1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty tnhh xây dựng và dịch vụ thương mại thành thắng

129 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế Toán Bán Hàng Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng
Tác giả Lê Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn TS. Ngô Tiến Dũng
Trường học Học Viện Chính Sách Và Phát Triển
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 8,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Th

Trang 1

DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI THÀNH THẮNG

Giáo viên hướng dẫn : TS Ngô Tiến Dũng Sinh viên thực hiện : Lê Thị Ngọc Ánh

Mã sinh viên : 7103402057 Khóa : 10

Ngành : Tài chính – ngân hàng Chuyên ngành : Kế toán – Kiểm toán

Trang 2

Em xin cam kết “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng” là công trình nghiên cứu của riêng em Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực Những

số liệu trong các bảng biểu hình ảnh phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ chính tình hình thực tiễn tại đơn vị thực tập và một số nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo

Sinh viên (Ký và ghi rõ họ tên)

Ánh

Lê Thị Ngọc Ánh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ vii

DANH MỤC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu chính của luận văn 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 7

1.1 Khái quát chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 7

1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 9

1.1.3 Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 10

1.1.4 Yêu cầu quản lý hoạt động bán hàng và xác định kết quả bán hàng 11

1.2 Nội dung kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiêp 12

1.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng 12

1.2.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu 23

Trang 4

1.2.4 Kế toán chi phí bán hàng 30

1.2.5 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp 32

1.2.6 Kế toán chi phí thuế TNDN 34

1.2.7 Kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh 37

1.3 Hình thức kế toán: 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI THÀNH THẮNG 45

2.1 Tổng quan về công ty Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng 45

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 45

2.1.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh 46

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 47

2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty 48

2.2 Thực trạng công tác kế toán kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng 54

2.2.1 Đặc điểm quá trình tiêu thụ hàng hóa tại Công ty Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng 54

2.2.2 Kế toán doanh thu bán hàng 56

2.2.3 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu 61

2.2.4 Kế toán giá vốn hàng bán 62

2.2.5 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý kinh doanh 64

2.2.6 Kế toán chi phí thuế TNDN 68

2.2.7 Kế toán xác định kết quả kinh doanh 68

Trang 5

Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng trong điều kiện ứng dụng phần

mềm kế toán 70

2.3 Đánh giá thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty Tnhh Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng 76

2.3.1 Ưu điểm 76

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI THÀNH THẮNG 82

3.1 Yêu cầu, nguyên tắc hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 82

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 82

3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 82

3.1.3 Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 84

3.2 Nội dung hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 85

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 97

Trang 6

TT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 7

Sơ đồ 2 1: Sơ đồ bộ máy quản lý 47

Sơ đồ 2 2: Sơ đồ bộ máy quản lý 47

Sơ đồ 2 3: Bộ máy kế toán 48

Trang 8

Hình 2 1: Trích sổ cái TK 511 61

Hình 2 2: Giao diện tính giá trung bình xuất kho cuối kỳ 63

Hình 2 3: Sổ cái TK 632 64

Hình 2 4: Phiếu chi số 270 67

Hình 2 5: Khai báo các bút toán kết chuyển chi phí tự động cuối kì trên phần mềm 69

Hình 2 6: Giao diện trên phần mềm để khóa sổ cuối kì 70

Hình 2 7: Giao diện phần mềm kế toán FAST 72

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển nhất định phải có phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế Để đứng vững và phát triển trong điều kiện: có sự cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu của người tiêu dùng với sản phẩm có chất lượng cao, giá thành phải chăng, mẫu mã phong phú, đa dạng chủng loại Muốn vậy, các doanh nghiệp phải giám sát tất cả các quy trình từ khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ hàng hoá để đảm bảo việc bảo toàn và tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giữ uy tín với bạn hàng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên, đảm bảo có lợi nhuận để tích luỹ mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh

Hơn thế nữa nhu cầu tiêu dùng trên thị trường hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận Muốn vậy thì doanh nghiệp phải sản xuất cái thị trường cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có và tự đặt ra cho mình những câu hỏi “Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào và sản xuất bao nhiêu?”

Để đạt được mục tiêu lợi nhuận: Đạt lợi nhuận cao và an toàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty phải tiến hành đồng bộ các biện pháp quản lý, trong đó hạch toán kế toán là công cụ quan trọng, không thể thiếu để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản, hàng hoá nhằm đảm bảo tính hợp lý, hiệu quả và chủ động trong sản xuất kinh doanh, tính toán và xác định hiệu quả của từng hoạt động sản xuất kinh doanh làm cơ sở vạch ra chiến lược kinh doanh

Để quản lý được tốt việc tiêu thụ hàng hoá thì kế toán với tư cách là một công

cụ quản lý kinh tế cũng phải được thay đổi và hoàn thiện hơn cho phù hợp với tình hình mới

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề trên, qua quá trình thực tập ở Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng được sự hướng dẫn tận tình của thầy TS Ngô Tiến Dũng cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ kế toán trong phòng kế toán của công ty, em đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với

Trang 10

đề tài: “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận

tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan nghiên cứu

Khóa luận đã nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài theo nội dung

cụ thể đó là kế toán bán hàng và kế toán xác định kết quả kinh doanh gồm có các công trình nghiên cứu dưới góc độ kế toán tài chính, các luận văn về kế toán bán hàng

và xác định kết quả kinh doanh Qua đó rút ra khoảng trống mà đề tài của khóa luận tiếp túc phải nghiên cứu, hoàn thiện

Các doanh nghiệp hiện nay luôn đa dạng về ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh của mình Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh luôn len lỏi vào mỗi doanh nghiệp theo những hình thức khác nhau, là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp có hoạt động thương mại Chính vì thế, từ trước đến nay cũng có rất nhiều những nghiên cứu về kế toán bán hàng và xác định KQKD:

Đề tài: “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH

in – thương mại Thuận Phát” khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Cẩm Hoa, Năm 2020, trường Đại học thương mại

