1. Tính cấp thiết của đề tài Gia đình là tế bào của xã hội, đây là môi trường vô cùng quan trọng giúp con người hình thành, được giáo dục và nuôi dưỡng nhân cách, đạo đức. Gia đình cũng là nơi bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang diễn ra toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước vô cùng mạnh mẽ, gia đình càng chứng tỏ nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng cơ bản và nhấn mạnh chức năng hình thành nhân cách con người, xã hội hóa cá nhân. Ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng chức năng quan trọng của gia đình với sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và toàn xã hội. Bình đẳng giới (BĐG) và đặc biệt là BĐG trong gia đình là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, cứ 3 người phụ nữ (PN) thì sẽ có gần 2 người (khoảng 63%) chịu một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tinh thần, tình dục và kinh tế, đồng thời bị kiểm soát hành vi gây ra từ chồng trong cuộc đời và gần 32% PN bị bạo lực hiện thời. Ước tính rằng bạo lực PN gây thiệt hại ước khoảng 1,8% GDP năm 2018 đến nền kinh tế Việt Nam 1, tr.32tr.55. Bất BĐG chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bạo lực gia đình (BLGĐ), đặc biệt là bạo lực đối với PN. BLGĐ đối với PN ở Việt Nam là một trong nhiều hình thức phổ biến nhất vi phạm, ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến quyền con người, mặc dù đây được cho là một vấn nạn khó xóa bỏ nhất, nhưng không đồng nghĩa với việc là không thể đẩy lùi, chấm dứt. Tuy nhiên, vướng ngại lớn nhất gây cản trở việc giải quyết triệt để vấn nạn BLGĐ và BLGĐ đối với PN lại một phần xuất phát từ chính người PN. Theo số liệu từ Báo cáo điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 Hành trình để thay đổi của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện, 49,6% PN tham gia khảo sát từng bị bạo lực thể xác vàhoặc tình dục bởi chồng không kể cho bất kỳ ai sự việc này. 90,4% PN từng bị bạo lực thể xác vàhoặc tình dục bởi chồng không tìm đến sự hỗ trợ từ chính quyền hoặc dịch vụ công. Giải thích cho lý do không tìm kiếm sự hỗ trợ là do PN nghĩ rằng “bạo lực là bình thường hoặc không nghiêm trọng”; một nửa (48,4%) số PN không tìm kiếm sự trợ giúp trả lời như vậy 1, tr.103–tr.106. Theo nghiên cứu thực trạng BLGĐ tại tỉnh Tuyên Quang trong đề tài Vấn đề bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang: Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp năm 2015 của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo, trên toàn tỉnh có 196.182 hộ gia đình, số hộ gia đình có bạo lực có xu hướng giảm, cụ thể năm 2014 số hộ gia đình có bạo lực là 206 hộ, đến năm 2015 còn 109 hộ. Huyện Na Hang và Sơn Dương có số hộ gia đình có xảy ra bạo lực nhiều nhất với 33 hộ (chiếm 36% toàn tỉnh năm 2015). Huyện Lâm Bình có số hộ gia đình có bạo lực ít nhất với 5 hộ (chiếm 5.45% toàn tỉnh), đây là một trong những huyện có ít hộ gia đình nhất tỉnh Tuyên Quang. Hằng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang báo cáo thống kê số vụ BLGĐ, cụ thể trong giai đoạn năm 2009 đến nửa đầu năm 2015 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang xảy ra 1.461 vụ BLGĐ và có xu hướng giảm 6, tr.10–tr.11. Tuy nhiên, theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên thường xuyên xảy ra những vụ xung đột gia đình, chồng say rượu bạo hành vợ con. PN khi bị bạo lực thường cam chịu mà không thông báo với chính quyền địa phương hoặc tổ chức, dịch vụ công 12. Cho thấy, tại tỉnh Tuyên Quang, vẫn có nhiều người PN trong gia đình phải chịu thương tổn về thể xác và tinh thần nhưng (có thể) chưa được thống kê do sự im lặng của người trong cuộc, cụ thể là PN – chủ thể chịu tác động BLGĐ. Vậy, vì sao BLGĐ ở Tuyên Quang lại có xu hướng giảm trong những năm gần đây? Tại sao người PN sinh sống tại tỉnh Tuyên Quang khi chịu bạo hành trong gia đình không lên tiếng và nhờ sự trợ giúp từ cơ quan chức năng? Để làm sáng tỏ những vấn đề này, tác giả lựa chọn “Quan điểm về bạo lực gia đình của phụ nữ tỉnh Tuyên Quang (Tiến hành khảo sát tại Thành phố Tuyên Quang, Huyện Yên Sơn, Huyện Lâm Bình – Tỉnh Tuyên Quang)” làm đề tài nghiên cứu. Với hy vọng sẽ có góc nhìn toàn cảnh về BLGĐ, đặc biệt là BLGĐ đối với PN tỉnh Tuyên Quang, từ đó bổ sung thêm nguồn tư liệu giúp các cơ quan chức năng, nghiệp vụ, các nhà nghiên cứu hoạch định giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân nói chung và PN tỉnh Tuyên Quang nói riêng về BLGĐ và phòng chống BLGĐ.
