- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy - Chất thải rắn thông thường bao gồm chất thải rắn sinh hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ HOÀNG
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI MỘT SỐ TRẠM Y TẾ XÃ THUỘC TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN SÓC SƠN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2022
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA
Hà Nội - 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Người thực hiện: LÊ HOÀNG
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI MỘT SỐ TRẠM Y TẾ XÃ THUỘC TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN SÓC SƠN,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này em xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh sinh viên, Bộ môn Y Dược cộng đồng và Y Dự phòng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Mạc Đăng Tuấn và Thầy TS Vũ Ngọc Hà đã trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt cho
em những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể cán bộ, nhân viên y tế làm việc tại 12 Trạm y tế xã trong địa điểm nghiên cứu thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội
đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu cho luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã cho em nhiều hướng dẫn quý báu để em hoàn thành luận văn này
Cuối cùng cho con gửi lởi cảm ơn tới gia đình, ngưởi thân và bạn bè, những ngưởi luôn ở bên con, động viên, chia sẻ, giúp cho con có những điều kiện tốt nhất
để con yên tâm học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2023
Sinh viên
Lê Hoàng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em là Lê Hoàng, sinh viên khoá QH.2017.Y, ngành Y Đa khoa, Trường Đại
học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Mạc Đăng Tuấn và TS Vũ Ngọc Hà
2 Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào đã được công bố
tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2023
Sinh viên
Lê Hoàng
Trang 5QLCTRYT Quản lý chất thải rắn y tế
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về chất thải y tế 3
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 3
1.1.2 Phân định chất thải y tế 4
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh của của chất thải rắn y tế 6
1.2 Quy trình quản lý chất thải rắn y tế 7
1.2.1 Phân loại chất thải 7
1.2.2 Thu gom chất thải y tế 8
1.2.3 Giảm thiểu chất thải y tế 10
1.2.4 Quản lý chất thải rắn y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế 10
1.2.5 Vận chuyển và xử lý chất thải y tế 11
1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế 12
1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe cộng đồng 12
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường 14
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 16
1.5 Kiến thức của cán bộ y tế tại Việt Nam về QLCTRYT và các yếu tố liên quan 19
1.5.1 Các nghiên cứu tại các CSYT nói chung 19
1.5.2 Các nghiên cứu tại các TYT xã, phường 20
1.6 Giới thiệu đôi nét về huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu 24
Trang 72.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 24
2.2.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 24
2.2.4 Các biến số nghiên cứu 25
2.3 Xử lý số liệu 30
2.4 Đạo đức nghiên cứu 30
2.5 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thực trạng về quản lý chất thải rắn y tế tại một số trạm y tế xã thuộc TT Y tế huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội năm 2022 32
3.1.1 Một số thông tin chung về các trạm y tế xã 32
3.1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế 34
3.2 Kiến thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế và các yếu tố liên quan 40 3.2.1 Thông tin chung về cán bộ y tế 40
3.2.2 Kiến thức của các cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế 42
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế 46
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 48
4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế thuộc 12 xã tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022 48
4.1.1 Thông tin chung về các trạm y tế tham gia nghiên cứu 48
4.1.2 Thực trạng lập kế hoạch, phân công phụ trách, báo cáo, kiểm tra, giám sát 49
4.1.3 Thực trạng phân loại và thu gom CTRYT 51
4.1.4 Thực trạng vận chuyển và lưu giữ CTRYT 53
4.1.5 Thực trạng xử lý và tiêu hủy CTRYT 55
4.2 Kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan của các cán bộ y tế tại các trạm y tế xã thuộc Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022 57
4.2.1 Thông tin chung về cán bộ y tế 57
Trang 84.2.2 Kiến thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế 59
4.2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế 65
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 73
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cách tính điểm đánh giá kiến thức của NVYT về QLCTRYT 25
Bảng 2.2: Các biến số nghiên cứu 25
Bảng 3.1: Tỷ lệ đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã của các trạm y tế (n=12) 32
Bảng 3.2: Thông tin chung về các trạm y tế tham gia nghiên cứu (n=12) 32
Bảng 3.3: Tỷ lệ TYT có kế hoạch, phân công, báo cáo, kiểm tra và giám sát công tác quản lý chất thải y tế (n=12) 34
Bảng 3.4: Lượng chất thải rắn y tế phát sinh năm 2021 (n=12) 35
Bảng 3.5: Thực trạng các nội dung về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại các trạm y tế (n=12) 36
Bảng 3.6: Thực trạng dụng cụ, phương tiện phân loại, thu gom CTRYT (n=12) 37
Bảng 3.7: Tỷ lệ đạt đủ số lượng túi và thùng đựng chất thải rắn y tế theo nhu cầu dùng thực tế tại các trạm y tế (n=12) 37
Bảng 3.8: Tỷ lệ đạt tiêu chuẩn chất lượng về túi đựng và thùng đựng chất thải rắn y tế tại các trạm y tế (n=12) 38
Bảng 3.9: Thực trạng vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế tại các trạm y tế (n=12) 38
Bảng 3.10: Thực trạng phương tiện vận chuyển và khu vực lưu giữ CTYRYT (n=12) 39
Bảng 3.11: Thực trạng phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế tại các trạm y tế (n=12) 40
Bảng 3.12: Thông tin chung của cán bộ y tế tham gia nghiên cứu (n=102) 41
Bảng 3.13: Tỷ lệ % cán bộ y tế đạt nội dung kiến thức cơ bản về quản lý chất thải rắn y tế (n=102) 42
Bảng 3.14: Tỷ lệ % cán bộ y tế đạt các nội dung kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế (n=102) 43
Bảng 3.15: Tỷ lệ % cán bộ y tế đạt các nội dung kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế (n=102) 43
Bảng 3.16: Tỷ lệ % cán bộ y tế đạt các nội dung kiến thức về vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế (n=102) 44
Bảng 3.17: Tỷ lệ % cán bộ y tế đạt các nội dung kiến thức về xử lý, tiêu hủy chất thải rắn y tế (n=102) 45
Bảng 3.18: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa kiến thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế và các yếu tố về tuổi, giới tính, trình độ, thâm niên và công tác tập huấn 46
Trang 10Bảng 3.19: Phân tích đa biến mối liên quan giữa kiến thức của cán bộ y tế về quản
lý chất thải rắn y tế và các yếu tố về tuổi, giới tính, trình độ, thâm niên và công tác tập huấn 47Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ kiến thức đạt giữa các nghiên cứu khác 64
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ về trình độ học vấn của các cán bộ y tế tại 12 trạm y tế (n=102) 33Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ giới tính các cán bộ y tế tại 12 trạm y tế (n=102) 33Biểu đồ 3.3: Số lượng trạm y tế phát sinh từng loại chất thải rắn y tế (n=12) 36Biểu đồ 3.4: Phân bố tỷ lệ CBYT đạt từng nhóm kiến thức về QLCTRYT (n=102) 45
