1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (19612001) " ppt

24 449 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 227,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quyết định của Chính phủ chức năng nhiệm vụ chủ yếu của Viện là: - Nghiên cứu khoa học kỹ thuật về các lĩnh vực lâm sinh, công nghiệp rừng và kinh tế lâm nghiệp phục vụ cho công tác

Trang 1

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành 2001)

Ra đời chưa được bao lâu, cùng với cả nước cán bộ công nhân viên của Viện phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Toàn Viện phải đi sơ tán, cách xa thủ đô hàng trăm km dựng lán làm nhà tiếp tục công tác nghiên cứu khoa học Góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều cán bộ của Viện đã vào Nam chiến đấu có đồng chí đã vĩnh viễn yên nghỉ tại núi rừng phía Nam Chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt (1967-1971) nhưng hoạt động nghiên cứu vẫn sôi nổi, đều đặn nhằm phục vụ trước mắt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ

và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa

Năm 1971, khối nghiên cứu công nghiệp rừng được tách ra để thành lập Công ty thiết kế công trình công nghiệp nhằm tăng cường cán bộ nghiên cứu trực tiếp phục

vụ sản xuất chi viện tiền tuyến và tới năm 1974 thành lập Viện Công nghiệp rừng Đến năm 1982, Viện kinh tế lâm nghiệp cũng được ra đời để nghiên cứu phục vụ

Trang 2

cho quản lý kinh tế của ngành Từ đó hệ thống nghiên cứu của ngành bao gồm 3 Viện: Viện Lâm nghiệp, Viện Công nghiệp rừng, Viện Kinh tế lâm nghiệp cùng với 2 Phân viện Đặc sản rừng và Công cụ cơ giới trồng rừng

Thực hiện việc đổi mới tháng 8/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định hợp nhất 3 Viện thành Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Mặc dù trong hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình, một Viện hay ba Viện thì các cán

bộ nghiên cứu của chúng ta cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Theo quyết định của Chính phủ chức năng nhiệm vụ chủ yếu của Viện là:

- Nghiên cứu khoa học kỹ thuật về các lĩnh vực lâm sinh, công nghiệp rừng và kinh tế lâm nghiệp phục vụ cho công tác quản lý của ngành

- Tham gia tiến hành các chương trình khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội của

ngành, đề xuất các cơ chế quản lý kinh tế, các chế độ chính sách về kinh tế kỹ thuật

- Đào tạo cán bộ trên đại học cũng như góp phần nâng cao kiến thức cho cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành

- Thực thi các chương trình hợp tác đã được ký kết, ngoài ra Viện còn tham gia các hoạt động sản xuất, dịch vụ, tư vấn cho sản xuất thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ

Trong những năm 1991-1995 nhiệm vụ trọng tâm của ngành được xác định là:

Phải bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên hiện có, nâng cao độ che phủ bằng biện pháp khoanh nuôi và từng bước phủ xanh đất trống đồi núi trọc Để thực

hiện được nhiệm vụ trên Ngành Lâm nghiệp đã chuyển hoạt động từ lâm nghiệp Nhà nước (lấy quốc doanh làm chủ đạo) sang lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng khuyến khích người dân tham gia sản xuất lâm nghiệp và bảo vệ rừng Nhằm

Trang 3

phục vụ thiết thực yêu cầu của ngành và kế hoạch Nhà nước, công tác nghiên cứu của Viện thực hiện theo các chương trình trọng tâm cấp Nhà nước, cấp Ngành cũng như các vấn đề bức xúc của sản xuất đặt ra

Trong giai đoạn 1986-1990, Viện đã thực hiện 41 đề tài trong 4 chương trình cấp Nhà nước (04A, 16B, 02C và bảo tồn gen) và 4 chương trình cấp Ngành (Đổi mới quản lý kinh tế lâm nghiệp, điều chế rừng, sử dụng tài nguyên rừng và đặc sản rừng) cũng như đã tham gia vào chương trình Tây Nguyên II