Bài viết đã nêu được cơ sở lý luận cũng như thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại đơn vị Chỉ ra được những ưu và nhược điểm của công tác này tại Công ty TNHH in – thương mại Thuận Phát Nhưng bài viết cũng có hạn chế là không đề ra những giải pháp cho doanh nghiệp nhằm hoàn thiện công tác

kế toán bán hàng và xác định KQKD tại công ty

Khóa luận tốt nghiệp, đề tài: “Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Hitech” của sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền, Năm 2021, Học viện Ngân Hàng

Khóa luận đã đưa ra được những cơ sở lý thuyết về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại rất là chi tiết, đầy đủ Nêu lên được thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại đơn vị Từ

đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả

Trang 11

kinh doanh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, ngoài những mặt đã đạt được nêu trên thì bài viết cũng có hạn chế Khóa luận chưa nêu rõ thực trạng kế toán các khoản chi phí khác và thu nhập khác tại đơn vị

Đề tài “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần đầu tư quốc tế STC” Luận văn thạc sĩ, của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hường, Năm 2021 Trên nền tảng cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh luận văn đã nêu được thực tế kế toán phần hành này tại Công ty cổ phần đầu tư quốc

tế STC và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này tại đơn vị Tuy nhiên luận văn chưa nêu được những giải pháp cụ thể cho vấn đề này Các giải pháp chỉ mang tính khái quát và chung chung Làm cho người đọc khó có thể hình dung và hiểu được nên làm gì để hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định KQKD cho công ty

Nhận thấy các công trình nghiên cứu về đề tài kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Các bài viết hầu hết đã làm sáng tỏ thực trạng của công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiện tại, lĩnh vực về bán hàng, doanh thu

và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng chưa có đề tài nghiên cứu nào, chính vì vậy, em lựa chọn đề tài

“Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình Từ việc đưa ra các cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định KQKD, đi sâu vào nghiên cứu thực trạng thực tế về hoạt động đó ở doanh nghiệp, đánh giá được ưu nhược điểm của nó, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này, giúp cho công tác kế toán tại doanh nghiệp ngày càng tốt hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tổng quát hóa, tìm hiểu cơ sở lý luận về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại doanh nghiệp thương mại Cùng với đó là phân tích, đánh giá thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng Từ đó, đề tài đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán bán hàng và

xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng

sổ sách, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống các báo cáo, cách tính giá hàng mua vào

 Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập số liệu sơ cấp:

- Phỏng vấn các nhân viên phòng kế toán để tìm hiểu cách hạch toán bán hàng

và xác định kết quả bán hàng trong công ty;

- Thu thập số liệu thực tế tại phòng kế toán; số liệu từ trang thuế điện tử và một số nguồn khác có ghi trong phần Tài liệu tham khảo

Trang 13

- Tham khảo ý kiến của Giáo viên hướng dẫn, qua sách, báo, tạp chí, internet cũng như các tài liệu khác liên quan đến đề tài nghiên cứu;

 Phương pháp phân tích số liệu:

Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp, chi tiết, hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí liên quan đến công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong công ty

 Phương pháp chuyên môn kế toán:

Phương pháp chứng từ: Xác định sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,

những minh chứng các nghiệp vụ nhập, xuất, tồn hàng hóa Đồng thời cũng là căn cứ ghi sổ kế toán;

Phương pháp đối ứng tài khoản: Tài khoản đối ứng để ghi chép các nghiệp vụ

kinh tế phát sinh liên quan đến hàng hóa;

Phương pháp tính giá: Tính giá là dùng thước đo giá trị để biểu hiện các tài sản,

các loại hàng hóa ở các mức giá khác nhau, từ đó phản ánh và cung cấp thông tin về tài sản và về hàng hóa để đưa ra giải pháp thích hợp tại các thời điểm khác nhau;

Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán: Phương pháp này giúp khái quát tình

hình tài sản và kết quả kinh doanh, các mối quan hệ nhập, xuất, tồn hàng hóa trong công ty

 Phương pháp khác:

Phương pháp nghiên cứu định tính: nhằm xây dựng cơ sở khoa học ứng dụng

tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong công ty Bao gồm 2 bước là nghiên cứu định tính sơ bộ và nghiên cứu định tính chính thức Nghiên cứu định tính sơ bộ nhằm phân tích, tìm hiểu và tổng quát đặc điểm của doanh nghiệp

Trang 14

thương mại ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong công ty Nghiên cứu định tính chính thức nhằm tổng quát hóa tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty

Phương pháp đánh giá, dự đoán: đề tài sử dụng phương pháp này để đánh giá

thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty, từ kết quả đánh giá này cho thấy những kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty Từ đó có hướng hoàn thiện tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng

6 Kết cấu chính của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại doanh nghiệp thương mại

Chương 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng

Chương 3: Một số ý kiến và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công Ty TNHH Xây Dựng Và Dịch Vụ Thương Mại Thành Thắng

Trang 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP

THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

 Khái niệm

Khái niệm hàng hóa: hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu

cầu nào đó của con người thông qua trao đổi buôn bán Xét trong doanh nghiệp thương mại: hàng hóa chính là đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp

Khái niệm bán hàng: Bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp thương mại, là quá trình người bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua gắn với phần lợi ích hoặc rủi ro đồng thời được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, còn kết quả kinh doanh là căn cứ để doanh nghiệp quyết định có nên tiếp tục bán hàng hóa, dịch vụ nữa hay không Kết quả bán hàng hóa, dịch vụ sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ từ đó ảnh hưởng tới doanh thu thuần và cuối cùng là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp, còn bán hàng là phương tiện trực tiếp giúp đạt được mục đích đó

Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau:

- Có sự thoả thuận, trao đổi giữa người mua và người bán

- Có sự chuyển quyền sở hữu từ người bán sang nguời mua

Khái niệm về kết quả kinh doanh: Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ

Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh: Xác định kết quả kinh doanh chính