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý chất thải rắn y tế (QLCTRYT) hiện nay đang là một trong những vấn đề lớn của nền y học hiện đại và nhận được quan tâm từ nhiều quốc gia trên thế giới Song song với sự phát triển của hệ thống y tế là sự gia tăng không ngừng khối lượng lớn chất thải nguy hại ra môi trường, đặc biệt là chất thải rắn y tế (CTRYT) Theo Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế với 100 giường thì lượng chất thải phát sinh từ 1,5kg đến 3kg/giường bệnh/một ngày Chất thải rắn y tế nếu không được xử lý đúng
sẽ là nguồn truyền bệnh quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế và nguy hại đến môi trường sống của con người Ước tính trên thế giới có khoảng 66.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B (HBV), 16.000 trường hợp mắc virus viêm gan C (HCV) và khoảng 5000 trường hợp nhiễm HIV do tai nạn từ các vật sắc nhọn gây ra cho các nhân viên y tế [1]
Tại Việt Nam, lượng chất thải rắn y tế có xu hướng tăng theo thời gian Năm
2017, theo Báo cáo môi trường Quốc gia Việt Nam, cả nước có 13.511 cơ sở y tế gồm các cơ sở khám chữa bệnh và dự phòng phát sinh tổng lượng CTRYT khoảng
450 tấn/ngày, trong đó khoảng 47 tấn/ngày là CTRYT nguy hại [2], đến năm 2020 lượng CTRYT phát sinh là khoảng 800 tấn/ngày Trong đó có từ 10 - 25% là chất thải nguy hại (CTNH) có chứa các tác nhân vi sinh, chất phóng xạ, hóa chất, các kim loại nặng và các chất độc [3], có thể ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, môi trường, cộng đồng nếu không được quản lý đúng cách
Theo Bộ Y tế, công tác xử lý chất thải y tế nguy hại đã được tăng cường đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa có sự đồng đều giữa các tỉnh, thành phố, giữa các quận, huyện trong cùng một tỉnh/thành phố và giữa các tuyến tiếp nhận khám chữa bệnh trên cả nước [4] Trong khi thực trạng QLCTRYT tại các BV từ tuyến trung ương, tuyến tỉnh đến tuyến huyện đã được nhiều nhà nghiên cứu và quản lý quan tâm, thì vấn đề quản lý CTYT tại các trạm y tế (TYT) chưa được chú ý nhiều [5] [6]
Nước ta có 11.104 trạm y tế thuộc hệ thống y tế cơ sở [7], là các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng, sơ cấp cứu cho bệnh nhân cũng như các chương trình y tế quốc gia khác Quá trình hoạt động của các TYT phát sinh các loại CTRYT, so với bệnh viện (BV) thì không nhiều nhưng tổng lượng CTRYT của các TYT trên toàn quốc là tương đối lớn và vẫn bao gồm các chất thải nguy hại Do đó, nếu không quản lý triệt để đúng quy trình kỹ thuật, các CTRYT tại TYT cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước và làm mất mỹ quan đô thị [8]
Trang 13đề phổ biến nhất là kiến thức và thực hành trong quản lý, xử lý, thu gom, phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế còn thiếu sót và đặc biệt là tại các TYT do còn hạn chế đào tạo tập huấn về công tác QLCTRYT tại địa phương so với các bệnh viện,
cơ sở thăm khám chữa bệnh tuyến trên [10]
Liên quan tới vấn đề này, các nghiên cứu trước được thực hiện chủ yếu với những bộ chỉ số nghiên cứu khác nhau giữa các tác giả [6] [5] Ngoài ra, kết quả của các nghiên cứu này chưa có sự đồng đều giữa các tỷ lệ và mỗi nghiên cứu có mối quan tâm sâu hơn về một số nội dung, khá ít nghiên cứu bao quát toàn bộ các khía cạnh của công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các TYT dẫn đến một số hạn chế khi so sánh và tổng hợp thông tin cũng như một cách nhìn nhận tổng quan về công tác QLCTRYT tại các TYT của các nhà quản lý cấp trên
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Thực trạng và kiến thức quản lý chất thải rắn y tế tại một số Trạm Y tế xã thuộc Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022” được thực hiện nhằm góp phần cung cấp cho các nhà quản
lý thêm số liệu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số trạm y tế thuộc địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022 Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc thực hiện công tác QLCTRYT tại các TYT nhằm khắc phục các tồn đọng nêu trên Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 12 trạm y tế xã thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022
2 Mô tả kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan của các cán bộ y tế tại các trạm y tế trên
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về chất thải y tế
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Nghiên cứu được thiết kế và thu thập số liệu từ tháng 09/2022 Các khái niệm giới thiệu trong nghiên cứu này chủ yếu được dựa theo Thông tư số 20/2021/TT-BYT Quy định về quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ
sở y tế, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/01/2022, thay thế Thông tư số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định về quản lý chất thải y tế (CTYT) như sau [11]:
- Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ
sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải rắn thông thường, khí thải, chất thải lỏng không nguy hại và nước thải y tế
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có
đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy
- Chất thải rắn thông thường bao gồm chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm.ngoại cảnh trong cơ sở y tế; chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a Khoản 4 nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại; sản phẩm thải lỏng không nguy hại
- Chất thải rắn y tế là chất thải rắn, không phải lỏng hay khí thải, phát sinh
trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học
- Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện
- Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát sinh
chất thải y tế
- Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi
lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý
Trang 15Chất thải y tế nguy hại bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại
không lây nhiễm
Chất thải lây nhiễm bao gồm:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu
sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ, các vật sắc nhọn khác đã qua sử dụng thải bỏ có dính, chứa máu của cơ thể hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm bông, băng, gạc, găng tay,
các chất thải không sắc nhọn khác thấm, dính, chứa máu của cơ thể, chứa vi sinh vật gây bệnh; vỏ lọ vắc xin thuộc loại vắc xin bất hoạt hoặc giảm độc lực thải bỏ; chất thải lây nhiễm dạng lỏng (bao gồm dịch dẫn lưu sau phẫu thuật, thủ thuật y khoa, dịch thải bỏ chứa máu của cơ thể người hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh);
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm mẫu bệnh phẩm, dụng cụ
đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm thải bỏ từ các phòng xét nghiệm tương đương an toàn sinh học cấp II trở lên; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly, khu vực điều trị cách ly, khu vực lấy mẫu xét nghiệm người bệnh mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A, nhóm B;
- Chất thải giải phẫu bao gồm mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ, xác động
vật thí nghiệm;
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
- Hóa chất thải bỏ có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất;
- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất;
Trang 165
- Vỏ chai, lọ đựng thuốc hoặc hoá chất, các dụng cụ dính thuốc hoặc hoá chất thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất;
- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân, cadimi (Cd); pin, ắc quy thải bỏ; vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ thải bỏ;