Giai đoạn 1991-1995, các chương trình cấp Nhà nước đòi hỏi đồng bộ hơn, việc tổ chức thực hiện đòi hỏi phải tập hợp liên ngành Viện được giao chủ trì Chương trình KN03 “Khôi phục rừng và phát triển Lâm nghiệp” là một trong số 30 chương trình tiến bộ khoa học công nghệ có trọng điểm do Nhà nước quản lý Viện đã thực hiện 10 đề tài trong số 14 đề tài của chương trình, 4 đề tài còn lại do các Viện khác phối hợp thực hiện Ngoài ra Viện còn tham gia các đề tài thuộc chương trình KC07, KT12, bảo tồn gen, 15 đề tài cấp Ngành và đặc biệt là việc chuyển giao kỹ thuật thông qua thực hiện các dự án phát triển miền núi do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chủ trì các dự án khuyến lâm và các dự án sản xuất thử

Đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo là một nhân tố có tính quyết định những thành tựu đạt được trong 35 năm qua Trải qua nhiều thế hệ được đào tạo trong những điều kiện khác nhau, các lớp đàn anh đào tạo từ trước cách mạng đi tham gia kháng chiến trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt trong nghiên cứu khoa học như đ/c Trần Ngũ Phương, GS.TSKH.Đồng Sỹ Hiền, GS.TSKH Thái Văn Trừng, GS.TSKH Nguyễn Văn Trương, PGS Lâm Công Định, KS.Vương Tấn Nhị, KS Nguyễn Văn Viễn, KS Phạm An, KS Nguyễn Văn Cứ, KS Lê Văn Chung, KS Nguyễn Sỹ Nguyên Nhiều đ/c đã có các công trình có giá trị tầm cỡ quốc tế được công bố

Trang 4

Lớp sau cách mạng được đào tạo ở trong nước và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ cũng đã trưởng thành với các công trình khoa học và hướng dẫn nghiên cứu sinh bảo vệ thành công Luận án phó tiến sỹ (nay là tiến sỹ) Có một số đ/c đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Ngành, nhiều đ/c đạt học vị tiến sỹ khoa học, có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp khoa học của Ngành

Song song với công tác nghiên cứu khoa học, từ năm 1982 Viện là cơ quan đầu tiên trong ngành Lâm nghiệp được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ, ký Quyết định số 333/CT giao cho Viện nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh theo 8 chuyên ngành chuyên sâu trong lâm nghiệp Đối tượng đào tạo là các cán bộ khoa học kỹ thuật trong và ngoài ngành lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương trên phạm vi toàn quốc

Kết quả mở 9 khoá tuyển được 84 NCS, trong đó 44 NCS đã bảo vệ thành công luận án để nhận bằng phó tiến sỹ, tính đến năm 1996 Viện đã có 15 cán bộ khoa học đầu đàn được phong hàm giáo sư, phó giáo sư

Cùng với đào tạo trong nước chúng ta đã gửi hàng trăm lượt cán bộ khoa học đi tham quan đào tạo ở nước ngoài Nhiều đồng chí đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ-tiến sỹ khoa học ở Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Hungary trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây

Công tác đào tạo với nhiều hình thức phong phú đã góp phần quan trọng, thiết thực nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nghiên cứu và quản lý của Viện cũng như các cơ quan khác trong ngành, nâng cao uy tín của Viện, nâng cao trình độ cán bộ ngang tầm với nhiều nước trong khu vực, phát huy vai trò vị trí một Viện đầu ngành trong lâm nghiệp trước đây cũng như hiện nay

Nghiên cứu về rừng không chỉ đòi hỏi về thời gian mà cả không gian bởi lẽ đất nước chúng ta trải dài trên nhiều vĩ độ, nhiều vùng sinh thái khác nhau, vì vậy ngoài đội ngũ nghiên cứu cần phải có mạng lưới các Trung tâm tại một số vùng