Trang 16

doanh nghiệp bỏ ra và lượng tiền trong kỳ doanh nghiệp đã thu có kết quả là doanh thu lớn hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lãi, ngược lại, nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý ở từng doanh nghiệp Khi xác định kết quả kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp

 Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thương mại

Về đối tượng phục vụ: Đối tượng phục vụ của các doanh nghiệp thương mại là

người tiêu dùng bao gồm các cá nhân, các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác và các

cơ quan, tổ chức xã hội

Về phương thức và hình thức bán hàng: Có nhiều hình thức bán hàng khác nhau

như bán buôn, bán lẻ, đại lý ký gửi trong mỗi phương thức lại có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: trực tiếp, chuyển hàng, chờ chấp nhận

Về phạm vi hàng hoá đã bán: Hàng hoá được coi là hoàn thành việc bán trong

doanh nghiệp thương mại được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện nhất định

Theo quy định hiện hành, hàng hóa được coi là hàng bán phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Hàng hoá phải thông qua quá trình mua và bán, thanh toán theo một phương thức thanh toán nhất định

- Hàng hoá phải được chuyển quyền sở hữu từ doanh nghiệp thương mại sang bên mua và doanh nghiệp thương mại đã thu được tiền hay một loại hàng hoá khác hoặc được người mua chấp nhận nợ

- Hàng hoá bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh nghiệp mua vào hoặc gia công, chế biến hay nhận vốn góp, nhận cấp phát tặng thưởng

Ngoài ra trong một số trường hợp sau cũng coi là hàng bán:

- Hàng hoá xuất đổi lấy hàng hoá khác, còn được gọi là đối lưu hay hàng đổi hàng

Trang 17

- Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên, thanh toán thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp

- Hàng hoá xuất làm quà biếu, tặng, quảng cáo, chào hàng

- Hàng hoá xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Giá bán hàng hoá của doanh nghiệp thương mại: Là giá thoả thuận giữa người

mua và người bán được ghi trên hoá đơn, hợp đồng

1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại

Bán hàng và xác định kết quả bán hàng là hoạt động rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại Để đáp ứng kịp thời những yêu cầu

đó, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cần thực hiện tốt những nhiệm

vụ sau:

- Ghi chép, phản ảnh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ cả về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị hàng bán trên từng mặt hàng, từng kho hàng, từng địa điềm bán hàng, từng phương thức bán hàng

- Tính toán và phản ánh chính xác tổng giá thanh toán của hàng bán ra bao gồm cả doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm mặt hàng, từng hóa đơn đầu ra

- Phản ánh và giám đốc kịp thời chi tiết khối lượng hàng hoá dịch vụ bán ra, tính toán đúng đắn giá vốn của hàng hoá và dịch vụ đã cung cấp, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, phân bổ hợp lý chi phí mua hàng cho số hàng đã bán

và tồn cuối kì, nhằm xác định chính xác kết quả bán hàng

- Kiểm tra, đôn đốc tình hình thu hồi công nợ phải thu và quản lý tiền hàng, quản lý khách nợ, theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, số tiền khách nợ Đôn đốc, kiểm tra nhằm đảm bảo thu đúng đủ và kịp thời tiền hàng để tránh bị chiếm dụng vốn bất hợp lý

- Quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng hóa, phát hiện và

xử lý kịp thời hàng hóa ứ đọng

Trang 18

- Cung cấp thông tin một cách chính xác, trung thực, lập quyết toán đầy đủ, kịp thời để đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh cũng như tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý đơn vị

- Cung cấp thông tin cần thiết về tình hình bán hàng phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh của ban quản lý

- Tham mưu cho ban lãnh đạo về các giải pháp để thúc đẩy doanh thu bán hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

1.1.3 Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại

Kế toán là một công cụ hữu hiệu phục vụ đắc lực cho công tác quản lý trong doang nghiệp nói chung và công tác bán hàng, xác định kết quả kinh doanh

Thông tin kế toán cung cấp là cơ sở giúp cho nhà quản lý nắm bắt được tình hình quản lý hàng hóa trên cả hai mặt: hiện vật và giá trị Đồng thời nắm bắt được tình hình thực hiện các kế hoạch bán hàng, chính sách giá cả, các khoản phải thu và đánh giá chính xác năng lực kinh doanh của doanh nghiệp thông qua kết quả đạt được Việc xác định kết quả sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả

từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ, từ đó có những hướng đi phù hợp trong tương lai Đồng thời, là căn cứ quan trọng để Nhà nước đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp Xác định kết quả kinh doanh giúp thúc đẩy

sử dụng nguồn nhân lực và phân bố các nguồn lực có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung và đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng

Xác định đúng kết quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá hiệu quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định của doanh nghiệp, nhằm nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh một cách kịp thời, đúng đắn để ban lãnh đạo đưa ra những chính sách, biện pháp quản lý, chiến lược bán hàng phù hợp với thị trường và tương ứng với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hoạt động tốt trong kỳ kinh doanh tiếp theo đồng thời cung cấp

số liệu cho các bên quan tâm, thu hút nhà đầu tư vào doanh nghiệp

Trang 19

1.1.4 Yêu cầu quản lý hoạt động bán hàng và xác định kết quả bán hàng

Nghiệp vụ bán hàng liên quan đến từng khách hàng, từng phương thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định Do đó công tác quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu như quản lý doanh thu, tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất ở khâu bán, tình hình tiêu thụ và thu hồi công nợ, quản lý giá vốn của hàng hóa

đã tiêu thụ…

Quản lý nghiệp vụ bán hàng cần bám sát các yêu cầu sau:

- Quản lý sự vận động của các mặt hàng trong quá trình bán hàng dựa trên các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và giá trị hàng bán ra: nhà quản lý cần phải nắm bắt được doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có hiệu quả Phải xác định được xu hướng tiêu thụ của các mặt hàng để có thể kịp thời mở rộng hay thu hẹp phạm vi kinh doanh của mặt hàng đó để có thể thiết lập các kế hoạch cụ thể, xác thực

và nhằm đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời trong kinh doanh