- Dung dịch rửa phim X- Quang, nước thải từ thiết bị xét nghiệm, phân tích
và các dung dịch thải bỏ có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại;
- Chất thải y tế khác có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất
Chất thải rắn thông thường bao gồm:
- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt thường ngày của nhân viên y tế, người bệnh, người nhà người bệnh, học viên, khách đến làm việc và các chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế (trừ chất thải sinh hoạt phát sinh từ khu vực cách ly, điều trị người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm);
- Hóa chất thải bỏ không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại;
- Vỏ chai, lọ đựng thuốc hoặc hoá chất, dụng cụ dính thuốc hoặc hoá chất không thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc không có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất;
- Vỏ lọ vắc xin thải bỏ không thuộc loại vắc xin bất hoạt hoặc giảm độc lực;
- Chất thải sắc nhọn không lây nhiễm, không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại;
- Chất thải lây nhiễm sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;
- Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại; tro, xỉ từ lò đốt chất thải rắn y tế không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại;
- Chất thải rắn thông thường khác;
- Danh mục chất thải rắn thông thường được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này
Khí thải bao gồm khí thải phát sinh từ phòng xét nghiệm tác nhân gây bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm, lây truyền qua đường không khí; khí thải từ phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên
Trang 176
Chất thải lỏng không nguy hại bao gồm dung dịch thuốc, hoá chất thải bỏ
không thuộc nhóm gây độc tế bào, không có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất, không chứa yếu tố nguy hại vượt ngưỡng, không chứa vi sinh vật gây bệnh Nước thải y tế gồm nước thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn trong cơ sở y tế Trường hợp nước thải sinh hoạt thải chung vào hệ thống thu gom nước thải y tế thì được quản lý như nước thải y tế
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh của của chất thải rắn y tế
Nhận thức về loại CTRYT và số lượng CTRYT phát sinh tại các cơ sở y tế là bước đầu quan trọng trong việc xử lý an toàn CTRYT Số liệu về nguồn phát sinh CTRYT được sử dụng để cung cấp cho chúng ta cái nhìn bao quát về một quy trình
xử lý CTRYT sao cho phù hợp, thiết lập kế hoạch, dự trù và chuẩn bị cho nguồn kinh phí, tính toán chi phí lợi ích từ việc tái sử dụng an toàn, tối ưu hóa toàn diện hệ thống quản lý CTRYT và đánh giá tác động đáng kể tới môi trường xung quanh
Các cơ sở y tế khác nhau sẽ có phát sinh các nguồn CTRYT chủ yếu theo số lượng CTRYT mà tại cơ sở y tế đó thải ra Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2014 đã mô tả các nguồn phát sinh CTRYT cơ bản như từ bệnh viện gồm có bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện trường, bệnh viện tuyến huyện, trạm y tế
xã Từ các cơ sở y tế như trung tâm y tế, cơ sở y tế tư nhân, cơ sở y tế ngành công
an, quân đội, các trung tâm nghiên cứu y học, xét nghiệm, viện công nghệ y sinh, các đơn vị dịch vụ liên quan đến máu, huyết thanh, cơ quan kiểm tra nghiên cứu động vật [12]…Đi cùng với sự phát triển và gia tăng nhanh về số lượng giường bệnh điều trị nội trú, khối lượng phát sinh chất thải rắn từ các hoạt động y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng CTRYT trong bệnh viện bao gồm hai loại là chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại y tế Chất thải rắn thông thường chiếm khoảng 75-80% chất thải rắn trong bệnh viện [4]
Theo Cục Quản lý môi trường y tế năm 2018, Việt Nam có trên 13.547 cơ sở
y tế y tế bao gồm các bệnh viện từ tuyến trung ương (TW) đến tuyến tỉnh, huyện và các bệnh viện tư nhân, các cơ sở y tế dự phòng Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2017, các bệnh viện và cơ sở y tế này làm phát sinh khoảng 600 tấn CTRYT/ngày, mức độ gia tăng khoảng 7,6%/ năm và năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày [2]
Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, trong 06 tháng đầu năm 2018, mỗi ngày trên địa bàn Hà Nội phát sinh 26.531kg chất thải rắn y tế/ngày, trong đó có 7.457kg
Trang 181.2 Quy trình quản lý chất thải rắn y tế
1.2.1 Phân loại chất thải
Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
- Chất thải y tế phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tai thời điểm phát sinh;
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định tại Điều 5 Thông tư này Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa (trừ chất thải lây nhiễm sắc nhọn);
- Trường hợp chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm và tiếp tục thực hiện quản lý theo tính chất của chất thải sau xử lý
Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:
- Tại khoa, phòng, bộ phận: bố trí vị trí phù hợp, an toàn để đặt bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa để phân loại chất thải y tế;
- Tại vị trí đặt bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
Phân loại chất thải lây nhiễm:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: bỏ vào trong thùng hoặc hộp kháng thủng
Trang 19Phân loại chất thải nguy hại không lây nhiễm:
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm ở dạng rắn: đựng trong túi hoặc
thùng hoặc thùng có lót túi và có màu đen;
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: chứa trong dụng cụ lưu chứa chất lỏng có nắp đậy kín, có mã, tên loại chất thải lưu chứa
Phân loại chất thải rắn thông thường:
- Chất thải rắn thông thường không sử dụng để tái chế: đựng trong túi hoặc
thùng hoặc thùng có lót túi và có màu xanh Chất thải sắc nhọn đựng trong dụng cụ
kháng thủng;
- Chất thải rắn thông thường sử dụng để tái chế: đựng trong túi hoặc thùng
hoặc thùng có lót túi và có màu trắng
1.2.2 Thu gom chất thải y tế
Thu gom chất thải lây nhiễm:
- Cơ sở y tế quy định luồng đi và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở y tế;
- Dụng cụ thu gom chất thải phải bảo đảm kín, không rò rỉ dịch thải trong quá trình thu gom;
- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải tạm thời trong cơ sở y tế Trước khi thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín miệng, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ ở gần nơi phát sinh chất thải để loại bỏ mầm bệnh bằng thiết bị khử khuẩn Đối với cơ sở y tế không có thiết bị khử khuẩn chất thải, trước khi thu gom túi đựng chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải buộc kín miệng túi và tiếp tục bỏ vào túi đựng chất thải lây nhiễm thứ 2, buộc kín miệng túi và bỏ vào thùng thu gom chất thải lây nhiễm, bên ngoài thùng có dán nhãn “Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao”, được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải lây nhiễm để xử lý hoặc chuyển cho đơn vị có chức năng xử lý theo quy định;
Trang 209
- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất
thải trong khuôn viên cơ sở y tế tối thiểu một lần một ngày Đối với các cơ sở y tế
có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg trong một ngày, chất thải lây nhiễm được thu gom với tần suất tối thiểu một lần một ngày, chất thải lây nhiễm sắc nhọn được thu gom tối thiểu là một lần một tháng
Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế;
- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp, bảo đảm không bị rò rỉ, phát tán hơi thủy ngân ra môi trường