Trang 5

điển hình trong nước Sau khi thống nhất 3 Viện có 3 Trung tâm nghiên cứu

chuyên đề (cải thiện giống, sinh thái môi trường và lâm đặc sản), 12 Trung tâm vùng và Phân viện, 2 Trung tâm chuyển giao kỹ thuật lâm sinh và công nghiệp rừng, một Xí nghiệp chế biến hạt điều Các đơn vị này phân bố từ Cầu Hai (Phú Thọ), Tây Bắc (Sơn La), Tây Nguyên (Gia Lai), Lâm Đồng, Đông Nam Bộ, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh với tổng số diện tích 5000 ha rừng thực nghiệm được xây dựng thành các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và là hiện trường thí nghiệm

Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến các kết quả của Viện là công tác hợp tác quốc tế Những năm mới thành lập Viện chúng ta nhận được sự giúp đỡ đào tạo cán bộ của một số nước xã hội chủ nghĩa Từ những năm cuối thập kỷ 70 quan hệ quốc tế được mở ra, các dự án tăng cường năng lực nghiên cứu cho Viện không những thay đổi được thiết bị, phương tiện đi lại mà còn tạo điều kiện cho hàng trăm lượt cán bộ đi nước ngoài như các dự án VIE/015-016, VIE/05,

VIE/027 do FAO và UNDP tài trợ và một số dây chuyền khai thác vận chuyển của Liên Xô cũ được khảo nghiệm tại Tây Nguyên

Cùng với chính sách mở cửa, mối quan hệ song phương với các tổ chức SAREC (Thuỵ Điển), IDRC (Canada), ACCT (Pháp), CSIRO (Australia), JICA (Nhật) và một số công ty như NIC, OJI (Nhật), tổ chức phi chính phủ OSB (Australia) đã được thiết lập

Chặng đường 35 năm hoạt động của Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật về rừng không phải là dài, nhưng thế hệ sau kế thừa và phát huy thế hệ trước Viện đã thu được những kết quả từ các đề tài, dự án trở thành các tiến bộ kỹ thuật, các qui trình qui phạm triển khai áp dụng vào sản xuất

Sự nỗ lực đó thể hiện qua 449 công trình khoa học bao gồm các đề tài nghiên cứu, các dự án trong nước và quốc tế chưa kể đến các công trình luận án của các nhà

Trang 6

khoa học đã bảo vệ thành công luận án của mình theo các trình độ phó tiến sỹ, tiến

sỹ trước đây ở các Hội đồng khoa học trong và ngoài nước Chính vì sự nỗ lực đó

mà Đảng và Chính phủ đã tặng cho cán bộ công nhân viên của Viện:

- 458 Huân, Huy chương các loại

- 372 Huy chương vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng

- 32 Huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ và hàng chục bằng lao động sáng tạo

2 Bước phát triển của Viện trong 5 năm qua(1996-2001)

Trong 5 năm qua (1996-2001) kể từ khi kỷ niệm 35 năm thành lập Viện chúng ta

đã thừa kế những kết quả nghiên cứu trước kia và tiếp tục hoàn thiện bổ sung những kết quả nghiên cứu mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất và của Ngành, đồng thời tăng cường xây dựng tiềm lực nghiên cứu của Viện

Kỷ niệm 40 năm thành lập Viện chúng ta hãy điểm lại những thành tựu chủ yếu đã đạt được trong thời gian qua

2.1 Những thành tựu chủ yếu trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật vào sản xuất

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cũng như các Viện nghiên cứu khác trong

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham gia thực hiện các đề tài trong

chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, các đề tài độc lập cấp Nhà nước, các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, các dự án sản xuất thử cấp ngành, chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật vào sản xuất theo yêu cầu của Bộ

Trong giai đoạn 1996-2001 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang thực hiện 4 đề tài và 1 nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước

Trang 7

- Đề tài về cải thiện giống cây rừng trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KC-08 (1996-2000)

- Đề tài độc lập cấp Nhà nước về phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt và thâm canh rừng trồng công nghiệp phục vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (1997-2000)

- Đề tài độc lập cấp Nhà nước về phục hồi rừng ngập mặn Mangrove và rừng Tràm Melaleuca (2000-2002)