- Quản lý về giá cả: Bao gồm việc lập và theo dõi việc thực hiện những chính sách giá Đây là một công việc quan trọng trong quá trình bán hàng, đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải xây dựng một chính sách giá phù hợp với từng mặt hàng, nhóm hàng từng phương thức bán và từng địa điểm kinh doanh Đồng thời đôn đốc kiểm tra việc thực hiện của các cửa hàng, đơn vị tránh được những biểu hiện tiêu cực về giá như tự

ý nâng hay giảm giá bán Quản lý về giá cả giúp các nhà quản lý theo dõi, nắm bắt được sự biến động của giá cả từ đó có chính sách giá linh hoạt phù hợp với từng thời

kỳ, từng giai đoạn

- Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với từng mặt hàng, từng thời kỳ, từng khách hàng

- Quản lý chất lượng nhằm cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản phẩm

là nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

- Quản lý việc thu tiền: Bao gồm thời hạn nợ, khả năng trả nợ, thời điểm thu tiền, phương thức thanh toán giúp các nhà quản lý tránh được rủi ro thất thoát tiền vốn trong quá trình bán hàng, xác định rõ khả năng quay vòng tiền vốn

- Giám sát chặt chẽ các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các số liệu đồng thời để phân bổ chi phí cho hàng

Trang 20

- Quản lý chặt chẽ việc xác định kết quả cuối cùng của quá trình tiêu thụ, tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước đầy đủ, kịp thời

1.2 Nội dung kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiêp

1.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng

 Khái niệm về doanh thu bán hàng

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14- Doanh thu và thu nhập khác “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”

Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch về bán hàng được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về bán hàng liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là khoản doanh thu mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc

do doanh nghiệp mua vào sau đó bán ra Trong đó: Doanh thu bán hàng là doanh thu bán sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tư

 Phân loại doanh thu bán hàng:

- Theo tình hình kinh doanh, doanh thu được phân loại thành:

+ Doanh thu bán thành phẩm

+ Doanh thu bán hàng hóa

+ Doanh thu cung cấp dịch vụ

+ Doanh thu trợ cấp, trợ giá

+ Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

- Theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh:

+ Doanh thu bán hàng bên ngoài

+ Doanh thu bán hàng nội bộ

Trang 21

- Theo khu vực địa lý:

+ Doanh thu nội địa

+ Doanh thu quốc tế

- Theo phương thức bán hàng, doanh thu bán hàng được phân loại thành: + Doanh thu bán hàng trực tiếp

+ Doanh thu bán hàng đại lý – ký gửi

+ Doanh thu bán hàng vận chuyển thẳng không qua thanh toán

- Bước 2: Sau khi nhận được một bảng báo giá của công ty Thì cả hai bên cần phải thống nhất bảng giá sao cho phù hợp có lợi cho cả hai bên Đối với bên mua cần gửi đơn đặt hàng cho công ty theo bảng chi tiết có số lượng, mã và quy cách sản phẩm cần sử dụng

- Bước 3: Khi nhận được đơn đặt hàng của đơn vị mua Thì công ty tiến hành kiểm tra số lượng hàng hóa còn trong kho còn có đủ so với đơn hàng không Và có đúng với mẫu mã đã cung cấp và được khách hàng yêu cầu không

- Bước 4: Khi kiểm tra xong công ty sẽ tiến hành bàn giao hàng hóa, hóa đơn, giấy tờ liên quan Như hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho, biên bản kiểm nghiệm hàng hóa và lập phiếu thu tiền hàng

Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp:

Hiện tại thì các doanh nghiệp thường áp dụng một số phương thức bán hàng như:

* Bán buôn hàng hoá là hình thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các

Trang 22

lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng ngay do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá chưa được thực hiện Hàng hóa bán buôn thường được bán theo

lô hàng hoặc bán với số lượng lớn Giá bán biến động tuỳ thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức thanh toán Trong bán buôn thường bao gồm hai phương thức:

- Phương thức bán buôn hàng hoá qua kho: Bán buôn hàng hoá qua kho là phương thức bán buôn hàng hoá mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp Bán buôn hàng hoá qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức:

+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ

+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại Chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về số hàng

đã giao Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu là

do sự thoả thuận từ trước giưa hai bên Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận chuyển, sẽ được ghi vào chi phí bán hàng Nếu bên mua chịu chi phí vận chuyển,

sẽ phải thu tiền của bên mua

- Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng: Theo phương thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho

mà chuyển bán thẳng cho bên mua Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:

+ Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (còn gọi là hình thức giao tay ba): Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán Sau khi đại diện

Trang 23

bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ

+ Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận Hàng hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền

sở hữu của doanh nghiệp thương mại Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hoá chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ

* Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc

các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ, giá bán thường

ổn định Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:

- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Bán lẻ thu tiền tập trung là hình thức bán hàng mà trong đó tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao Hết ca (hoặc hết ngày) bán hàng, nhân viên bán hàng căn

cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho kế toán tiền mặt

- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho kế toán tiền mặt Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng

- Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến bán tình tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng Nhân

Trang 24

Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hoá ở quầy (kệ) do mình phụ trách Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị

- Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần Doanh nghiệp thương mại, ngoài số tiền thu theo giá bán thông thường còn thu thêm ở người mua một khoản lãi do trả chậm Đối với hình thức này,

về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hoá bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhận doanh thu

- Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hàng hoá

mà trong đó, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng Khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua

- Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý Số hàng chyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hay chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu về số hàng này

Các phương thức thanh toán:

Cùng với sự đa dạng của phương thức bán hàng thì các doanh nghiệp cũng có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau Hiện nay doanh nghiệp áp dụng chủ yếu các phương thức thanh toán sau:

- Phương thức thanh toán trực tiếp (thanh toán trả ngay): Sau khi nhận được hàng mua, doanh nghiệp thương mại thanh toán ngay tiền cho người bán, có thể bằng tiền mặt, bằng tiền cán bộ tạm ứng, bằng chuyển khoản, có thể thanh toán bằng hàng (hàng đổi hàng) những hóa đơn trên 20 triệu phải chuyển khoản theo Thông tư 26/2015/TT-BTC tại Điều 1, Khoản 10 sửa đổi, bổ sung Điều 15, Thông tư

Trang 25

39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành Hình thức này đảm bảo thu tiền nhanh, tránh rủi ro thanh toán

- Phương thức thanh toán trả chậm, trả góp: đây là phương thức thanh toán mà khách hàng đã nhận hàng nhưng chưa thanh toán tiền cho người bán Việc thanh toán chậm trả có thể thực hiện theo điều kiện tín dụng ưu đãi theo thoả thuận của hai bên

 Nguyên tắc kế toán doanh thu bán hàng

Theo điều 78 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định Nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu cụ thể như sau:

- Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay

sẽ thu được tiền

- Doanh thu và chi phí tạo ra khoản doanh thu đó phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào chất bản chất và các Chuẩn mực kế toán để phản ánh giao dịch một cách trung thực, hợp lý

+ Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch Kế toán phải nhận biết các giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp với quy định của Chuẩn mực kế toán “Doanh thu”

+ Doanh thu phải được ghi nhận phù hợp với bản chất hơn là hình thức hoặc tên gọi của giao dịch và phải được phân bổ theo nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ.+ Đối với các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ của người bán ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, doanh thu phải được phân bổ theo giá trị hợp lý của từng nghĩa

vụ và được ghi nhận khi nghĩa vụ đã được thực hiện

- Doanh thu, lãi hoặc lỗ chỉ được coi là chưa thực hiện nếu doanh nghiệp còn

có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai (trừ nghĩa vụ bảo hành thông thường) và chưa chắc chắn thu được lợi ích kinh tế; Việc phân loại các khoản lãi, lỗ

Trang 26

là thực hiện hoặc chưa thực hiện không phụ thuộc vào việc đã phát sinh dòng tiền hay chưa.

+ Các khoản lãi, lỗ phát sinh do đánh giá lại tài sản, nợ phải trả không được coi

là chưa thực hiện do tại thời điểm đánh giá lại, đơn vị đã có quyền đối với tài sản và

đã có nghĩa vụ nợ hiện tại đối với các khoản nợ phải trả, ví dụ: Các khoản lãi, lỗ phát sinh do đánh giá lại tài sản mang đi góp vốn đầu tư vào đơn vị khác, đánh giá lại các tài sản tài chính theo giá trị hợp lý, chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ… đều được coi là đã thực hiện

- Doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba, như:

+Các loại thuế gián thu (thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường) phải nộp;

+Số tiền người bán hàng đại lý thu hộ bên chủ hàng do bán hàng đại lý;

+Các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán đơn vị không được hưởng;+Các trường hợp khác

Trường hợp các khoản thuế gián thu phải nộp mà không tách riêng ngay được tại thời điểm phát sinh giao dịch thì để thuận lợi cho công tác kế toán, có thể ghi nhận doanh thu trên sổ kế toán bao gồm cả số thuế gián thu nhưng định kỳ kế toán phải ghi giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp Tuy nhiên, khi lập Báo cáo tài chính kế toán bắt buộc phải xác định và loại bỏ toàn bộ số thuế gián thu phải nộp ra khỏi các chỉ tiêu phản ánh doanh thu gộp

- Thời điểm, căn cứ để ghi nhận doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế có thể khác nhau tùy vào từng tình huống cụ thể Doanh thu tính thuế chỉ được sử dụng

để xác định số thuế phải nộp theo luật định; Doanh thu ghi nhận trên sổ kế toán để lập Báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và tùy theo từng trường hợp không nhất thiết phải bằng số đã ghi trên hóa đơn bán hàng

- Khi luân chuyển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong nội bộ doanh nghiệp, tùy theo đặc điểm hoạt động, phân cấp quản lý của từng đơn vị, doanh nghiệp có thể quyết định việc ghi nhận doanh thu tại các đơn vị nếu có sự gia tăng trong giá trị sản phẩm, hàng hóa giữa các khâu mà không phụ thuộc vào chứng từ kèm theo (xuất hóa đơn hay chứng từ nội bộ) Khi lập Báo cáo

Trang 27

tài chính tổng hợp, tất cả các khoản doanh thu giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp đều phải được loại trừ.

- Doanh thu được ghi nhận chỉ bao gồm doanh thu của kỳ báo cáo Các tài khoản phản ánh doanh thu không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển doanh thu để xác định kết quả kinh doanh

Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng

Căn cứ vào Điểm 10 VAS 14, doanh thu bán hàng của doanh nghiệp được ghi

nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:

- Đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua;

- Không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng

Trong đó quy định về điều kiện doanh thu được xác định tương đối chắc chắn như sau (Theo thông tư 200/2014/TT-BTC):

- Hợp đồng quy định người mua được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá, đã mua theo điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá

- Nếu khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch vụ khác thì vẫn ghi nhận doanh thu từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ

Căn cứ vào Điểm 16 VAS 14, doanh thu cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ;

- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán;

Trang 28

- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó

Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:

Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh - thời điểm hàng hoá được xác định là tiêu thụ, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa

Thời điểm đó đựơc quy định khác nhau theo phương thức bán hàng khác nhau Thời điểm đó được quy định cụ thể như sau:

- Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ

- Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên mua hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán

- Bán lẻ hàng hoá: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm nhận được báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng

- Bán hàng đại lý, ký gửi: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm cơ sở đại

lý ký gửi thanh toán tiền hàng hay chấp nhận thanh toán hoặc thông báo hàng đã bán được

Xác định doanh thu bán hàng:

Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại

Công thức tính doanh thu bán hàng:

Doanh thu bán hàng (đối với hoạt động bán sản phẩm) = Khối lượng hàng hóa bán ra x Giá bán đơn vị sản phẩm