Trang 1TIỂU LUẬN
XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
QUAN ĐIỂM VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ
TỈNH TUYÊN QUANG
(Tiến hành khảo sát tại Thành phố Tuyên Quang, Huyện Yên
Sơn, Huyện Lâm Bình – Tỉnh Tuyên Quang)
Trang 2MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Đối tượng nghiên cứu 7
4 Khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
5 Mục đích nghiên cứu 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Khung lý thuyết 9
9 Phương pháp nghiên cứu 9
10 Bộ công cụ 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
PHỤ LỤC 18
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, đây là môi trường vô cùng quan trọng giúpcon người hình thành, được giáo dục và nuôi dưỡng nhân cách, đạo đức Giađình cũng là nơi bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp, tạonguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Trong bối cảnh Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang diễn ra toàncầu hoá, hội nhập quốc tế, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước vô cùngmạnh mẽ, gia đình càng chứng tỏ nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện chứcnăng cơ bản và nhấn mạnh chức năng hình thành nhân cách con người, xã hộihóa cá nhân Ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, Đảng, Nhà nước và Chính phủViệt Nam luôn coi trọng chức năng quan trọng của gia đình với sự nghiệp pháttriển bền vững của đất nước và toàn xã hội
Bình đẳng giới (BĐG) và đặc biệt là BĐG trong gia đình là vấn đề đượcđặc biệt quan tâm trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tuy nhiên, thực tế cho thấyrằng, cứ 3 người phụ nữ (PN) thì sẽ có gần 2 người (khoảng 63%) chịu một hoặchơn một hình thức bạo lực thể xác, tinh thần, tình dục và kinh tế, đồng thời bịkiểm soát hành vi gây ra từ chồng trong cuộc đời và gần 32% PN bị bạo lực hiệnthời Ước tính rằng bạo lực PN gây thiệt hại ước khoảng 1,8% GDP năm 2018đến nền kinh tế Việt Nam [1, tr.32-tr.55]
Bất BĐG chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bạo lực gia đình (BLGĐ),đặc biệt là bạo lực đối với PN BLGĐ đối với PN ở Việt Nam là một trong nhiềuhình thức phổ biến nhất vi phạm, ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến quyềncon người, mặc dù đây được cho là một vấn nạn khó xóa bỏ nhất, nhưng khôngđồng nghĩa với việc là không thể đẩy lùi, chấm dứt Tuy nhiên, vướng ngại lớnnhất gây cản trở việc giải quyết triệt để vấn nạn BLGĐ và BLGĐ đối với PN lại
một phần xuất phát từ chính người PN Theo số liệu từ Báo cáo điều tra quốc
gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 - Hành trình để thay đổi của
Trang 5Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê thựchiện, 49,6% PN tham gia khảo sát từng bị bạo lực thể xác và/hoặc tình dục bởichồng không kể cho bất kỳ ai sự việc này 90,4% PN từng bị bạo lực thể xác và/hoặc tình dục bởi chồng không tìm đến sự hỗ trợ từ chính quyền hoặc dịch vụcông Giải thích cho lý do không tìm kiếm sự hỗ trợ là do PN nghĩ rằng “bạo lực
là bình thường hoặc không nghiêm trọng”; một nửa (48,4%) số PN không tìmkiếm sự trợ giúp trả lời như vậy [1, tr.103–tr.106]
Theo nghiên cứu thực trạng BLGĐ tại tỉnh Tuyên Quang trong đề tài Vấn