- Xác định nhanh các loài gỗ chủ yếu ở Việt Namtrong chương trình khoa học cơ bản cấp Nhà nước

- Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về bảo tồn nguồn Gen cây rừng

Ngoài ra, Viện còn tham gia thực hiện trên 30 đề tài trọng điểm cấp Bộ và nhiệm

vụ nghiên cứu trong các lĩnh vực lâm sinh, chế biến lâm sản, kinh tế lâm nghiệp

Gắn với chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Viện cũng được giao thực hiện các

đề tài 661: Xác định các loài cây trồng cho rừng phòng hộ và đặc dụng trong toàn quốc, xác định suất đầu tư phù hợp cho việc gây trồng rừng phòng hộ và đặc dụng, xây dựng biểu thể tích cho một số loài cây trồng rừng; các dự án 661 dựa trên các kết quả nghiên cứu đã có và hoàn thiện bổ sung thêm; gây trồng sở, hồi, rừng thông nhựa có sản lượng nhựa cao, rừng keo và bạch đàn cao sản với năng suất 30-40 m3/ ha/ năm, rừng trồng keo lá tràm (A auriculiformis), keo lưỡi liềm (A

crassicarpa), thử nghiệm trên diện rộng trong toàn quốc các dòng keo lai đã tuyển

chọn, khoanh nuôi tái sinh và làm giầu rừng lá rộng thường xanh

Các dự án điều tra cơ bản đã được thực hiện: Đánh giá kinh tế xã hội vùng đệm, đánh giá nhu cầu về giống cho trồng rừng và xác định các rừng giống tự nhiên và gây trồng, đánh giá thực trạng nương rãy ở Tây Nguyên và kiến nghị giải pháp, điều tra đánh giá thực trạng các vườn ươm và năng lực cung cấp cây giống phục

Trang 8

vụ chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Ngoài ra, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Namcũng thực hiện dự án giống cây trồng và dự án bảo tồn nguồn gen

2.1.1 Kết quả nghiên cứu về mặt lâm sinh

Những kết quả nổi bật là:

- Tiếp tục bổ sung và khẳng định những biện pháp phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt thông qua hàng loạt các biện pháp kỹ thuật lâm sinh; xúc tiến tái sinh tự nhiên, từng bước cải thiện tổ thành rừng hướng rừng phát triển theo các mục tiêu kinh tế đa dạng với nhóm các loài cây có giá trị kinh tế với tốc độ sinh trưởng nhanh, làm giàu rừng bằng các biện pháp khác nhau đặc biệt bổ sung các loài kinh

tế theo các đám trống Các biện pháp lâm sinh được hình thành trên cơ sở thực nghiệm và nghiên cứu, có kiến thức và hiểu biết về sinh thái quần thể và sinh thái

cá thể loài Mỗi biện pháp lâm sinh thực hiện còn dựa trên cơ sở phân loại các trạng thái rừng nghèo, rừng kiệt sau khai thác

- Xác định mối quan hệ giữa phân bố rừng ngập mặn và đặc điểm đất đai ở miền Bắc, các mô hình lâm ngư kết hợp trên thực tiễn làm cơ sở phục hồi phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ngoài Bắc

- Kết quả trồng rừng cây bản địa đặc biệt họ Sao, Dầu ở miền Nam, các đề tài thử nghiệm trồng rừng cây họ Dầu như vên vên, dầu rái trong thời gian qua của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có thể khẳng định rằng: Bằng các biện pháp lâm sinh phù hợp tạo lớp áo phủ ban đầu trên đất đồi trọc đã thoái hoá (ví dụ sử dụng keo lá tràm, đậu tràm ), các rừng trồng cây bản địa họ Dầu có thể thành công đã

mở ra triển vọng về khả năng phục hồi dần hệ sinh thái rừng lá rộng trên đất đồi trọc bị thoái hoá

- Các kết quả nghiên cứu về cải thiện giống đặc biệt lựa chọn các dòng ưu việt keo lai, bạch đàn và bạch đàn lai cùng các biện pháp thâm canh, làm đất, bón phân có