Thu gom chất thải rắn thông thường: chất thải rắn thông thường sử dụng để
tái chế và chất thải rắn thông thường không sử dụng để tái chế được thu gom riêng
- Cơ sở y tế không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a Khoản này lưu giữ chất thải y tế đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Mục B Phụ lục số 03 ban hành kèm theo Thông tư này
- Từng loại chất thải phải được lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế, trừ trường hợp các loại chất thải này có cùng tính chất, không có khả năng gây phản ứng, tương tác lẫn nhau và có khả năng xử lý bằng cùng một phương pháp
Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
- Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh ở nhiệt độ dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa không quá 07 ngày;
Trang 2110
- Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử
lý theo mô hình cụm hoặc xử lý tập trung, phải xử lý ngay trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày;
- Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín
- Thời gian lưu giữ chất thải nguy hại không lây nhiễm: thời gian lưu giữ không quá 01 năm kể từ thời điểm phát sinh chất thải Trường hợp lưu giữ quá 01 năm do chưa có phương án vận chuyển, xử lý hoặc chưa tìm được cơ sở xử lý chất thải nguy hại phù hợp thì cơ sở y tế phải báo cáo bằng văn bản riêng hoặc kết hợp trong báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế hằng năm của đơn vị cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 13 Thông tư này và cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật
- Đối với các cơ sở y tế ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo khó khăn, không có biện pháp xử lý phù hợp thì chất thải lây nhiễm sắc nhọn được lưu giữ an toàn trong bể bê tông trong khuôn viên cơ sở y tế sau khi đã xử lý tiệt khuẩn chất thải và phải có biển cảnh báo tại khu vực lưu giữ chất thải
1.2.3 Giảm thiểu chất thải y tế
- Mua sắm, lắp đặt, sử dụng vật tư, thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên, vật liệu phù hợp với nhu cầu sử dụng
- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động chuyên môn y tế và các biện pháp khác để giảm thiểu phát sinh chất thải y tế
- Có biện pháp, lộ trình và thực hiện hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, túi ni lông khó phân hủy nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải nhựa
- Phân loại chất thải nhựa để tái chế hoặc xử lý theo quy định của pháp luật
1.2.4 Quản lý chất thải rắn y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế
- Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải rắn thông thường và được phép thu gom để tái chế Khi chuyển giao chất thải, cơ sở y tế phải bảo đảm bao bì lưu chứa chất thải được buộc kín, bên ngoài bao bì có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này và ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn
Trang 2211
giao chất thải đã khử khuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này
- Chất thải nhựa được phân loại, thu gom để phục vụ mục đích tái chế hoặc
xử lý theo quy định của pháp luật
1.2.5 Vận chuyển và xử lý chất thải y tế
Căn cứ theo Điều 42 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, theo đó việc vận chuyển, xử lý chất thải ý tế được quy định như sau:
- Chất thải y tế thông thường phải được phân loại, thu gom riêng biệt với chất thải y tế nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt và được quản lý như đối với chất thải rắn công nghiệp thông thường quy định tại Mục 3 Chương này; không được tái chế chất thải y tế nguy hại để sản xuất các đồ dùng, bao bì sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
- Chất thải y tế nguy hại phải được phân loại, thu gom riêng biệt với chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải rắn sinh hoạt trước khi đưa vào khu vực lưu giữ tại cơ sở phát sinh theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải y tế Trường hợp chất thải y tế nguy hại được tự xử lý, thu hồi năng lượng tại cơ sở thì căn cứ vào công nghệ, kỹ thuật hiện có, chủ nguồn thải chất thải y tế nguy hại được lựa chọn phân loại hoặc không phân loại chất thải y tế nguy hại
- Phương tiện, thiết bị vận chuyển chất thải y tế nguy hại phải bảo đảm đáp ứng các quy định tại Điều 36, Điều 37 Thông tư này và các yêu cầu đặc thù về bảo
vệ môi trường sau:
- Chất thải y tế nguy hại trước khi vận chuyển phải đóng gói trong các bao
bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải y tế, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trong quá trình vận chuyển;
- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại lắp đặt trên phương tiện vận chuyển phải có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu va chạm, không bị rách,
vỡ, rò rỉ chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển; được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải;
- Phương tiện vận chuyển chất thải y tế nguy hại phải có thùng hoặc khoang kín được bảo ôn; kích thước của thùng chứa gắn trên phương tiện vận chuyển thực hiện theo quy định của pháp luật về giao thông vận tải;
Trang 2312
- Đối với các khu vực không sử dụng được phương tiện vận chuyển chuyên dụng để vận chuyển chất thải y tế nguy hại, được sử dụng các loại phương tiện vận chuyển là xe mô tô, xe gắn máy có thùng chứa và được gắn chặt trên giá để hàng (phía sau vị trí ngồi lái); kích thước của thùng chứa gắn trên xe mô tô, xe gắn máy thực hiện theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ
1.1.2 Xử lý chất thải y tế nguy hại [13]
Căn cứ theo khoản 4 Điều 42 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, theo đó, chất thải y tế nguy hại được xử lý theo thứ tự ưu tiên sau:
- Xử lý tại cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại có hạng mục xử
+ Địa điểm, mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại;
+ Phạm vi, phương thức thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại; + Thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại;
+ Các vấn đề liên quan khác
1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế
1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe cộng đồng
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra nhiều bệnh tật và thương tích cho tất cả cá nhân ở trong bệnh viện hay ngoài bệnh viện Những đối tượng có nguy cơ tiềm ẩn cao dễ bị phơi nhiễm với các chất thải y tế nguy hại bao gồm nhóm các nhân viên y tế như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên và nhóm bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách đến thăm nuôi bệnh nhân Ngoài ra, nhóm công nhân làm việc trong hỗ trợ thu gom chất thải, vận chuyển chất, giặt là; công
Trang 24Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn
Chất thải sắc nhọn được đánh giá là chất thải rất nguy hại do nó có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết thương để gây bệnh truyền nhiễm [14] Sự tổn thương do vật sắc nhọn sử dụng trong y tế có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV và HCV (khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là do thương tích vì vật sắc nhọn và kim tiêm) [15] Theo một thống kê của tác giả Rajesh K Chudasama cùng cộng sự cho thấy rằng chất thải y tế sinh học có khả năng gây lây nhiễm HIV cho NVYT lên tới 74,47% và đối với viêm gan B thì
tỷ lệ này là 56,03% [16]
Theo thống kê của tác giả Dương Khánh Vân tại một số bệnh viện khu vực