đề bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang: Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp
năm 2015 của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo, trên toàn tỉnh có 196.182 hộ gia
đình, số hộ gia đình có bạo lực có xu hướng giảm, cụ thể năm 2014 số hộ giađình có bạo lực là 206 hộ, đến năm 2015 còn 109 hộ Huyện Na Hang và SơnDương có số hộ gia đình có xảy ra bạo lực nhiều nhất với 33 hộ (chiếm 36%toàn tỉnh năm 2015) Huyện Lâm Bình có số hộ gia đình có bạo lực ít nhất với 5
hộ (chiếm 5.45% toàn tỉnh), đây là một trong những huyện có ít hộ gia đình nhấttỉnh Tuyên Quang Hằng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh TuyênQuang báo cáo thống kê số vụ BLGĐ, cụ thể trong giai đoạn năm 2009 đến nửađầu năm 2015 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang xảy ra 1.461 vụ BLGĐ và có xuhướng giảm [6, tr.10–tr.11]
Tuy nhiên, theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, xãYên Phú, huyện Hàm Yên thường xuyên xảy ra những vụ xung đột gia đình,chồng say rượu bạo hành vợ con PN khi bị bạo lực thường cam chịu mà khôngthông báo với chính quyền địa phương hoặc tổ chức, dịch vụ công [12] Chothấy, tại tỉnh Tuyên Quang, vẫn có nhiều người PN trong gia đình phải chịuthương tổn về thể xác và tinh thần nhưng (có thể) chưa được thống kê do sự imlặng của người trong cuộc, cụ thể là PN – chủ thể chịu tác động BLGĐ
Trang 6Vậy, vì sao BLGĐ ở Tuyên Quang lại có xu hướng giảm trong nhữngnăm gần đây? Tại sao người PN sinh sống tại tỉnh Tuyên Quang khi chịu bạohành trong gia đình không lên tiếng và nhờ sự trợ giúp từ cơ quan chức năng?
Để làm sáng tỏ những vấn đề này, tác giả lựa chọn “Quan điểm về bạo lực gia
đình của phụ nữ tỉnh Tuyên Quang (Tiến hành khảo sát tại Thành phố Tuyên Quang, Huyện Yên Sơn, Huyện Lâm Bình – Tỉnh Tuyên Quang)” làm
đề tài nghiên cứu Với hy vọng sẽ có góc nhìn toàn cảnh về BLGĐ, đặc biệt là
BLGĐ đối với PN tỉnh Tuyên Quang, từ đó bổ sung thêm nguồn tư liệu giúp các
cơ quan chức năng, nghiệp vụ, các nhà nghiên cứu hoạch định giải pháp nhằmnâng cao nhận thức của người dân nói chung và PN tỉnh Tuyên Quang nói riêng
về BLGĐ và phòng chống BLGĐ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khoa học – công nghệ cùng với ý thức con người được nâng cao, hiệnnay, các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm vàcác nghiên cứu liên quan đến vấn đề BLGĐ
2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Năm 2009, luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội của tác giả Tawnie Thien
Nguyen về đề tài A Domestic Violence shelter for female Asian America
Survivors of Domestic Violence: A grant proposal, nghiên cứu chỉ ra rằng những
PN sống sót sau BLGĐ cố gắng rời bỏ kẻ gây ra bạo hành cho họ trước khi ra đivĩnh viễn Rất khó để xác định lý do chính xác tại sao một số nạn nhân nữ củaBLGĐ chọn ở lại với kẻ ngược đãi họ Hai lý do phổ biến được đưa ra để giảithích là nhu cầu tình cảm và nhu cầu kinh tế (thiếu nguồn lực kinh tế; mạng lưới
hỗ trợ xã hội kém; khó khăn trong việc nuôi dạy con cái một mình) Bên cạnh
đó, PN khuyết tật có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của BLGĐ [10, tr.13]