Trang 9

thể tạo rừng trồng có năng suất cao, đạt tới 25-30m3/ ha/ năm hoặc hơn Yếu tố quyết định năng suất rừng trồng đó là việc chọn giống và cải thiện giống Tuy nhiên, rừng trồng với các nguồn giống được cải thiện chỉ đạt được năng suất cao trong quá trình thâm canh khi lựa chọn những lập địa gây trồng thích hợp, thoả mãn những điều kiện tối thiểu cho sự phát triển của rừng

- Các nghiên cứu về khảo nghiệm loài, xuất xứ, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật lâm sinh gây trồng rừng, điều tra, đánh giá các mô hình thực tiễn trong thời gian qua đã cho phép thiết lập danh mục hàng trăm loài cây có khả năng gây trồng ở nước ta trong các vùng sinh thái khác nhau với các mục tiêu khác nhau: phòng hộ, đặc dụng, sản xuất Song song đó là các nghiên cứu về cải thiện giống, thâm canh rừng trồng đã làm cơ sở cho ngành lựa chọn những loài cây chủ lực trồng rừng kinh tế với mục tiêu năng suất cao (tối thiểu 18-20m3/ ha/ năm), chu kỳ kinh doanh ngắn 6-10 năm và tạo nên các sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế, có thị trường tiêu thụ Đó là các nhóm loài cây bạch đàn, keo, thông, tre trúc, tràm, xà

cừ, tếch có thể trồng rừng tập trung và nhiều loài cây trồng phân tán khác

- Nghiên cứu về sâu bệnh rừng trồng (đặc biệt là đối với bạch đàn) và đang tiếp tục nghiên cứu đối với rừng keo mangium, thông ba lá đã chỉ ra tính không bền vững của rừng thuần loài, tập trung; xuất hiện sâu bệnh nghiêm trọng sau 10-15 năm gây trồng Đó là điều cần quan tâm trong công tác trồng rừng hướng tới tính

đa dạng sinh học với nhiều loài, nhiều dòng và xuất xứ, xen kẽ nhau theo khối, đồng thời cần hướng tới chọn lọc các cá thể kháng bệnh tốt để phát triển, nhân giống

- Các nghiên cứu tiếp tục về bảo tồn nguồn gen cây rừng đã phát hiện được nhiều loài quí hiếm và đặc điểm phân bố của chúng, đặc biệt đánh giá mức độ đe doạ theo các tiêu chuẩn quốc tế và thực hiện các biện pháp bảo tồn insitu và exsitu, nhân giống một số loài quí, hiếm

Trang 10

Đó có thể coi là những thành tựu nổi bật có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong lĩnh vực lâm sinh và định hướng cho các nghiên cứu tiếp tục, lâu dài sau này

Về những thành tích cụ thể trong lĩnh vực này có thể nêu lên những kết quả chủ yếu sau:

- Công nhận giống quốc gia: 3 dòng keo lai ở miền Bắc; các giống tiến bộ kỹ thuật: 4 dòng keo lai miền Nam, 12 xuất xứ bạch đàn, 10 xuất xứ keo vùng thấp, 4 xuất xứ keo vùng cao, 3 xuất xứ keo chịu hạn, 5 xuất xứ thông caribeae, 6 xuất xứ tràm Các kết quả nghiên cứu khảo nghiệm các xuất xứ tràm trước kia và thực hiện

dự án do JICA tài trợ đã có tác dụng lớn trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng tràm cho nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh và là một trong những cây trồng chủ lực quan trọng của vùng

- Đề nghị Bộ công nhận giống tiến bộ kỹ thuật cho 12 tổ hợp lai bạch đàn

- Mở các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giâm hom keo lai, phổ biến các xuất xứ keo lai, tràm úccó năng suất cao, chuyển giao kỹ thuật trồng ba kích, bếp lâm nghiệp cải tiến, kỹ thuật trồng dó trầm, kỹ thuật nhân giống tre tàu lấy măng, kỹ thuật trồng luồng, tập huấn về nhân giống vô tính, bảo tồn đa dạng sinh học

- Xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, qui trình qui phạm về trồng luồng, nhiều loài cây bản địa khác cho trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất, đặc sản rừng như giổi xanh, phi lao, trám trắng, quế, trầm hương đặc biệt kỹ thuật tạo trầm nhân tạo đã đạt được kết quả bước đầu khả quan

- Xác định các khu rừng giống đủ tiêu chuẩn phục vụ cung cấp giống cho chương trình 5 triệu ha (cùng phối hợp với Công ty giống cây trồng lâm nghiệp)

Trang 11

- Qui trình xác định các lập địa cho trồng rừng và khả năng thích hợp các loài cây trồng chủ yếu

2.1.2 Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp rừng

Trong những năm 1996-2001 đáng chú ý là các nghiên cứu, hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến, bảo quản và cơ khí lâm nghiệp có nhiều tiến triển do những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn sản xuất Viện đã chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu sau:

- Chế tạo máy băm dăm gỗ cỡ nhỏ, lưu động, máy ép, lò sấy phục vụ các cơ sở chế biến qui mô nhỏ

- Các kỹ thuật chích nhựa thông 2 lá, cải tiến thiết bị chưng cất nhựa thông, thiết bị nhỏ phục vụ chế biến tinh dầu quế

- Xây dựng các vườn ươm công nghiệp phục vụ chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

- Kỹ thuật chống mối cho các công trình xây dựng, chuyển giao các thuốc bảo quản cho sản xuất và Bộ đã công nhận 11 loại thuốc bảo quản gỗ

2.1.3 Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp

- Đã xây dựng một số định mức cho trồng rừng phòng hộ và đặc dụng các loài cây trồng chủ yếu

- Cung cấp các tài liệu điều tra cơ bản về đặc điểm các vùng đệm các vườn quốc gia chủ yếu làm cơ sở xác định qui mô vùng đệm và đề xuất các chính sách, giải pháp kinh tế -kỹ thuật- xã hội phát triển vùng đệm

Trang 12

- Cung cấp các tài liệu điều tra cơ bản về thực trạng nương rãy ở Tây Nguyên và

đề xuất các giải pháp thực hiện

- Bước đầu đánh giá kết quả chính sách giao đất giao rừng cho các hộ nông dân miền núi

Các kết quả nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất trong những năm qua của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là cả quá trình thừa kế liên tục

và phát triển các nghiên cứu đi trước đã đóng góp một phần nhỏ cho sự nghiệp phát triển Ngành Lâm nghiệp nhưng so với yêu cầu của thực tiễn sản xuất vẫn còn một khoảng cách đáng kể đòi hỏi Viện phải có định hướng tốt cho nghiên cứu trong tương lai, đi tắt, đón đầu và kịp thời phục vụ sản xuất

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng hệ thống Trung tâm vùng, Trung tâm chuyên đề, Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã là cầu nối quan trọng giữa nghiên cứu

và sản xuất của Viện, nâng cao vị thế và vai trò của Viện trong nhiều vùng Các hoạt động khoa học của các Phòng nghiên cứu, các Trung tâm với nhiều dự án quốc tế cũng góp phần rất lớn nâng cao vai trò của Viện trong chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất

2.2 Xây dựng tiềm lực nghiên cứu

2.2.1 Công tác đào tạo cán bộ:

Tổ chức và nguồn nhân lực của Viện được thay đổi phù hợp theo từng thời kỳ do

yêu cầu của Ngành Sau khi sáp nhập 3 Viện thành Viện Khoa học Lâm nghiệp

Việt Nam lúc đầu số Phòng nghiên cứu khá nhiều (hơn 10 Phòng) và số biên chế trong toàn Viện cũng khá lớn (hơn 700 người) Quá trình sắp xếp lại tổ chức và một số cán bộ về hưu theo chế độ đến nay nguồn nhân lực của Viện giảm còn 480 người chưa kể số biên chế 2B mà Viện và các đơn vị tự trang trải, chia ra:

Ngày đăng: 20/06/2014, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w