Hà Nội cho thấy phần lớn NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn dưới 5 lần (chiếm 83,9%); số ít bị từ 6 đến 9 lần (9,9%); rất ít người bị trên 10 lần Trong đó các y tá/ điều dưỡng có tần suất tổn thương cao nhất (19/100 người/năm), sau đó là nhóm bác sĩ (11/100 người/năm) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05) [17]
Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm
Chất thải y tế lây nhiễm có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da (qua vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và khoáng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế không an toàn Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở [15]
Trang 2514
Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm
Đây là các chất nguy hại như chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc,… nhưng với khối lượng thấp Sự phơi nhiễm hóa chất độc hại nguy hiểm như khi tiếp xúc với formaldehyde các các chất dễ bay hơi có thể cấp tính hoặc mãn tính qua đường da, niêm mạc, hô hấp, tiêu hóa, gây cháy, ăn mòn, gây phản ứng phụ Tổn thương thường gặp nhất là bỏng
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào và chất thải phóng xạ
Chất gây độc tế bào gồm các nhóm thuốc điều trị ung thư Chúng kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt; ngoài ra cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn và phổ biến nhất là đau đầu Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường
có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Chất phóng
xạ có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vật liệu di truyền Cách thức tiếp xúc và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ là các yếu tố quyết định, ảnh hưởng đối với sức khỏe được biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề bị đột biến về gen sau này [15]
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
Chất thải rắn y tế mang lại nhiều tác động có hại tới môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước và không khí Song, nếu gia sức đề ra các phương án để xử lý CTRYT mà không phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương thì có thể tạo ra vấn
đề thứ phát về lãng phí thời gian, tiền của, tài nguyên thiên nhiên, sức người,…
Đối với môi trường đất
Các CTYT nguy hại lây nhiễm như gạc, bông, băng nhiễm khuẩn; hóa chất chưa được xử lý được thu gom và đổ chung với rác sinh hoạt vào bãi chôn lấp, thường không được đào sâu, không đảm bảo yêu cầu vệ sinh sẽ gây ô nhiễm đất Quản lý CTRYT này không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTRYT kể trên tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến việc phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn
Theo nghiên cứu của Thiago Cesar nascimento và cộng sự (2015) khi phân lập 73 chủng vi khuẩn từ nước rỉ chất tại các bãi chôn lấp chất thải y tế tại thành phố Juiz de For a, Minas Gerais thuộc Brazil cho thấy có chứa các vi khuẩn thuộc Staphylococcus spp như Staphylococcus felis (chiếm 64,4%); Staphylococcus
Trang 2615
sciuri (chiếm 26,0%); Staphylococcus epidermidis (2,7%); Staphylococcus warneri (2,7%); Staphylococcus Lentus (1,4%); Staphylococcus saprophyticus 1,4% và những vi khuẩn thuộc chủng này đều kháng lại các kháng sinh thuộc dòng β lactamase [18]
Đối với môi trường không khí
Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể tác động xấu tới không khí Các tác nhân nguy hại như bụi độc chất, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTRYT có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt CTRYT quy mô nhỏ, nếu không có thiết bị xử lý khí thải đúng quy định thì nguy cơ phát sinh ra các chất khí độc hại là rất lớn
Nhiều lò đốt CTYT ở Việt Nam không có bộ phận kiểm soát ô nhiễm không khí, thêm vào đó, do thiết kế, khả năng vận hành, bảo dưỡng kém [19]; Với các lò đốt quy mô nhỏ, nguy cơ phát thải từ lò đốt những chất ô nhiễm như các hạt bụi, các khí NO2, SO2 hoặc các hợp chất hữu cơ bay hơi [12] Nghiên cứu tại Hải Dương cho thấy, nồng độ của các khí SO2, NO2 tại khu vực sân, nơi lưu giữ và khi đốt rác đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP: 0,3 mg/m3) [19] Đặc biệt, dioxin, furan và các chất tương tự dioxin (PCBs) là những chất độc được tạo ra trong quá trình đốt cháy không hoàn toàn (thường dưới 8000C) các chất thải có chứa Polyvinyl cloride [12], có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường khí và tác hại cho sức khỏe con người
Đối với môi trường nước
Tác động của CTRYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được
xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này
Ở Việt Nam, ước tính năm 2019 mỗi ngày có 120.000 m3 nước thải y tế được thải ra Nước thải từ các cơ sở y tế có thể chứa các hóa chất độc hại, chất hữu
cơ, kim loại nặng, Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn
Trang 2716
nước sẽ gây ô nhiễm môi trường nước nặng nề, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nhiều nơi ứ đọng, thẩm thấu ảnh hưởng đến mạch nước ngầm [20]
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
➢ Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới, gia tăng chất thải rắn đang là một vấn nạn, trong đó phải kể đến việc gia tăng nhanh chóng chất thải rắn y tế mỗi năm Tại Việt Nam, tổng lượng CTRYT nguy hại phát sinh trên toàn quốc năm 2020 khoảng gần 24 nghìn tấn/năm (Bộ Y tế, 2020) Xét theo vùng, vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng CTRYT nguy hại lớn nhất, chiếm 32% lượng phát sinh toàn quốc, tiếp đến là đồng bằng sông hồng (21%) Các địa phương có mức thải lớn (>500 tấn/năm) bao gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ
Tại Hà Nội, các cơ sở y tế bao gồm 41 bệnh viện và 30 trung tâm y tế thuộc khối công lập do Sở Y tế Hà Nội quản lý; 35 bệnh viện, 2.902 phòng khám chuyên khoa và cơ sở dịch vụ y tế, 774 cơ sở hành nghề y học cổ truyền ngoài công lập; 46 bệnh viện Trung ương và bộ, ngành Tổng khối lượng CTRYT phát sinh là 26.531 kg/ngày, gồm 7.457 kg/ngày đối với CTR nguy hại và 19.074 kg/ngày với CTR thông thường [21]
Theo Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước đến năm 2025, dự báo số lượng trên toàn quốc vào năm 2025 sẽ là 91.991 kg/ngày, gấp đôi so với tổng lượng phát sinh toàn quốc năm 2015 là 50.071 kg/ngày [22]
Với số lượng phát sinh CTRYT tăng nhanh qua từng năm, việc quản lý CTRYT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước như một vấn đề trọng điểm và được quản lý thông qua các hệ thống văn bản luật là chính song việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, chưa được nghiêm túc theo quy định đề ra, hầu hết CTRYT ở các bệnh viện và các CSYT chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi đưa
ra môi trường
➢ Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các CSYT tuyến trên
Nhiều bệnh viện thực hiện được việc phân loại CTRYT nhưng không phát triển hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc nếu có thì nhiều hệ thống cống rãnh
đã bị hư hỏng, xuống cấp; chất thải rắn thì được phân loại nhưng qua loa, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ Ngoại trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có
xí nghiệp xử lý vận hành tương đối tốt, tổ chức thu gom tiêu hủy CTRYT nguy hại
Trang 2817
cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn thì hầu hết tại các tỉnh khác việc kiểm soát khí thải lò đốt còn gặp khó khăn, một số lò đốt không đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ buồng đốt thứ cấp và khí thải lò đốt vượt tiêu chuẩn cho phép Các lò đốt CTRYT hiện nay chủ yếu có công suất nhỏ dưới 200kg/h, thiết bị làm sạch khí không hiệu quả [14]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Kim Chi (2012) về quản lý chất thải y tế và công nghệ xử lý tại 172 bệnh viện thuộc 5 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy CTYT lây nhiễm loại (A, B, C, D) phát thải trung bình là 0,259 kg/giường kế hoạch/ngày; chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt trung bình tương ứng là 0,105 và 1,104 kg/giường kế hoạch/ngày Có 30,1% bệnh viện sử dụng hộp đựng vật sắc nhọn theo quy định; 1,7% bệnh viện không sử dụng túi chứa chất lây nhiễm màu sắc theo quy định; 20,8% bệnh viện sử dụng các công cụ như xô, thùng, túi để vận chuyển chất thải Nghiên cứu cũng cho thấy 17,4% bệnh viện không có phòng lưu trữ CTRYT mà tập trung tại một chỗ chờ xử lý Hình thức xử lý chủ yếu là đốt, tuy nhiên tại Hà Nội hiện nay có 3/12 lò đốt là báo hỏng Bên cạnh đó vẫn còn 83,1% bệnh viện cho chất thải chứa kim loại nặng đốt lẫn cùng chất y tế khác là rất nguy hiểm [23]
Số liệu thống kê từ địa phương trong năm 2013 cho thấy có 32/57 địa phương có số liệu xử lý CTRYT đạt từ 80% trở lên Nhìn chung, tỷ lệ thu gom CTRYT trong giai đoạn 2011 - 2015 tăng không cao [15]
Theo số liệu báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2020, giai đoạn
2016 - 2020, hoạt động thu gom và xử lý CTRYT đã được tăng cường đáng kể Tuy nhiên, việc đầu tư vẫn chưa được đồng bộ ở các tỉnh, thành phố Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường (Bộ Y tế) về tình hình quản lý CTRYT, đã có hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải tại nguồn Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTRYT chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn
Việc kiểm soát khí thải lò đốt CTRYT được thực hiện thường xuyên hằng năm, theo Bộ Y tế (2020), có đến trên 80% số mẫu phân tích khí thải của 87 lò đốt CTRYT thuộc 19 tỉnh/thành phố đều đạt QCVN 02:2012/BTNMT(Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRYT); trong đó, tuyến Trung ương và tư nhân đạt 100% Một số địa phương đã phê duyệt kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT nguy hại trên địa bàn, trong đó đưa ra các giải pháp ưu tiên xử lý CTRYT tập trung theo mô hình cụm để hạn chế thay thế các lò đốt tại chỗ, không đảm bảo xử lý khí thải đạt quy chuẩn [1]
Trang 2918
Hiện nay, việc sử dụng công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường trong xử lý CTRYT đã được khuyến khích và ưu tiên phát triển Điển hình là công nghệ xử lý CTRYT theo phương pháp khử khuẩn bằng lò hấp, lò vi sóng đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế và môi trường, do sử dụng nhiệt độ dưới 400 độ C nên không phát sinh khí thải (đặc biệt dioxin/furan) và giảm tiêu thụ năng lượng [1]
Trong 6 tháng đầu năm 2020, Sở Y tế đã tiến hành kiểm tra 98 cơ sở Y tế trong và ngoài công lập về kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý chất thải rắn y tế Qua kiểm tra cho thấy, 100% các bệnh viện trung tâm y tế thực hiện xử lý CTRYT nguy hại theo mô hình tập trung, ký hợp đồng với các công ty có đủ thẩm quyển vận chuyển và xử lý chất thải y tế Các cơ sở đều có nơi lưu giữ chất thải và có đầy đủ
sổ giao nhận chất thải với đơn vị xử lý chất thải theo quy định Tuy nhiên, một số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải đã xuống cấp, không đáp ứng quy định, một
số trạm y tế hiện còn chưa có hệ thống xử lý nước thải [21]
➢ Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại tuyến TYT xã, phường
Tại các TYT tuyến xã, mặc dù số lượng chất thải phát sinh ít nhưng với hơn 11.000 TYT trên cả nước, công tác quản lý chất thải rắn y tế thực sự là một vấn đề cần được quan tâm và giải quyết đúng đắn bởi thực tế còn gặp nhiều khó khăn
Nguyễn Bá Tòng với nghiên cứu tại các TYT thuộc huyện Châu Thành, Đồng Tháp năm 2015 cho thấy, 100% TYT đã thực hiện phân loại ngay tại nơi phát sinh, nhưng chỉ có 58,3% trạm có bảng hướng dẫn quy trình thu gom Dụng cụ, bao
bì thu gom CTRYT chưa đồng bộ, chưa đúng quy cách và mã màu đạt 16,7%.Phân loại chất thải sắc nhọn đạt 100%, chất thải dược phẩm/hóa học đạt 66,7%, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn đạt 83,3%, chất thải giải phẫu đạt 58,3%, chất thải tái chế đạt 16,7% Có thùng thu gom đặt tại nơi phát sinh, nhưng còn thu gom lẫn lộn các loại chất thải Có nơi lưu giữ nhưng không đúng quy định Đường vận chuyển, phương tiện vận chuyển không có, chỉ xách tay và xe 2 bánh cá nhân Việc xử lý chất thải sắc nhọn đạt 100%, chất thải hóa học/dược phẩm và giải phẫu đạt 66,7% [24]
Nghiên cứu của Phan Thị Thu về phân loại và thu gom CTRYT tại các TYT thị xã Hoàng Mai, Nghệ An (2015) cũng chỉ ra việc thiếu số lượng dụng cụ đựng CTRYT, chất lượng các dụng cụ sẵn có không đảm bảo [25]
Theo nghiên cứu năm 2022 tại các cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố Lai Châu chỉ ra rằng công tác kiểm soát nguồn phát sinh, thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở nghiên cứu cơ bản đáp ứng yêu cầu theo quy định Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên và Môi trường Tại các bệnh viện công,
Trang 3019
khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế là lớn, trung bình khoảng 53.451 kg/năm, công tác quản lý tốt Song tại các trạm y tế xã, phường và các phòng khám tư nhân khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh trung bình ít hơn lần lượt là 173 kg/năm và
675 kg/năm nhưng công tác thu gom, phân loại, vận chuyển gặp nhiều khó khăn như: thời gian lưu giữ, phương tiện vận chuyển, thiết bị bảo quản lạnh; tập huấn về công tác bảo vệ môi trường [26]
Nhìn chung, trải qua nhiều năm dưới sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, lượng phát sinh CTRYT tăng lên đồng thời với nó là quy trình phân loại, thu gom, lưu trữ và hệ thống xử lý CTRYT cũng ngày càng được cải thiện đáng kể
cả về vật tư cũng như hình thức tại nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt tại các thành phố lớn nơi tập trung trọng điểm về CTRYT Song, đây vẫn luôn là một vấn
đề nhức nhối và luôn cần tập trung chỉ đạo của nhiều Bộ, ban ngành liên quan để có thể phối hợp giải quyết triệt để các tồn đọng trong tương lai
1.5 Kiến thức của cán bộ y tế tại Việt Nam về QLCTRYT và các yếu tố liên quan
1.5.1 Các nghiên cứu tại các CSYT nói chung
Việc quản lý CTRYT luôn bao gồm hai mặt đi đôi với nhau đó là thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng các biện pháp xử lý và nhân tố con người Một biện pháp xử lý có hiện đại và hiệu quả cao như thế nào nhưng cán bộ y tế, những người
có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thấy rõ mối nguy hại và tầm quan trọng của CTRYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng thì hệ thống đó sẽ không hoạt động hiệu quả
Mặc dù Đảng, Nhà nước và các Bộ liên quan đã đưa ra nhiều quy định, hướng dẫn về việc huấn luyện đào tạo cho NVYT về QLCTRYT từ nhiều năm qua, kiến thức của CBYT tại các bệnh viện Việt Nam về QLCTRYT còn tồn tại một vài điểm hạn chế Tác giả Nguyễn Thị Hoài (2014) tại Bệnh viện Đa khoa Đan Phượng,
Hà Nội chỉ ra kiến thức đúng về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý của các CBYT lần lượt là 84,5%, 63,8%, 69,8%, 68,1%; kiến thức chung đạt 71,6% CBYT được tập huấn có kiến thức đạt cao gấp 5,8 lần nhóm còn lại, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [27]
Tác giả Lâm Hoàng Dũng và Nguyễn Bích Diệp (2015) cho biết, 68,2% CBYT có kiến thức chung đúng về QLCTRYT Nhóm tuổi, trình độ chuyên môn và tập huấn là 3 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức chung [28]
Trang 3120
Theo nghiên cứu tại ba bệnh viện tại Hà Nội năm 2018, kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế theo thông tư 58/2015 BYT của cán bộ y tế ở ba bệnh viện được điều tra còn chưa được đầy đủ Tỷ lệ đạt kiến thức chung về quản lý chất thải rắn y
tế cao nhất tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang (bệnh viện loại I) chiếm tỷ lệ 91,5%
và Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc (bệnh viện tư nhân), Bệnh viện Đa khoa Thường Tín chiếm tỷ lệ thấp nhất (71,5%) Bên cạnh đó, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cũng là bệnh viện đạt tỷ lệ cao cán bộ y tế có kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế [10]
Tại bệnh viện Thanh Nhàn trong nghiên cứu năm 2020, kiến thức của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế còn thấp, cụ thể kiến thức đúng về loại chất thải y tế: Bác sĩ là 14,1%, điều dưỡng là 35,8% Kiến thức đúng về chất thải lây nhiễm: Bác sĩ là 55,1%, điều dưỡng là 82,8%, hộ lý là 56,4% và nhân viên vệ sinh
là 44,4% Kiến thức đúng về đối tượng phân loại chất thải rắn y tế của bác sĩ là 43,6%, điều dưỡng là 80,1% [29]
1.5.2 Các nghiên cứu tại các TYT xã, phường
Theo tác giả Phan Thanh Lam (2013) nghiên cứu tại các TYT thuộc trung tâm y tế Huyện Gia Lâm: Tỷ lệ CBYT đạt kiến thức chung về QLCTRYT là 29% Kiến thức về phân loại đạt tỷ lệ thấp nhất 47,6%, kiến thức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải đều đạt tỷ lệ khá cao Có mối liên quan giữa kiến thức phân loại với tuổi, giới tính của đối tượng nghiên cứu; giữa kiến thức lưu giữ với nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu; giữa kiến thức xử lý với nghề nghiệp, thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu [30]
Tác giả Nguyễn Bá Tòng đã thống kê vào năm 2015 tại các TYT thuộc huyện Châu Thành, Đồng Tháp cho thấy, kiến thức cơ bản về chất thải y tế đạt 79,5% kiến thức về mã màu, dán nhãn đạt 92,3%, kiến thức về phân loại, thu gom đạt 41,9%, kiến thức về lưu giữ 94,9% và xử lý đạt 91,5% và kiến thức về vận chuyển đạt 86,3% [6] Kết quả này cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu trên [24]
Nghiên cứu năm 2016 của Phan Thị Thu tại các TYT thị xã Hoàng Mai, Nghệ An chỉ đề cập đến kiến thức của CBYT về phân loại và thu gom CTRYT Theo đó, tỷ lệ CBYT đạt kiến thức chung về phân loại là 94,9%, thu gom là 84,6% [25]
Nghiên cứu trên 30 trạm y tế thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2017, 28,0% là nhân viên y tế có thâm niên công tác từ dưới 10 năm; 25,4% ở nhóm có thâm niên trên 10 năm biết được chất thải y tế được chia làm 5 nhóm Có 76,6% nhân viên y tế biết được túi đựng rác thải tối đa ¾ túi, 74,9% không để lẫn chất thải
Trang 3221
y tế và chất thải thông thường, thời gian vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 1 lần 1 ngày và khi cần chiếm 64,0%; thời gian lưu giữ chất thải rắn y tế tối đa trước khi xử lý chiếm tỷ lệ thấp nhất 50,9% Có lần lượt 56,0% và 53,7% nhân viên y tế
xử lý chất thải sắc nhọn và chất thải lây nhiễm bằng thiêu đốt trong lò; 42,3% nhân viên y tế thực hiện tiêu hủy chất thải giải phẫu ngay sau khi phát sinh [31]
Nhìn chung, các nghiên cứu trên được thực hiện đơn lẻ, mỗi tác giả xây dựng một bộ bảng kiểm dựa theo những biến số quan tâm trong từng nghiên cứu, kết luận
có những điểm giống và khác nhau theo từng nội dung Do đó cần có nghiên cứu tổng quát hơn, phạm vi rộng hơn trong tương lai
1.6 Giới thiệu đôi nét về huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Sóc Sơn là huyện ngoại thành Thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km về phía Bắc Huyện Sóc Sơn có tổng diện tích tự nhiên 30.651,30 ha, gồm 26 đơn vị hành chính Trong đó có 1 thị trấn Sóc Sơn (huyện lỵ) và danh sách các xã huyện Sóc Sơn gồm 25 xã: Xuân Thu, Xuân Giang, Việt Long, Trung Giã, Tiên Dược, Thanh Xuân, Tân Minh, Tân Hưng, Tân Dân, Quang Tiến, Phú Minh, Phù Lỗ, Phù Linh, Phú Cường, Nam Sơn, Minh Trí, Minh Phú, Mai Đình, Kim Lũ, Hồng Kỳ, Hiền Ninh, Đức Hòa, Đông Xuân, Bắc Sơn, Bắc Phú
Về địa lý tự nhiên, Sóc Sơn là vùng bán sơn địa với 3 loại hình chính: vùng đồi gò, vùng giữa và vùng đồng bằng ven sông Huyện nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,46 độ C Nhìn chung, khí hậu Sóc Sơn thuận lợi để phát triển đa dạng cây trồng, vật nuôi nhưng hạn chế là lượng mưa lớn tập trung vào khoảng thời gian ngắn dễ gây lũ lụt, xói mòn đất
Về hạ tầng, giao thông, Huyện Sóc Sơn là đầu mối của nhiều tuyến giao thông quan trọng kết nối Hà Nội với các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh… và với các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên… thông qua quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 18; đặc biệt tuyến cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài kết nối sân bay Nội Bài với trung tâm
Hà Nội Tổng chiều dài các tuyến đường bộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn là 227km, mật độ bình quân đạt 0,86km/km2
Về hệ thống y tế, tuyến huyện có 1 Trung tâm y tế và Bệnh viện đa khoa với
160 giường bệnh, 5 phòng khám đa khoa khu vực Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn hiện cung cấp nhiều dịch vụ, như: Chăm sóc sức khỏe tại nhà, bác sĩ gia đình, dịch
vụ điều dưỡng, kiểm tra sức khỏe định kỳ Ngoài ra, trung tâm hiện đang quản lý 26
Trang 33Các cơ sở y tế quan trọng khác như: Trạm y tế của Công ty CP Thủy lợi 2, Trại Phong của Thành phố, Dịch vụ khám chữa bệnh của Sư đoàn 312, Trạm y tế
Sư đoàn 371, Phòng y tế sân bay Nội Bài Ngoài ra còn có 3 phòng khám đa khoa, 4 phòng khám y học cổ truyền và nhiều phòng khám chuyên khoa, nhà thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân
Về kinh tế, huyện Sóc Sơn đã và đang có sự chuyển dịch đúng hướng, từ công nghiệp sang dịch vụ – du lịch – công nghiệp Sóc Sơn đã có những cơ sở làm tiền đề cho công nghiệp, dịch vụ đó là khu công nghiệp Nội Bài, cảng hàng không quốc tế Nội Bài, sân golf BRG Legend Hill, sân golf Minh Trí, khu du lịch Hàm Lợn… Đến nay, huyện đã có thêm 2 khu, cụm công nghiệp quy mô 188 ha, thêm 3 cụm công nghiệp đang được quy hoạch và đầu tư
Nông nghiệp chuyển đổi sang hướng sản xuất hàng hóa chuyên canh, tập trung với nhiều mô hình sản xuất áp dụng công nghệ cao, phát triển cả về quy mô
và chủng loại Huyện có nhiều làng nghề liên quan đến sản xuất nông nghiệp như làng trồng ngô, bán ngô bắp luộc, bắp non; làng trồng hoa nhài Phủ Lỗ, làng nghề mộc Xuân Dương, giặt bao tải và sơ chế Dược Hạ, tre trúc Thu Thủy, mây tre đan Xuân Dương
Trang 3423
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
➢ Cho mục tiêu 1: Trạm y tế xã, phường tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội: thông tin chung về TYT, nội dung công tác tổ chức thực hiện QLCTRYT; trang thiết bị, dụng cụ, cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ QLCTRYT; việc thực hiện từng khâu trong quy trình QLCTRYT
Tiêu chuẩn lựa chọn
- TYT đã đi vào hoạt động tại cơ sở hạ tầng hiện tại tối thiểu 1 năm
- TYT đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- TYT mới chuyển trụ sở hoạt động trong vòng 1 năm tính ngược từ thời điểm thu thập dữ liệu (tháng 8/2022)
➢ Cho mục tiêu 2: CBYT đang làm việc tại các TYT xã, phường thuộc
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn
- CBYT có tham gia vào hoạt động chuyên môn của TYT
- CBYT đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- CBYT đi vắng trong thời gian nghiên cứu (đi học hoặc đang thực tập, đang trong thời gian công tác xa, nghỉ đẻ hoặc nghỉ ốm trong suốt thời gian điều tra viên thu thập thông tin tại TYT)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 12 TYT của 12 xã thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, bao gồm các xã: Phú Cường, Tiên Dược, Mai Đình, Xuân Giang, Đức Hòa, Phù Linh, Phù Lỗ, Hiền Ninh, Xuân Thu, Quang Tiến, Đông Xuân, Thanh Xuân
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Trang 3524
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2022 đến tháng 5/2023 Trong đó:
- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 08/2022 đến tháng 09/2022
- Thời gian phân tích và hoàn thiện luận văn: từ tháng 10/2022 đến tháng 05/2023
2.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Đối với mẫu TYT xã
- Chúng tôi chọn 12 TYT xã tại 12 xã thuộc địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội để nghiên cứu
Đối với mẫu NVYT tại các TYT xã
- Chúng tôi chọn theo phương pháp chọn mẫu không xác suất, chọn mẫu thuận tiện cho nghiên cứu Bao gồm tất cả những mẫu thỏa mãn được tiêu chuẩn lựa chọn từ tháng 08/2022 đến tháng 09/2022, nên không áp dụng công thưc tính cỡ mẫu (chọn mẫu toàn bộ) Trên thực tế chúng tôi đã thu thập được thông tin của 102
CBYT đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
➢ Thông tin về thực trạng QLCTRYT tại các TYT
Phương pháp thu thập thông tin về thực trạng QLCTRYT tại các TYT gồm quan sát kết hợp hồi cứu sổ sách, báo cáo tại TYT
Công cụ thu thập thông tin: Bảng kiểm thực trạng quản lý chất thải rắn y tế (Phụ lục 1), được xây dựng dựa trên Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT của BYT
Kết quả được mô tả chi tiết nội dung của từng phần trong QLCTRYT nhằm đánh giá cụ thể từng tồn tại, ưu điểm của công tác QLCTRYT tại các TYT
➢ Thông tin đánh giá kiến thức của CBYT về QLCTRYT
Phương pháp thu thập: Phát vấn toàn bộ các CBYT tại 12 TYT xã
Công cụ phát vấn: Phiếu phát vấn CBYT tại các TYT xã về kiến thức QLCTRYT (Phụ lục 2), được xây dựng dựa trên Quy chế quản lý chất thải y tế tại
Trang 36Mức đạt (>50%)
2.2.4 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu
Thông tin chung
1 A1 TYT đã đạt tiêu chí quốc gia về
Bảng câu hỏi khảo sát
2 A2 Số phòng chúc năng và phòng
chuyên môn
Định lượng Bảng câu hỏi khảo sát
3 A3 Số cán bộ/nhân viên, trong đó
số nam và số nữ
Định lượng
Bảng câu hỏi khảo sát
4 A4 Trình độ cán bộ SĐH/ĐH, cao
đẳng/Trung cấp/Sơ cấp lượng Định Bảng câu hỏi khảo sát
Trang 3726
lượng
Bảng câu hỏi khảo sát
6 A6 Số lượt khám chữa bệnh năm
2021
Định lượng
Bảng câu hỏi khảo sát
7 A7 Số bệnh nhân điều trị nội trú
trung bình tháng
Định lượng Bảng câu hỏi khảo sát
8 A8 Số trẻ em được tiêm chủng
trung bình tháng
Định lượng
Bảng câu hỏi khảo sát
9 A9 Số ca đẻ tại trạm năm 2021 Định
lượng Bảng câu hỏi khảo sát
Mục tiêu 1: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các TYT
10 B1 Có kế hoạch hàng năm về công
Bảng câu hỏi khảo sát
11 B2 Có mục chi tài chính cho
Bảng câu hỏi khảo sát
12 B3 Có phân công CBYT phụ trách
Bảng câu hỏi khảo sát
15 B6 Có hoạt động kiểm tra, giám
Bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi khảo sát
17 Tổng lượng CTRYTNH phát
sinh tại TYT theo kg/ngày
Định lượng
Bảng câu hỏi khảo sát
18 C2 Những loại CTRYT phát sinh
Bảng câu hỏi khảo sát
19 D1 Có đủ số lượng túi đựng
Bảng câu hỏi khảo sát
20 D2 Có đủ chủng loại túi đựng
Bảng câu hỏi khảo sát
21 D3 Chất lượng túi đựng CTRYT đạt yêu cầu Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
22 D4 Có đủ số lượng thùng đựng
Bảng câu hỏi khảo sát
23 D5 Có đủ chủng loại thùng đựng
Bảng câu hỏi khảo sát
24 D6 Chất lượng thùng đựng
Bảng câu hỏi khảo sát
25 D7 Có đủ số lượng hộp đựng chất
thải, vật sắc nhọn Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
Trang 3827
26 D8 Chất lượng hộp đựng chất thải,
vật sắc nhọn đạt yêu cầu Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
27 E1 Phân loại ngay tại nơi phát sinh Nhị phân Bảng câu hỏi
khảo sát
28 E2 Phân loại đúng CTRYT vào
các dụng cụ tương ứng Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
29 E3 Thu gom đúng loại CTRYT Nhị phân Bảng câu hỏi
khảo sát
30 E4 Có bản hướng dẫn phân loại và
thu gom tại nơi đặt thùng Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
31 E5 Thu gom, buộc túi lại khi đựng đến mức 3/4 Nhị phân Bảng câu hỏi khảo sát
32 E6
Chất thải nguy cơ lây nhiễm cao được xử lý ban đầu trước khi thu gom về nơi tập trung
Nhị phân Bảng câu hỏi
khảo sát
33 D9 Có phương tiện chuyên dụng
để vận chuyển chất thải Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
35 Chất lượng nơi lưu giữ CTRYT đạt yêu cầu Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
36 G1 Tần suất vận chuyển CTRYT
trong TYT đúng quy định Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
37 G2 Có quy định giờ vận chuyển
Bảng câu hỏi khảo sát
38 G3 Có đường vận chuyển CTRYT
Bảng câu hỏi khảo sát
39 G4
Túi đựng CTRYT được buộc kín, thùng được đậy nắp cẩn thận khi vận chuyển
Nhị phân Bảng câu hỏi
khảo sát
40 G5 Không rơi vãi trong quá trình
Bảng câu hỏi khảo sát
41 G6 Các chất thải được lưu giữ
trong buồng riêng biệt Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
42 G7 Tần suất vận chuyển CTRYT
ngoài TYT đúng quy định Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
43 G8 Có hồ sơ theo dõi và vận
Bảng câu hỏi khảo sát
44 D11 Có lò đốt CTRYT Nhị phân Bảng câu hỏi
Trang 3928
47 Phương pháp xử lý chất thải
lây nhiễm cao đạt yêu cầu Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
50
H4
Phương pháp xử lý chất thải hóa học nguy hại Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
51
Phương pháp xử lý chất thải hóa học nguy hại đúng quy định
Nhị phân Bảng câu hỏi
khảo sát
52
H5
Phương pháp xử lý CTRYT thông thường Định danh Bảng câu hỏi khảo sát
53 Phương pháp xử lý CTRYT
thông thường đúng quy định Nhị phân Bảng câu hỏi khảo sát
54
H6
Phương pháp xử lý CTRYT tái
khảo sát
55 Phương pháp xử lý CTRYT tái
Bảng câu hỏi khảo sát
Mục tiêu 2: Thực trạng kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của CBYT
61 A6 Được tập huấn, hướng dẫn về
Bảng câu hỏi khảo sát
62 A6.1 Số lần được tập huấn về
khảo sát
63 A6.2
Đợt tập huấn chỉ gồm nội dung QLCTRYT hay có lồng ghép nôi dung khác
Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
64 B1 Kiến thức về khái niệm CTRYT đạt Định danh Bảng câu hỏi khảo sát
65 B2.1 Hiểu biết về số loại CTRYT Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
66 B2.2 Nêu được đúng tên các loại
Bảng câu hỏi khảo sát
Trang 4029
67 B3.1 Kiến thức về khái niệm CTRYTNH đạt Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát
68 B3.2 Kiến thức về các CTRYTNH
Bảng câu hỏi khảo sát
69 B4 Kiến thức về quy trình cơ bản các bước quản lý CTRYT đạt Định danh Bảng câu hỏi khảo sát
70 B5
Kiến thức về đối tượng có nguy
cơ ảnh hưởng sức khỏe từ
Bảng câu hỏi khảo sát
72 C2 Kiến thức về thời điểm bắt đầu
phân loại CTRYT đạt Định danh Bảng câu hỏi
Nhị phân Bảng câu hỏi
Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
75 D1
Kiến thức về người chịu trách nhiệm thực hiện thu gom CTRYT đạt
Định danh Bảng câu hỏi
78 D4 Kiến thức về tần suất vệ sinh thùng đựng CTRYT đạt Định danh Bảng câu hỏi khảo sát
79 D5 Kiến thức về tần suất thu gom
CTRYT tối thiểu đạt Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
80 D6
Kiến thức về cách xử lý trường hợp phân loại nhầm chất thải nguy hại với chất thải thông thường đạt
Định danh Bảng câu hỏi
khảo sát
81 E1
Kiến thức về tần suất vận chuyển CTRYT về nơi lưu giữ
Bảng câu hỏi khảo sát
82 E2 Kiến thức về yêu cầu khi vận
chuyển CTRYT tại TYT đạt Nhị phân
Bảng câu hỏi khảo sát