1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho hs học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường thpt

24 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Viết Đoạn Văn Nghị Luận Cho HS Học Sinh Qua Tổ Chức Hoạt Động Viết Kết Nối Trong Dạy Đọc Văn Bản Thơ Trữ Tình Trung Đại Lớp 10
Trường học Trường THPT
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc chọn phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT vừa giúp cho việ

Trang 1

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 2

MỤC LỤC

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

2 PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 4

2.1.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 8

2.2 Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho HS qua hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT 11

2.2.1 Nguyên tắc phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường trung học phổ thông 11

2.2.2 Biện pháp, cách thức phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua hoạt động viết kết nói trong dạy đọc văn bản trữ tình trung đại lớp 10 ở trường trung học phổ thông 15

PHẦN 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 27

3.1 Mục đích thực nghiệm 27

3.2 Tổ chức thực nghiệm 27

3.3 Phương pháp thực hiện 27

3.4 Thiết kế giáo án dạy học thực nghiệm 28

3.5 Kết quả thực nghiệm 41

3.6 Nhận xét kết quả thực nghiệm 41

PHẦN 4 KẾT LUẬN 44

1 Quá trình nghiên cứu 44

2 Ý nghĩa của đề tài 44

3 Phạm vi ứng dụng 44

4 Hướng phát triển của đề tài 45

5 Đề xuất, kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC

Trang 3

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

1.1 CT GDPT, CT tổng thể (Khung chương trình) cùng với các

CT môn học, hoạt động giáo dục đã được ban hành kèm theo thông tư

số 32/2018/TTBGDĐT, trong đó có CT GDPT môn Ngữ Văn 2018 Một trong những quan điểm xây dựng Chương trình GDPT Ngữ Văn mới là “lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học… Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe” Chính vì vậy, việc chọn phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT vừa giúp cho việc tích hợp tốt, vừa thể hiện rõ đặc điểm chương trình phát triển năng lực là không lấy việc trang bị kiến thức làm mục tiêu giáo dục

1.2 Mặt khác, mục tiêu phát triển năng lực viết ở cấp THPT của CT Ngữ Văn 2018 là viết thành thạo các kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh tổng hợp đúng quy trình, có chủ kiến, đảm bảo logic và có sức thuyết phục Trong đó, phát triển năng lực viết đoạn văn bản nghị luận, văn bản nghị luận được đặt ra xuyên suốt cả cấp học

1.3 Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở trường phổ thông, chúng tôi không thể đứng ngoài cuộc Do vậy, việc lựa chọn nghiên cứu một vấn đề liên quan đến CT 2018 của chúng tôi có thể xem

là sự chuẩn bị cần thiết, tất yếu cho việc thực hiện dạy học CT mới ở cấp THPT vào năm 2022

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho HS học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm

2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học, sáng kiến đề xuất nguyên tắc, biện pháp phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo định hướng Chương trình GDPT môn Ngữ Văn 2018

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo định hướng CT GDPT môn Ngữ Văn 2018

- Xác định những nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo định hướng CT GDPT Ngữ Văn 2018

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài sáng kiến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Các nguyên tắc, biện pháp phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT

- Bài lên lớp nội khóa là Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Độc Tiểu Thanh kí của nguyễn Du, sách giáo khoa Ngữ văn 10

- Học sinh lớp 10, trường THPT Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ

An

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận, nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp thống kê toán học

- Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để thu thập những dữ liệu cần thiết về tổ chức các hoạt động đọc kết nối trong dạy đọc văn bản nói chung, văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường phổ thông nói riêng

- Dùng phương pháp thực nghiệm để nắm bắt và đánh giá tính khoa học, tính khả thi của hệ thống nguyên tắc, biện pháp được đề xuất trong sáng kiến về vấn đề phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo định hướng CT GDPT môn Ngữ Văn 2018

6 Tổng quan và điểm mới trong kết quả nghiên cứu

- Trong những năm gần đây, việc dạy học phát triển năng lực đã được chú trọng thực hiện ở môn Ngữ Văn Tuy nhiên, việc phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT chưa được chú ý, nếu có chỉ là đơn lẻ,

Trang 5

hướng của CT GDPT môn Ngữ văn 2018 Từ thực tế đó, đề tài đã đổi mới các cách thức, phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho

HS qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo định hướng CT Ngữ Văn 2018

- Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thức được rằng để phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận học sinh, giáo viên cần đổi mới mạnh mẽ việc thiết kế kế hoạch bài dạy, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá Vì vậy đề tài

đã đưa ra nguyên tắc, biện pháp phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường THPT theo hướng mới, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cần đạt của CT GDPT

- CT tổng thể 2018 nói chung và CT GDPT môn Ngữ Văn 2018 nói riêng

Trang 6

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

2.1.1 Cơ sở lí luận

2.1.1.1 Khái niệm thơ và thơ trữ tình

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ là “hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [tr.309] Từ điển còn nhấn mạnh: “thiên

về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng

cơ bản của thơ”

Thơ là loại hình văn học xuất hiện sớm nhất của văn học, các hình thức văn học ban đầu như sử thi, kịch, thơ trữ tình đều là thơ ca, tức là ngôn từ có nhịp điệu

Vì vậy, ban đầu, thuật ngữ thơ được dùng để chỉ văn học nói chung Nhưng về sau, thuật ngữ này được dùng để chỉ các loại thơ thuộc loại trữ tình, trong đó, cảm xúc

và suy tư của nhà thơ, của nhân vật trữ tình được thể hiện một cách trực tiếp

Sách giáo khoa Ngữ Văn 10, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống cũng nêu: Thơ là hình thức tổ chức ngôn từ đặc biệt, tuân theo một mô hình thi luật hoặc nhịp điệu nhất định Mô hình này làm nổi bật mối quan hệ giữa âm điệu và ý nghĩa của ngôn từ thơ ca Với hình thức ngôn từ như thế, thơ có khả năng diễn tả những tình cảm mãnh liệt hoặc những ấn tượng, xúc động tinh tế của con người trước thế giới

Thơ trữ tình là loại tác phẩm thơ thường có dung lượng nhỏ, thể hiện trực tiếp cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình

Tiếp thu các ý kiến trên chúng tôi nhận thấy thơ trữ tình là loại văn bản thường

có dung lượng nhỏ, thể hiện trực tiếp cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu

Thơ trữ tình có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: Nhân vật trữ tình còn gọi là chủ thể trữ tình là người trực tiếp bộc

lộ rung động và tình cảm trong bài thơ trước một khung cảnh hoặc sự tình nào đó Nhân vật trữ tình có mối liên hệ mật thiết với tác giả song không hoàn toàn đồng nhất với tác giả

Thứ hai: Hình ảnh thơ là các sự vật, hiện tượng, trạng thái đời sống được tái tạo một cách cụ thể sống động bằng ngôn từ, khơi dậy cảm giác (đặc biệt là những

ấn tượng thị giác) cũng như gợi ra những ý nghĩa tinh thần nhất định đối với người đọc

Trang 7

Thứ ba: Vần thơ, nhịp điệu, nhạc điệu, đối, thi luật, thể thơ

Vần thơ là sự cộng hưởng, hòa âm theo quy luật giữa một số âm tiết trong hay cuối dòng thơ Vần có chức năng liên kết các dòng thơ và góp phần tạo nên nhạc điệu, nhịp điệu cũng như giọng điệu của bài thơ

Nhịp điệu là những điểm ngắt hay ngừng theo chu kì nhất định trên văn bản

do tác giả chủ động bố trí Nhịp điệu chứa đựng sự lặp lại có biến đổi cảu các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh nhằm gợi ra cảm giác về sự vận động của sự sống và thể hiện cảm nhận thẩm mĩ về thế giới

Nhạc điệu là cách thức tổ chức các yếu tố âm thanh của ngôn từ để lời văn gợi

ra cảm giác về âm nhạc (âm hưởng, nhịp điệu) Trong thơ, những phương thức cơ bản để tạo nhạc điệu là gieo vần, ngắt nhịp, điệp, phối hợp thanh điệu bằng trắc,…

Đối là cách thức tổ chức lời văn thành hai vế cân xứng và song đôi với nhau

cả về ý và lời Căn cứ vào sự thuận chiều hay tương phản về ý và lời, có thể chia đối thành hai loại: đối cân (thuận chiều) và đối chọi (tương phản)

Thi luật là toàn bộ những quy tắc tổ chức ngôn từ trong thơ như: gieo vần, ngắt nhịp, hòa thanh, đối, phân bố số tiếng trong một dòng thơ, số dòng trong cả bài thơ,…

Thể thơ là sự thống nhất giữa mô hình thi luật và loại hình nội dung của tác phẩm thơ Các thể thơ được hình thành và duy trì sự ổn định của chúngtrong quá trình phát triển của lịch sử văn học

2.1.1.2 Khái niệm văn bản nghị luận

Từ điển tiếng Việt cho rằng: Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ vấn đề nào

đó Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ, phân tích, giải quyết vấn đề [16, tr.678]

SGK Ngữ văn 11 định nghĩa: “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng

lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức ) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần được giải đáp, cần được làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh,… văn nghị luận tác động vào lí trí, nhận thức và cả tâm hồn người đọc, giúp họ hiểu

rõ vấn đề đã nêu ra [3]

Văn nghị luận ngoài yếu tố trình bày, diễn giải, ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp còn có yếu tố tranh luận Do đó, ngôn ngữ trong văn nghị luận cũng giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm, nhưng quan trọng nhất là phải “dùng từ với một sự

Trang 8

chính xác nghiệt ngã” (M.Go-rơ-ki) Ngôn ngữ văn nghị luận mang tính xã hội và tính học thuật cao.” [4, tr.110]

Tiếp thu các ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy văn bản nghị luận là loại văn bản dùng lí lẽ và dẫn chứng để bàn bạc về một vấn đề nhất định trong đời sống (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức ), nhằm tác động người đọc (người nghe) cả về mặt lí trí lẫn tình cảm, chia sẻ với người đọc (người nghe) quan điểm, lập trường, niềm tin của mình về vấn đề, thuyết phục họ có thái độ, niềm tin và hành động đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề nghị luận

Văn bản nghị luận có những đặc trưng cơ bản sau:

Văn nghị luận luôn hướng đến đích cuối cùng là thuyết phục người đọc (người nghe) cùng chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình về vấn đề nghị luận, làm cho người đọc (người nghe) tin và có thái độ, hành động đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề Điều này cho thấy tính thuyết phục là đặc trưng cơ bản của VBNL Như một kết quả tất yếu của tính thuyết phục, VBNL không chỉ tác động đến người đọc/người nghe về mặt lí trí mà còn tác động đến cả mặt tình cảm, nên VBNL còn có các đặc trưng:

Vấn đề nghị luận mới mẻ, độc đáo, thể hiện những tư tưởng, lí tưởng cao đẹp của con người, đó có thể là tư tưởng chính nghĩa, quan điểm nhân văn, lập trường cách mạng,…

Lập luận chặt chẽ, sắc bén, luận cứ xác thực kết hợp lời văn chính xác, có sức lôi cuốn Văn nghị luận tùy theo sở thích của tác giả cũng thường sử dụng hình ảnh

ẩn dụ, so sánh, liên tưởng làm cho tư tưởng mềm mại gợi cảm hoặc hóm hỉnh Văn nghị luận cũng có thể mang yếu tố trữ tình, tác giả nghị luận trực tiếp bộc bạch nỗi lòng mình bằng những lời tâm huyết, gan ruột

Những tình cảm lớn, tình cảm chính nghĩa thấm đẫm trong tư tưởng của bài văn nghị luận cũng trở thành mạch chìm trong văn bản Thiếu tình cảm văn nghị luận trở nên khô khan, dùng lí lẽ có hay cũng khó lay động được trái tim của con người Đây là biểu hiện của sự thấu tình đạt lí trong văn nghị luận Những tình cảm lớn ấy có thể là tình yêu chân lí, yêu chính nghĩa hoặc yêu đất nước, yêu nhân dân, tình yêu con người

Đoạn văn nghị luận là một bộ phận của văn bản nghị luận nên cũng mang đầy

đủ đặc trưng cơ bản của thể loại nghị luận, ngoài ra cần đáp ứng các yêu cầu của một đoạn văn: thể hiện rõ ràng và mạch lạc chủ đề, thông tin chính; phù hợp với yêu cầu

về kiểu, loại nghị luận; Có câu mở đầu, các câu triển khai, câu kết thúc; các câu trong đoạn liên kết với nhau

Trang 9

2.1.1.3 Khái niệm năng lực và dạy học phát triển năng lực

Khái niệm năng lực (competency): được hiểu là sự kết hợp một cách linh hoạt

và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó [8]

CT GDPT năm 2018 giải thích khái niệm năng lực như sau: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ

Dạy học phát triển NL nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Dạy học phát triển NL nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức Khác với dạy học định hướng nội dung, dạy học phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy học Việc quản lí chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển đầu vào sang điều khiển đầu ra tức là kết quả học tập của người học

2.1.1.4 Khái niệm năng lực viết trong dạy học môn Ngữ Văn

Viết trong dạy học môn Ngữ Văn, theo diễn giải của CT mới là kĩ năng tạo lập

VB gồm: kĩ thuật viết và viết câu, đoạn, văn bản Viết câu, đoạn, văn bản gồm: các

Trang 10

yêu cầu về quy trình tạo lập văn bản và thực hành viết theo đặc điểm của các kiểu văn bản [11, tr.13] Dạy viết trong môn Ngữ Văn là hình thành và phát triển kĩ năng tạo lập các kiểu VB theo quy trình và đặc điểm thể loại VB

Như vậy, năng lực viết có thể hiểu là người học có khả năng viết một cách độc lập khi được yêu cầu thực hiện và bài viết thể hiện đầy đủ các tiêu chí của một bài viết sáng tạo; khả năng nhận biết được ích lợi của việc viết; nhận biết khi nào thì cần viết và viết như thế nào để giải quyết được vấn đề; người đọc sẽ có nhận thức, thái

độ, hành động như người viết mong muốn

Trên đây là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài sáng kiến

a Về phía giáo viên

Khi được hỏi điều GV chú trọng nhất khi dạy đọc VB là gì, có 60% GV cho rằng cung cấp kiến thức, kĩ năng, thái độ qua bài học, 36% GV được hỏi cho rằng

đó là dạy cho HS biết cách đọc VB trong sách giáo khoa và có 4% hướng đến dạy

HS cách tự đọc các văn bản cùng thể loại ngoài CT Các số liệu này cho thấy, quan niệm của GV về giờ dạy đọc VB ở trường THPT chủ yếu vẫn nặng về cung cấp kiến thức, một số ít GV nhận thấy cần dạy HS đọc VB theo đặc trưng kiểu loại và dạy HS cách tự đọc VB theo đặc trưng kiểu loại

Cũng như thế khi được hỏi về phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh trong giờ dạy đọc môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông, có 12% GV trả lời không tổ chức cho HS viết trong giờ dạy đọc VB, có 88% GV trả lời thỉnh thoảng và hình thức chủ yếu là giao nhiệm vụ về nhà cho HS Lí do của việc không

tổ chức hoạt động viết trong giờ dạy đọc VB hoặc giao nhiệm vụ về nhà được 28%

GV cho là do thời gian eo hẹp và có 72% GV cho rằng việc dạy viết đã được tổ chức trong các giờ tập làm văn nên không nhất thiết phải tổ chức trong giờ dạy đọc VB chiếm Để kiểm tra việc HS viết hay không, có 20% GV thu bài và chấm, 60% GV chọn cách kiểm tra lồng vào hỏi bài cũ tiết dạy sau và cho điểm, 12% GV không kiểm tra Và quy trình tổ chức hoạt động viết đoạn cho HS chủ yếu được GV lựa chọn là ra câu hỏi và dặn HS viết đoạn

Trang 11

Điều này cho chúng ta thấy, hầu như các GV chưa nhận thức thật đầy đủ sự cần thiết của phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong giờ dạy đọc VB ở trường THPT Các GV vẫn nặng về tổ chức giờ dạy học cung cấp kiến thức cho HS, chưa hướng đến phát triển năng lực viết trong giờ dạy đọc VB

Từ những số liệu trên, chúng tôi thấy rằng, đa số HS viết đoạn còn bản năng, phần lớn HS không phân tích đề hoặc xác định vấn đề trước khi viết đoạn, chưa chú

ý đến việc xác định nguồn tư liệu để viết dẫn đến hạn chế trong việc trích dẫn dẫn chứng khi viết đoạn, chưa huy động được những kiến thức, kinh nghiệm các em đã

có qua giờ đọc hiểu văn bản chẳng hạn như vốn từ, cách sử dụng các biện pháp tu từ trong diễn đạt,… Việc HS chưa chú ý đến lựa chọn hình thức đoạn văn, tìm ý, phác thảo dàn ý cho đoạn văn nghị luận sẽ viết không chỉ ảnh hưởng đến khâu sắp xếp các câu văn hợp lí, khó khăn trong chuyển tải nội dung cũng như tạo liên kết giữa các câu trong đoạn mà còn hạn chế trong việc Những hạn chế trên dẫn đến nhiều

HS chưa chủ động, tích cực, thậm chí không hứng thú khi được giao nhiệm vụ viết đoạn nghị luận

2.1.2.2 Thực trạng phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho học sinh qua hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình lớp 10 ở trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện thị xã Thái Hòa, Nghệ An

Theo lộ trình của CT GDPT tổng thể năm 2018, đến năm học 2022 – 2023,

CT môn Ngữ văn mới được thực thi ở lớp 10 THPT Thế nên, việc tổ chức hoạt động viết trong giờ dạy đọc VB thơ trữ tình trung đại lớp 10 hiện nay ở các trường THPT trên địa bàn huyện thị xã Thái Hòa, Nghệ An vẫn chưa được thực hiện (ngoại trừ những giờ học mang tính thực nghiệm) Hoạt động được tổ chức chủ yếu trong giờ dạy học VB trơ trữ tình trung đại lớp 10 vẫn là hoạt động đọc GV bên cạnh tập trung dạy nội dung, trang bị kiến thức cho HS cũng đã chú trọng dạy kĩ năng đọc hiểu VB

Trang 12

thơ trữ tình trung đại ở lớp 10 theo đặc trưng thể loại, một số ít GV đã quan tâm đến dạy phương pháp tư duy để HS có thể tự đọc VB cùng kiểu loại

Hoạt động dạy viết kết nối đọc cơ bản không được tiến hành trên lớp Thường thì GV ra một đề bài nghị luận yêu cầu HS hoàn thành ở nhà và GV có thể kiểm tra bằng cách hỏi bài cũ hoặc có thể không kiểm tra HS không được GV tổ chức hướng dẫn viết đoạn văn bản nghị luận sau khi đọc văn bản Việc dạy viết đoạn văn nghị luận thường được tổ chức riêng rẽ trong các giờ dạy học làm văn Quy trình dạy các tiết học này thường được thực hiện theo các bước: cung cấp lí thuyết, tổ chức cho

HS luyện tập giải đề và yêu cầu HS viết bài kiểm tra để chấm điểm

Việc tổ chức tiết dạy viết trên cho chúng ta thấy những hạn chế nhất định: dạy viết tách rời khỏi hoạt động đọc khá xa, do đó HS không có cơ hội vận dụng, tích hợp kiến thức nền trong giờ dạy đọc VB Không những thế, giờ dạy lí thuyết thường bị biến thành giờ cung cấp dàn ý cho các đề mẫu hơn là dạy kĩ năng tạo lập đoạn văn, văn bản Đến tiết thực hành, HS ít được luyện tập các thao tác tạo lập đoạn văn đã được học trong giờ lí thuyết, hơn nữa giờ luyện tập chỉ chiếm lượng thời gian rất hạn hẹp nên trong quá trình luyện tập, HS hầu như không được GV phản hồi, nhận xét và hướng dẫn HS/nhóm HS tự nhận xét và chỉnh sửa bản nháp của mình

Và khi HS chưa thành thục các thao tác tạo lập đoạn văn bản thì được yêu cầu viết bài kiểm tra để chấm điểm và không có cơ hội tìm nguồn tài liệu để tăng kiến thức nền về đề tài sẽ viết

Tuy nhiên, nhận thức của GV, HS và thực trạng tổ chức hoạt động viết đoạn văn nghị luận trong giờ dạy đọc VB nói chung, dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 nói riêng không phải chỉ đến từ nguyên nhân chủ quan mà chủ yếu đến từ nguyên nhân khách quan Hiện nay, ở trường THPT đang thực hiện CT hiện hành, mục tiêu cấp học của CT hiện hành “chủ yếu nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản và làm văn”, các đơn vị bài học được cấu trúc theo phân môn đọc văn, tiếng Việt và làm văn Các GV chưa được tiếp cận nhiều về CT DGPT mới Năm học 2020 – 2021, mới thực hiện dạy học theo định hướng CT ở lớp 1 Năm học tới (2021 – 2022) mới được thực hiện ở lớp 6 và phải đến năm học sau (2022 -2023) mới được thực hiện ở lớp 10 cấp THPT Việc tiếp cận CT tổng thể và CT các môn học ở cấp THPT cũng chưa được triển khai đại trà, mà chỉ mới được thực hiện ở một số tỉnh thành, trong

đó có Nghệ An dưới hình thức online trên trang web taphuan.csdl.edu.vn của Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu vào cuối năm học vừa qua (năm học 2020 – 2021) Điều này dẫn đến nhận thức của GV, HS cũng như thực trạng phát triển năng lực viết đoạn nghị luận trong giờ dạy đọc VB nói chung, giờ dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại 10 nói riêng ở trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa, Nghệ An theo định hướng CT mới chưa được tiếp cận một cách đầy đủ, toàn diện

Ngày đăng: 09/11/2023, 22:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT - Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho hs học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường thpt
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT (Trang 1)
Sơ đồ ý tưởng bằng cách trả  lời các câu hỏi ở phiếu học  tập số 2 phần viết kết nối. - Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho hs học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường thpt
t ưởng bằng cách trả lời các câu hỏi ở phiếu học tập số 2 phần viết kết nối (Trang 16)
Bảng kiểm mục kĩ năng viết đoạn văn - Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho hs học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường thpt
Bảng ki ểm mục kĩ năng viết đoạn văn (Trang 21)
Bảng đánh giá năng lực viết đoạn văn nghị luận của học sinh - Phát triển năng lực viết đoạn văn nghị luận cho hs học sinh qua tổ chức hoạt động viết kết nối trong dạy đọc văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 10 ở trường thpt
ng đánh giá năng lực viết đoạn văn nghị luận của học sinh (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w