Báo cáo Violence Against Women Prevalence Estimates, 2018 của Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) phân tích dữ liệu thu thập được qua các cuộc khảosát và nghiên cứu được thực hiện từ năm 2000 đến năm 2018, báo cáo xem xét
Trang 7toàn diện và có hệ thống tất cả các dữ liệu có sẵn về mức độ phổ biến của cáchình thức bạo lực đối với PN Ở quy mô toàn cầu, báo cáo ước tính 27% PN đã/
đã từng kết hôn trong độ tuổi sinh sản (15–49 tuổi) đã từng trải qua bạo lực thểxác và/hoặc bạo lực tình dục gây ra bởi chồng/bạn tình ít nhất một lần trong suốtcuộc đời của họ (được định nghĩa là từ khi 15 tuổi) Áp dụng tỷ lệ này trên dữ
liệu dân số năm 2018 từ Dân số thế giới triển vọng 2019 (WPP 2019) cho thấy,
trung bình từ 641 triệu đến 753 triệu PN đã/đã từng kết hôn từ 15 tuổi trở lêntừng bị hành hạ về thể xác và/hoặc bạo lực tình dục gây ra bởi chồng/bạn tình ítnhất một lần trong đời Tuy nhiên, những PN đã từng trải qua BLGĐ coi là đó làvấn đề riêng tư, nằm ngoài trách nhiệm và kiểm soát của các nhà hoạch địnhchính sách, cơ quan chức năng có thẩm quyền Bản thân PN chịu tác động từBLGĐ cho rằng nguyên nhân họ bị bạo hành đến từ việc họ đã có hành vi vượtquá những vai trò và chuẩn mực của mình được xã hội quy định Nhiều trườnghợp cho rằng BLGĐ được coi là một hình thức "kỷ luật" hay "trừng phạt" vợ vìnhững lý do như nói chuyện với đàn ông khác, từ chối quan hệ tình dục, không
“xin phép” đi chơi, thăm gia đình hoặc không thực hiện đúng vai trò làm vợ Nhiều báo cáo và nghiên cứu đã ghi nhận rằng bạo hành PN là nguyên nhânchính gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần (đặc biệt trầm cảm và tự sát), sứckhỏe sinh sản và tình dục, chấn thương và các tình trạng sức khỏe mãn tính khác[11, tr.42-tr.56]
Năm 2020, trong nghiên cứu The effect of university students’ violence
tendency on their attitude towards domestic violence and the factors affecting domestic violence attitudes của nhóm tác giả Ruken Yagiz và cộng sự, BLGĐ
hướng đến thanh niên được tiến hành trên đối tượng sinh viên đại học năm cuối,đây là nhóm đối tượng phát triển về mặt xã hội Kết quả phân tích tiếp xúc củanhững người trẻ tuổi với BLGĐ là cao Tuy nhiên, điểm số đánh giá thái độ vớiBLGĐ được cho là tương đối thấp Các khuynh hướng bạo lực và điểm số thái
độ với bạo hành của nam sinh cao hơn nữ giới [9, tr.6]
2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Trang 8Theo kết quả nghiên cứu từ Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối
với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố
ngày 25/11/2010, 32% PN từng kết hôn tham gia khảo sát cho biết họ đã phảichịu bạo lực thể xác trong đời và 6% trải qua trong 12 tháng trở lại Bạo lực thểxác bắt đầu sớm trong quan hệ hôn nhân và giảm dần theo độ tuổi PN gặp khókhăn khi chia sẻ về trải nghiệm bạo lực tình dục và coi việc nói về bạo lực tìnhdục trong hôn nhân là không phù hợp Tuy nhiên, 10% PN từng kết hôn cho biết
họ đã từng trải qua bạo lực tình dục trong đời và 4% trong 12 tháng qua Đángchú ý, bạo lực tình dục không thay đổi nhiều ở những nhóm tuổi khác nhau (tới
50 tuổi) và trình độ học vấn của PN Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ bị bạolực tinh thần ở PN rất cao (54%) và 25% PN bị bạo lực tinh thần trong 12 thángqua 9% PN trả lời bị bạo lực về kinh tế trong đời [2, tr.20-tr.25]
Tác giả Trần Anh Thư trong đề tài Bạo hành phụ nữ trong gia đình Việt
Nam năm 2013 đề cập đến thực trạng bạo hành PN, đặc biệt là bạo hành thể xác
trong gia đình Việt Nam hiện nay càng gia tăng và có chiều hướng nghiêmtrọng Bạo hành tinh thần ngày càng diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng.Bạo hành PN dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe như thươngtích, tàn tật, sức khỏe sinh sản và tinh thần bị ảnh hưởng trầm trọng, ảnh hưởngxấu đến đời sống và tâm lý trẻ em trong gia đình Nguyên nhân của BLGĐ trên
PN do tư tưởng gia trưởng ăn sâu của đàn ông, trình độ văn hoá thấp, năng lực
tự vệ của PN còn kém [7, tr.47-tr.52]
Tại tỉnh Tuyên Quang, vấn đề BLGĐ được tác giả Đỗ Thị Phương Thảo
phân tích trong đề tài Vấn đề bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang: Thực
trạng, nguyên nhân, giải pháp năm 2015 Theo kết quả phân tích của tác giả, số
vụ BLGĐ của huyện Na Hang và huyện Sơn Dương gia đoạn 2008 – 2016 làcao nhất (chiếm 48% và 41% tổng số vụ BLGĐ toàn tỉnh) Huyện Lâm Bình có
số vụ bạo lực gia đình ít nhất (chiếm 6,15% tổng số vụ toàn tỉnh) Trong cáchình thức BLGĐ, thì bạo lực thân thể có số vụ bạo lực nhiều nhất (69% số vụ
Trang 9BLGĐ) Có số vụ bạo lực cao thứ hai là bạo lực tinh thần (61.5%) Không ghinhận số vụ BLGĐ liên quan đến bạo lực tình dục Giả thiết rằng đây là vấn đềnhạy cảm dẫn đến tâm lý e ngại, xấu hổ trước dư luận xã hội của nạn nhân cũngnhư những đối tượng liên quan nên không muốn công khai với cộng đồng 100%người dân tham gia khảo sát trả lời rằng bạo lực thể chất là hình thức BLGĐ phổbiến nhất Nguyên nhân dẫn đến BLGĐ theo chia sẻ của nạn nhân là do rượubia, mâu thuẫn quan điểm sống, ngoại tình và do bản tính Nhiều nam giới bạolực chia sẻ rằng cha của họ bạo lực và bản thân cũng thường bị bố gây bạo lực
từ nhỏ [6, tr.11-tr.16]
Từ góc độ Xã hội học, luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Văn Ước (2016)
với đề tài nghiên cứu Nhận thức về bạo lực gia đình của người dân tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu tại phường Nguyễn Thái Học và xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên,
kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người dân có nhận thức tốt về BLGĐ, tuynhiên, một bộ phận người dân, đặc biệt làm nam giới chưa coi BLGĐ là vi phạmpháp luật Đặc điểm nhân khẩu - xã hội (giới tính, trình độ học vấn, địa bàn cưtrú, mức sống, nghề nghiệp) khác biệt dẫn đến nhận thức khác nhau về BLGĐcủa người dân [8, tr.113-tr.114]
Năm 2017, luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội của tác giả Nguyễn Thị Nam
về đề tài Bạo lực gia đình của người chồng đối với người vợ và can thiệp từ
phía cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp phường Trung Đô, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi đề cập đến BLGĐ, PN thường
chọn chấp nhận với hiện tại 5/8 nạn nhân trả lời trong cuộc phỏng vấn sâu(PVS) rằng họ không phản kháng với hành vi của chồng Những người PN trongtrường hợp này thường là những người đã kết hôn lâu năm, có cái nhìn truyềnthống với vị trí của mình trong gia đình, cam chịu việc “giữ lửa” tổ ấm và nếukhông làm tròn “bổn phận” thì chồng đánh là chuyện bình thường Những PN cóquan điểm này thường đặt lợi ích của gia đình, bố mẹ, con cái mình lên trên cảmxúc và hạnh phúc cá nhân PN chấp nhận việc BLGĐ để cho con có đầy đủ cha
Trang 10mẹ vì họ cho rằng có bố trong nhà con sẽ ngoan và vững, không bị bạn bè trêuchọc Những người có quan điểm này gần như không có ý định ly hôn hay nhờ
sự giúp đỡ từ gia đình hoặc cơ quan chức năng, không quan tâm đến khuyếnnghị của dư luận xã hội [4, tr.30-tr.40]
Cùng năm, tác giả Trịnh Thị Lý của luận văn Thạc sĩ Tâm lý học với đề
tài Tham vấn cho người chồng có hành vi bạo lực gia đình, kết quả định tính từ
PVS, thảo luận nhóm những người đàn ông gây ra BLGĐ cho thấy họ mang tâm
lý e ngại, xấu hổ khi tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý khi cho rằng không códịch vụ hỗ trợ cho người gây lỗi mà chỉ dành cho PN, nhưng đồng thời thể hiệnnhu cầu cần chia sẻ và thấu hiểu [3, tr.59-tr.60]
Phân tích theo hướng phòng, chống và ứng phó với BLGĐ, báo cáo
Phòng, chống và Ứng phó đối với Bạo lực Gia đình ở Việt Nam – Bài học từ Mô hình Can thiệp tại tỉnh Phú Thọ và Bến Tre năm 2012 của Quỹ Dân số Liên Hợp
Quốc (UNFPA) Nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế cho thấy muốn chấm dứtBLGĐ đòi hỏi sự tham gia của nhiều cấp, ngành khác nhau Để phòng, chống cóhiệu quả BLGĐ cần phải có cơ chế phối hợp cấp cơ sở giữa các cơ quan chứcnăng thực hiện, và cấp cao hơn về chính sách, ngân sách hoạt động, theo dõi,giám sát và giải trình [5, tr.7-tr.8]
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là quan điểm về BLGĐ của PNtỉnh Tuyên Quang
4 Khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Người dân, cụ thể là PN trong độ tuổi kết hôn (từ đủ 18 tuổi trở lên) đang sinh sống trên địa bàn phường An Tường và phường Hưng Thành (Thành phố Tuyên Quang), xã Thắng Quân và xã Tứ Quận (Huyện Yên Sơn), thị trấn Lăng Can và xã Thượng Lâm (Huyện Lâm Bình), tỉnh Tuyên Quang
Trang 114.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trường hợp tại phường An Tường và
phường Hưng Thành (Thành phố Tuyên Quang), xã Thắng Quân và xã Tứ Quận(Huyện Yên Sơn), thị trấn Lăng Can và xã Thượng Lâm (Huyện Lâm Bình) thuộc tỉnh Tuyên Quang
- Phạm vi thời gian: Tiến hành khảo sát từ tháng 01/2022 đến hết tháng
02/2022
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: BLGĐ diễn ra dưới nhiều hình thức
khác nhau giữa các thành viên trong gia đình, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tập trung khai thác quan điểm của PN về BLGĐ dưới các hình thức: bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục
5 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ thực trạng quan điểm và những yếu tốảnh hưởng đến quan điểm về BLGĐ của PN tỉnh Tuyên Quang, từ kết quảnghiên cứu đề xuất những giải pháp nâng cao nhận thức của người dân, cũngnhư những PN tại địa phương về BLGĐ và phòng chống BLGĐ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa khái niệm, lý thuyết xã hội học sử dụng trong nghiên cứu
đề tài
- Tìm hiểu quan điểm về BLGĐ của PN tỉnh Tuyên Quang thông qua bộnhận diện (nguyên nhân, hậu quả, hành vi) BLGĐ; quan điểm về giải pháp ứngphó với BLGĐ, chính sách và pháp luật về phòng chống BLGĐ
- Phân tích các yếu tố tác động đến quan điểm về BLGĐ của PN tỉnhTuyên Quang hiện nay; khuyến nghị giải pháp hướng tới nâng cao nhận thức vềBLGĐ và phòng chống BLGĐ cho người dân và PN địa phương
Trang 127 Giả thuyết nghiên cứu
(1) PN tỉnh Tuyên Quang đã nhận thức được nguyên nhân, hậu quả, hành
Trang 138 Khung lý thuyết
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp phân tích tài liệu :
Tiến hành thu thập các tài liệu lý luận, các kết quả nghiên cứu thực tiễn(sách, luận án, bài báo khoa học, tạp chí khoa học, công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước, ) về các vấn đề liên quan đến BLGĐ và BLGĐ trên PN Các tàiliệu được nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lýluận cho đề tài Đề tài thu thập các thông tin có sẵn từ các công trình nghiên cứukhoa học của các tác giả, các bài báo, tạp chí khoa học… Dựa vào đó sử dụng
Môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội Các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương
Đặc điểm nhân khầu học
Trang 14các thông tin phù hợp để học tập, phân tích, so sánh với kết quả khảo sát của đề
tài Quan điểm về BLGĐ của PN tỉnh Tuyên Quang này
9.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket:
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket Kết quả được xử lý vàphân tích qua phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0 để xử lý các thông tinđịnh lượng
9.3. Cách thức chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: 300 PN trong độ tuổi kết hôn (từ đủ 18 tuổi) đang sinh
sống tại phường An Tường và phường Hưng Thành (Thành phố Tuyên Quang),
xã Thắng Quân và xã Tứ Quận (Huyện Yên Sơn), thị trấn Lăng Can và xãThượng Lâm (Huyện Lâm Bình) thuộc tỉnh Tuyên Quang
- Cách thức chọn mẫu:
Tiến hành chọn mẫu theo phương pháp Snowball (quả bóng tuyết) vớikhách thể là PN đang sinh sống tại Thành phố Tuyên Quang, Huyện Yên Sơn vàHuyện Lâm Bình thuộc tỉnh Tuyên Quang, đảm bảo khách thể nghiên cứu đượclựa chọn khách quan, và có cơ hội lựa chọn như nhau
Tại mỗi địa bàn nghiên cứu, chọn ngẫu nhiên nhóm 10 PN đầu tiên thamgia khảo sát trong danh sách giới thiệu của cơ quan chức năng tại địa phương(Tổ dân phố; Chi hội PN; Đoàn Thanh niên; Công an phường/xã ) Nhữngnhóm PN tham gia khảo sát tiếp theo được giới thiệu bởi nhóm PN đã tham giakhảo sát trước đó
Trang 1510 Bộ công cụ
Mã số phiếu: PHIẾU KHẢO SÁT PHỤ NỮ TỈNH TUYÊN QUANG
Chúng tôi là Sinh viên khoa Xã hội học và Phát triển, thuộc Học viện Báochí và Tuyên truyền Hiện nay chúng tôi đang tham gia nghiên cứu và tìm
hiểu về: “Quan điểm về bạo lực gia đình của phụ nữ tỉnh Tuyên Quang.” Để
hoàn thành được nghiên cứu này, tôi cần sự ủng hộ và giúp đỡ của các chị Hãy lựa chọn những phương án trả lời mà các chị cho là phù hợp nhấtbằng cách khoanh tròn vào những đáp án tương ứng
Chúng tôi xin đảm bảo những thông tin do chị cung cấp chỉ sử dụng vàomục đích nghiên cứu của khoa Xã hội học và Phát triển, Học viện Báo chí vàTuyên truyền
Xin chân thành cảm ơn sự trợ giúp thông tin từ các chị!
A THÔNG TIN CHUNG
A1 Chị sinh năm bao nhiêu?
99 Không nhớ/Không biết
A2 Chị là người dân tộc:
1 Kinh
2 Khác (ghi rõ)
A3 Địa bàn sinh sống của chị thuộc (ghi cụ thể):
Xã/Phường Huyện/Thành phố
Trang 16A4 Tình trạng hôn nhân hiện nay của chị: