Từ thực tế đó tôi nhận ra một thiếu sót khá lớn trong chương trình Lịch sử THPT nói chung và môn Sử lớp 12 nói riêng là không có tiết ôn tập hoặc hướng dẫn học sinh phương pháp hệ thống
Trang 1MỤC LỤC
I Sơ lược lý lịch tác giả……… ……… …….1
II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị……… ……… 1
- Tên sáng kiến/đề tài giải pháp……….……… 1
- Lĩnh vực……… 1
III Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến……… …1
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến……… 1
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến………2
3 Nội dung sáng kiến ……… 2
3.1 Quá trình phát triển sáng kiến……… …………2
3.2 Các biện pháp thực hiện……….3
3.2.1 Xây dựng các chuyên đề……….3
3.2.2 Lập sơ đồ tư duy, sơ đồ hóa kiến thức theo chủ đề kết hợp từ khóa………5
3.2.3 Xác định kiến thức trọng tâm bám sát sách giáo khoa và cấu trúc đề thi…8 3.2.4 Ghi nhớ có hệ thống, chia theo từng giai đoạn……… 25
3.2.5 Phân biệt cụm từ khóa và tên thuật ngữ cốt lõi……….29
3.2.6 Các dạng công thức thường gặp……….30
3.2.7 Sử dụng câu hỏi ngắn để học sinh điền khuyết……….30
3.2.8 Sử dụng bảng biểu theo chủ đề, nhóm vấn đề……… ….35
3.2.9 Các dạng câu hỏi thường gặp……….50
IV Hiệu quả đạt được……… ……… 54
V Mức độ ảnh hưởng……… 54
VI Kết luận……….……….54
Trang 2III Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến:
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
Theo phương án tổ chức kì thi THPT Quốc Gia năm 2017 mà Bộ GD và ĐT đã công bố thì ngoài môn Ngữ Văn, tất cả các môn còn lại đều thi theo hình thức trắc nghiệm Như vậy, môn Toán, môn Ngoại ngữ và bài thi Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên sẽ thi bài thi trắc nghiệm Do đó, môn Lịch Sử cùng với môn Địa lí và môn GDCD sẽ nằm trong tổ hợp bài thi Khoa học xã hội Điều này được xem là thay đổi lớn nhất và cũng gây lo lắng nhiều nhất cho thí sinh Vì vậy, việc ôn tập như thế nào
để làm tốt bài thi tổ hợp nói chung và môn Sử nói riêng là nhiệm vụ không hề đơn giản
Trong ba năm qua khi đưa môn Sử vào tổ hợp bài thi Khoa học xã hội và thi theo hình thức trắc nghiệm thì kết quả bộ môn Lịch sử trong bài thi tổ hợp chưa cao
Từ thực tế đó tôi nhận ra một thiếu sót khá lớn trong chương trình Lịch sử THPT nói chung và môn Sử lớp 12 nói riêng là không có tiết ôn tập hoặc hướng dẫn học sinh phương pháp hệ thống các chuỗi sự kiện, các giai đoạn lịch sử bằng các bảng biểu, sơ
đồ tư duy và nhất là hiện nay thi theo hình thức trắc nghiệm thì việc làm bài tập trắc nghiệm sau mỗi bài học càng đóng vai trò quan trọng hơn
Từ thực tiễn đó, tôi nhận thấy rằng mỗi người giáo viên cần phải tìm ra nhiều phương pháp hay, những cách làm bài hiệu quả để giúp học sinh đạt kết quả như mong muốn trong kì thi THPT Quốc gia, nhận thức được điều này tôi xin chia sẻ một
số biện pháp ôn thi trắc nghiệm THPT Quốc gia môn Sử khối 12 đạt hiệu quả Đó là
lí do tôi chọn đề tài này
Dù chỉ đạt kết quả bước đầu, nhưng có ý nghĩa thiết thực trong việc ôn tập thi THPT Quốc gia, đây là đề tài được nêu ở khía cạnh kinh nghiệm bản thân trong quá trình dạy học bộ môn
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Ôn thi THPT Quốc gia để công nhận tốt nghiệp THPT kết hợp với xét tuyển Đại học, Cao đẳng đóng vai trò rất quan trọng đối với học sinh khối 12 Vì vậy, ôn thi
là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học nói chung và dạy Sử nói riêng Để có được giờ dạy ôn tập đạt hiệu quả như mong muốn là công việc đầy khó khăn; để các tiết ôn tập đạt hiệu quả trong kì thi càng khó khăn hơn ở phía thầy và cả phía trò Vì lâu nay không ít giáo viên quan niệm, ôn tập là dạy lại kiến thức cũ một cách khái quát Học sinh tham gia các tiết ôn tập một cách thụ động, chán nản với tâm