Doanh thu thuần bán hàng = Doanh thu bán hàng – Các khoản giảm trừ doanh thu

Trang 29

Căn cứ vào phương pháp tính thuế GTGT mà doanh thu bán hàng được xác định như sau:

- Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ được ghi nhận là giá bán chưa thuế của hàng hóa, dịch vụ đó

- Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, doanh thu bán hàng và dịch vụ được ghi nhận là tổng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ đó Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không bao gồm các khoản thuế gián thu phải nộp như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ môi trường

Trong trường hợp không tách ngay được số thuế gián thu phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh thu, kế toán ghi nhận doanh thu bao gồm cả số thuế phải nộp và định

kỳ phải ghi giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp

Khi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi để lấy một hàng hóa dịch vụ tương tự, về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu

Khi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi để lấy một hàng hóa, dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi này được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Doanh thu trong trường hợp này được xác định dựa vào giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ nhận

về sau khi đã điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Nếu giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ nhận về không xác định được thì doanh thu được xác định dựa theo giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ đem đi trao đổi sau khi đã điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm

 Chứng từ sử dụng

- Hoá đơn GTGT (đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, trong đó ghi rõ phần giá trị chưa có thuế, thuế GTGT và tổng giá thanh toán);

- Hoá đơn bán hàng: ghi tổng giá thanh toán (đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc kinh doanh những mặt hàng không thuộc đối tương chịu thuế GTGT);

Trang 30

- Phiếu xuất kho hay Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ;

- Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý;

- Báo cáo bán hàng; Bảng kê bán lẻ hàng hoá, cung cấp dịch vụ; Bảng thanh toán hàng đại lý (ký gửi);

- Hóa đơn cước vận chuyển, hóa đơn dịch vụ;

- Thẻ quầy hàng; Giấy nộp tiền; Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày;

- Các biên bản thừa thiếu hàng, Biên bản giảm giá hàng bán, Biên bản hàng bán bị trả lại;

- Các chứng từ thanh toán: phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủy nhiệm thu, giấy báo có, bảng sao kê của ngân hàng,…

- Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi;

- TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ

- TK 5114 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá

- TK 5117 - Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

- TK 5118 – Doanh thu khác

TK 3331 “Thuế GTGT phải nộp”

TK 3387 “Doanh thu chưa thực hiện” TK này dùng để phản ánh số tiền trả trước về cho thuê tài sản, cho thuê BĐSĐT; khoản chênh lệch giá bán trả góp, trả chậm với giá bán trả ngay; khoản lãi nhận trước khi cho vay vốn, mua công cụ nợ; chênh lệch giá bán lớn hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán rồi lại thuê theo phương thức thuê tài chính; chênh lệch giá bán lớn hơn giá trị hợp lý của TSCĐ bán rồi lại thuê theo phương thức thuê hoạt động; phần thu nhập khác hoãn lại khi góp vốn liên doanh

Trang 31

thành lập cơ sở đồng kiểm soát có giá trị góp vốn được đánh giá lớn hơn giá trị thực

tế của vật tư, sản phẩm hàng hóa hoặc giá trị còn lại của TSCĐ đem đi góp vốn Các TK liên quan khác (TK 111, 112, 131, …)

Phương pháp hạch toán:

Phụ lục 1.1: Trình tự kế toán doanh thu bán hàng 1.2.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

Khái niệm về các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu đúng theo tên gọi là những khoản sẽ làm cho doanh thu mà doanh nghiệp tạo ra bị giảm đi Căn cứ và VAS 14 và quy định pháp luật về kế toán, ta có các khoản giảm trừ doanh thu như sau:

 Chiết khấu cho thương mại: Đây là khoản mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc

đã thanh toán cho người mua hàng nếu người mua đã mua hàng với khối lượng lớn

và theo thỏa thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại (đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng)

Để khuyến khích khách hàng mua, Công ty có chiết khấu cho khách hàng theo hình thức bán buôn và khách hàng thường xuyên Chiết khấu thương mại (hay chiết khấu bán hàng) làm giảm doanh thu nhưng làm cho việc kinh doanh trở nên thuận lợi, thuận mua vừa bán

 Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như: hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm trong hợp đồng Trong trường hợp giảm giá ngoài hoá đơn, bên mua lập “Biên bản thoả thuận”

và Chi nhánh tiến hành xuất “Hoá đơn giảm giá”, sau đó kế toán phản ánh khoản giảm giá vào tài khoản 5212- “Giảm giá hàng bán”, ghi giảm thuế GTGT, công nợ của khách hàng hoặc trả bằng tiền…

Trường hợp giảm giá được xác định ngay, khoản giảm giá được thực hiện ngay trên hoá đơn GTGT Khi đó, giá bán trên hoá đơn là giá đã được giảm, kế toán không ghi nhận vào tài khoản 5213 mà ghi giảm trực tiếp trên tài khoản 511

 Hàng bán bị trả lại: Là số sản phẩm, hàng hóa đã được coi là tiêu thụ (đã

Trang 32

khách hàng trả lại và từ chối thanh toán, do các nguyên nhân như: Vi phạm cam kết,

vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách…

Tương ứng với hàng bán bị trả lại là Giá vốn hàng bán bị trả lại (tính theo giá vốn khi bán), và doanh thu hàng bán bị trả lại, cùng với thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng đã bán bị trả lại

Trường hợp Công ty đã xuất hoá đơn và khách hàng đã nhận hàng, khách hàng nhận hàng và kiểm tra hàng không đạt chất lượng thì trả lại một phần hay toàn bộ số hàng đó Khi phát sinh nghiệp vụ trên, khách hàng lập “Biên bản trả lại hàng” ghi lý

do trả lại hàng, kèm thêm biên bản copy “Hoá đơn GTGT” của số hàng đó, kế toán bán hàng sẽ lập “Phiếu nhập kho hàng bán bị trả lại” và hạch toán vào tài khoản 5213

- Hàng bán bị trả lại Nghiệp vụ này sẽ làm giảm doanh thu bán hàng của công ty Trường hợp công ty đã xuất hàng khách hàng chưa nhận hàng và lập hoá đơn, khách hàng kiểm tra hàng không đạt chất lượng thì trả lại một phần hay toàn bộ số hàng đó Khi trả lại hàng bên mua và công ty phải lập biên bản ghi rõ loại hàng hoá,

số lượng, giá trị chưa có thuế GTGT, tiền thuế GTGT, lý do trả lại hàng theo hoá đơn bán hàng (Số, ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn) đồng thời kèm theo hoá đơn gửi trả lại cho công ty để công ty lập lại hoá đơn GTGT cho số hàng hoá đã nhận, và làm căn cứ cho công ty điều chỉnh doanh thu và thuế GTGT đầu ra

- Văn bản về chính sách chiết khấu thương mại của doanh nghiệp

- Biên bản đánh giá phẩm chất, quy cách của hàng bán

- Hóa đơn bên mua trả lại

- Văn bản về lý do trả lại hàng bán

Trang 33

- Biên bản hàng hóa bị trả lại

Khái niệm giá vốn hàng bán:

Giá vốn hàng bán: là giá thực tế xuất kho bao gồm cả chi phí mua hàng phân

bổ cho sản phẩm, hàng hóa đã bán ra trong kỳ, hoặc là giá thành thực tế của sản phẩm, hàng hóa được sản xuất đã được xác định là tiêu thụ và các khoản khác được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ Khi hàng hóa xác định là tiêu thụ

và được phép ghi nhận doanh thu thì đồng thời cũng phải phản ánh giá vốn hàng bán của số hàng được tiêu thụ đó

Đối với doanh nghiệp thương mại thì giá vốn hàng bán bao gồm tất cả các chi phí trong quá trình đưa hàng hóa về nhập kho của doanh nghiệp như: giá mua từ nhà cung cấp, chi phí vận chuyển hàng hóa về nhập kho, bảo hiểm hàng hóa, thuế (nếu có) Cụ thể:

- Chi phí mua hàng: Là chi phí bỏ ra dùng để mua hàng hóa, sản phẩm, thành phẩm từ nhà cung cấp

- Chi phí vận chuyển: Là chi phí doanh nghiệp bỏ ra để vận chuyển hàng hóa từ chỗ nhà cung cấp về kho của doanh nghiệp hay các cửa hàng, đại lý

- Chi phí bảo hiểm: Đối với một số loại hàng hóa đặc biệt sẽ có chi phí bảo hiểm hàng hóa trong quá trình vận chuyển như bảo hiểm hư hỏng, bảo hiểm mất mát

Trang 34

- Thuế: Nếu hàng hóa được nhập khẩu về Việt Nam sẽ bao gồm các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

- Chi phí kho, bãi: Là chi phí thuê kho, bãi để bảo quản, dự trữ hàng hóa trước khi đem đi tiêu thụ

 Nguyên tắc ghi nhận giá vốn

Về nguyên tắc, sản phẩm hàng hóa phải được đánh giá theo nguyên tắc giá gốc

Các phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho:

Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh, hàng tồn kho, yêu cầu quản lý

mà doanh nghiệp tiến hành lựa chọn phương pháp phù hợp nhất Song doanh nghiệp

áp dụng phương pháp nào đòi hỏi phải nhất quán trong suốt niên độ kế toán Nếu có

sự thay đổi phải giải trình và thuyết minh, nêu rõ những tác động của sự thay đổi tới các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC có 3 phương pháp tính giá hàng xuất kho

* Phương pháp bình quân gia quyền

Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Phương pháp bình quân có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp Giá trị của từng loại hàng HTK được tính theo giá trị trung bình của từng loại HTK đầu kỳ và giá trị từng loại HTK được mua hoặc sản xuất trong kỳ

Trị giá hàng hóa

xuất kho =

Số lượng hàng hóa xuất

kho x Đơn giá bình quân

Trong đó, đơn giá bình quân gia quyền có thể xác định theo những cách sau:

- Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (Giá trị bình quân cả kỳ dự trữ): Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá mua, giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

Trang 35

Đơn giá bình quân cả kỳ dự

Số lượng hàng hóa tồn

Số lượng hàng hóa nhập trong kỳ

Phương pháp này là khá đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối

kỳ Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm lớn là công tác kế toán dồn vào cuối

kỳ ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác Hơn nữa, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp

vụ

- Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập:

Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và lượng xuất giữa 2 lần nhập kế tiếp để tính giá xuất theo công thức sau:

Giá đơn vị

bình quân sau

mỗi lần nhập

= Trị giá thực tế hàng tồn kho sau mỗi lần nhập

Số lượng thực tế hàng tồn kho sau mỗi lần nhập

Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ, nhưng việc tính toán là khá phức tạp, nhiều lần, và tốn nhiều công sức Do đặc điểm trên mà phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, và có lưu lượng nhập xuất ít

* Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO):

Theo phương pháp này, phải xác định chính xác giá thực tế nhập kho của từng lần nhập Hàng nào nhập trước thì xuất trước theo đúng giá từng lần nhập tương ứng Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn Nếu giá cả có xu hướng tăng thì giá trị hàng tồn kho sát với thực tế tại thời điểm cuối kỳ Do đó, giá

Trang 36

trị hàng xuất trong kỳ thấp, giá trị hàng tồn kho cao dẫn đến chi phí kinh doanh giảm, lợi nhuận tăng Ngược lại, nếu giá cả hàng hóa có xu hướng giảm thì trị giá hàng tồn kho nhỏ, chi phí tăng và lợi nhuận giảm

Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó Vì vậy, chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn

Ưu điểm của phương pháp này là việc tính đơn giản, dễ làm, tương đối hợp lý nhưng khối lượng công việc hạch toán nhiều, lại phụ thuộc vào xu hướng giá cả thị trường

Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị hàng hoá đã có được từ cách đó rất lâu Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều

* Phương pháp tính giá theo giá thực tế đích danh:

Theo phương pháp này, giá thực tế của hàng hóa xuất kho theo từng lô hàng, từng lần nhập, tức là xuất vào lô hàng nào thì tính theo trị giá của lô hàng đó Phương pháp này phản ảnh chính xác từng lô hàng nhưng công việc phức tạp đòi hỏi thủ kho phải nắm chi tiết từng lô hàng Phương pháp này thường được áp dụng trong những doanh nghiệp mà hàng tồn kho có giá trị cao và cần phải tách biệt

Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương

Trang 37

pháp này Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại mặt hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này

Ngoài ra, trường hợp nếu doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để hạch toán chi tiết hàng nhập – xuất thì cuối kỳ, kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực

tế để phản ánh trên các tài khoản

Khi xác định trị giá hàng hóa xuất kho, người ta xác định trị giá mua hàng hóa xuất kho và phân bổ chi phí thu mua cho hàng hóa xuất kho trong kỳ

Chi phí mua hàng:

Chi phí mua hàng là các khoản chi tiêu cần thiết để doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ mua hàng và dự trữ kho hàng

Chi phí mua hàng bao gồm:

- Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bốc xếp hàng hóa

- Chi phí bảo quản hàng hóa từ nơi mua về đến kho doanh nghiệp

- Chi phí thuê kho bãi, và chi phí kho bãi chứa đựng hàng hóa trung gian

- Công tác phí của nhân viên thu mua

- Lệ phí cầu, đường, phà phát sinh khi mua

- Chi phí hoa hồng môi giới liên quan đến khâu mua hàng

- Chi phí hao hụt hàng mua trong định mức

Công thức phân bổ chi phí thu mua hàng hóa: Chi phí mua hàng là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến hàng hóa tồn đầu kỳ và hàng hóa nhập trong kỳ Do đó, đến cuối kỳ kế toán phải thực hiện phân bổ chi phí này cho số hàng đã tiêu thụ Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là: trị giá mua, số lượng sản phẩm, trọng lượng…

Trang 38

Chi phí thu

mua phân

bổ cho hàng

Trị giá mua hàng hóa tồn đầu kỳ

+ Trị giá mua hàng hóa nhập trong kỳ

Phụ lục 1 3: Kế toán giá vốn hàng bán (Theo phương pháp kê khai thường

xuyên)

1.2.4 Kế toán chi phí bán hàng

 Khái niệm chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ bao gồm chi phí phục vụ cho khâu bảo quản, dự trữ, tiếp thị, bán hàng và bảo hành sản phẩm, bao gồm:

Trang 39

- Chi phí nhân viên bán hàng: Là toàn bộ các khoản tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vận chuyển

đi tiêu thụ và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ)

- Chi phí vật liệu, bao bì: Là toàn bộ các khoản chi phí về vật liệu, bao bì để đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá; vật liệu dùng để sửa chữa TSCĐ dùng trong khâu bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm, hàng hóa

- Chi phí dụng cụ đồ dùng: Là chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo lường, tính toán làm việc ở khâu bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận tải

- Chi phí bảo hành:

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài nhằm phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí thuê tài sản, tiền hoa hồng đại lý

- Chi phí vận chuyển

- Chi phí bằng tiền khác: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong các khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ nằm ngoài các chi phí trên

Các chứng từ sử dụng:

- Bảng tính lương và các khoản trích theo lương của bộ phận bán hàng

- Hóa đơn GTGT (các hàng hóa, dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động bán hàng)

- Hợp đồng bảo hành

- Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, phân bổ CCDC trong kỳ phục vụ cho quá trình bán hàng

- Phiếu chi, phiếu thu, giấy báo nợ của ngân hàng, giấy báo có…

Tài khoản sử dụng: TK 641 - Chi phí bán hàng

TK 641 không số dư cuối kỳ, có 7 tài khoản cấp 2:

- TK 6411: Chi phí nhân viên

- TK 6412: Chi phí vật liệu, bao bì

Trang 40

Phụ lục 1 4: quy trình hạch toán kế toán chi phí bán hàng

1.2.5 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp

 Khái niệm chi phí quản lý kinh doanh

Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính phục vụ chung liên quan đến hoạt động của cả doanh nghiệp Là một loại chi phí thời kỳ, được tính đến khi hạch toán lợi tức thuần của kỳ báo cáo Chi phí doanh nghiệp phản ánh các khoản chi phí cho quản lý văn phòng và các khoản chi phí kinh doanh không gắn được với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp Bao gồm:

- Chi phí lương nhân viên quản lý: Tiền lương, các khoản trích theo lương, phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý (Giám đốc, nhân viên quản lý các phòng ban, nhân viên quản lý phân xưởng, )

- Chi phí vật liệu quản lý: Giá trị thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu dùng cho hoạt động quản lý doanh nghiệp

- Chi phí đồ dùng văn phòng: Là những chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, phương tiện truyền dẫn,

- Thuế, phí và lệ phí: Các khoản thuế như thuế nhà đất, thuế môn bài, và các khoản phí, lệ phí giao thông, cầu phà,

Ngày đăng: 09/11/2023, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. GS.TS.NGND. Ngô Thế Chi, PGS.TS.Trương Thị Thủy (2013), Giáo trình kế toán tài chính, Học viện Tài chính, Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán tài chính
Tác giả: GS.TS.NGND. Ngô Thế Chi, PGS.TS.Trương Thị Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2013
1. Bộ tài chính (2008), Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam – Hướng dẫn thực 2. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp Khác
4. GS.TS Đặng Thị Loan (2013) Giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp, NXB Đại học kinh tế quốc dân, HN Khác
7. Hệ thống slide bài giảng: Nguyên lý kế toán, Kế toán tài chính 1, Kế toán tài chính 2, Kế toán quản trị,... của Học viện Chính sách và phát triển Khác
8. Tài liệu Công ty TNHH xây dựng và dịch vụ thương mại Thành Thắng Khác
9. Thông tư 39/2014/TT-BTC ban hành ngày 31/03/2014 hướng dẫn thi hành nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm