1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử đảng bộ và nhân dân phường đại kim 1930 2020

308 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Đảng Bộ Và Nhân Dân Phường Đại Kim 1930-2020
Tác giả Đảng Bộ Quận Hoàng Mai
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quốc Bảo
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Thể loại biên soạn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 308
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Xã Đại Kim, được hình thành từ các làng Kim Lũ, Kim Văn, Kim Giang và Đại Từ. Hiện nay, khi chuyển thành phường có 21 chi bộ, 31 tổ dân phố. Đại Kim xưa kia là vùng đất cư dân chủ yếu sống bằng nghề nông. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, nhân dân Đại Kim đã phát huy truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, dựng xây xóm làng; dũng cảm đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Đại Kim đoàn kết một lòng cùng nhân dân thủ đô làm nên thắng lợi to lớn cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Trong công cuộc đổi mới, nhân dân Đại Kim cùng nhau chung sức xây dựng cuộc sống mới ngày càng tươi đẹp hơn. Thực hiện Chỉ thị số 20CTTW, ngày 18012018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng, chủ trương của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội và Quận ủy Hoàng Mai, Ban Chấp hành Đảng bộ phường Đại Kim tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (19302020). Nội dung cuốn sách giới thiệu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động của Đảng bộ phường Đại Kim qua các thời kỳ cách mạng, đồng thời, phát huy tinh thần cách mạng của các thế hệ cha anh, đúc kết kinh nghiệm quý báu, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phường tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị, đưa Đại Kim phát triển ngày càng giàu mạnh, văn minh. Cuốn lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (1930 – 2020) được biên soạn trên nền cuốn Lịch sử xã Đại Kim phát hành năm 2003. Sau một thời gian sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn khẩn trương, nghiêm túc, đến nay, cuốn Lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (19302020) hoàn thành và ra mắt bạn đọc. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong chỉ đạo và biên soạn cuốn sách, song do nguồn tài liệu lưu trữ còn thiếu, trải qua các cuộc chiến tranh nên thất lạc nhiều, nhân chứng lịch sử, nhất là cán bộ chủ chốt của xã, phường qua các thời kỳ tuổi cao, thời gian trôi đi quá lâu nên nguồn cung cấp tư liệu còn hạn chế… Vì vậy, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để cuốn sách lần sau tái bản đạt chất lượng tốt hơn. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Ban Chấp hành Đảng bộ phường Đại Kim chân thành cảm ơn tập thể tác giả thuộc Viện Lịch sử Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, các nhân chứng lịch sử qua các thời kỳ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, cung cấp, sưu tầm tư liệu, nghiên cứu biên soạn, đóng góp ý kiến để hoàn thành cuốn Lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (19302020).

Trang 1

LỊCH SỬ

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN

PHƯỜNG ĐẠI KIM

1930-2020

Trang 3

ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀNG MAI BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ PHƯỜNG ĐẠI KIM

LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN

PHƯỜNG ĐẠI KIM

1930-2020

HÀ NỘI THÁNG 1 - 2020

Trang 4

BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠNSÁCH LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐẠI KIM

Đ/c Trần Đại Dũng QUV, Bí thư Đảng ủy Trưởng Ban

Đ/c Cung Thị Hồng Loan PBT ĐU, Chủ tịch HĐND Phó trưởng Ban

Đ/c Phạm Hải Bình PBT ĐU, Chủ tịch UBND Phó trưởng Ban

Đ/c Trần Văn Dũng UVTV, Trưởng CA phường Ủy viên

Đ/c Nguyễn Tất Thành ĐUV, Phó Chủ tịch HĐND Ủy viên

Đ/c Bùi Thị Kim Khuê UVTV, Chủ tịch MTTQ Ủy viên

Đ/c Nguyễn Thị Thái ĐUV, Phó Chủ tịch UBND Ủy viên

Đ/c Nguyễn Sỹ Phong ĐUV, Phó Chủ tịch UBND Ủy viên

BIÊN SOẠN

Biên tập và chỉnh sửa lần cuối: PGS.TS Nguyễn Quốc Bảo

Giảng viên cao cấp

Nguyên Trưởng khoa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 5

Xã Đại Kim, được hình thành từ các làng Kim Lũ, Kim Văn,Kim Giang và Đại Từ Hiện nay, khi chuyển thành phường có

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Đại Kim đoàn kết mộtlòng cùng nhân dân thủ đô làm nên thắng lợi to lớn cuộc tổng khởinghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 Trong kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc nền độc lậpdân tộc Trong công cuộc đổi mới, nhân dân Đại Kim cùng nhauchung sức xây dựng cuộc sống mới ngày càng tươi đẹp hơn

Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-01-2018 của Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục tăng cường và nâng

cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng, chủ trương của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội và

Quận ủy Hoàng Mai, Ban Chấp hành Đảng bộ phường Đại Kim

tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử Đảng bộ và nhân dân

phường Đại Kim (1930-2020) Nội dung cuốn sách giới thiệu quá

trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động của Đảng bộphường Đại Kim qua các thời kỳ cách mạng, đồng thời, pháthuy tinh thần cách mạng của các thế hệ cha anh, đúc kết kinhnghiệm quý báu, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân trongphường tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị,đưa Đại Kim phát triển ngày càng giàu mạnh, văn minh

Cuốn lịch sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (1930 –2020) được biên soạn trên nền cuốn Lịch sử xã Đại Kim pháthành năm 2003 Sau một thời gian sưu tầm, nghiên cứu, biên

Trang 6

soạn khẩn trương, nghiêm túc, đến nay, cuốn Lịch sử Đảng bộ

và nhân dân phường Đại Kim (1930-2020) hoàn thành và ra mắt

bạn đọc Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong chỉ đạo và biên soạncuốn sách, song do nguồn tài liệu lưu trữ còn thiếu, trải qua cáccuộc chiến tranh nên thất lạc nhiều, nhân chứng lịch sử, nhất làcán bộ chủ chốt của xã, phường qua các thời kỳ tuổi cao, thờigian trôi đi quá lâu nên nguồn cung cấp tư liệu còn hạn chế… Vìvậy, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết.Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để cuốnsách lần sau tái bản đạt chất lượng tốt hơn

Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Ban Chấp hành Đảng bộphường Đại Kim chân thành cảm ơn tập thể tác giả thuộc ViệnLịch sử Đảng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cácđồng chí lãnh đạo chủ chốt, các nhân chứng lịch sử qua các thờikỳ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, cung cấp, sưu tầm tư liệu,nghiên cứu biên soạn, đóng góp ý kiến để hoàn thành cuốn Lịch

sử Đảng bộ và nhân dân phường Đại Kim (1930-2020)

Đại Kim, ngày tháng năm 2020

TM BAN CHẤP HÀNH

Bí thư

Trần Đại Dũng

Trang 7

Ảnh chân dung Hồ Chủ tịch

Trang 8

Bản đồ địa giới hành chính phường

Trang 9

Ảnh bác Hồ thăm cánh đồng lúa Đại từ Ảnh nghiệm thu cuốn lịch sử xã Đại Kim 13/6/2003

Chương I

Trang 10

ĐẶC ĐIỂM VÀ TRUYỀN THỐNG

Địa danh Đại Kim trong lịch sử

Xã Đại Kim là một trong 25 xã, 1 Thị trấn thuộc huyệnThanh Trì Phía bắc giáp Định Công và Khương Đình, phía đônggiáp Thịnh Liệt, phía tây giáp xã Tân Triều Phía nam giáp xã ThanhLiệt và Hoàng Liệt Đại Kim có dòng sông Tô Lịch chạy dọc theohướng bắc-nam, phần đất phía đông là hồ Linh Đàm Xã gồm có 4thôn là Đại Từ, Kim Lũ, Kim Văn và Kim Giang Từ năm 2004chuyển thành phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố HàNội Hiện nay, phường có 21 chi bộ, 31 tổ dân phố

Thôn Đại Từ nằm ở Tả ngạn sông Tô, giáp với phía tây củaQuốc lộ 1 và phía nam của Định Công, bên cạnh đầm Linh Đường(còn có tên đầm Đại, đầm Vân) là đầm rộng nhất ở vào trung tâm

huyện Thanh Trì Đại Nam nhất thống chí cho biết: xưa đầm chu vi 12

dặm, hình như trăng lưỡi liềm, nước đầm trong suốt như gươngnên cũng gọi là Nguyệt Kính hồ, hoặc còn gọi là Liên Đàm bởi đầmcó nhiều hoa sen, hạt rất to Sử cũ còn chép là: trước đây giữa khuđất làng Định Công với Linh Đường, Đại Từ có một con ngòi khálớn (ngòi Tô Khê) Hàng năm các vua quan vẫn thường sử dụng nó

để đi thuyền từ kinh thành Thăng Long về tới đầm Linh Đường dungoạn Theo gia phả các dòng họ trong thôn, Đại Từ đã có trước

Trang 11

đây vào khoảng 700 năm Những cư dân thuở sơ khai của Đại Từlúc đầu quần tụ bên bờ sông Tô Lịch, sau mới dồn vào địa điểmnhư hiện nay ở ven hồ đầm Linh Đường Về mặt hành chính, xưakia Đại Từ chỉ là một thôn nằm trong xã Linh Đàm Đến trước Cáchmạng Tháng Tám 1945, xã Đại Từ cùng với xã Kim Lũ thuộc tổngKhương Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông Sau năm 1954, vẫn

là hai xã Đại Từ và Kim Lũ thuộc ngoại thành Hà Nội Từ năm 1955đến nay thuộc xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Thôn Kim Lũ (tên gốc của Kim Lũ là Thanh Đàm cổ ấp), tênthường gọi là làng Lủ, đã có cách đây khoảng trên dưới 500 năm.Địa điểm làng cũ ở Bồ Đa, Gò Sở (nay là hai xứ đồng của làng), sauđó do địa lý phong thuỷ kém, đất đai khô cằn, an ninh không tốt,nên làng chuyển dần về ven sông Tô Lịch Khu đất của làng hiệnnay được coi là địa linh tứ khí, nhân hoà vật thịnh Phía đông cósông Tô Lịch, phía tây là hai cánh đầm (đầm trên, đầm dưới), phíabắc giáp xã Hạ Đình tiện lên Kinh đô, phía nam giáp với xã ThanhLiệt, quê hương Chu Văn An - nhà sư phạm lớn Về mặt an ninhcũng được coi là công thủ toàn diện

Tên làng Lủ (Kẻ Lủ) là một từ cổ, có thể từ chữ Lủ mà saunày đặt tên làng là Kim Lũ (chữ Hán: Kim Lũ là sợi tơ màu vàng,màu hoàng kim, đôi khi đựợc coi như đồng nghĩa với "kim tuyến" -chỉ sự giàu sang) Làng Lủ xưa có 3 xóm là xóm cầu (Lủ Cầu) nay là

Trang 12

thôn Kim Giang, xóm Trung (Lủ Trung) nay là thôn Kim Lũ và xómVăn (Lủ Văn) nay là thôn Kim Văn.

Thôn Kim Văn ở vị trí phía bắc giáp thôn Kim Lũ, đông giápĐường 70B dọc sông Tô Lịch, nam giáp cánh đồng thôn Thượng, xãThanh Liệt, tây giáp cánh đồng xã Tân Triều

Thôn Kim Giang nằm ở đầu xã Đại Kim hiện nay Trướclàng là con sông Tô Lịch Còn lại các phía khác: bắc giáp làng HạĐình, nam giáp Kim Lũ, tây giáp làng Triều Khúc

Làng Lủ xưa thuộc tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì,tỉnh Hà Đông, sau thuộc đại lý Hoàn Long, tỉnh Hà Nội Thời khángchiến chống Pháp có tên là xã Tam Kim (3 làng Kim), có lúc sápnhập với thôn Hạ Đình, thành xã Kim Đình, quận 6, Hà Nội Năm

1955 sáp nhập với thôn Đại Từ, thành xã Đại Kim, thuộc quận 7(nay là huyện Thanh Trì), thành phố Hà Nội

Ở Đại Kim, nét chung của các làng là nếp sống quần tụ củacác gia đình, dòng họ, nhiều nhà có ao, có vườn rộng Xung quanhlàng được trồng những rặng tre ken dày, kín đáo để bảo vệ an ninhchung Đường ngõ đi lại trong làng đều được lát gạch, hai bên córãnh thoát nước vừa tránh úng nước làm hỏng mặt đường vừa đểgiữ vệ sinh chung Mỗi làng còn bỏ tiền công ra xây giếng và cửngười trông nom, khiến cho nước ở giếng bao giờ cũng đầy vàtrong sạch

Trang 13

Các làng cũng đều có cổng làng, cổng làng được xây dựng,trang trí theo đường nét riêng của mỗi làng Nhưng thường thường

ở chính giữa cổng là một bức hoành phi, hai bên cổng có hàng câuđối bằng chữ Hán, nội dung mang những ý nghĩa giáo dục, khuyếnthiện, thậm chí thể hiện cả khuôn phép của làng Như cổng làngKim Lũ Trên cổng chính có 2 chữ Hán đại tự "Quan miện" - (Mũquan), hai bên cổng có đôi câu đối nói về truyền thống văn hóa.Ngoài cổng chính, làng còn xây dựng thêm hai cổng gọi là cổng

"Hồi cẩm môn" - (áo gấm về làng), và cổng "Tường quan", trong đóquy định cổng Hồi cẩm môn là cổng dành cho các ông tiến sĩ củalàng đi về vinh quy

Ảnh cổng làng Đại Từ

Ảnh cổng làng Kim Lũ

Trang 14

Tổ chức hành chính

Cơ cấu tổ chức của mỗi làng cũng có những nét chung phùhợp với điều kiện sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng cư dân màphần lớn làm nghề nông Dưới làng là các xóm Vào những nămtrước Cách mạng Tháng Tám 1945, quản lý làng xóm là một Hộiđồng gồm các chức danh Chánh hội, Phó hội, Thư ký, Thủ quỹ, Hộlại, Trưởng bạ, Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, Tuần phiên Việcphân chia các chức không nhất thiết người của thôn nào Trừ có haichức Chánh hội và Phó hội thì thường là do người của hai thôn Kim

Lũ, Kim Giang đảm nhiệm Những người được đề cử vào Hội đồngtheo quy định của làng phải là những người có đủ tư cách, có tráchnhiệm đối với công việc chung

Truyền thống lao động sản xuất

Cũng như các làng quê của đồng bằng Bắc Bộ, nghề nghiệpchính của Đại Kim là nghề nông, trồng lúa là chủ yếu Nhờ đất đaimàu mỡ và dòng nước sông Tô Lịch ngọt ngào mà nhiều sản phẩmnông nghiệp của Đại Kim khá nổi tiếng như thóc Ré hoa thơm dẻo,khoai lang Lim nhiều bột trắng mịn như lụa, ngô Đăm hạt nhỏ màuvàng óng, khi rang nở to như bông hoa bưởi, chuyên dùng để rangbỏng Chẳng thế mà nó đã sớm được đưa vào câu ca dao:

"Làng Lủ gạo trắng, nước trong

Trang 15

Ai về Kẻ Lủ thong dong con người".

Ngoài nghề làm ruộng, người Đại Kim còn tinh thông nhiềunghề phụ khác như: nghề nuôi cá, trồng hoa ở Đại Từ; nghề làmbánh đa khoai, bỏng ngô, bỏng cốm, kẹo vừng, chè lam ở làng Lủ.Nghề thủ công thì có nghề làm quạt giấy, còn gọi là quạt thước,quạt Lủ Quạt Lủ xưa kia có tiếng Quạt phất giấy, thanh quạt bằngtre cứng, dài có khi gần nửa mét Quạt nổi tiếng vừa đẹp, vừa bền

và dùng vào nhiều việc: từ quạt gió, che nắng đến cả việc tự vệ đốivới chó dữ rất dễ gặp ở nông thôn Ngoài ra ở Đại Từ còn có mộtnghề khá đặc biệt: đó là nghề nuôi trẻ Do nằm bên đầm Đại rộnglớn, khí hậu thoáng mát, giếng nước sạch sẽ, các bà mẹ ở đâythường được nhiều nơi, nhất là trong nội thành gửi con nhỏ nhờchăm sóc nuôi nấng, nhất là các cháu được coi là khó nuôi củanhững gia đình hiếm con

Truyền thống văn hiến

Truyền thống sản xuất của cải vật chất gắn liền với truyềnthống sáng tạo văn hóa tinh thần Bên cạnh cảnh quan thiên nhiênhài hoà: có sông, có đầm hồ, có lộ cái quan, có vườn cây, ao cá, cóđồng ruộng tốt tươi bốn mùa hoa thơm quả ngọt Đại Kim còn làmột vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nhiều đình chùa, đềnmiếu, lăng mộ không chỉ có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật mà còn

là những thắng tích ghi đậm dấu ấn lịch sử

Trang 16

Cả xã có hai ngôi chùa là chùa Lủ và chùa Đại Từ, chùa Lủcó tên chữ là chùa Diên Phúc, có từ thời Dương Độc (1672-1673) ởthôn cầu (Kim Giang) Theo các cụ truyền lại, xưa kia chùa toạ lạctrên một khu đất giáp ranh hai thôn Kim Lũ và Kim Văn Đếnkhoảng giữa thế kỷ XVIII mới di chuyển đến vị trí hiện nay Chùa

Lủ là một ngôi chùa cổ, kiến trúc đẹp theo lối nghệ thuật thời Lêtrong đó có lưu đặt trên 50 pho tượng quý từ thế kỷ XVII-XVIII.Chùa đã được xếp hạng trong cụm di tích lịch sử văn hóa cùng vớiđình và đền Kim Giang từ năm 1989

Ngoài hai ngôi chùa trên, ở Đại Kim, thôn nào cũng có đình,đền gắn với việc tế tự, sự tích của các vị thần được thờ

Đình thôn Thượng (Lủ cầu) thờ thành hoàng là Mạo GiápHoa, người làng Thiên Bản (thuộc tỉnh Nam Định), sống dưới thời

Lê Anh Tông (1557- 1673) Thần vốn là một vị tướng dẹp giặc ở SơnTây, chiến thắng trở về qua làng chợ Cầu, dừng chân ở đây rồi hoá

Thôn Trung (Lủ Trung) thờ vị thần xưa hơn nhiều: thần QuýMinh, em thúc bá với thánh Tản Viên, sống thời Hùng Vương thứ

18 Một câu đối ở đình vừa tả cảnh, ghi vị trí của đình - tức là củalàng, vừa như ngụ ý nhắc tới lịch sử xa xưa của địa phương:

"Tản Lĩnh vân cao giao vọng thần quang thiên thụ nhiễu

Tô Giang thuỷ tú trường lưu, danh tích bách linh triều".(Núi Tản áng mây cao, xa ngóng ánh thần, tươi tốt ngàn cây

Trang 17

vây bọc

Sông Tô dòng nước đẹp, mãi truyền dấu thánh, linh thiêngtrăm khí chầu về)

Đình thôn Văn (Lủ Văn) thờ công chúa Lê Thị Cúc Phương

là thành hoàng Theo tục lệ truyền, từ xa xưa, hai làng Văn vàTrung, ngoài mối giao hiếu hàng xã còn có mối quan hệ giữa thànhhoàng của hai thôn

Đình thôn Đại Từ thờ thành hoàng là thần Bảo Ninh1 Theotruyền thuyết thần là con của Long Vương, vì mến đạo học đã dờiLong cung lên trần thế làm học trò thầy Chu Văn An (giữa thế kỷXIV) Gặp năm đại hạn, thần đã tự ý làm mưa, chấp nhận bị trờitrừng phạt để làm vui lòng thày dạy và cứu hạn cho dân

Cùng với các ngôi đình trên, ở Đại Kim còn lưu giữ nhiềudấu tích có giá trị lịch sử khác như đền Kim Long thờ Lê Anh Tônhoàng đế (ở thôn Kim Lũ) Mộ công chúa Trịnh Thị Ngọc Hoa (congái đầu của Trịnh Doanh) ở Mả Dẻ (thôn Kim Giang)2 Khu Lăng BàChúa thờ chính phi của Trịnh Sâm là bà Hoàng Ngọc Phương (thônĐại Từ)3

1 Thần Bảo Ninh được thờ làm thành hoàng ở 6 làng nằm trong khu vực đầm LinhĐường: Bằng Liệt, Đại Từ, Linh Đường, Pháp Vân, Từ Kỳ, Tựu Liệt thuộc huyệnThanh Trì và thêm làng Hữu Lê thuộc huyện Thanh Oai, tổng Tả Thanh Oai

2Những di tích này hiện nay không lưu lại được, thay vào đó là nơi ở của một đơn vị bộ đội (khu

Mả Dẻ) và công trình Bắc Linh Đàm.

3Những di tích này hiện nay không lưu lại được, thay vào đó là nơi ở của một đơn vị bộ đội (khu

Mả Dẻ) và công trình Bắc Linh Đàm.

Trang 18

Đất Đại Kim có truyền thống hiếu học Đỗ đại khoa đầu tiên

là Nguyễn Chính, người dòng họ Nguyễn Huy (Đại Từ), đỗ tiến sĩnăm 1602 Năm 1613, ông được cử đi sứ Trung Quốc NguyễnChính đã đem được về nước nghề dát thiếc và truyền nghề này cholàng Giáp Lục (thuộc xã Thịnh Liệt) là nơi ông đến dạy học Ôngđược người dân thôn Giáp Lục tôn thờ làm thành hoàng làng

Nguyễn Nhân Chính, người thôn Kim Giang, đỗ tiến sĩ năm

1634, từng được cử đi sứ, làm quan đến Lại bộ Tả thị lang, sau đượcphong tặng Thượng thư Hải Quận công

Người khai khoa thôn Kim Lũ là Hồng Hạo (1677-1749)4, đỗtiến sĩ năm 1710, làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang Ông làtác giả cuốn sách Hoàng Lê Chính yếu toàn thư

Nguyễn Công Thể (trong bản dịch Việt sử thông giám cương

mục và Lịch triều hiến chương còn gọi là Nguyễn Công Thái)

(1684-1758), 18 tuổi đỗ Giải nguyên (1702), 31 tuổi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ(1715), 4 lần giữ chức Tham tụng (ngang tể tướng) Ngoài ra ôngcòn giữ nhiều chức khác như Đông các học sĩ tri lại phiên, Tế tửuQuốc Tử Giám, Tả thị lang bộ Lại kiêm Bồi tụng, một chức trọngtrong Phủ Liêu, chỉ ở dưới chức Tham tụng Ông tính tình cươngtrực, là một nhà văn học được trọng vọng đương thời, từng đào tạonhiều nhân tài như Ngô Thì Sĩ, Phạm Lê Phiền, Đào Huy Điển Bài

4 Họ Hồng sang triều Nguyễn vì kiêng huý tên vua nên đổi thành họ Cung

Trang 19

văn bia của ông ở đền Huỳnh Cung ca ngợi đời sống và sự nghiệpcủa Chu Văn An là một áng văn nổi tiếng Ông cũng là người cócông lớn trong việc đấu tranh với triều đình nhà Thanh (TrungQuốc) cắm mốc giới giành lại khu mỏ đồng Tụ Long (Cao Bằng).

Nguyễn Bá Trữ, người thôn Đại Từ, thuộc dòng họ Nguyễn

Bá, sinh năm 1713 và đỗ tiến sĩ khoá năm 1754 Nghè Trữ nổi tiếnghay chữ và từng là thầy học của Hoàng giáp Bùi Huy Bích, tác giảcủa "Hoàng Việt thi tuyền" và "Hoàng Việt văn tuyền"

Ở Kim Lũ còn có Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), dòng dõiNguyễn Công Thể, đỗ Phó bảng khoa 1828, làm quan ở toà HànLâm và bộ lễ triều Nguyễn, từng đi sứ năm 1849 Sau ông cáo quanlui về mở trường dạy học ở phường Dũng Thọ, Hà Nội lấy tên hiệu

là Phương Đình Ông là người học rộng nổi tiếng Thời đó đã có câu''Văn như Siêu Quát vô tiền hán" (Siêu là Nguyễn Văn Siêu, Quát là

Cao Bá Quát) Tác phẩm của ông có Phương Đình thi tập, Phương

Đình văn tập, Phương Đình dư địa chí, v.v Vừa là nhà thơ, nhà văn,

nhà sư phạm lớn, ông còn là nhà địa lý, nhà kiến trúc tài giỏi, cócông đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước, Ông cũng đã có công lớnvới Thăng Long - Hà Nội trong việc trùng tu đền Ngọc Sơn và xâydựng đài Nghiên - Tháp Bút Ông đã được Nhà nước ta công nhận

là danh nhân Văn hóa Tên ông đã được đặt cho một Đường phốcủa Hà Nội

Trang 20

Sau Nguyễn Văn Siêu 39 năm, Kim Lũ cũng đã sinh thànhmột nhân vật khá nổi tiếng, khác trong lịch sử, đó là Nguyễn TrọngHợp, hiệu Kim Giang Ông đỗ tiến sĩ năm 1865, từng giữ nhiềuchức vụ lớn, trải qua 5 đời vua nhà Nguyễn như: Thượng thư bộLại, Đại thần cơ mật viện, Văn minh điện đại học sĩ, Bắc Kỳ kinhlược sứ Là nhà hoạt động chính trị, ông còn là nhà văn, nhà thơ,

nhà sử học lớn, đã để lại một loạt tác phẩm đồ sộ như Kim Giang

văn tập, Kim Giang thi tập, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Đại Nam chính biên đệ tứ kỷ, v.v Năm 1994, Nhà nước ta đã có quyết

định công nhận di tích lịch sử-văn hóa cho Lăng mộ và Nhà thờNguyễn Trọng Hợp

Đến đầu thế kỷ XX, hai người cháu của dòng họ NguyễnTrọng Hợp lại mang về một niềm tự hào cho họ Nguyễn, cho Kim

Lũ, đó là thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1885-1939), nhà thơ cậnđại nổi tiếng, rất mực tài hoa và nặng tình non nước; đó là Nguyễn

Sĩ Giác, đỗ tiến sĩ năm 1910 Tuy đỗ đạt cao, nhưng ông không ralàm quan mà ở nhà tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bịPháp bắt giam một thời gian Sau khi được tha, về cuối đời, ôngtham gia dịch sách, giảng dạy tại các trường đại học Văn khoa và Sưphạm Sài Gòn Ông mất tại Sài Gòn, tháng 9-1974, thọ 86 tuổi

Đồng thời với các đại khoa, số nho sĩ thi đỗ cử nhân ở ĐạiKim cũng không phải là hiếm Ở Đại Từ có hai anh em ruột là

Trang 21

Trương Mãn và Trương Chân đỗ cùng một khoa năm 1827 Ở Kim

Lũ, dòng họ Cung có các cụ Tôn Giang, Cung Khắc Đôn, CungKhắc Đảm (đỗ năm 1897) Dòng họ Nguyễn có Nguyễn Danh Kế(thân phụ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu), cụ Cử Phác,Nguyễn Duy Nhiếp (con trai Nguyễn Trọng Hợp) Dòng họ Hoàngcuối thế kỷ XIX có hai anh em ruột đậu cử nhân văn chương làHoàng Đạo Thành (1884), Hoàng Đạo Đạt (1894) Sau Hoàng ĐạoThành, con trai duy nhất của cụ là Hoàng Đạo Thuý cũng đã nổinghiệp cha, trở thành một trí thức được giác ngộ cách mạng từ rấtsớm Ông tham gia quân đội với quân hàm đại tá rồi chuyển sanglàm Hiệu trưởng Trường Dân tộc Trung ương cho đến lúc nghỉhưu Ông còn là một nhà văn hóa, nhà nghiên cứu lịch sử, nhà HàNội học, được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Nhàgiáo Nhân dân Ông đã viết và để lại nhiều tác phẩm quý như:

Danh nhân Hà Nội, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Phố phường Hà Nội, Trai nước Nam làm gì, Nghề thầy, v.v

Nét đẹp văn hóa của làng quê Đại Kim còn được thể hiện ởnhững lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán cổ truyền Từbao đời nay, dẫu thời bình hay loạn lạc, bà con vẫn thường xuyênduy trì nền nếp văn hóa theo tục lệ cổ truyền Vào dịp đầu năm,làng thường mở hội Hội làng lớn nhất là ngày hội của 3 thôn Kim

Lũ, Kim Văn, Kim Giang (từ ngày 7 đến ngày 11 tháng 2 hàng năm),

Trang 22

trong đó tập trung nhất là vào 2 ngày: ngày 8 tháng 2 - khai hội,Kim Lũ rước thành hoàng xuống Kim Văn Ngày 9 tháng 2 - chínhhội, đón thành hoàng từ Kim Văn lên Kim Lũ và đón người làngKim Giang xuống lễ giao hiếu hàng xã Trong những ngày hộithường có chèo hát, đấu vật, đánh cờ, múa sư tử, v.v Ngoài việcchung của làng, các họ tộc, các thôn còn có những nét riêng củamình Nhiều họ tộc cũng nhân dịp này tổ chức cúng lễ, tưởng niệmcác vị tổ tiên Nhiều tục lệ cũng đã được tổ chức ngay tại từng thônnhư: tục "lên lão" mừng thọ các cụ già cao tuổi, không phân biệtnam nữ, sang hèn Tục "vào làng" thừa nhận những nam thanh niên

đủ 18 tuổi (tính theo âm lịch), được coi là đã trưởng thành, đượchưởng quyền lợi và chịu nghĩa vụ với làng Ngoài ra trong dân làngcòn có những tập quán, nếp quen rất đáng quý khác như tập quántôn trọng người già "trọng xỉ hơn trọng tước", nếp quen giúp đỡ lẫnnhau, đến với nhau lúc vui cũng như lúc buồn, lúc khó khăn hoạnnạn: như tang lễ, cưới xin, sinh con, làm nhà mới, v.v Đó là nhữngthuần phong mỹ tục thể hiện "tình làng nghĩa xóm" được các thế hệngười Đại Kim duy trì từ đời này sang đời khác

Vốn là vùng quê lấy nghề nông là chính, bởi vậy hàng năm,vào trung tuần tháng 5 âm lịch, làng có tục "hạ điền" Vào ngày đó,làng chọn người đứng tuổi, làm ăn căn cơ, khá giả xuống đồng cấytrước Chung quanh mọi người té nước, đánh trống ngũ liên, biểu

Trang 23

hiện niềm hy vọng mong chờ mùa tới Tháng 10 có gạo tám xoan,

dự hương, nếp dầu dầu, nếp cái Gặt hái xong các gia đình có lệcúng tổ tiên, ông bà rồi mới ăn cơm mới gạo mùa Tục lệ đó là mộttrong những sinh hoạt tinh thần của nhân dân, biểu hiện ước vọngcho sự phồn thịnh của văn hóa nông nghiệp Bắc Bộ

Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp trong cuộc sống đượclưu truyền lâu đời, ở Đại Kim xưa vẫn còn nhiều hủ tục và nhữngtập quán khá nặng nề trong cưới xin, ma chay, cúng lễ Dưới thờiPháp thống trị, các hủ tục tập quán trên chẳng những tiếp tục đượcphát triển, mà còn được Pháp triệt để khai thác, lợi dụng để dễ bềthống trị

Về tôn giáo, tín ngưỡng

Người dân Đại Kim (mọi người, mọi nhà) thường hướng tớithế giới tâm linh Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, ông bà và lễ Phật, cònthờ cả những vị Thánh, vị Thần có công với làng, với nước Điều đóđược dễ nhận thấy là ngoài hai ngôi chùa chung là chùa Lủ và chùaĐại Từ, thôn nào cũng có: đình, đền, miếu, bệ thờ, văn chỉ Mỗi ngôiđình ở mỗi thôn vừa là nơi để thờ các vị thành hoàng làng, vừa làmột quần thể kiến trúc có tính văn hóa cao Rất tiếc là do chiếntranh, hầu hết các ngôi đình đều đã bị bọn giặc tàn phá, nhiềuhoành phi câu đối, nhiều hiện vật cổ đã bị thất lạc, huỷ hoại Cácngôi đình hiện nay đều đã được trùng tu lại: tuy diện tích, hình

Trang 24

khối có thể nhỏ hơn, hẹp hơn, nhưng vẫn giữ nguyên được kiểudáng, cảnh quan Mỗi ngôi đình thật sự vẫn là biểu tượng tự hàocủa nền văn hóa dân tộc, quê hương.

Đi đôi với truyền thống lao động sản xuất và sáng tạo vănhóa, người dân Đại Kim cũng rất giàu truyền thống yêu nước.Truyền thống ấy trước hết được thể hiện ở sự hình thành ý thứcdòng họ, cộng đồng: ý thức gắn bó với quê hương, xây dựng và bảo

vệ quê hương Là một vùng đất cổ nằm ở phía nam, giáp giới kinhthành Thăng Long, bởi vậy ngay từ xa xưa, đã có rất nhiều cư dân,nhiều dòng họ từ khắp các nơi di cư đến đây làm ăn sinh sống, lậptộc tạo làng Thế rồi theo năm tháng, đời nọ tiếp đời kia, các dòng

họ cũng ngày một nhiều thêm, hình thành những họ mới Chỉ nóiriêng ở thôn Kim Lũ đã có tới 4 họ Nguyễn Ngoài họ Nguyễn dòngNguyễn Trọng Hợp (gọi tắt là họ Nguyễn Kim Giang), còn có 3 họNguyễn khác là Nguyễn Xuân, Nguyễn Nhân, Nguyễn Văn Cùngvới họ Nguyễn, trong thôn còn có nhiều họ khác như họ Cung(Cung Chính, Cung Bàng) và họ Hoàng, ở thôn Kim Văn, ngoài họNguyễn còn có các họ như họ Tạ, họ Đinh, họ Ngô, họ Phạm, họĐào, v.v Tuy nhiều họ (họ nào cũng đông, cũng lớn như vậy)nhưng do cuộc sống phải quần tụ cùng nhau để chống đỡ với thiênnhiên, lao động sản xuất nên giữa các dòng họ luôn có sự đoàn kết,giúp đỡ lẫn nhau Chính từ tình cảm gắn bó, cấu kết trước là họ

Trang 25

hàng sau là cộng đồng làng xã đó đã sớm hình thành nên lối sốngmột mặt rất trọng nhân nghĩa, nhưng mặt khác cũng rất thẳng thắn,quyết liệt của con người Đại Kim đứng trước những bất công,ngang trái.

Thời kỳ Đại Từ còn ở tổng Thanh Liệt đã diễn ra một cuộcđấu tranh rất quyết liệt giữa một bên là nhân dân cả thôn Đại Từvới một bên là Chánh Cúc (Còn gọi là Thiên hộ Cúc) họ Trần -Chánh tổng Thanh Liệt, vốn tính hống hách, lại hay cậy thế quantrên để chèn ép, bóc lột dân lành Sau một thời gian dài, với nhiềuhình thức đấu tranh khôn khéo và kiên quyết, người dân thôn Đại

đã buộc hắn giảm bớt hống hách, sách nhiễu

Trong những năm giữa thế kỷ XIX, nhân dân Đại Từ cònnêu cao tinh thần đoàn kết, mưu trí, phối hợp chặt chẽ với nhiềulàng quanh vùng, ngăn chặn những hành động ngang ngược củabọn trộm cướp thường hay kéo đến quấy phá, giữ gìn sự bình yêncho quê hương Ghi nhận truyền thống nghĩa khí đó của Đại Từ,

thời phong kiến, Đại Từ đã được các triều đình phong là: "Nghĩa

dân", chỉ những người dân luôn sống theo chính nghĩa, không chịu

khuất phục trước mọi áp lực, đè nén Trước đây, không phải làngnào cũng dễ được danh hiệu đó, nên dân làng Đại đã tự hào ghi

trên cổng chính của làng 4 chữ lớn: "Đại Từ Nghĩa dân".

Những nét đẹp của truyền thống văn hiến, truyền thống lao

Trang 26

động sản xuất, của nghĩa khí một vùng quê có chiều dày lịch sử trênnửa thiên niên kỷ thật sự là những tài sản vô giá được nhân dân ĐạiKim luôn giữ gìn, phát huy và biến nó thành sức mạnh vật chấttrong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương giàu đẹp.

Trang 27

ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN

VÀ TIẾN HÀNH THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN

Cũng như ở các vùng nông thôn khác trong nước, khoảng từnăm 1920 đến năm 1945, hệ thống chính quyền của Đại Kim được tổchức như sau:

Mỗi xã (Đại Từ, Kim Lũ) có một Hội đồng kỳ mục (tuỳ theomỗi khoá có thể có những tên gọi khác như: Hội đồng tộc biểu, Hộiđồng chức sắc, Hội đồng hương chính ) Nhiệm kỳ mỗi khoá là 4

Trang 28

năm Chánh hội là người đứng đầu Hội đồng, tiêu chuẩn phải lànhững người có phẩm hàm, học vị Ngoài ra còn có các phó hội, thưký, thủ quỹ và các thành viên của Hội đồng Vì chế độ phong kiếntrọng nam khinh nữ nên từ việc bầu bán đến phân bổ các chức sắctrong chính quyền cũ đều không có phụ nữ tham gia.

Nhiệm vụ của các khoá hội đồng là đảm nhận những côngviệc hương ẩm, xã hội, duy trì các phong tục tập quán như quy ướchoặc hương ước, quản lý công điền, xây dựng công trình công cộng

ở các thôn, tổ chức hội hè đình đám và vận động hướng thiện, ngoài

ra nó còn thực hiện giám sát sự điều hành của bộ máy chính quyền

Chính quyền xã gồm lý trưởng, hai phó lý, chưởng bạ và hộlại Lý trưởng, phó lý chịu trách nhiệm quản lý toàn diện Chưởng

bạ quản lý đất đai, ruộng vườn, ao họ công tư, bởi vậy nhiệm vụcủa chưởng bạ là chứng thực các thủ tục sở hữu, mua bán, thừa kếruộng đất trước khi lý trưởng hoặc phó lý ký tên đóng dấu Hộ lại

là người quản lý về dân số toàn xã, kể từ việc khai sinh đến việcquản lý các sổ đinh, nắm chắc độ tuổi các xuất đinh (nam giới từ 18tuổi trở lên) để phục vụ cho các yêu cầu của cấp xã, cấp huyện vềđịnh xuất sưu, thuế, bắt phu, bắt lính hoặc các tạp dịch khác

Hỗ trợ bộ máy chính quyền còn có một lực lượng tuần phiên

ở mỗi thôn (gồm từ 5 đến 9 người) do làng hoặc các phe giáp cử ralàm nhiệm vụ luân phiên trong một thời gian Phụ trách tuần phiên

Trang 29

là trương tuần Trang bị của tuần phiên đơn giản chỉ là những chiếc

tù và, thước tay và vài ba ngọn giáo búp đa Công việc của lựclượng này là tuần tra, canh gác, bảo vệ trật tự an ninh làng xóm, đặcbiệt vào những kỳ sưu thuế, họ còn phải bảo vệ lý trưởng, phó lý điđốc thuế

Bộ máy chức dịch xưa không có chế độ trả lương hoặc phụcấp bằng tiền Nguồn thu nhập chủ yếu là được cấy một số ruộngcông mà không phải trả hoa lợi Tuy nhiên, ở họ cũng có nhiềubổng lộc Một phần do các thủ tục hành chính của chế độ cũ, ngườidân muốn giải quyết bất cứ một việc gì, từ đám cưới, đám tang,muốn xin mổ con bò, con lợn; muốn mua bán ruộng đất, nhà cửanhất nhất đều phải có lễ riêng trước khi được chức dịch xác nhận.Ngoài ra còn có những hình thức khác như phụ thu lạm bổ, bớt xén

ở các thứ thuế thân, thuế điền

Dưới ách cai trị của thực dân Pháp và bọn tham quan ô lạidựa vào thế lực đế quốc đè đầu cưỡi cổ nhân dân, đục khoét dân đãkhiến cho đời sống của người dân Đại Kim vốn đã rất khó khăn lạicàng khó khăn hơn Là một vùng quê lấy sản xuất nông nghiệp lànghề sống chính, nhưng rất nhiều hộ nông dân lao động không córuộng hoặc thiếu ruộng cày Nhiều người phải làm thuê cuốc mướncho địa chủ, mò cua bắt ốc, kiếm miếng ăn hàng ngày Hoặc phảilĩnh canh ruộng, thuê trâu bò để cày cấy, vay tiền, vay thóc của địa

Trang 30

chủ với mức lãi cắt cổ, lãi ngày, lãi tháng, lãi vụ, lãi năm, lãi mẹ đẻlãi con, nộp tô cho địa chủ hết sức nặng nề, thêm vào đó là sưu cao,thuế nặng Năm 1922, riêng mỗi suất đinh phải đóng thuế thân sốtiền tương đương với giá gần 2 tạ thóc Thuế chính đã nặng lại cònthêm các khoản phụ thu lạm bổ, lễ lạt, biếu xén mồng năm ngày tết.Bởi vậy hết mùa là hết thóc, nghèo đói, rách rưới quanh năm.

Vừa là nạn nhân chính sách bóc lột của thực dân Pháp vàphong kiến, làng quê Đại Kim là nơi gánh chịu những hậu quả khánặng nề của chính sách ngu dân, kìm hãm người dân trong cuộcsống tối tăm Trước cách mạng, cả thôn Đại Từ mới duy nhất có mộtlớp ấu học, cả 3 thôn Kim Lũ, Kim Văn, Kim Giang mới có mộttrường Sơ học, đặt địa điểm học tạm ở điếm làng Gọi là trườngnhưng duy nhất cũng chỉ có một thầy giáo phải dạy kiêm cả 3 lớp:Đồng ấu, Dự bị và Sơ học Còn muốn học nữa phải lên trường Tổng

ở hai thôn Giáp Nhất và Chính Kinh (nay thuộc xã Nhân Chính - TừLiêm) hoặc xuống Văn Điển Do việc học bị hạn chế như vậy, nêntuyệt đại bộ phận người dân lao động Đại Kim bị mù chữ Nhiềudịch bệnh phổ biến lúc đó như đậu mùa, thổ tả, thương hàn, đaumắt, toét mắt luôn là mối đe doạ thường xuyên đối với tính mạngcủa nhân dân Đã vậy, cả thực dân, phong kiến lại rất khuyến khíchnhững đồi phong bại tục như tục ma chay, cưới xin, khao vọng, tốnkém xa xỉ; tệ ngôi thứ, đình đám, chạy theo hư danh; tệ rượu chè, cờ

Trang 31

bạc, nghiện hút, đĩ điếm, v.v khiến cho không ít người phải bị tancửa nát nhà, bán vợ đợ con, bỏ quê hương làng xóm đi tha phươngcầu thực, ra thành phố tìm kiếm việc làm Một số người may mắnđược nhận vào các nhà máy, xí nghiệp trở thành công nhân, còn

số đông thì làm đủ các nghề linh tinh, dịch vụ như kéo xe tay, xe bagác, xe bò, đạp xích lô, khuân vác, bổ củi, gánh nước thuê, bán quàbánh, v.v bổ sung vào đội quân nửa thất nghiệp của thành phố

Chính điều kiện sống thấp kém đó, cùng với truyền thốngyêu nước của người dân Đại Kim đã trở thành nguyên nhân và tiền

đề để nhân dân Đại Kim kiên quyết vùng dậy đấu tranh chống thựcdân, phong kiến vì nền độc lập, tự do của quê hương, đất nước

2 Các phong trào yêu nước, chống Pháp ở Đại Kim

Ngay khi Pháp mới đặt chân đến Hà Nội, chúng đã vấp phảithái độ bất hợp tác của nhân dân Hà Nội, đặc biệt là tầng lớp nho sĩ.Một trong những nhà nho yêu nước lúc đó là ông Nguyễn Long(người Đại Từ) Ông Long đã cùng với các ông: Vũ Đức và NguyễnBình ở Thanh Trì, Vũ Tạo ở Yên Duyên, Nguyễn Bật ở Hạ Thái bímật tuyên truyền, vận động dân chúng chống lại triều đình và thựcdân Pháp xâm lược Mặc dù bị Pháp bắt, xét hỏi, buộc tội, hăm doạnhưng các ông đã không hề chịu khuất phục mà còn lớn tiếng vạchmặt bọn cướp nước và bán nước Bọn giặc căm tức cho giam cácông lại, bắt các ông đi làm phu nhưng vẫn không lay chuyển được

Trang 32

tinh thần yêu nước của các ông.

Bước sang những năm đầu thế kỷ XX, phong trào khángchiến chống Pháp của nhân dân ta phát triển với những hình thức,

tổ chức mới Ở Thanh Trì, nhiều nhà nho yêu nước giữ vững chíhướng của mình, tìm cách cứu dân, cứu nước đã hưởng ứng phongtrào Đông Du, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, hoạtđộng trong Việt Nam Quang Phục Hội Nhiều buổi diễn thuyết,tuyên truyền với khẩu hiệu "Khai dân trí, chấn dân khí" (mở mangtri thức cho dân, nâng cao chí khí của dân) do các ông đứng ra tổchức ở các xã lân cận trong huyện như Thanh Liệt, Hoàng Mai,Tương Mai và nhiều làng khác đã có tác dụng lan truyền và ảnhhưởng đến Đại Kim Một số người ở Đại Từ, ở các thôn Kim Lũ,Kim Giang đã tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do cụNguyễn Thượng Hiền và cụ Lương Văn Can lãnh đạo Riêng thônKim Lũ có đến 3 cụ đó là cụ Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác, cụ Hai Trà và

cụ Cung Văn Cẩu Sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị thực dân Phápcấm hoạt động, phong trào bị đàn áp, cả 3 cụ đều bị Pháp bắt, khépvào tội gây bạo loạn và bị cầm tù Cụ Hai Trà bị lưu đầy ở đảo Cát

Bà mãi đến khoảng những năm 1930 mới được tha về sống ở làng

Cụ Cẩu bị mất tích từ sau khi bị bắt Riêng cụ Nghè Giác thì bị quảnthúc tại nhà

Những tấm gương nghĩa liệt của các cụ, cũng như ảnh

Trang 33

hưởng của các phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh đòi dânsinh dân chủ, bùng lên sôi động ở Hà Nội và khắp cả nước lúc đónhư phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925), để tang cụ PhanChu Trinh (1926), truy điệu cụ Lương Văn Can (1927) đã lôi cuốnmột bộ phận thanh niên, học sinh Thanh Trì hăng hái tham gia Ởnhiều vùng như Đông Phù, Tả Thanh Oai, Thịnh Liệt, KhươngĐình, Định Công, Tương Mai, Vĩnh Tuy, Thanh Trì người ta côngkhai mạn đàm về thời cuộc, đọc thơ văn yêu nước, công khai bày tỏchí hướng yêu nước của mình Đặc biệt từ sau ngày Đảng Cộng sảnViệt Nam được thành lập, chi bộ Đảng Đông Phù - chi bộ cộng sảnđầu tiên ở Thanh Trì ra đời (5-1930)5 đã tạo ra một bước chuyển mớiđến phong trào đấu tranh của nhân dân Thanh Trì nói chung vànhân dân Đại Kim nói riêng Bên cạnh các phong trào chống nạnphụ thu lạm bổ; đòi khất sưu, giảm thuế, ở Đại Kim lúc đó đã rảirác xuất hiện những tờ truyền đơn kêu gọi hưởng ứng cao trào Xôviết Nghệ Tĩnh, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh về thuốc men, quần áo

Phong trào tiếp tục được duy trì trong những năm

1932-1935, 1936-1939, đặc biệt đến năm 1936, khi Mặt trận bình dân Pháp(có Đảng Cộng sản Pháp tham gia) lên nắm chính quyền ở Pháp,thực hiện Nghị quyết của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII,Đảng ta quyết định lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát động

5 Lịch sử cách mạng huyện Thanh Trì, Nxb Hà Nội, 1990, tr.37.

Trang 34

phong trào quần chúng đòi tự do, cơm áo, hoà bình, thành lập các

tổ chức hoạt động công khai, bán công khai kết hợp với hoạt động

bí mật đưa cách mạng tiến lên một bước mới

Thực hiện chủ trương của Đảng, Hà Nội trở thành mộttrung tâm của phong trào đấu tranh dân sinh, dân chủ ở miền Bắc.Sách báo công khai của Đảng và những cuộc đấu tranh sôi nổi củacác tầng lớp nhân dân thành phố đã ảnh hưởng đến các vùng nôngthôn ngoại thành, trong đó có Đại Kim Nhiều tổ chức quần chúngcó tính chất thuần tuý nghề nghiệp được thành lập như hội cấy, hộigặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỷ để giúp đỡ tương trợ lẫn nhau Phongtrào truyền bá chữ quốc ngữ diễn ra khá sôi nổi Thầy giáo là nhữnghọc sinh, công chức đi học, đi làm ngoài thành phố, tối về mở lớp

Bà con đến lớp học không chỉ học chữ mà còn được hiểu biết thêmtình hình đang diễn ra ở Hà Nội, ở các vùng phụ cận và các nơikhác trong cả nước Đáng chú ý trong số các thầy giáo trên có thầygiáo Tảo ở thôn Kim Giang Thầy tham gia tổ chức hướng đạo vàđược giác ngộ từ rất sớm Với uy tín của mình, thầy đã tập hợp sốthanh niên trong thôn tham gia vào các hoạt động từ thiện, tập võthuật, rèn luyện thân thể, và chính họ sau này đã trở thành lựclượng nòng cốt cho các phong trào của thôn, của xã

Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, tiếpđó tháng 9-1940, quân Nhật xâm lược Đông Dương Hoảng sợ trước

Trang 35

sức mạnh của Nhật, quân Pháp đã dâng Đông Dương cho bọn phátxít Nhật, đẩy nhân dân Đại Kim, nhân dân Hà Nội cũng như đồngbào cả nước vào ách "một cổ đôi tròng" Chính sách đàn áp, bóc lộtcủa Nhật - Pháp, đặc biệt là chính sách thu thóc tạ, bắt nhổ lúa màu,trồng đay, thầu dầu đè nặng lên tất cả các tầng lớp nhân dân ĐạiKim, làm cho đời sống của họ càng trở nên điêu đứng hơn Nhiềugia đình lâm vào cảnh bần cùng phải bỏ làng đi làm thuê trongthành phố Nhiều người đã phải đăng ký đi làm phu ở các đồn điềntận Tây Nguyên, Nam Bộ Đã vậy, từ cuối năm 1944 đến đầu năm

1945, thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra cho nhân dân ta mộtnạn đói khủng khiếp Chỉ riêng các tỉnh Trung Bộ và Bắc Bộ bị chếtgần 2 triệu người Thôn Kim Lũ cũng có một số người chết như ông

Cu Khương, bà Hai Phú Thậm chí có gia đình chết cả nhà như giađình cụ cả Bì Nhân dân càng thêm căm thù Nhật - Pháp

Lúc này cùng với tình hình thế giới, trong nước, tình hình

Hà Nội cũng đang có nhiều biến chuyển thuận lợi Trên thế giới,chủ nghĩa phát xít đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.Trong nước, từ sau tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh cũng pháttriển rộng khắp và gây được cơ sở vững mạnh trong nhân dân Đặcbiệt tin tức về những cuộc đấu tranh chống Pháp-Nhật của nhândân trong vùng, về những lời kêu gọi của Việt Minh "đánh Pháp,đuổi Nhật" được tuyên truyền rộng rãi trên những tờ truyền đơn,

Trang 36

áp phích, khẩu hiệu rải đầy trong các phiên chợ, những nơi đôngngười đã có tác động và ảnh hưởng ngày càng lớn đến nhân dânĐại Kim, nhất là các tầng lớp thanh niên trong các thôn Nhiều tổchức yêu nước, cách mạng đã xuất hiện núp dưới danh nghĩa cáchội đoàn quần chúng như tổ chức Thanh niên Cứu quốc, Đoànhướng đạo sinh, Hội truyền bá quốc ngữ hoạt động hết sức sôinổi, rầm rộ Đêm đêm, trong các sân đình, trong các nhà Tả-Hữumạc ngoài đình vang lên tiếng hát lời ca của các em thiếu nhi, tiếngđánh vần i tờ của các bà, các chị Các thanh niên trai tráng thì tập võnghệ, tập quân sự, thầy dạy của họ là các thầy như thầy Tảo (thônKim Giang), thầy Thuý6 (thôn Kim Lũ) Vừa dạy học, các thầy cònvừa kết hợp với việc tuyên truyền tư tưởng yêu nước, đánh Tâyđuổi Nhật, tuyên truyền các chính sách của Mặt trận Việt Minh.

Không khí cách mạng càng trở nên sôi sục từ sau ngày Nhậtđảo chính Pháp (9-3-1945) Thực hiện chủ trương của Đảng "phátđộng cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộcTổng khởi nghĩa", phong trào cách mạng ở Đại Kim đã được đẩylên một bước mới

Tại Kim Lũ

Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của chi bộ Đại Đình (Đình

6 Cụ Hoàng Đạo Thuý lú đó là Tổng Ủy viên hướng đạo Đông Dương về sống và

hoạt động tại Kim Lũ quê nhà để tránh sự theo dõi của phát xít Nhật (B.T).

Trang 37

Công và Đại Từ), thông qua ông Cung Văn Nguyệt là đại diện củaViệt Minh (thời gian này Kim Lũ chưa có tổ chức Đảng, chưa có tổchức Việt Minh) Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã công khai tuyêntruyền chủ trương của Việt Minh đánh Tây đuổi Nhật, giành độclập cho đất nước Nhiều đội viên thanh niên còn hăng hái tham giavới nhân dân trong vùng kéo đi phá các kho thóc của phát xít Nhật

ở Khương Thượng và Giáp Bát để chia cho người nghèo đói

Uy tín và ảnh hưởng của Đoàn thanh niên đã có tác dụng lôicuốn cả tổ chức Hướng đạo sinh, các phong trào chuyển từ nhữnghình thức vui khoẻ sang nội dung mục tiêu của phong trào cáchmạng do Việt Minh chỉ đạo Nhiều thành viên Hướng đạo sinh đã

tự nguyện chuyển sang Đoàn Thanh niên Cứu quốc như các ôngCung Tiến Hào, Nguyễn La Côn, Cung Hữu Các, Nguyễn Bá Đạo,Cung Văn Vịnh, Nguyễn Cung Quýnh, v.v

Trước khí thế cách mạng của nhân dân ngày càng dâng cao,

bộ máy chính quyền địa phương tuy vẫn tồn tại nhưng vẫn khôngdám ra mặt chống đối hoặc ngăn cản Lực lượng Bảo an đoàn do cácông Nguyễn Hữu Trí và Hoàng Văn Quỳnh phụ trách cũng đã ngảsang ủng hộ Việt Minh

Tại Kim Giang

Tin Nhật đảo chính Pháp, tin hoạt động của Việt Minh dồndập dội về thôn xóm khiến cho lực lượng thanh niên trong thôn hết

Trang 38

sức phấn khởi Mọi người đều khao khât được tiếp xúc với ViệtMinh vă hoạt động câch mạng Câc ông Trương Hữu Thảng,Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Văn Hùng, Hoăng Kiền, Nguyễn XuđnTiết, Nguyễn Nhđn Lận (Tư Lận) đê cùng với ông Nguyễn Bâ Tảo(thầy Tảo) bí mật liín lạc được với đồng chí Quang Nghĩa (cân bộthănh Ủy cử về) Để trânh địch lùng sục, chỗ ở vă lăm việc lúc đầuđược bố trí ở nhă cụ Trưởng bạ Giân (mẹ ông Tiết), sau đó ở nhẵng Chi vă ông Hùng (hai anh em ruột), còn nơi hội họp vă băn bạcvẫn ở nhă ông Tiết Sự có mặt vă chỉ đạo kịp thời của cân bộ ViệtMinh cấp trín đê thực sự tạo ra bước chuyển mới của phong trăo ởKim Giang nói riíng vă câc thôn khâc nói chung.

Tại Đại Từ

Từ thâng 4-1945, câc đồng chí Văn Thănh, Hùng Ca văNguyễn Chí Thănh - cân bộ Việt Minh khu Đề Thâm đê thườngxuyín đi về bắt liín lạc với ông Đỗ Như Quế (thợ mạ kền) lă cơ sởViệt Minh đầu tiín ở Đại Từ Được sự chỉ đạo của khu, tổ Việt Minh

ở Đại Từ được bí mật thănh lập Thănh tích đầu tiín của tổ lă nhđnngăy kỷ niệm Quốc tế Lao động 1-5-1945, câc ông Đỗ Như Quế vẵng Đại (người Phâp Vđn) đê bí mật treo cờ đỏ sao văng ở bốn bồn

xi của đình Đại Từ Nhìn lâ cờ hiín ngang phấp phới, người dđnthôn Đại hả lòng hả dạ, căng thím tin tưởng văo thắng lợi sắp đếncủa câch mạng

Trang 39

Các tổ chức quần chúng tiếp tục phát triển dưới nhiều hìnhthức với những nội dung phong phú như nhóm học hát, nhóm họcchữ, nhóm luyện võ, nhóm văn nghệ có tác dụng tập hợp đôngđảo mọi lực lượng, mọi lứa tuổi, mọi người dân trong thôn Đặcbiệt, đầu tháng 7-1945, đội tự vệ thôn Đại Từ chính thức được thànhlập Các đội viên đều mặc trang phục màu nâu may cùng kiểu, đầuđội mũ ca-lô Vũ khí trang bị gồm có: 20 khẩu súng mútcơtông báng

gỗ, 20 thanh kiếm Nhật có bao kiếm Chỉ huy đội là ông Nguyễn BáNgôn, trước đây có đi lính cho Pháp, sau đó trở về và hoạt động rấttích cực Ông đã được nhân dân tín nhiệm bầu giữ chức Ủy viênquân sự của thôn trong suốt thời gian từ Tổng khởi nghĩa ThángTám cho đến ngày toàn quốc kháng chiến

Tại Kim Văn

Không khí những ngày đầu tháng 8 cũng hết sức sôi động.Trước ngày 19-8-1945, tin tức về những cuộc khởi nghĩa giành chínhquyền ở Thịnh Liệt, Pháp Vân, rồi ở Giáp Tứ, Giáp Nhị, GiápNhất đã làm nức lòng người dân Kim Văn Nhiều người trongthôn như cụ Vận, cụ Hoành, cụ Diệp, cụ Bản và nhiều thanh niên đã

ra tận ThịnhLiệt, Pháp Vân để xem người ta nổi dậy như thế nào rồi

về làng tuyên truyền, vận động mọi người hưởng ứng Đặc biệt, khi

Hà Đông khởi nghĩa, đã có nhiều thanh niên trai tráng ở Kim Vănchạy vào Hà Đông để hưởng ứng, giành chính quyền về tay nhân

Trang 40

Trước khí thế cách mạng của nhân dân ngày càng dâng caonhư vậy, bộ máy chính quyền từ tổng đến các thôn làng tuy vẫn tồntại nhưng không dám ra mặt chống đối hoặc ngăn cản Hầu hết cácđội viên trong lực lượng Bảo an đoàn cũng đã ngả sang ủng hộnhân dân, ủng hộ cách mạng

Cuộc Tổng khởi nghĩa đang đến gần

Sau ngày phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng các nước đồngminh vô điều kiện (15-8-1945), ngày 16- 8-1945, Xứ Ủy Bắc Kỳtruyền đạt quyết định phát lệnh khởi nghĩa cho thành Ủy Hà Nội vàthành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội

Ngày 17-8-1945, thực hiện chủ trương của Ủy ban Quân sựcách mạng Hà Nội điều động một lực lượng lớn tự vệ và nhân dântham gia cuộc mít tinh của Tổng hội công chức tổ chức ở Quảngtrường Nhà hát Lớn thành phố, biến nó thành một cuộc biểu dươnglực lượng của Mặt trận Việt Minh, mở đầu cho cuộc khởi nghĩagiành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội, lực lượng quần chúng Cứuquốc của Đại Kim đã được huy động dự cuộc mít tinh

Sáng ngày 17-8-1945, đông đảo quần chúng Cứu quốc cácthôn Đại Từ, Kim Lũ, Kim Văn, Kim Giang đã cùng với hàng ngànnhân dân Hà Nội biến cuộc mít tinh của bọn tay sai thân Nhậtthành một cuộc tuần hành thị uy bừng bừng khí thế cách mạng tiến

Ngày đăng: 09/11/2023, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w