lí nghe lại những điều đã biết Hơn nữa khoảng thời gian ôn tập không nhiều, học sinh lại học nhiều môn nên sẽ bị phân tâm về khối lượng kiến thức giữa các môn học Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã cố gắng tìm cách giúp cho học sinh ôn tập và tham gia vào quá trình ôn tập tích cực hiệu quả hơn
Trong đề tài sáng kiến của mình tôi chỉ nêu một số phương pháp và cách ôn thi môn Lịch sử khối 12 trong giai đoạn 1930 - 1945 Vì đây là phần khá quan trọng chiếm nhiều câu hỏi trong đề thi nhưng có một số nội dung khó gây khó khăn cho học sinh trong việc làm bài nhất là các hội nghị, các mặt trận thành lập, các chủ trương của
Đảng qua các thời kì, biết nắm thời cơ, chớp lấy thời cơ để chuẩn bị khởi nghĩa
3 Nội dung sáng kiến
3.1 Quá trình phát triển sáng kiến
Trước đây, khi chưa áp dụng hình thức thi trắc nghiệm thì việc dạy và ôn tập cho học sinh khối 12 chủ yếu là cung cấp đầy đủ nội dung quan trọng hay kiến thức
Trang 3trọng tâm của bài sau đó giáo viên đưa ra một số dạng câu hỏi cho học sinh tiếp cận để quen với cách làm bài theo hướng tự luận, nhưng từ khi thi theo hình thức trắc nghiệm thì ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm thì giáo viên cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy, tôi luôn yêu cầu các em đọc sách và tự khai thác, xử lý sách giáo khoa
để chinh phục và tìm tòi tri thức.Từ đây, các em biết vận dụng kiến thức để làm bài thi
Để khắc phục những hạn chế từ việc thi theo hình thức trắc nghiệm và tìm phương pháp ôn thi đạt kết quả tốt tôi xin nêu một vài biện pháp theo quan điểm của
cá nhân nhằm giúp một phần nào đó cho quá trình ôn tập bộ môn hiệu quả hơn
3.2 Các biện pháp thực hiện
3.2.1 Xây dựng các chuyên đề
Khi dạy giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ 1930 - 1945, theo sách giáo khoa thì đây
là giai đoạn sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu của mình tôi lấy mốc thời gian từ hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1930 để giúp học sinh thấy được vai trò của Đảng từ khi thành lập đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 Đồng thời, hiểu
rõ hơn nhiệm vụ chiến lược của cách mạng được Đảng đề ra trong Cương lĩnh chính trị tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và sau đó là trong Luận cương chính trị tháng 10/1930 do Trần Phú soạn thảo Đây là những nội dung thường xuất hiện trong đề thi THPT Quốc gia ba năm gần đây Để thực hiện có hiệu quả các nội dung trong giai đoạn này trước tiên, giáo viên cần nắm được nội dung chính của giai đoạn,
cụ thể như sau:
Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 cùng với cuộc
"khủng bố trắng" của Pháp sau khởi nghĩa Yên Bái (9/2/1930), đã làm bùng nổ phong trào cách mạng trong cả nước những năm 1930 - 1931 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đã phát triển đến đỉnh cao với sự thành lập các Xô viết Nghệ - Tĩnh
Trong bối cảnh lịch sử những năm 1936 - 1939, khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện
đe dọa hòa bình thế giới và phong trào chống phát xít ở Pháp giành thắng lợi bước đầu, ở nước ta dấy lên phong trào đấu tranh công khai rộng lớn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình Đây là phong trào quần chúng có mục tiêu, hình thức đấu tranh mới mẻ ở nước ta
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) đã tác động đến toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới chống phát xít thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta
và nhiều nước tiến lên giải phóng dân tộc Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941, hoàn chỉnh chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939: Giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương Từ đây, cách mạng nước ta ngày càng phát triển, tiến đến khởi nghĩa giành chính quyền
