Tình trạng các giải pháp đã biết Với thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước năm 1975-1976, Việt Nam
Trang 11/70
II MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Tình trạng các giải pháp đã biết
Với thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước năm 1975-1976, Việt Nam bước vào một thời kỳ lịch sử mới – thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Có thể nói, lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay là một giai đoạn quan trọng của dân tộc, đã chứng kiến những bước đổi thay to lớn của đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong đó trọng tâm là Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1976-1986); Đường lối đổi mới của Đảng; Quá trình đất nước
thực hiện đường lối đổi mới từ 1986 đến nay…
Cùng với những nội dung quan trọng nói trên là nhiều vấn đề liên hệ thực tiễn liên quan đến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,…Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình giảng dạy nội dung Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay cũng gặp nhiều khó khăn do sách giáo khoa mới chỉ cung cấp lượng kiến thức đến năm 2000 Vấn đề đấu tranh bảo vệ Tổ quốc với hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam (1978-1979) mới quay trở lại giảng dạy từ năm học 2020-2021 Tài liệu giảng dạy hạn chế, nhiều luồng thông tin với các quan điểm đánh giá sự kiện không chính thống, đưa thông tin sai lệch… Chính vì vậy, khi giảng dạy nội dung này đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, chọn lọc, cung cấp và hướng dẫn học sinh học đúng, hiểu đúng bản chất các sự kiện lịch sử Khó khăn này không chỉ dành riêng cho việc giảng dạy chương trình chính khoá trên lớp mà còn là khó khăn trong công tác ôn luyện bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử các cấp, nhất là cấp Quốc gia Bởi đây là đối tượng học sinh
có tư duy tốt, có đam mê đối với môn học và khả năng tìm tòi mở rộng kiến thức cao Nếu không định hướng đúng sẽ dễ dẫn tới những sai lệch trong quan điểm đánh giá các sự kiện lịch sử
Trang 22/70
Từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn lựa chọn tìm hiểu nội dung và xây dựng hệ thống câu hỏi phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay làm đối tượng nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm năm học 2021-2022
2 Nội dung (các) giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.1 Mục đích của (các) giải pháp
- Trên nền tảng kiến thức cơ bản phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay, sáng kiến tập trung hệ thống hoá kiến thức và xây dựng các câu hỏi chuyên sâu liên quan đến chuyên đề để áp dụng trong quá trình giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Sáng kiến này sẽ tiếp tục bổ sung cho nội dung Lịch sử Việt Nam 1975-1976 về quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước mà
cá nhân đã làm trong báo cáo sáng kiến kinh nghiệm năm học trước
- Sau khi hoàn thiện, sáng kiến sẽ là nguồn tài liệu tham khảo, với hệ thống tư liệu và các dạng câu hỏi tổng hợp cho học sinh và giáo viên khi học tập, giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Chuyên của Tỉnh và các nhà trường THPT khác với mục đích góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử
2.2 Nội dung (các) giải pháp
Điểm mới của sáng kiến là người viết đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê, phân tích, giải thích, so sánh, đánh giá các nhận định về các sự kiện lịch sử Quan trọng nhất là sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu Trên nền tảng kiến thức cơ bản, người viết lựa chọn, giới thiệu và định hướng một số gợi ý trả lời cho những dạng câu hỏi liên quan đến vấn đề sáng kiến nghiên cứu Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo các mức độ, các đòi hỏi kỹ năng từ trình bày, giải thích, chứng minh đến các dạng câu hỏi mới dạng mở về tư duy như phát biểu ý kiến, trình bày suy nghĩ, liên hệ quá trình, vận dụng thực tiễn phù hợp với
đề thi và năng lực học tập của học sinh để đáp ứng Kì thi chọn học sinh giỏi các cấp
Trang 33/70
môn Lịch sử Sáng kiến sau khi hoàn thành sẽ bổ sung nguồn tư liệu tham khảo mới
và cần thiết cho học sinh và đồng nghiệp
Để giải quyết vấn đề chính trong sáng kiến kinh nghiệm tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu và trình bày theo các khía cạnh sau:
I KHÁI QUÁT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1976 ĐẾN NAY
1 Việt Nam xây dựng CNXH và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1976 - 1986) 1.1 Đất nước bước đầu đi lên CNXH a/ Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, nước ta chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
Độc lập và thống nhất là điều kiện tiên quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho nền độc lập và thống nhất đất nước thêm bền vững
Độc lập và thống nhất đất nước không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta, đúng
như Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội IV đã nêu rõ “Trong thời đại ngày nay,
khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của CMXHCN
b/ Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1980)
*) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (họp từ ngày 14 đến ngày
20/12/1976) đã:
Tổng kết 21 năm (1954 - 1975):
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kháng chiến chống Mĩ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 44/70
Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1980)
Xác định nhiệm vụ: vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa cải tạo quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa
Mục tiêu cơ bản: xây dựng một bước cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã
hội, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là
cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động
*) Thực hiện kế hoạch 5 năm, nhân dân ta đạt được những thành tựu quan trọng:
- Các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị địch đánh phá về
cơ bản đã được khôi phục và bước đầu phát triển: Trong nông nghiệp, diện tích gieo trồng tăng thêm gần 2 triệu hécta, được trang bị thêm 18 nghìn máy kéo các loại Trong công nghiệp, có nhiều nhà máy được gấp rút xây dựng như nhà máy điện, cơ khí, xi măng v.v… Giao thông vận tải được khôi phục và xây dựng mới hàng ngàn kilômét đường sắt, đường bộ, nhiều bến cảng Tuyến đường sắt Thống nhất từ Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh sau 30 năm bị gián đoạn đã hoạt động trở lại
- Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh trong các vùng mới giải phóng ở miền Nam: giai cấp tư sản mại bản bị xoá bỏ, quốc hữu hóa các xí nghiệp, thành lập xí nghiệp quốc doanh hoặc công tư hợp doanh Đại bộ phận nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, thủ công nghiệp và thương nghiệp được sắp xếp và
tổ chức lại
- Xoá bỏ những biểu hiện văn hoá phản động của chế độ thực dân, xây dựng nền văn hoá mới cách mạng Hệ thống giáo dục từ mầm non, phổ thông đến đại học đều phát triển
Trang 55/70
*) Hạn chế: Kinh tế còn mất cân đối lớn, sản xuất phát triển chậm, thu nhập
quốc dân và năng xuất thấp làm cho đời sống nhân dân khó khăn Trong xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực
c/ Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 - 1985) *) Nhiệm
vụ, mục tiêu kế hoạch nhà nước 5 năm 1981 – 1985
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982) khẳng định: Trong 5 năm này, nước ta tiếp tục đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước do Đại hội IV đề ra với một số điểm điều chỉnh,
bổ sung và cụ thể hoá Nhiệm vụ: sắp xếp lại cơ cấu, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân, giảm nhẹ những mất cân đối của nền kinh tế
*) Thành tựu:
Sau 5 năm, nước ta có những chuyển biến và tiến bộ đáng kể:
- Sản xuất công – nông nghiệp và thu nhập quốc dân tăng bình quân hằng năm
- Cơ sở vật chất - kĩ thuật, hàng trăm công trình tương đối lớn, hàng nghìn công trình vừa và nhỏ được hoàn thành Dầu mỏ bắt đầu được khai thác, công trình thuỷ điện Sông Đà, thuỷ điện Trị An được khẩn trương xây dựng, chuẩn bị đi vào hoạt động
- Các hoạt động khoa học - kĩ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
*) Khó khăn: Những khó khăn cũ chưa khắc phục, thậm chí có mặt trầm trọng
hơn, tình hình kinh tế - xã hội chưa ổn định Những khó khăn này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo
và quản lý, chậm khắc phục 1.2 Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc a/ Bảo vệ biên giới Tây Nam
Trang 66/70
Sau 30 năm chiến tranh (1945-1975), khi giấc mơ hòa bình trên phạm vi cả nước vừa được hiện thực hóa, đất nước đã độc lập, tự do, nhân dân ta không mong muốn gì hơn là được sống yên ổn, đem tài năng và sức lực xây dựng đất nước phồn vình, cuộc sống văn minh, ấm no, hạnh phúc, được hung sống hòa bình, hữu nghị với các nước trên Thế giới Nhưng mong muốn chính đáng ấy đã không được thực hiện một cách dễ dàng
Do có âm mưu từ trước, ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, tập đoàn “Khơme đỏ” ở Campuchia do Pôn Pốt cầm đầu đã quay súng bắn vào lưng nhân dân ta – những người bạn chiến đấu thân thiết, thủy chung vừa góp phần làm nên chiến thắng ngày 17/4/1975 của nhân dân Campuchia Chúng đã mở những cuộc hành quân khiêu khích, xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà
Tiên đến Tây Ninh, “làm chảy máu Việt Nam ngay giữa những ngày Việt Nam vừa
lập lại hòa bình, thống nhất”
Đầu tháng 5-1975, chúng cho quân đổ bộ đánh chiếm đảo Phú Quốc; sau đó
đánh chiếm đảo Thổ Chu: “Ngày 30.4.1975, ta giải phóng Sài Gòn và đúng 10 ngày
sau đó (10.5.1975), hải quân Pol Pot lợi dụng lúc lính Việt Nam Cộng hòa tan rã, quân ta chưa kịp tiếp quản, tranh thủ thời cơ đánh chiếm đảo Thổ Chu và tràn lên đảo Phú Quốc Do bị đánh trả, không chiếm được Phú Quốc, lính Pol Pot quay về Thổ Chu tàn sát đa số người dân, bắt đi 515 người còn lại và định chiếm đóng Thổ Chu lâu dài, buộc quân ta phải đánh đuổi khỏi đảo” “Sự kiện Thổ Chu và Phú Quốc thực sự mở đầu cho những hành động gây căng thẳng, tiếp theo là hàng loạt sự kiện dọc biên giới Tây Nam”1
Từ tháng 4/1977, song song với việc đẩy mạnh thực hiện chính sách diệt chủng, tàn sát nhân dân, thanh trừng nội bộ, tập đoàn Pôn pốt tăng cường những cuộc hành quân lấn chiếm lãnh thổ nước ta, và từ những cuộc xung đột vũ trang lẻ tẻ, chúng
1
https://thanhnien.vn/thoi-su/40-nam-mau-do-bien-gioi-tay-nam-ky-1-vua-buong-sung-da-cam-lay-sung589939.html
Trang 77/70
mở rộng dần thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây – Nam nước
ta “Đây không còn là xung đột nữa Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự”
(Lê Trọng Tấn)
Ngày 22/12/1978, chúng huy động 19 trên tổng số 23 sư đoàn bộ binh cùng với nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tiến đánh Tây Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lấn sâu vào lãnh thổ nước ta
Thực hiện quyền tự vệ xứng đáng, quân ta đã tiến hành “cuộc chiến tranh bắt
buộc”, “vừa buông súng đã lại cầm lấy súng”, tổ chức cuộc phản công tiêu diệt và
quét sạch bọn xâm lược ra khỏi nước ta, lập lại hòa bình trên biên giới Tây Nam Tổ
quốc Theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Camphuchia, “cứu bạn
như cứu mình” quân đội Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng Camphuchia tiến
công, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng và sau 25 ngày, 23 sư đoàn Pol Pot bị đánh bại, giải phóng tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn trên cả nước pu-chia, cứu nhân dân, cứu dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng
Quân Pôn Pốt tan tác chạy về biên giới phía Tây và một số vùng rừng núi, dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, dần tập hợp lại lực lượng, tổ chức phản kích, khủng bố nhân dân rất tàn bạo Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia thể theo nguyện vọng nhân dân, chính thức đề nghị Chính phủ ta để Quân tình nguyện ở lại giúp bạn một thời gian Lúc này bạn chưa đủ sức giữ thành quả mà ta rút về thì Pol Pot sẽ nhanh chóng phản công lập lại ách thống trị của chúng; cuộc diệt chủng sẽ lại khốc liệt, hàng triệu người dân Cam-pu-chia sẽ ồ ạt lánh nạn sang Việt Nam Pol Pot sẽ lại áp sát biên giới Việt Nam, tiếp tục cuộc chiến tranh tội ác chống Việt Nam, miền Nam sẽ không thể ổn định để xây dựng Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam
đã nghiêm túc chấp hành quyết định của Đảng và Nhà nước ta ở lại Cam-pu-chia
một thời gian, “quên mình cho bạn hồi sinh” giúp nhân dân Cam-puchia xây dựng
lại đất nước, xây dựng lực lượng tự bảo vệ thành quả của nhân dân Mười năm ở lại
Trang 88/70
giúp Bạn, Quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, thể hiện phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ trên đất Bạn
Như vậy, hơn 10 năm sau ngày kháng chiến chống Mĩ kết thúc, vượt qua bao khó khăn, quân dân ta không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới phía Tây Nam mà còn thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn thoát khỏi thảm họa đen tối trong lịch sử
và hồi sinh đất nước Nhân dân Cam-pu-chia đã gọi bộ đội Việt Nam là “Bộ đội nhà
Phật” giúp nhân dân Cam-pu-chia anh em thực hiện một cuộc hồi sinh dân tộc vĩ đại
sau những hậu quả khủng khiếp, những tàn phá đảo lộn mà chế độ Pol Potđã gây ra cho đất nước, xã hội, môi trường sống và con người Đánh giá về vai trò của Việt Nam đối với Campuchia trong thời gian này, tờ Thời báo Canberra (Australia) ngày
19/3/1989 đã nhận định: “Ai cũng phải thừa nhận là việc Việt Nam vào Campu-chia
đã đem lại kết quả rõ ràng Hành động đó đã được nhân dân Cam-puchia ở khắp nơi chào đón như là sự giải phóng cho họ Và ai cũng thấy rõ ràng là sở dĩ từ trước đến nay Khmer đỏ không thể trở về được Phnom Penh chủ yếu là vì sự có mặt của Việt Nam ” Báo Pro-chia-chuôn (Nhân dân) của Đảng Nhân dân cách mạng
Cam-pu-chia ra xã luận viết: “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng
Pol Pot, trên thế giới này không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi” Hơn
20 năm sau, trong cuộc Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX” ngày 20/9/2000
tại Hà Nội, Tiến sĩ Chay-y-Hiêng, Cố vấn Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đọc
tham luận đã khẳng định: “Điều gì còn đọng lại trong trái tim người dân
Cam-pu-chia về Việt Nam trong thế kỷ XX? Đó là lòng biết ơn, đó là tình hữu nghị, là hình ảnh về một đội quân nhà Phật từ cõi thiện xa xôi đến cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia”2
b/ Bảo vệ biên giới phía Bắc
2 http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr040807104143/nr040807105039/ns050111135628
Trang 99/70
Hành động thù địch chống Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt được đế quốc Mĩ và một số nước khác cổ vũ Trung Quốc – nước láng giềng thân thiết của Việt Nam, đã từng gắn bó mật thiết, đoàn kết với nhân dân ta trong quá trình đấu tranh cách mạng
đã đồng tình ủng hộ, viện trợ giúp đỡ cho chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng Nhà nước Campuchia dân chủ và trang bị cho quân đội của chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng thành lực lượng gây chiến với Việt Nam Không những thế, Trung Quốc còn có những hành động làm tổn tổn hại đến tình hữu nghị của nhân dân hai nước như cho quân khiêu khích dọc biên giới, dựng lên sự kiện “nạn kiều”, cắt viện trợ, rút chuyên gia, vận động Liên hợp quốc và các nước trên Thế giới cũng làm như vậy nhằm gây khó khăn cho Việt Nam Nghiêm trọng hơn, sáng 17-21979, quân đội Trung Quốc huy động 32 sư đoàn (tương đương 600.000 quân Số quân Trung Quốc tham chiến lúc này được cho nhiều hơn các đạo quân xâm lược trước đó (Thời điểm cao nhất, quân Mỹ huy động trên chiến trường Việt Nam gần 550.000 quân, Pháp 250.000 quân )) mở cuộc tiến công dọc biên giới nước ta từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) dài hơn 1400 km Ngoài lực lượng chiến đấu Trung Quốc, phía sau là đội quân dân binh rất đông vừa đảm bảo sức chiến đấu cho bộ đội
vừa là đội quân ô hợp để hôi của, thực hiện chiến thuật rải “biển người” Thực chất, đây là hành động xâm lược, vừa nhằm “làm suy yếu vị thế của Xôviết trong thế giới
thứ ba”, khiến Việt Nam “phải là chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc”;
vừa áp dụng kế “vây Ngụy cứu Triệu” để giải cứu quân đội Khmer Đỏ, buộc quân đội Việt Nam phải chia lửa ở mặt trận thứ hai chứ không phải là cuộc “Chiến tranh
phản kích tự vệ chống Việt Nam”, “dạy cho Việt Nam một bài học” như lãnh đạo
Trung Quốc tuyên truyền Đây cũng là lí do cần gọi là “cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc ở hai đầu biên giới” chứ không nên coi đó là hai cuộc chiến tranh tách rời nhau
(Đại tá - PGS.TS Trần Ngọc Long)
Trang 1010/70
Lược đồ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc
Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai