểm của chính bản thân mình để gán cho thế giới tự nhiên

Và thế là tư tưởng về vạn vật có linh hồn, vạn vật giống như con người đã hình thành từ rất sớm Như vậy, việc mô tả tự nhiên không có gì khác hơn

là mô tả như con người, việc giải thích tự nhiên cũng không có gì khác hơn là giải thích bằng chính những hành vi của con người Thần Trụ Trời, Thần Sét to lớn là vậy mà vẫn mang hình dáng của người Thần cũng đi, đứng, cũng sử dụng công cụ sản xuất, cũng có quan hệ nam nữ, cũng làm việc bằng sức cơ bắp v.v Như vậy, Thần không phải là cái gì thật sự xa

lạ và bí hiểm đối với con người, hơn nữa, một số thần (thuỷ tổ các ngành nghề) lại trở nên gần gũi với con người hơn bao giờ hết

Qua tấm màn hoang tưởng, kỳ ảo của trí tưởng tượng, ta vẫn nhận ra bóng dáng của hiện thực.

Câu chuyện về nạn đại hồng thuỷ từ lâu đã làm nhiều nhà thần thoại học phải suy nghĩ: Đây là sự bịa đặt của trí tưởng tượng hay là một sự kiện thực tế đã diễn ra ? Vì sao thần thoại của nhiều dân tộc ở Việt Nam

và trên thế giới đều nói tới sự kiện này? Sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc

Mường (một dân tộc gần gũi với dân tộc Kinh) đã mô tả tương đối kỹ về nạn đại hồng thuỷ v ề phương diện khoa học, chúng ta chưa xác định được một đại hồng thuỷ toàn cầu, song hiện tượng đại hồng thuỷ khu vực trên thực tế đã từng diễn ra sau những cuộc biển tiến, biển lùi trong lịch

sử địa chất Như vậy, đại hồng thuỷ là hiện thực đã đi vào thần thoại.Câu chuyên Thần sắt phản ánh hiện thực về việc con người đã tìm ra sắt và biết chế tạo các đồ dùng bằng sắt (thời đại đồ sắt) không phải là thời đại sản sinh ra thần thoại Sự ra đời của thần thoại sớm hơn (thuộc thời đại đồ đồng) nhưng không thể loại trừ khả năng cuối thời dại đồ đồng, người ta đã tìm ra sắt

Trang 24

Những câu chuyên về Nữ Thần Nghề Mộc, Thần L u a , Thân Nghê Rèn phản ánh tương đối cụ thể hom hiện thực cuộc số n g c ủ a con người thời nguyên thuỷ Điều đó chứng tỏ rằng, ở thời kỳ c ách ch úng ta trên dưới 4000 năm, tổ tiên ta đã có một nền văn minh khá rực rỡ.

Ỹ nghĩa hiện thực không tách rời ý nghĩa khoa học củ a thản thoại Đó

là những hạt nhân hợp lý trong sự mô tả phi lý Người n g u y ên thuỷ trong quá trình quan sát thực tế, đã nhận thức được một cách m ơ h ồ và cảm tính một số quy luật của tự nhiên: ngày và đêm, sống và chết, sự thay đôi của bốn mùa, sự tồn tại của thế giói vật chất trước tinh thần v.v V í dụ, độ dài của ngày và đêm thay đổi theo mùa được giải thích bằng câu chuyên Nữ Thần Mặt Trời ngồi trên chiếc kiệu Người khiêng kiệu có k h i là các cụ già,

có khi là trẻ con Các cụ già thường chăm chỉ hơn nên kiệu đi nhanh, ngày

ờ dưới hạ giới ngắn lại; trẻ con còn mải chơi nên kiệu đi ch ậm , ngày ở dưới

hạ giói dài ra Đây là sự cảm nhận về quy luật thòi gian C ái phi lý của câu chuyện phản ánh cái hợp lý của kinh nghiệm con người

Câu chuyện Thần Trụ Trời cũng thể hiện m ột quan niệm về vũ trụ,

về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Người xưa giải th ích rằng, sờ dĩ

có trời đất, núi, sông là do Thần Trụ Trời tách đôi khối h ỗ n m ang (ta gọi

là vật chất) đẩy một nửa lên cao, nửa còn lại, Thần ra sức đào bới để đắp cột chống nửa trên, tạo thành địa hình như ngày nay R õ ràn g Thần Trụ Trời không hoá phép để tạo ra vũ trụ, núi sông, m à ngược lại, khối hỗn mang không biết có từ bao giờ Đó là yếu tố duy vật tro n g cảm nhận của người xưa về thế giới

Thân Sét hung hăng, dư tợn nhưng vân phải chiu nằm yên trong những ngày lạnh cóng Kết thúc của những câu chuyện về người lột xác,

về cây đa cải tử hoàn sinh vẫn là con người đến già thì p h ải chết không ai

có thể cưỡng lại được Sự cảm nhận về quy luật của tự n h iên làm cho thần thoại trở thành một “kho tàng trí khôn kinh nghiệm ” T h ần thoại chính là triết học, là khoa học của người xưa

b Ý nghĩa nhân văn qua thần thoại

Thần thoại được sáng tác ra không chỉ nhằm m ục đ ích giải thích tự nhiên mà còn để ngợi ca khả năng của con người tro n g công cuôc lao động và đấu tranh chinh phục tự nhiên

Trang 25

Như trên đã nói, trong khi giải thích tự nhiên, người nguyên thuỷ đã lồng chính mình vào hình tượng thần Vì vậy, thần là hình ảnh của những con người khai sơn phá thạch, chinh phục thiên nhiên Thần dùng sức lao động của mình để tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên Ngọc Hoàng muốn tạo ra muôn loài phải lấy vật liêu có sẵn và hì hục nặn; Thần Mưa muốn làm mưa phải hút nước cho căng bụng rồi phun khắp thế gian; Thần Trụ Tròi muốn tạo ra trời và đất phải hì hục đào, đắp mới có được cột chống tròi Không có một thiên thần thoại nào nói tới những phép mầu hô phong hoán vũ Những câu chuyện về thần đời sau, nếu đem ra so sánh với thần thoại, chúng ta mới thấy có sự khác nhau về bản chất Thần đời sau muốn tạo ra điều gì hoặc vật gì, chỉ cần niệm thần chú là đâu vào đấy Quyền lực của thần trong thần thoại không được như vậy Suy cho cùng, thần trong thần thoại chỉ là một người lao động khổng lồ Sức mạnh của thần vẫn là ở sức cơ bắp, là ở sự kiên trì, nhẫn nại làm việc Thần luôn luôn là tấm gương lớn cho con người noi theo Hình ảnh Thần Lúa hiện ra càng lam lũ vất vả thì mùa màng càng bội thu Thần thoại luôn luồn khuyến khích người ta phải lao động Chính vì lẽ đó, thẫn rất gần gũi vói con người Thần không phải là một hình ảnh xa lạ mà chính là hình ảnh của người lao động.

Từ thủa xa xưa, con người đã muốn nhận thức giới tự nhiên Song, qua việc nhận thức giới tự nhiên, con người lại có điều kiện nhận thức về bản thân mình Đó là kết quả bất ngờ mà người nguyên thuỷ không có ý thức chò đợi từ trước Thần thoại đề cao thần, nhưng cũng chính là đề cao con người lao động Hơn thế nữa, con người ở đây là con người sáng tạo Thời

cổ xưa, mỗi một sáng tạo đều có ý nghĩa vô cùng to lớn Việc tìm ra lửa tạo

ra sự chuyển biến có tính chất toàn nhân loại: con người đỡ phụ thuộc vào thiên nhiên hơn (mùa đông có thể sưởi ấm, màn đêm bị xua tan, thức ăn dễ đồng hoá hơn, v.v ) Việc làm ra cung tên là cơ sở tạo nên những thành công mới trong săn bắt, trong giao tranh giữa các bộ lạc Con người không chỉ tìm ra lúa, mà còn biết chăn tằm, dệt vải Tất cả những phát hiện, những sáng tạo ấy đều được ngợi ca đến mức thần thánh hoá Vì vậy, có Thần Lửa, Thần Lúa, Thần sắt, Thần Nghề Mộc, v.v Người nguyên thuỷ quy công lao động sáng tạo của chính mình cho thần thánh

Ý nghĩa nhân văn qua thần thoại còn thể hiện ở những ước mơ giải

phóng con người ra khỏi sự chi phối của tự nhiên.

Trang 26

Có thể nói, con người nguyên thuỷ, mặc dù đã có sự cố gắng vươn lên, vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào giới tự nhiên Đòi sống săn bắt và hái lượm không ổn định đã đành, ngay cả đời sống canh tác nông nghiệp

và chãn nuôi gia súc cũng chưa được bảo đảm Thiên nhiên vẫn là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ luôn luôn vùi dập con người: mưa, bão, hạn hán, nóng, lạnh, thú dữ Con người phải chịu đựng và chống chọi với thiên nhiên qua bao thế kỷ Trong cuộc sống gian nan ấy, tổ tiên ta chưa chiến thắng được thiên nhiên trong thực tế thì phải gửi ước mơ chiến thắng vào thần thoại Vì vậy, thần thoại đã thể hiện công cuộc chinh phục tự nhiên của con người bằng trí tưởng tượng

Trước hết, trong tình trạng thiếu thốn về vật chất, người nguyên thủy ước mơ một cuộc sống no đủ và nhàn hạ (lúa ở ngoài đồng tự nhiên chín

và chạy thẳng về nhà, hạt lúa to bằng củ khoai, cây mía là một thứ ống đựng nước mật, v.v ), có nghĩa là ước mơ nhận được sự ưu đãi của thiên nhiên Nhưng điều quan trọng hơn vẫn là ước mơ chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên Người xưa đã nhận thức một cách rõ ràng rằng, không thể chỉ ngồi đợi chờ vận may sẽ đến mà điều quan trọng là phải hành động, phải chiến đấu

Trong cuộc dấu tranh này, con người nhiều khi đã lộ hẳn ra chứ không giấu mình sau hình tượng thần nữa Cường Bạo đại vương đã chiến thắng Thần Sét và hoa búa chống trời; Cóc cùng đoàn thú đã làm náo loạn thiên cung; Sơn Tinh đã thắng Thuỷ Tinh hung dữ; chàng Quải đã bắn rơi mặt trời, v.v Bằng những ước mơ này, con người đã nâng tầm của mình lên để tạo thêm sức mạnh chiến thắng trong hiện thực Đó là những “khát vọng bức thiết của con người là cải tạo thế giới”, thể hiện niềm tin mãnh liệt của con người vào những điều sẽ có Những niềm tin ấy, dù ngây thơ đến đâu, ngày nay cũng biến thành hiện thực Con người đã từng bước thắng đoạt sức tự nhiên bằng khoa học Ngày nay, chúng ta chinh phục tự nhiên không phải bằng sự tưởng tượng mà bằng những hành động thực tế Hơn nữa, thực tế này còn vượt xa trí tưởng tượng của người xưa

Ý nghĩa nhân văn là nội dung khách quan của thần thoại Người nguyên thuỷ không ý thức được điều này, nghĩa là không tự giác, không chủ định đưa vào thần thoại những ý nghĩa đó Đó là những vấn đề “thuộc

về hôm nay”, khi chúng ta nhìn nhận lại, đánh giá lại thần thoại Điều mà người xưa quan tâm đến trước tiên không phải là bản thân mình mà là thế

Trang 27

giới xung quanh mình Con người nhận thức bên ngoài trước và nhận thức chính mình sau Đó là quy luật của sự phát triển tâm lý Chúng ta có thể hiểu được vì sao các thể loại thơ trữ tình lại ra đòi muôn hơn các thể loại

tự sự Tuy vậy, ở giai đoạn tuổi thơ của nhân loại, không phải con người

hoàn toàn không có sự tự ý thức vê' mình Ý thức này xuất hiện một cách

không tự giác, tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức tự giác ở những giai đoạn sau Vì vậy, đánh giá ý nghĩa nhân văn trong thần thoại, chúng ta cần có mức độ trong việc đề cao, khẳng định, tránh khuynh hướng cực đoan, cho rằng thần thoại tiến bộ không kém gì các thể loại văn học dân gian dòi sau

Tóm lại, ý nghĩa nhân văn của thần thoại tuy còn mơ hồ và tự phát, nhưng suy cho cùng là sự tự ý thức của người nguyên thuỷ Trong màn đêm dày đặc của thời cổ đại, người nguyên thuỷ đã biết tự khẳng định mình và đề cao mình Ý thức đó chính là ngọn đuốc soi đường đưa nhân loại tiến lên

HƯỚNG DẪN T ự HỌC

I- Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Đổng Chi: Lược khảo thần thoại Việt Nam, NXB Vãn -

Sử - Địa, H., 1965

2 Truyện cổTăy Nguyên, NXB Văn hoá, H., 1961.

II- Kiến thức cơ bản cần lưu ý

1 Thần thoại được sáng tác nhằm mục dích nhận thức thế giới Do

đó, nội dung giải thích thế giới (chủ yếu là thế giới tự nhiên) là nội dung chủ yếu của thần thoại Do trình độ tư duy còn thấp kém, người nguyên thuỷ đã giải thích sai lệch thế giới tự nhiên Họ tưởng tượng thế giói tự nhiên cũng giống như mình, nghĩa là có lịnh hồn, trí tuệ nhưng lại có sức mạnh phi thường hơn hẳn con người

2 Tủy nội dung giải thích là hoang dường, song, trong đó cũng có những yếu tố duy vật (coi vật chất có trước, mọi thứ đều từ vật chất mà ra)

và yếu tố biện chứng (các hiện tượng sự vật có quan hộ với nhau, có quá

Trang 28

trình phát sinh, phát triển và biến đổi) Những yếu tố này là tự phát và còn rất thô thiển Tuy vậy, đó cũng là bước tiến bộ của tư duy nguyên thuỷ.

3 Cách giải thích hoang đường đã chứng tỏ con người rất sùng bái giới tự nhiên, cho đó là những lực lượng huyền bí Thái độ của người nguyên thuỷ nhìn chung là khiếp sợ, khuất phục và cầu xin ân huệ Tuy vậy, họ cũng bắt đầu chinh phục thế giới tự nhiên Đó là ước mơ lớn nhất của loài người và cũng là yếu tố tích cực nhất trong thần thoại

4 Muốn chinh phục tự nhiên, cần phải đề cao con người Vì thế, thần thoại còn mang ý nghĩa nhân văn đậm nét

5 Cần phải ghi nhớ rằng, thần thoại không phải là những tác phẩm nghệ thuật tự giác Như điểm 1 đã nói: mục đích nhận thức là mục đích đầu tiên Như vậy, trí tưởng tượng hồn nhiên, chất phác của người xưa đã làm cho thần thoại tự nhiên có tính nghệ thuật

III- Cảu hỏi

1 Hãy nói về các điều kiện làm phát sinh thần thoại.

Gợi ỷ trả lời

- Sự phát triển của ngôn ngữ

- Sự phát triển của tư duy với hai khả năng:

+ Trừu tượng hoá, khái quát hoá;

+ Trí tưởng tượng phong phú

2 Hãy nói về các đặc trưng của thần thoại.

Gợi ỷ trả lời

- Nhân vật trung tâm là thần;

- Nội dung chính là giải thích tự nhiên

3 Hãy nói về ý nghĩa hiện thực và khoa học của thần thoại.

Gợi ỷ trả lời

- Thần thoại dù hoang đường đến đâu cũng bắt nguồn từ hiện thực

Nói cách khác: thần thoại phản ánh hiên thưc thồng qua trí tưởng tượng

- Trong thần thoại, mọi thứ đều phi lý nhưng ta vẫn tìm ra được hạt nhân hợp lý Đó là hạt nhân duy vật và biện chứng Điều này có được là

do quá trình quan sát lâu đời

Trang 29

4 Hãy nói về ý nghĩa nhân văn của thần thoại.

Gợi ý trả lời:

- Đề cao vai trò của con người, đặc biệt là đề cao sức lao động

- Ước mơ giải phóng con người khỏi sự chi phối của tự nhiên (ước

mơ được sung sướng, ước mơ chiến thắng sức mạnh của tự nhiên)

IV- Bài tập

Viết một bài văn hoàn chỉnh theo đề bài sau:

Hãy chứng minh: Thần thoại là sự khái quát những thành công trong lao động.

Trang 30

CHƯƠNG I I I

TRUYỆN TRUYỂN THUYẾT

1 Khái niệm về truyền thuyết

Không giống như thần thoại, truyền thuyết giờ đây đã được các nhà khoa học thống nhất công nhận là một thể loại của văn học dân gian.Truyền thuyết ra đời sau thần thoại, khi xã hội phân chia thành giai cấp, khi nền kinh tế đã khá phát triển Con người lúc này không chỉ có nhu cầu nhận thức tự nhiên mà còn có nhu cầu nhận thức xã hội Ở nước

ta, truyền thuyết bắt đầu phát triển từ thời kỳ các Vua Hùng dựng nước Tuy vậy, sự phát triển từ thần thoại đến truyền thuyết khồng có một cột mốc rõ ràng, dứt khoát Trong một thời gian dài, thần thoại và truyền thuyết có sự lẫn lộn Có nhà nghiên cứu đã nêu một định nghĩa: Truyền thuyết là thần thoại đời sau Như vậy, chúng ta phải thừa nhận có sự

“nhập nhằng” giữa hai thể loại này Và khá nhiều trường hợp “lưỡng tính”

đã xuất hiện, nghĩa là một câu chuyện được gọi là thần thoại cũng đúng

mà gọi là truyền thuyết cũng không sai

Để phân biệt được truyền thuyết với thần thoại, chúng ta cần căn cứ vào những đặc điểm chung nhất, phù hợp với đa số trường hợp chứ không phải phù hợp với tất cả mọi trường hợp

Đặc trưng tiêu biểu nhất của truyền thuyết là gắn với lịch sử, phản ánh lịch sử theo cách riêng của mình, trong đó thể hiện sự đánh giá của nhân dân

Xu hướng lịch sử hoá trong truyền thuyết càng ngày càng mạnh Người xưa luôn luôn muốn khẳng định rằng, những điều được kể trong truyền thuyết đều là sự thật Càng phát triển về sau, sự thật trong truyền thuyết càng trở nên rõ ràng hơn

Truyện Lạc Long Quân và Â Cơ giải thích về nguồn gốc dân tộc

Chúng ta tìm thấy sự thật rất chung chung là một số tộc người ở Việt Nam hiện nay có cùng nguồn gốc Tuy nhiên, sự giải thích mơ hồ này, dân tộc nào cũng có Đó là thứ tư duy đã được định hướng trong quá trình nhận thức của các dân tộc trên thế giới

Trang 31

Ở chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, lịch sử hiện ra rõ thêm một chút, đó là những sự kiện về các cuộc giao tranh giữa các bộ lạc (hoặc giữa các liên minh bộ lạc) Tuy vậy, đây vẫn chỉ là một thứ lịch sử khái quát Đó là lịch sử về những cuộc giao tranh chứ không phải lịch sử về một cuộc giao tranh.

Đến chuyện An Dương Vương xây thành chế nỏ đê chống lại quân xâm lược Triệu Đà và cuối cùng thất bại, nước Âu Lạc rơi vào tay nhà Nam Hán thì sự thật lịch sử đã rõ ràng

Chúng ta còn chứng kiến hàng loạt những thiên truyền thuyết sau này phản ánh tương đối trung thực lịch sử Nhiều truyện gần như là một thứ lịch sử truyền miệng mà nhiều người đã gọi là dã sử

Tuy nhiên, truyền thuyết chưa bao giờ nói sự thật một trăm phẫn trăm Ở những giai đoạn đầu tiên, những yếu tố hoang đường, kỳ diệu rất nhiều, về sau có giảm đi nhưng vẫn không rũ bỏ hết được Như vậy, ở đây còn có xu hướng thứ hai, xu hướng kỳ ảo hoá sự thật lịch sử

Con đường kỳ ảo hoá sự thật lịch sử là con đường của sáng tác nghệ thuật Người xưa không muốn kể về một thứ ‘Tịch sử trần trụi” Lịch sử cần phải trở nên sinh động, hấp dẫn, ly kỳ Qua con mắt dân gian, lịch sử

đã được nhào nặn, thêm thắt, có nhiều sự thật nhưng cũng không ít những điều tưởng tượng ra

Như vậy, trong tư duy nghệ thuật của người xưa, luôn luôn tồn tại hai

xu hướng dặc trưng cho truyền thuyết: một mặt, tác giả dân gian muốn thêu dệt sự thật để nó trở thành kỳ ảo; mặt khác, những điều kỳ ảo lại muốn khẳng dịnh là sự thật Sự kết hợp hai xu hướng lịch sử hoá và kỳ ảo hoá đã trở thành nguyên tắc trong quá trình sáng tác truyền thuyết Thiếu

di một trong hai xu hướng trên, truyền thuyết không thể ra đời

Truyền thuyết bao giờ cũng quan tâm đến nhãn vật lịch sử và sự kiện

lịch sử Hầu như, các tác giả dân gian đã giao phó cho truyền thuyết một

nhiệm vụ như vậy Truyền thuyết không quan tâm dến công việc dời thường mà chỉ hướng tới những con người, những sự việc mang ý nghĩa toàn dân tộc (hay ít nhất cũng có tiếng vang trong một vùng rộng lớn).Nhưng, như trên đã nói, xung quanh nhân vật lịch sử và sự kiện lịch

sử, bao nhiêu điều kỳ diệu đã diễn ra, nhân dân đã “trẩ hia vào chân và

đội vòng hào quang vào đầu” cho các nhân vật của mình Những nhân vật

và sự kiện này đều thuộc về quá khứ, truyền thuyết không nói về hiện tại

vẳ cũng không hướng tới tương lai.

Trang 32

2 Nội dung - ý nghĩa của truyền thuyết

a Truyền thuyết dân gian gắn liền với niêm tự hào dân tộc

Hơn bất cứ một thể loại văn học dân gian nào khác, truyền thuyết có một quá trình phát triển rất dài Có thể nói: Truyền thuyết đã đi cùng vói lịch sử dân tộc

Những trang chói lọi nhất trong lịch sử Việt Nam gắn liền với các sự kiện về xây dựng, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc qua nhiều thê hệ anh hùng

Vì vậy, âm điệu chủ yếu trong truyền thuyết là âm điệu ngợi ca.

Từ thủa sinh cơ lập nghiệp, nhân dân ta đã ca ngợi công lao của các

vị anh hùng khai phá Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh, Ngư Tinh, Mộc Tinh,

bà Âu Cơ dạy dân trồng lúa, chăn tằm, dệt vải Sự ngợi ca gắn liền với

niềm tự hào lớn lao về dòng dõi con Lạc cháu Hồng Câu chuyện trăm

trứng Âu Cơ có một ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt Người Việt Nam không cảm nhận vấn đề trên phương diện sinh học mà cảm nhận trên phương diện tâm linh Sự kỳ lạ gắn liền với niềm tin mãnh liệt rằng dân tộc Việt Nam có dòng dõi thần linh Đó là điều mà người xưa cho là cao quý nhất, đáng tự hào nhất

Công cuộc dựng nước buổi đầu của tổ tiên ta không kém phần gian nan, vất vả và thực sự là một cuộc đấu tranh gay gắt, trường kỳ Truyền thuyết đã mô tả những cuộc giao tranh dữ dội như cuộc giao tranh của Lạc Long Quân với Ngư Tinh (một quái vật khổng lồ ở biển Đông) Chiến công của Lạc Long Quân thật là vĩ đại: chặt đầu Ngư Tinh quăng ra biển, thành đảo cẩu Đầu Sơn; chặt đuôi Ngư Tinh quăng ra biển, thành dảo Bạch Long Vĩ Đó là không khí anh hùng ca, hoành tráng và kỳ ảo, làm phát sinh trong lòng người đọc, người nghe niềm xúc cảm mãnh liệt

và tự hào sâu sắc về đất nước, về dân tộc của mình

Niềm tự hào dân tộc còn được thể hiện qua sự ngợi ca người anh hùng chống xâm lược Nếu truyện về Lạc Long Quân là bài ca dựng nước thì truyện về Thánh Gióng là bài ca giữ nước, Lạc Long Quân cũng là một vị anh hùng trong cuộc giao tranh nhưng Thánh Gióng mới thực sự là người anh hùng chiến trận

Những nhân vật như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng Hùng Vương ít nhiều mang dáng dấp của nhân vật thần thoại, song ở đây nhân dân ta đã cố gắng lịch sử hoá đến mức cao nhất để người đời sau có thể

Trang 33

tin và có cơ sở tự hào Có thể nói, những thiên tmyển thuyết đầu tiên ra

đời là kết quả của sự lịch sửhoá thần thoại.

Sự ra đời của Gióng là thần kỳ Ngay cả chi tiết ba năm chẳng nói chẳng cười cũng là một sự thần kỳ Nhưng thần kỳ hơn cả vẫn là cái vươn vai cao hơn mười trượng của Gióng Trong giây lát, Gióng trở thành một người khổng lồ Tầm vóc của Gióng không bầng Thần Trụ Trời, không bằng Thần Biển nhưng cũng thật kỳ vĩ Tính chất thần thoại ở đây rất rõ, song người xưa lại muốn nói rằng tất cả những điều đó đã từng là sự thật Chứng cớ là ở chỗ Gióng đánh giặc Ân (mà Trung Quốc thời cổ đại cũng

có nhà Ân) Tuy vậy, đó vẫn là một thứ lịch sử hoang đường bởi vì sử sách Trung Quốc không có trang nào, dòng nào nói về những cuộc tiến quân của nhà Ân xuống phương Nam Song, tất cả những gì được coi là

kỳ vĩ, hoang đường trong truyện Thánh Gióng đều có ý nghĩa ngợi ca

người anh hùng chiến trận Có lẽ nếu trong một điều kiện lịch sử thuận lợi hơn, câu chuyên Thánh Gióng đã biến thành một thiên sử thi đồ sộ chẳng

kém gì Ilỉat của Hôme trên đất nước Hi Lạp cổ đại xa xôi.

Niềm tự hào dân tộc trong thiên truyền thuyết đời sau tiếp tục gắn liền

với sự tích về các vị anh hùng cứu nước và giữ nước Không phải ngẫu

nhiên các nhà sử học đã khẳng định: Lịch sử Việt Nam một phần quan trọng là lịch sử của những cuộc đấu tranh chống xâm lược Hàng loạt truyền thuyết ra đời đã theo sát lịch sử dân tộc Đó là các truyền thuyết về

Bà Trưng, Bà Triệu, Phùng Hung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi v.v Hình tượng

người anh hùng cứu nước và giữ nưóc được thể hiện có chiều sâu hơn so với

hình tượng người anh hùng chiến trận trong truyền thuyết cổ đại Nếu như

ta chỉ biết người anh hùng làng Gióng ra trận với thanh gươm và con ngựa sắt thì ta còn biết Bà Trưng, Bà Triệu ra trận với chí căm thù Câu nói của

Bà Triệu mãi mãi là tiếng vang của tinh thần bất khuất trortg suốt chiều dàí lịch sử dân tộc: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngố, dựng quyền độc lập, cởi ách nô lệ” Hơn nữa, tính chất phức tạp của những mối quan hệ xã hội làm cho người anh hùng trở nên đa dạng hơn Bà Trưng đã bố khăn tang khi ra trận để không lằm nhụt nhuệ khí ba quân Trần Hưng Đạo biết dẹp mối thù ríéng trong gia đìrih để làm việc lớn Tấm lòng sắt son với nước, ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc đến cùng của mỗi người anh hùng trong sự nghiệp quang vinh đã được nghìn đời sau khâm phục và ca ngợi

Trang 34

Niềm tự hào dân tộc trong những thiên truyền thuyết đời sau gắn liền

với việc ca ngợi người anh hùng như những nhân vật đẹp một cách phi

thường và hoàn hảo Mặc dù truyền thuyết đời sau không mô tả người

anh hùng vói kích thước khổng lồ như Thánh Gióng nhưng mỗi người anh hùng đểu có nét phi thường Ở đây, phi thường cũng có nghĩa là kỳ lạ Trưóc hết là sức khoẻ hơn người, sau nữa là sự kỳ hình dị dạng (Bà Triệu

vú dài ba thước, mỗi lần ra trận Bà phải buộc vú quặt lại đằng sau) Nhưng vẻ đẹp và phi thường được thể hiện rõ hơn cả qua hành động nơi chiến trận Nếu như Thánh Gióng một mình một ngựa tung hoành giữa đám loạn quân thì những thiên truyền thuyết đời sau cũng mô tả dược các cuộc giao tranh mang đậm màu sắc hoành tráng sử thi Vì vậy, truyền thuyết đòi sau vẫn tạo ra được cho người đọc, người nghe niềm hào hứng dầy thi vị Hình ảnh Bà Triệu cưỡi voi ra trận thật tuyệt vời.Truyền thuyết

kể rằng, Bà cưỡi voi, đi guốc ngà, chít khăn vàng, mặc áo giáp vàng, cầm gươm sáng loáng Voi trắng cùng Bà bay trên đầu quân giặc Quân Ngô trông thấy mà khiếp vía, kinh hồn Tính chất sử thi trong truyền thuyết còn thể hiện ở mối quan hệ giữa người anh hùng với tập thể (cụ thể là với dân tộc và nhân dân) Trong truyền thuyết cổ đại, người anh hùng chính

là hiện thân của tập thể nhân dân Ở các nhân vật Thánh Gióng, Sơn Tinh, Hùng Vương, An Dương Vương có sự thống nhất cao độ giữa cá nhân và tập thể hay nói cách khác, không có sự phân biệt cá nhân và tập thể Họ chính là bộ lạc, là nhân dân, là dân tộc Đây là một thời kỳ mà theo cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên “Đất nước có chung tâm hổn, có chung khuôn mặt” Tính chất khái quát của hình tượng người anh hùng là một đặc điểm quan trọng của truyền thuyết thời kỳ cổ đại Còn trong truyển thuyết đời sau, cá nhân người anh hùng hiện ra như một thực thể độc lập Tuy vậy, ở đây không có sự đối lập giữa cá nhân và tập thể Người anh hùng đã tìm thấy sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân Nhân dân “đứng ngoài” người anh hùng nhưng nhân dân đã chấp nhận người anh hùng như

là đại diện chân chính của mình Người anh hùng cứu nước và giữ nước là

iý tưởng của một thời đại và đồng thời là lý tưởng của dân tộc qua mọi thời đại Nhân dân khi xây dựng hình tượng này, đã gửi vào đó cả niềm

tin và cả ước mơ, cả tấm lòng thành kính và khâm phục Vì vậy, ngoài các câu chuyện truyền miệng, nhân dân khắp nơi thờ các vị anh hùng như

những bậc thần linh Người anh hùng không bao giờ chết trong lòng dân

Trang 35

tộc Nếu như truyền thuyết cổ đại đã mô tả Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, từ đỉnh núi Sóc Sơn bay lên trời, An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, rẽ nước xuống thuỷ cung thì truyền thuyết đời sau cũng đã kể về sự hoá thân của các vị anh hùng dân tộc Hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị đang đêm về trời; Bà Triệu lên núi Hy Sơn hoá thành luồng hào quang sáng rực, quyện với thanh gươm, bay vụt lên trời; Phùng Hưng sau khi mất thường hiện hình trong đám dân quê, nghìn xe vạn ngựa b"ay trên khoảng ngọn cây nóc nhà Những người anh hùng bất tử đã làm nên hào khí anh lỉnh trên dải đất từng mang những cái tên bất tử: Văn Lang, ÂI Lạc, Vạn Xuân, Đại Việt, luôn luôn phù trợ cho con cháu đánh thắng kẻ thù, xây dựng non sông gấm vóc.

Truyền thuyết về các vị anh hùng cứu nước và giữ nước là nguồn tài liệu vô cùng phong phú, lấp chỗ trống cho lịch sử hàng nghìn năm đô hộ của phong kiến nước ngoài Đời sau, khi viết lại lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc, các sử gia không thể không dựa vào trí nhớ của nhân dân, những người anh hùng dã được nhân dân nhận thức và đánh giá trên một quan điểm hoàn toàn đúng đắn, khác hẳn với quan niệm của giai cấp phong kiến cho ngưòi anh hùng như là đại diện của một giai cấp, một dòng họ làm theo mệnh trời, giữ yên ngôi báu hoặc tô vẽ người anh hùng như là tấm gương tận tụy với triều đình Truyền thuyết đã góp phần khẳng định lại công lao của người anh hùng ưong sự nghiệp dấu tranh chung của toàn dân tộc

b Truyền thuyết dân gian phản ánh tinh thần dân chủ của nhân dân trong lịch sử dân tộc

Tinh thần dân chủ được phản ánh khá đậm nét trong những thiên truyền thuyết muộn nói về ngưòi anh hùng nông dân khởi nghĩa Những thiên truyền thuyết muộn có thể xuất hiện khoảng từ thế kỷ XVI, xvn và đặc biệt vào các thế kỷ xvin, XIX Vì sao tinh thần dân chủ không được thể hiện trong truyền thuyết thời cổ đại và Bắc thuộc ? Tinh thần dân chủ chỉ có thể là sản phẩm của một thòi đại mà trong dó mâu thuẫn giai cấp đã trở nên vô cùng sâu sắc, quyền sống con người bị vi phạm một cách triệt để nhất và chính bản thân nhân dân - tác giả của nhũng thiên truyền thuyết này

- đã nhận thức được thực trạng xã hội, nhận thức được con đường đấu tranh của mình Do vậý, ở những thế kỷ nêu trên - có thể gọi bằng một cái tên là những thế kỷ nông dân khởi nghĩa - truyền thuyết dân gian bám sát lịch sử

Trang 36

theo một phương diện khác: không phải phương diện bảo vệ đất nước mà là phương diện chống áp bức, bóc lột Tinh thần dân chủ không nằm trong phạm trù dân tộc mà nằm ừong phạm trù giai cấp Truyền thuyết về người anh hùng nông dân khởi nghĩa đã phản ánh những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc ứong xã hội ở thời kỳ chế độ phong kiến đang suy tàn.

Truyền thuyết về người anh hùng dân tộc chống xâm lăng đã ưu tiên

mô tả sự xuất thân từ cuộc đời bình thường của các nhân vật nhưng chưa nhấn mạnh khía cạnh lam lũ, cơ cực của cuộc đòi ấy Truyền thuyết về người anh hùng nông dân khỏi nghĩa đã nhấn mạnh được khía cạnh này

Có bao nhiêu cuộc đòd người anh hùng thì có bấy nhiêu cuộc đời lao khổ: Nguyên Hữu Cầu, Chàng Lra, lúc đầu là những đứa trẻ mồ côi, đi ở Hầu Tạo xuất thân từ một chàng trai lang thang, nay đây, mai đó; Nguyễn Hựu

Khôi làm nghề chở đò ngang Họ là những con người tiêu biểu cho nỗi

thống khổ của người nông dân trong ch ế độ phong kiến Truyền thuyết

dân gian đã có điểm gặp gỡ với truyện cổ tích, đã diễn tả được sự tự nhận

thức của nhân vật về số phận bỉ thảm của mình và thực trạng x ã hội Ở

đây, nhận thức của người anh hùng nông dân chưa phải là một sự giác ngộ giai cáp triệt để, song dù sao, nhận thức ấy cũng đã sâu sắc đến mức

họ thấy cần phải thay đổi cuộc đci, đạp đổ mọi bất công ngang trái, san

bằng tình trạng giàu nghèo trong xã hội Như vậy, nhận thức của người

anh hùng nông dân không chỉ dừng lại ở những quan niệm đạo đức mà con tiến tới những vấn đề giai cấp và chính trị Vì thế, từ nhận thức, người anh hùng không ngồi mơ ước về sự thay đổi của cuộc sống mà đi tới hành động quyết liệt Cuộc đấu tranh mà họ tiến hành được mô tả trong truyền thuyết không phải là kết quả của trí tưởng tựợng, của khát vọng vươn tới tương lai mà là hiện thực họ đang trực diên chống lại kẻ thù giai cấp Đây

là biểu hiện cao nhất của yêu cầu chính trị đối với người nông dân là thái

độ tích cực nhất của con người trước cuộc sống

Một sự đánh giá như vậy không phải là quá cao đối với những thiên truyền thuyết về khởi nghĩa nông dân Nhưng điều làm chúng ta phải ngạc nhiên là vì sao cũng trong thòi đại ấy, truyện cổ tích lại không có cái nhìn thực tế như truyền thuyết, mặc dù cả hai thể loại đều do chính những người nông dân sáng tạo nên ? Có lẽ vấn đề phải được quy về ý thức sáng tác và tư duy nghệ thuật Trước hết, thời kỳ phát triển sau của văn học dân gian là thời kỳ sáng tác tự giác của tập thể nhân dân Tác phẩm văn học dân

Trang 37

gian không còn là một thứ “nghệ thuật vô ý thức” như thần thoại hoặc truyền thuyết buổi đầu mà là thứ “nghệ thuật có chủ định” Chính vì thặ quá trình sáng tác và tư duy nghệ thuật phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Còn truyện cổ tích lại là một kiểu “chủ nghĩa hiện thực” dân gian nên trong vẫn “phiêu diêu nơi mộng ảo” thì truyền thuyết nhìn cuộc đời “sáng

rõ như ban ngày” Tất nhiên trong thời kỳ này, truyện cổ tích cũng có sự chuyển biến về nguyên tắc nghệ thuật: truyện cổ tích thần kỳ dần dần đã được thay thế bằng truyện cổ tích sinh hoạt

Trở lại với vấn đề nhận thức cuộc sống của người nông dân, chúng ta cần khẳng định thêm một điều: âm điệu phê phán xã hội nổi bật trong những thiên truyền thuyết được thể hiện song song cùng với âm điệu ngợi

ca những người anh hùng áo vải (nông dân khởi nghĩa) Tuy vậy, sự ngợi

ca có khác so với sự ngợi ca những ngưòi anh hùng dân tộc chống xâm lăng trước đây

Nếu như hình tượng người anh hùng dân tộc chống xâm lược giữ nước hoặc cứu nước hoàn hảo ngay từ đầu thì hình tượng người anh hùng nông dân khởi nghĩa lại không như vậy mà được hoàn thiện dần dần về nhân cách Hành động của người anh hùng có thể lúc đầu chưa đi đúng hướng: có khi là sự liểu lĩnh do nhu cầu cấp thiết của đòi sống (Hầu Tạo

vì thương mẹ, đi ăn trộm mà bị bắt; Ba Vành vì rạch mồm bà chủ ngoa ngoắt mà bị truy lùng ), có khi là một sự lầm lạc (chàng Lía chạy lên rừng làm một kẻ lục lâm) v.v Nhưng, cùng với nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về những vấn dề xã hội, hành động của người anh hùng ngày càng trở nên đúng đắn hơn Trước tiên, phải kể đến những hành dộng nghĩa hiệp: lấy của người giàu chia cho người nghèo (Nam Cường mỗi lần đánh bạc, thường thắng lớn, nhiều khi vét hết tiền của cả bàn Nhưng không mấy khi ông đưa về nhà mà phân phát ngay cho những người nghèo ở chợ); hoặc trả thù cho những ngưcd nghèo (chàng Lía tìm đánh

vỡ đầu tên chánh tổng để trả thù cho một người nồng dân vừa bị hắn cướp đoạt gia sản) Đỉnh cao quyết liệt trong hành động của người anh hùng là tuyên chiến với các thế lực phong kiến thống trị, kể cả với triều đình trung ương tập quyền Những người anh hùng đã nhiều phen làm nghiêng ngả cả xã hội phong kiến, bè lũ vua quan phải run sợ trước sức mạng “đội trời, đạp đất” của họ Truyền thuyết dân gian về người anh hùng nông dân khởi nghĩa đã để lại cho hậu thế những trang viết vô cùng sảng khoái

Trang 38

Cuộc đời chiến đấu của người anh hùng nông dân tuy ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa: lý tưởng nghìn đời của người nông dân là tự do, bình đăng

đã có dịp được thực hiện trong cuộc sống.

Như trên đã nói, truyền thuyết về người anh hùng nông dân khởi nghĩa mang cả âm điệu phê phán và ca ngợi: phê phán xã hội và ca ngợi người anh hùng Nhưng ngay cả khi kể về người anh hùng, truyền thuyết cũng không chỉ ca ngợi một chiều mà còn phê phán khá sâu sắc Đây là cách đánh giá rất khách quan, thể hiện quan điểm chính trị đúng đắn của người lao động với tư cách là tác giả của vãn học dân gian Truyền thuyết

đã thể hiện khá rõ những nét hạn chê thuộc về bản chất của người anh

hùng nông dân khởi nghĩa.

Trước hết, về phương diện đạo đức, người anh hùng nông dân chưa vượt khỏi ranh giới quy định của lễ giáo phong kiến Có khi chỉ vì chút ân nghĩa cá nhân mà người anh hùng bị lầm đường, lạc lối (Nguyễn Hưu Khôi vì được Lê Văn Duyệt tha tội chết mà trở thành một thủ hạ đắc lực của y); cũng có khi vì chữ hiếu mà người anh hùng từ bỏ toàn bộ sự nghiệp chính trị của mình (khi mẹ bị bắt làm con tin, Hầu Tạo nói: “Đạo trời chỉ có cha mẹ là lớn nhất Ta một đời chưa một lần nào làm cho mẹ sung sướng Nay ta ngựa cưỡi dù che mà để mẹ chết một cách oan khốc thì sống cũng bằng thừa”) Những quan điểm đó đã bộc lộ sự thiển cận của người anh hùng nông dân Họ chưa thấy được rằng, lúc ấy họ không còn là của riêng cá nhân và gia dinh mình nữa mà đã trở thành của nhân dân và lịch sử

Trong quá trình chiến đấu, người anh hùng nông dân cũng để lộ những nhược điểm khá lớn: thích phiêu lưu, mạo hiểm, chủ quan, khinh địch; tham tiền, tham sắc v.v

Chàng Lía, sau khi chiếm được thành, đã cho người vơ vét của cải và chiếm luôn người vợ đẹp của viên quan giữ thành dã bị giết làm vợ mình Mang nặng mối thù, người phụ nữ xinh đẹp kia đã làm nội ứng khi quân triều đình đánh vào

Ba Vành có tài nhảy cao và nhảy xa, đã nhiều lần bị vây bắt nhưng vẫn thoát ra một cách nhẹ nhàng Do đó, ông gần như không thèm lẩn trốn, đợi quân triều đình tiến sát đến nơi mới trổ tài bay nhảy Song, một lần không may, ông nhảy đúng bụi cây, vướng gai không ra được, đành chịu trói

Trang 39

Đó là những nguyên nhân dẫn người anh hùng nông dân đến bi kịch đầy đau thương Với tâm trạng của người anh hùng thất thế, Lía đã tự cưa

cổ mình, để cho ông già gánh củi chặt lấy đầu nộp quan lĩnh thưởng Ngày Hầu Tạo rơi đầu dưới lưỡi gươm đao phủ là một ngày rất buồn đối với người dân xứ Nghệ Những trang sử oai hùng đã nhuốm đầy máu và nước mắt Nếu như người anh hùng chống xâm lược nhiều khi làm nên chiến thắng vẹn toàn thì người anh hùng nông dân khởi nghĩa phần lớn lại

là những người anh hùng chiến bại

Ngoài giá trị nghệ thuật, truyền thuyết về người anh hùng nông dân khởi nghĩa còn là nguồn tài liệu lịch sử vô cùng quý báu cho đời sau Khi chính sử của nhà nước phong kiến, thực dân cố tình bóp méo, xuyên tạc, bôi nhọ những cuộc khcri nghĩa và những lãnh tụ của nghĩa quân thì truyền thuyết đã đánh giá lại những nhân vật và sự kiện này với cách nhìn khách quan, trung thực, tỉnh táo Tuy nhiên, nhân dân, trước sau như một, vẫn dành cho những người anh hùng áo vải “tâm tình thiết tha của mình” Những trang truyền thuyết triu nặng lòng yêu mến, cảm thông Người anh hùng áo vải đáng trách mà không đáng chê, đáng phê bình mà không đáng mỉa mai, châm biếm Tác giả dân gian như gửi vào hình tượng nỗi xót xa ân hận của một đời, của một thời đã qua với lòng kính cẩn những con người đem thân đền nợ nước trả thù nhà Dù họ có mắc sai lầm thì tiếng thơm vẫn là muôn thủa

HƯỚNG DẪN T ự HỌC

I- Tài liệu tham khảo

1 Truyền thuyết Hùng Vương (Nguyễn Khắc Xương biên soạn và

giới thiệu) Chi hội Văn nghệ dân gian Vĩnh Phú xuất bản, 1974

2 Truyền thuyết Sơn tinh (Hà Kỉnh, Đoàn Công Hoạt sưu tầm;

Đinh Gia Khánh viết lời bạt) Ty Vãn hoá Hà Tây xuất bản, 1975

3 Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 5,

NXB Khoa học xã hội, H., 1974-1982 Tìm đọc những truyện về khcri nghĩa nông dân

Trang 40

II- Kiến thức cơ bản cần lưu ý

1 Truyền thuyết khác thần thoại ở chỗ: lấy con người làm nhân vật trung tâm, lấy lịch sử làm đối tượng phản ánh Vì vậy, truyền thuyết gần với sự thật hơn, là sự thật "lớn" (các sự kiện hoặc biến cố lịch sử)

2 Truyền thuyết được chia làm hai thời kỳ Thời kỳ đầu, truyền thuyết thường nói về các vị anh hùng dân tộc chống ngoại xâm (gắn với niềm tự hào dân tộc và thái độ tôn kính, ngợi ca) Các vị anh hùng đều trở thành bất tử (hoá thánh)

3. Thời kỳ sau (khoảng thế kỷ xvm trở đi), truyền thuyết thường nói về các vị anh hùng nông dân khởi nghĩa (mang âm điệu ca ngợi lẫn phê phán) Nhân vật anh hùng nông dân được thể hiện đa dạng hơn

III- Câu hỏi

1 Truyền thuyết phản ánh sự thât lịch sử như th ế nào ?

Gợi ý trả lời

- Giai đoạn đầu, sự thật lịch sử chỉ là "cái lõi"

- Càng về sau lịch sử càng thể hiện ra rõ rệt hơn Nhưng truyền thuyết không bao giờ là sự thật lịch sử một trăm phẫn trăm Trong bất kỳ trường hợp nào, truyền thuyết cũng có sự thêu dệt (kỳ ảo hoá hoặc bịa đặt thêm chi tiết để tâng phần hấp dẫn)

2 Hãy nói về đặc trưng của truyền thuyết.

Gợi ỷ trả lời

- Nhân vật trung tâm là con người nhưng là con người liên quan đến lịch sử (những con người nổi tiếng về tài năng, đức độ hoặc có công với dân với nước)

- Truyền thuyết nói về những cái đã diễn ra (quá khứ) chứ không nói

về tương lai

3 Niềm tự hào dân tộc được thể hiện qua truyền thuyết như thế nào ? Gợi ý trả lời

- Tự hào về dòng dõi con Lạc cháu Hồng

- Tự hào về những chiến công chinh phục thiên nhiên, mở mang bờ cõi

- Tự hào về những chiến công chống ngoại xâm

- Tự hào về những người anh hùng bất tử

Ngày đăng: 10/11/2023, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w