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời Đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh qua nhiều
Trang 4giai đoạn, toàn diện và trực tiếp nhất là giai đoạn tiến đến Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Bên cạnh việc nắm vững các kiến thức trọng tâm Khi dạy ôn thi THPT Quốc gia giai đoạn 1930 - 1945, giáo viên cần cung cấp cho các em những kiến thức chuyên sâu, dưới dạng các chuyên đề Cụ thể như sau:
Chuyên đề 1: Chủ trương, sách lược của Đảng với cách mạng Đông Dương và Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Chuyên đề 2: Vấn đề dân tộc, dân chủ từ 1930 đến 1945
Chuyên đề 3: Các mặt trận dân tộc thống nhất từ 1930 đến 1945
Chuyên đề 4: Sự chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945
Chuyên đề 5: Những sự kiện của lịch sử thế giới tác động đến lịch sử Việt Nam từ
1930 đến 1945
Chuyên đề 6: Mối quan hệ giữa giai đoạn 1930 - 1945 với các giai đoạn lịch sử trước
và sau đó
Chuyên đề 7: Thời cơ trong cách mạng từ 1930 đến 1945
Để thực hiện tốt các chuyên đề này giáo viên cần định hướng cho học sinh nắm vững các nội dung sau:
- Trước nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm: Chủ trương là gì? Sách lược là gì?
- Thứ hai, giáo viên yêu cầu học sinh nêu vai trò của chủ trương, sách lược với sự thắng lợi của một cuộc cách mạng
- Thứ ba, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ trương của Đảng đối với cách mạng Đông Dương và Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 thông qua các câu hỏi gợi mở:
+ Chủ trương của Đảng với cách mạng Đông Dương từ 1930 - 1931 được thể hiện qua các văn kiện nào? (Học sinh có thể trả lời được đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị của Trần Phú)
+ Chủ trương đó được thực hiện trong thời gian 1930 - 1931 ra sao? (Dựa vào các kiến thức đã nắm được về phong trào cách mạng 1930 - 1931, học sinh sẽ trả lời được câu hỏi này)
+ Trong giai đoạn 1936 - 1939, Đảng ta đã đưa ra chủ trương, sách lược gì? Vì sao Đảng ta lại đưa ra chủ trương, sách lược đó? (Dựa vào các kiến thức cơ bản đã được ôn tập về phong trào dân chủ 1936 - 1939, học sinh sẽ thấy ngay được chủ trương của Đảng từ 1936 đến 1939 được phản ánh trong nội dung của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7 - 1936 Đảng đưa ra chủ trương, sách lược đó để phù hợp với hoàn cảnh thế giới và trong nước lúc bấy giờ…) + Từ 1939 - 1945, chủ trương của Đảng được thể hiện qua các sự kiện nào? Tại sao Đảng lại có sự thay đổi chủ trương như vậy? Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo của Đảng từ 1939 đến 1945 là gì? (Học sinh sẽ trả lời được chủ trương của Đảng từ 1939 - 1945 được thể hiện trong Nghị quyết của các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, tháng 11 - 1940, tháng 5 - 1941) Sở dĩ từ
1939 - 1945, Đảng có sự thay đổi chủ trương so với thời gian trước đó (1936 - 1939) bởi vì hoàn cảnh trong nước và thế giới có những chuyển biến mau lẹ, đòi hỏi Đảng phải kịp thời nắm bắt tình hình, đề ra chủ trương mới, phù hợp Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo cách mạng của Đảng từ 1939 đến 1945 là giương cao
Trang 5ngọn cờ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất của toàn Đảng, toàn dân lúc này … Sau đó, chủ trương của Đảng được đề ra tại các Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, tháng 11 - 1940, tháng 5 - 1941 tiếp tục được bổ sung tại các Hội nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La, Đông Anh - Hà Nội (1943); Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh (3 - 1945), Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4 - 1945), quyết định của Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh khi nhận được những thông tin Nhật Bản sắp đầu hàng Đồng minh (13 - 8 - 1945), nội dung Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ 14 đến 15 - 8 - 1945), Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, Tuyên Quang (từ 16 đến 17 - 8
- 1945)
Từ những kinh nghiệm được giáo viên cung cấp trên, học sinh có thể tự học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thực và vận dụng những kiến thức đó để trả lời các câu hỏi liên quan ở những chuyên đề còn lại, với sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên:
+ Học sinh tự đọc sách giáo khoa, tự lập dàn ý của các chuyên đề đó
+ Học sinh trình bày dàn ý của cá nhân Sau đó, giáo viên và các học sinh khác nhận xét, thảo luận và đi đến hình thành dàn ý chính xác và khoa học nhất Từ đó, học sinh sẽ viết lại cho đầy đủ kiến thức của các chuyên đề đó
+ Giáo viên sẽ nhận xét, đánh giá các bài viết của học sinh và rút ra bài học kinh nghiệm cho các em
3.2.2 Lập sơ đồ tư duy, sơ đồ hóa kiến thức theo chủ đề kết hợp từ khóa
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi
đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề Việc học bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp cho các em học sinh biết cách móc nối các sự kiện lại với nhau, từ đó giúp các em dễ dàng học hơn chứ không chỉ học
thuộc lòng hay học vẹt
Đặc thù của môn Sử là hiện hữu nhiều mốc sự kiện, không gian, thời gian nên
học sinh phải hệ thống hóa kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức
hiệu quả hơn
Với hình thức thi trắc nghiệm, học sinh không phải thuộc lòng quá nhiều mà quan trọng là phải tư duy, hiểu rõ bản chất của từng mốc lịch sử Từ những giai đoạn lịch sử, con số thống kê các bạn cần phải biết phân tích tổng hợp, khái quát hóa vấn
đề Học sự kiện này thì các bạn cần phải liên tưởng, xâu chuỗi mối liên quan đến sự kiện trước và sau nó Vậy nên, sử dụng sơ đồ tư duy là cách để ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn
Trong quá trình giảng dạy, tùy vào nội dung và tính chất của từng bài giảng, sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi giai đoạn giáo viên có thể định hướng, hướng dẫn học sinh làm “sơ đồ tư duy” dựa trên nguyên lý từ “cây” đến “cành” đến “nhánh”, từ ý lớn sang ý nhỏ theo phương pháp “diễn dịch”: luận điểm, luận cứ, luận chứng Nhờ
đó, các em sẽ thấy các bài học sẽ trở nên ngắn gọn hơn, súc tích và dễ hiểu, dễ nhớ hơn
Từ những kiến thức, sự kiện, vấn đề cơ bản của từng bài, từng chương, từng phần trong sách giáo khoa hiện hành, thông qua sơ đồ tư duy, học sinh sẽ tự biết cách tổng hợp và xâu chuỗi kiến thức theo trình tự, trật tự kiến thức và lý giải các mối quan
hệ tác động biện chứng, nhân quả giữa các vấn đề, sự kiện Từ đó các em sẽ thấy các bài học sẽ trở nên ngắn gọn hơn, súc tích và dễ hiểu, dễ nhớ hơn Lúc đó, kỹ năng tự học của các em sẽ trở nên bớt nhàm chán khi tự học ở nhà
Trang 6Việc lập sơ đồ tư duy giúp học sinh khái quát toàn bộ bài học, nắm được từng giai đoạn lịch sử có những nội dung trọng tâm gì Từ đó giúp các em khắc sâu hơn nội dung bài học nắm vững nội dung giai đoạn này có thể so sánh với các giai đoạn khác điều đó giúp các em làm những câu hỏi vận dụng dễ dàng hơn
Trong giai đoạn 1930 - 1945, giáo viên cần định hướng cho học sinh nắm vững một số vấn đề cụ thể như sau:
Đường lối chiến lược cách mạng của Đảng
Phong trào cách mạng: 1930 - 1931
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản VN
2/1930
Hội nghị BCH Trung ương lâm thời ĐCS
VN 10/1930
Đường
lối
chiến
lược
cách
mạng
của
Đảng
Hoàn cảnh Nội dung hội nghị
Ý nghĩa
Hoàn cảnh
Nội dung hội nghị Nhận xét, đánh giá
Nhận xét, đánh giá
Phong trào cách mạng
1930 - 1931
Hoàn cảnh, lí do bùng nổ
Những nét chính ( diễn biến )
Điểm mới phong trào
Trang 7Phong trào cách mạng: 1936 - 1939
Chính sách của chính quyền Xô viết
Ý nghĩa lịch sử, Bài học kinh nghiệm
Phong trào cách mạng
1936 - 1939
Hoàn cảnh, lí do bùng nổ
Chủ trương, đường lối đấu tranh của Đảng
Các phong trào đấu tranh tiêu biểu
Tính chất
Ý nghĩa lịch sử, Bài học kinh nghiệm
Trang 8Phong trào cách mạng: 1939 - 1945
Cuộc vận động giải
phóng dân tộc
1939 - 1945
Những sự kiện lớn tác động đến Việt Nam
Chủ trương, đường lối của Đảng trước tác động của tình hình thế giới
Chiến tranh thế giới II bùng
nổ
Nhật vượt biên giới Việt - Trung tràn vào nước
ta
Nguyễn
Ái Quốc
về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng nước ta
Nhật đảo chính Pháp
- thời
cơ Tổng khởi nghĩa
Hội nghị tháng 11/
1939
Pháp thực hiện chính sách thời chiến
Hội nghị tháng 5/
1941
Hội nghị BTV Trung ương tháng 3/1945
Chớp thời
cơ Tổng khởi nghĩa
Chuẩn
bị tiến tới khởi nghĩa
Trang 9
3.2.3 Xác định kiến thức trọng tâm bám sát sách giáo khoa và cấu trúc đề thi
Thi THPT Quốc gia thì khối lượng kiến thức trong đề thi trọng tâm là chương
trình khối 12, đối với môn Lịch Sử khối 12 thì kiến thức bao gồm hai phần Lịch sử thế giới (1945 - 2000) và Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000)
Ở phần lịch sử thế giới, các em học và ôn theo từng vấn đề, chuyên đề với 6 nội dung chủ yếu của lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000: Trật tự thế giới hai cực Ianta; Sự hình thành, phát triển và khủng hoảng, sụp đổ của hệ thống CNXH của Liên Xô, Đông Âu; Phong trào giải phóng dân tộc Á - Phi - Mĩ La tinh
Những chuyển biến quan trọng của Chủ nghĩa tư bản sau CTTG II; Sự mở rộng
và đa dạng của quan hệ quốc tế nửa sau thế kỷ XX; Sự bùng nổ của cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay
Ở phần lịch sử Việt Nam, học sinh học theo từng giai đoạn lịch sử trong một quá trình liên tục của các sự kiện lớn theo trình tự thời gian từ 1919 đến 2000 (1919 -
1930, 1930 - 1945, 1945 - 1946, 1946 - 1954, 1954 - 1975, 1975 - 2000) Mỗi sự mở đầu của từng giai đoạn đều được bắt đầu những sự kiện lớn đánh dấu một thời kỳ phát triển của dân tộc trong những bối cảnh lịch sử khác nhau
Học sinh cần nắm vững nội dung, nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn từ đó rút ra mối quan hệ tương tác, biện chứng của từng giai đoạn gắn liền với từng nhiệm
vụ cụ thể
Trong quá trình ôn tập, giáo viên phải chỉ rõ cho học sinh đâu là những ý lớn, đâu là chi tiết, minh họa, giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết tóm tắt bài học và diễn đạt sơ đồ ý, dàn ý của từng bài Đó cũng là cách để hệ thống kiến thức, chỗ nào quên thì mở sách xem lại nhằm rèn luyện khả năng làm chủ thời gian, khả năng diễn đạt nội dung, văn phong trong bài thi
Với hình thức thi trắc nghiệm, học sinh cần tư duy, xâu chuỗi và kết nối các vấn
đề, suy luận để lựa chọn đáp án là có thể hoàn thiện bài thi Trong trường hợp chưa biết đáp án đúng, các em nên loại trừ đáp án sai để tìm ra đáp án đúng - đây là tip làm bài bạn nên áp dụng Đặc biệt, với thi trắc nghiệm sẽ có những đáp án gây nhiễu, đáp
án khá giống nhau vậy nên giáo viên phải hướng dẫn đọc kỹ sách giáo khoa để hiểu
rõ, kết nối các sự kiện với nhau để phân tích câu trả lời và chọn ra đáp án đúng
Thi trắc nghiệm, việc đầu tiên học sinh cần thay đổi là đọc kỹ sách giáo khoa Vì phần lớn kiến thức trong bài thi đều lấy từ sách giáo khoa, các em cần chủ động hơn trong việc khai thác và xử lý sách giáo khoa Bởi đây là tài liệu căn bản, nền tảng tri thức của mọi đề thi và hình thức thi Thêm nữa, các em cần biết suy luận thông qua việc phân tích dữ liệu từ các đáp án
Bài thi trắc nghiệm, ngoài những câu hỏi về kiểm tra kiến thức, cần có một số câu hỏi yêu cầu suy luận, phân tích mà đáp án khá giống nhau theo kiểu 50/50
Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Nguyên nhân thắng lợi, Ý nghĩa lịch sử, Bài học
kinh nghiệm
Trang 10Khi đó, học sinh phải hiểu bài, phải cố gắng nắm kiến thức môn Lịch sử một
cách toàn diện và thấu hiểu được bản chất của vấn đề mới có khả năng phân tích câu
trả lời để chọn ra đáp đúng Đây là những câu hỏi mà các bạn rất dễ bị mất điểm và đây cũng chính là cơ sở để sàng lọc, phân loại học sinh…
Bên cạnh đó, từ những kiến thức, sự kiện, giai đoạn lịch sử cụ thể từng phần, từng chương, hãy học các bài tổng kết phần, chương để rèn luyện kỹ năng khái quát hóa kiến thức và xâu chuỗi vấn đề
Chỉ có 50 phút để làm bài thi, học sinh không nên để mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi nào đó, vì thời gian trung bình mỗi câu chỉ khoảng 1,25 phút Không cần làm theo thứ tự câu hỏi, với những câu dễ thí sinh hãy làm trước, khoảng thời gian còn lại sẽ "chiến đấu" với những câu khó sau
Đây là phần kiến thức chuyên sâu, đòi hỏi học sinh phải dựa trên những kiến thức cơ bản của giai đoạn, biết tư duy, so sánh, xâu chuỗi các sự kiện mới trả lời được Tuy đó là những câu hỏi tương đối khó, nhưng giáo viên không nên cung cấp một chiều cho học sinh mà cần biết lựa chọn, nêu ra vấn đề và hướng dẫn học sinh cách tự tìm ra câu trả lời Tóm lại, Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 có một số sự kiện nổi bật sau:
- Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930
- Phong trào cách mạng 1930 - 1935
- Phong trào dân chủ 1936 - 1939
- Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945)
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Khi giảng dạy nội dung giai đoạn này đầu tiên cần xác định các kiến thức trọng
tâm theo sách giáo khoa, giáo viên thiết lập dàn ý bài học theo từng mục theo SGK, khi dạy chỉ cần giảng bài, phát vấn học sinh, học sinh trả lời giáo viên nhận xét, chỉnh sửa nội dung sau đó học sinh tự ghi kiến thức trọng tâm bài học
Cần đảm bảo các kiến thức cơ bản của sách giáo khoa về giai đoạn 1930 - 1945 Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 đề cập giai đoạn này trong Chương II - Việt Nam từ năm 1930 - 1945 với các bài 14, 15, 16 Sách giáo khoa cơ bản đề cập trong các bài: Đây là yêu cầu cơ bản, tối thiểu của người giáo viên khi dạy và học sinh khi học về giai đoạn lịch sử này Nắm được kiến thức cơ bản với những sự kiện, nhân vật, địa danh, quy luật và bài học cơ bản, học sinh có thể vận dụng kiến thức một cách linh hoạt trong các loại câu hỏi khác nhau, các loại đề bài khác nhau Trên cơ sở đó, các
em sẽ tránh được tình trạng bị động khi gặp phải các vấn đề mà chưa được ôn kỹ Kiến thức cơ bản của giai đoạn lịch sử này được sách giáo khoa viết tương đối rõ ràng, được phân thành các giai đoạn qua từng bài Thông qua các giai đoạn 1930 - 1935; 1936 - 1939; 1939 - 1945, giáo viên phải làm nổi bật được bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước có nhiều nét mới tác động tới cuộc vận động giải phóng dân tộc, sự chỉ đạo của Đảng trước những thay đổi đó, diễn biến cơ bản của phong trào cách mạng, kết quả, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm
Ví dụ khi dạy: Nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên giáo viên lập dàn ý theo các nội dung sau
- Đường lối chiến lược cách mạng:
- Nhiệm vụ:
- Lập chính phủ:
- Tổ chức quân đội: